1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ÔN tập học kỳ i NGỮ văn 12

43 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 677 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thơ ông giàu chất suy tư, thể hiện những nhận thức sâu sắc về nhân dân, đất nước qua những trải nghiệm của chính mình.. Giới thiệu- Giới thiệu đoạn thơ: Đoạn thơ trích trong phần đầu ch

Trang 1

Lớp dạy: 12A4

Trang 4

CẤU TRÚC ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HK I

I PHẦN ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đơn vị kiến thức/kỹ năng: Thơ Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế

kỷ XX (ngữ liệu ngoài sách giáo khoa)

II PHẦN LÀM VĂN (7 điểm)

1 Đoạn văn nghị luận xã hội 150 chữ.

Đơn vị kiến thức/kỹ năng: Nghị luận về tư tưởng, đạo lí

2 Nghị luận văn học.

- Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ: Đất

Nước (Nguyễn Khoa Điềm ), Sóng (Xuân

Quỳnh).

- Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích kí:

Người Lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)

Trang 5

I PHẦN LÀM VĂN (NGHỊ LUẬN VĂN HỌC)

1 Cảm nhận của anh, chị về đoạn thơ sau:

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

… Đất Nước có từ ngày đó”.

a Giới thiệu

- Nguyễn Khoa Điềm là một trong số những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ Thơ ông giàu chất suy tư, thể hiện những nhận thức sâu sắc

về nhân dân, đất nước qua những trải nghiệm của chính mình

- Đoạn trích Đất Nước thuộc phần đầu chương V, trường ca Mặt đường khát vọng được Nguyễn Khoa

Điềm viết ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971 Bao trùm

đoạn trích Đất Nước là tư tưởng Đất Nước của Nhân

dân được thể hiện trên cả ba bình diện: lịch sử, địa lí,

văn hóa

Trang 6

a Giới thiệu

- Giới thiệu đoạn thơ: Đoạn thơ trích trong

phần đầu chương thơ Đất Nước, là một cách

cảm nhận mới mẻ của tác giả về đất nước ở chiều sâu văn hóa:

“… ”

Trang 7

b Phân tích

- Nội dung:

+ Đất Nước có từ bao giờ: “Khi ta lớn lên…”

-> Đất Nước có từ rất xa xưa, từ lâu đời Cụm từ “đã

có rồi” nhằm khẳng định sự tồn tại hiển nhiên lâu đời

là tất yếu của đất nước Đất có trước khi ta cất tiếng khóc chào đời.

+ Đất Nước là những gì gần gũi và thân thuộc đối với mỗi con người (Khác với những tác giả khác hay

chiêm nghiệm đất nước bằng những hình tượng hoành tráng kì vĩ, Nguyễn Khoa Điềm lại chọn cách thể hiện rất tự nhiên và bình dị):

* Đất nước gắn với những phong tục tập quán tạo

nên bản sắc dân tộc (miếng trầu bà ăn, tóc mẹ thì bới sau đầu).

Trang 8

* Đất nước lớn lên bằng quá trình chiến đấu chống ngoại xâm “Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc”.

=> Có thể nói Nguyển Khoa Điềm đã đưa đất nước từ

“thiên thư”, từ “một mối xa thư đồ sộ”, từ “hai vầng nhật nguyệt chói lòa” ở trên trời, trở về với miếng trầu của bà, mái tóc của mẹ, cây tre trước ngõ, mái nhà ta

ở Cái nhìn mới mẻ ấy gợi sự xúc động cho người đọc

Trang 9

+ Giọng thơ như lời tâm sự gần gũi, thân tình

+ Ngôn ngữ dùng nhiều chất liệu văn học dân gian.

c Đánh giá chung

Trang 10

2 Cảm nhận của anh, chị về đoạn thơ sau:

“Trong anh và em hôm nay

… Làm nên Đất Nước muôn đời”.

a Giới thiệu

- Nguyễn Khoa Điềm là một trong số những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ Thơ ông giàu chất suy tư, thể hiện những nhận thức sâu sắc về nhân dân, đất nước qua những trải nghiệm của chính mình

Đoạn trích Đất Nước thuộc phần đầu chương V, trường ca Mặt đường khát vọng được Nguyễn Khoa

Điềm viết ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971 Bao trùm

đoạn trích Đất Nước là tư tưởng Đất Nước của Nhân

dân được thể hiện trên cả ba bình diện: lịch sử, địa lí,

văn hóa

Trang 11

2 Cảm nhận của anh, chị về đoạn thơ sau:

“Trong anh và em hôm nay

… Làm nên Đất Nước muôn đời”.

a Giới thiệu

- Nguyễn Khoa Điềm là

- Đoạn trích Đất Nước

- Giới thiệu đoạn thơ: Đoạn thơ trích trong phần

đầu chương thơ Đất Nước, khẳng định mối quan

hệ gắn bó thân thiết giữa mỗi cá nhân với đất nước.

b Cảm nhận về mối quan hệ giữa cá nhân với Đất Nước:

Dẫn: Trong đoạn thơ, đất nước được nhìn ở tầm gần

và hiện hình qua lời tâm sự của anh và em Bởi thế,

“khuôn mặt” đất nước trở nên vô cùng bình dị, thân thiết Tình cảm dành cho đất nước vô cùng chân thật, được nói ra từ chiêm nghiệm, trải nghiệm nên có khả năng làm lay động thấm thía tâm hồn người đọc.

Trang 12

b Cảm nhận về mối quan hệ giữa cá nhân với Đất Nước:

Dẫn: Trong đoạn thơ, đất nước được nhìn ở tầm

gần và hiện hình qua lời tâm sự của anh và em

Bởi thế, “khuôn mặt” đất nước trở nên vô cùng bình dị, thân thiết Tình cảm dành cho đất nước

vô cùng chân thật, được nói ra từ chiêm nghiệm, trải nghiệm nên có khả năng làm lay động thấm thía tâm hồn người đọc.

b1 Đất nước có trong mỗi con người, bình dị

và thân thiết

Trong anh và em hôm nay

… Đất Nước vẹn tròn, to lớn

Trang 13

- Sáu câu đầu của đoạn thơ như muốn trả lời cho câu hỏi: Đất nước là gì? Đất nước ở đâu? Lời đáp thật giản dị nhưng cũng hàm chứa những bất ngờ: Đất nước không tồn tại ở đâu xa mà có trong mỗi một con người, mỗi người đều mang một phần đất nước Tổng thể đất nước sẽ được hình dung trọn vẹn khi

anh và em biết “cầm tay” nhau, “cầm tay mọi người”…

- Hàm ngôn của các câu thơ thật phong phú: sự tồn

tại của đất nước cũng là sự tồn tại của ta và chính sự hiện hữu của tất cả chúng ta làm nên sự hiện hữu của

đất nước Hành động “cầm tay” là một hành động mang tính biểu tượng Nhờ hành động đó, đất nước mới có được sự “hài hoà nồng thắm”, mới trở nên

“vẹn tròn to lớn”

Trang 14

b2 Đất nước qua những nỗ lực vun đắp đầy trách nhiệm của nhiều thế hệ nối tiếp nhau:

Mai này con ta…mơ mộng

- Ba câu tiếp theo của đoạn thơ vừa đẩy tới những nhận thức - tình cảm đã được triển khai ở phần trên,

vừa đưa ra những ý tưởng có phần “lạ lẫm”: Mai này

con ta lớn lên/ Con sẽ mang Đất Nước đi xa/ Đến những tháng ngày mơ mộng

- Thực chất, đây là một cách biểu đạt đầy hình ảnh về vấn đề: chính thế hệ tương lai sẽ đưa đất nước lên một tầm cao mới

=> Quá trình hình thành và phát triển của đất nước luôn gắn với nỗ lực vun đắp đầy trách nhiệm cho cộng đồng của rất nhiều thế hệ nối tiếp nhau, mà thế hệ

của chúng ta chỉ là một mắt xích trong đó.  

Trang 15

b3 Đất nước là sự gắn bó giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và cộng động, giữa thế hệ này với thế hệ khác:

Em ơi em… muôn đời

- Cảm xúc được đẩy tới cao trào, nhân vật trữ tình

thốt lên với niềm xúc động: Em ơi em Đất Nước là

máu xương của mình/Phải biết gắn bó và san

sẻ/Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở/Làm nên Đất Nước muôn đời…

- Những câu thơ mang sắc thái mệnh lệnh với sự lặp lại cụm từ “phải biết” Nhưng đây là mệnh lệnh của trái tim, của tình cảm gắn bó thiết tha với đất nước.

Trang 16

b4 Nghệ thuật

- Thể thơ tự do phù hợp với tình cảm và mạch suy nghĩ.

- Các câu thơ có vần nhịp, không gò bó mà linh

hoạt biểu thị cho tiếng nói đối thoại giữa anh và

em nhưng thực chất lại là lời tự nhủ chân thành

tha thiết

- Từ “Đất Nước” được lặp lại sáu lần và được viết hoa biểu thị sự tôn kính, thiêng liêng của nhà thơ và của thế hệ trẻ đối với đất nước.

Trang 17

c Đánh giá chung

- Cách bày tỏ tình yêu nước của Nguyễn Khoa Điềm trong đoạn thơ này thật độc đáo, nhưng quan trọng hơn là vô cùng chân thật Điều đó đã khiến cho cả đoạn thơ, cũng như toàn bộ chương thơ đã được bao người đồng cảm, chia sẻ, xem là tiếng lòng sâu thẳm nhất của chính mình

- Đọc đoạn thơ, ta vừa được bồi đắp thêm những nhận thức về lịch sử, vừa được thuyết phục về tình cảm để từ

đó biết suy nghĩ nghiêm túc về sự gắn bó thân thiết, trách nhiệm của mình đối với đất nước.

- Đoạn thơ giàu chất chính luận mà không khô khan, trái lại chất trữ tình vẫn lan tỏa trong từng câu chữ Nguyễn Khoa Điềm đã kết hợp nhuần nhị cảm xúc với suy nghĩ, trữ tình với chính luận => Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm.

Trang 18

3 Cảm nhận đoạn thơ sau, để thấy được nét nổi

bật sự vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình:

“Dữ dội và dịu êm

… Bồi hồi trong ngực trẻ” (Sóng – Xuân Quỳnh)

a Giới thiệu

- Xuân Quỳnh là một nhà thơ trưởng thành trong phong trào thơ ca kháng chiến chống Mĩ

- Đặc điểm hồn thơ của bà là tiếng nói của người phụ

nữ giàu yêu thương, khát khao hạnh phúc đời thường, bình dị, nhiều âu lo, day dứt, trăn trở trong tình yêu

- Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi công tác vùng biển Diêm Điền Trước khi Sóng ra đời, Xuân Quỳnh đã phải nếm trải những đổ vỡ trong tình yêu Đây là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh. Hình tượng sóng thể hiện rất rõ qua đoạn

Trang 19

b Cảm nhận về đoạn thơ:

b.1 Những cung bậc cảm xúc trong tình yêu (khổ 1)

+ Sóng hiện ra với những đối cực Dữ dội - Dịu êm; ồn ào - lặng lẽ, cùng với đó, cách ngắt nhịp 2/3 và sự luân phiên các thanh bằng trắc đã nhấn mạnh những đối cực trong trạng thái của sóng

-> Những cung bậc tâm trạng của người phụ nữ khi yêu.

+ Sóng khát khao thoát khỏi giới hạn chật hẹp (sông) để tìm ra “bể” như người phụ nữ khát khao tìm đến những chân trời đích thực của tình yêu.

Trang 20

- Tình yêu mãi mãi là khát vọng của tuổi trẻ, nó làm bồi hồi, xao xuyến rung động trái tim của lứa đôi, của con trai, con gái, của anh và em (khổ 2)

+ Từ ngàn, triệu năm qua, con sóng vẫn thế như từ ngàn, triệu năm qua, tình yêu vẫn là một khát vọng cháy bỏng trong trái tim con người, nhất là tuổi trẻ

-> Hai câu thơ đầu, từ “ôi!” cảm thán là nỗi thổn thức của trái tim yêu Các từ “ngày xưa”, “ngày sau” khẳng

định sự trường tồn vĩnh cửu của sóng cũng như sự trường tồn vĩnh cửu, bất diệt của tình yêu

+  Đó cũng là khát vọng cháy bỏng trong trái tim không bao giờ thôi khát khao yêu đương của nhân vật trữ tình trong bài thơ

->Hai câu thơ sau, nhà thơ khẳng định tình yêu luôn song hành với tuổi trẻ

Trang 21

b.2 Khát vọng dâng hiến trong tình yêu.(khổ 3)

- Mặc dù có những trăn trở trong tình yêu nhưng thơ Xuân Quỳnh không dẫn người ta đến bế tắc, buồn chán mà thành khát vọng Từ nhận thức, khám phá,

Xuân Quỳnh đã mang đến giải pháp: “Làm sao được

tan ra….Để ngàn năm còn vỗ”

+ Tan ra thành trăm con sóng: khát vọng được hòa quyện, được dâng hiến tình yêu của mình vào tình

yêu của mọi người “Tan ra” không phải mất đi mà hòa

giữa cái chung và cái riêng Tình yêu như thế không bao giờ cô đơn

+ Để ngàn năm còn vỗ: tình yêu tồn tại mãi mãi,

trường tồn vĩnh cửu

->Khát vọng mãnh liệt trong tình yêu – nét hiện đại trong thơ của Xuân Quỳnh

Trang 22

b.3 Nghệ thuật

- Hình tượng sóng được thể hiện bằng thể thơ năm chữ, gợi âm điệu của nhịp sóng biển và sóng lòng.

- Sự song hành của hai hình tượng sóng và em

- Ngôn từ giản dị, trong sáng

- Giọng điệu tha thiết, mãnh liệt.

- Các biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ, ẩn dụ, đối lập…

c Đánh giá chung

- Hình tượng sóng trong đoạn thơ chính là biểu hiện của một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm, khao khát yêu đương, chủ động và mạnh mẽ trong tình yêu.

- Hình tượng sóng góp phần thể hiện phong cách nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh.

Trang 23

4 Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ qua đoạn thơ sau:

“Con sóng dưới lòng sâu

… Để ngàn năm còn vỗ” (Sóng – Xuân Quỳnh)

dị, nhiều âu lo, day dứt, trăn trở trong tình yêu.

- Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi công tác vùng biển Diêm Điền Trước khi Sóng ra đời, Xuân Quỳnh

đã phải nếm trải những đổ vỡ trong tình yêu Đây là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh. Đoạn thơ sau đây thể hiện vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu:

Trang 24

b Cảm nhận về đoạn thơ:

b.1 Tình yêu thường gắn liền với nỗi nhớ, khi xa

cách nỗi nhớ thật thiết tha và mãnh liệt (khổ 5)

+ Bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa và ẩn dụ, nhà thơ mang đến cho người đọc nỗi nhớ của sóng về bờ đồng thời cũng là nỗi nhớ của em về anh

+ Con sóng, dù ở trạng thái nào (trong lòng sâu, trên mặt nước, ngày hay đêm), đều thao thức một nỗi niềm

“nhớ bờ” Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian

+ Tình yêu của người phụ nữ trong bài thơ cũng vậy Hạt nhân của nó là nỗi nhớ, một nỗi nhớ cồn cào, da diết, nỗi nhớ chiếm cả tầng sâu, chiều rộng và trải dài theo thời gian, lúc hiện hữu, khi lắng sâu, lúc ý thức, khi nằm ngoài sự kiểm soát của ý thức

+ Liên hệ: Nỗi nhớ trong tình yêu là một đề tài quen thuộc trong thơ cam điều mà ta đã từng bắt gặp…Tuy nhiên,…

Trang 25

b.2 nhà thơ đưa ra khái niệm không gian để nói

lên lòng chung thủy của em đối với anh(khổ 6)

+ Những từ trái nghĩa: “xuôi-ngược”, “Bắc-Nam” đã nói lên sự cách trở xa xôi về mặt không gian nhưng lòng người thì không có khoảng cách vẫn thủy chung, thương nhớ, chờ đợi Em chỉ hướng về “một phương” tức chỉ hướng về anh.

+ Câu thơ như một lời khẳng định, rắn rỏi, mạnh

mẽ, dứt khoát Khổ thơ đặt ra sự cách trở và sự quyết tâm của con người Tình yêu chân thật và thủy chung sẽ chiến thắng được tất cả.

Trang 26

b.3 Xuân Quỳnh còn mượn hình tượng “sóng” để nói

lên niềm tin tưởng vào cuộc đời, vào tình yêu (khổ 7)

Sóng muốn về với bờ, sóng phảivượt qua giông bão Em muốn hướng về anh phải vượt qua những gian nan, thử thách của cuộc đời.

b.4 Nghệ thuật:

- Hình tượng sóng được thể hiện bằng thể thơ năm chữ, gợi âm điệu của nhịp sóng biển và sóng lòng.

- Cách ngắt nhịp gieo vần độc đáo, giàu sức liên tưởng.

- Xây dựng hình ảnh ẩn dụ, giọng thơ tha thiết.

Trang 27

+ Tâm hồn người phụ nữ đó luôn vươn lên với những khát khao mãnh liệt trong tình yêu, mong tìm đến tình yêu bao la, rộng lớn

+ Hình tượng người phụ nữ trong bài thơ vừa

mang tính đầm thắm dịu dàng, hồn hậu thủy chung; vừa mang tính hiện đại táo bạo, mãnh liệt dám vượt qua mọi trở ngại để tìm hạnh phúc

Trang 28

5 Vẻ đẹp hình tượng con sông Đà hung bạo

- Tác phẩm:“Người lái đò Sông Đà” được Nguyễn Tuân sáng

tác sau những chuyến đi thực tế gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc xa xôi, rộng lớn Bài tùy bút được in trong tập

“Sông Đà” xuất bản năm 1960

-> Trong đó nổi bật lên là hình tượng con sông Đà, với…

Trang 29

b Phân tích vẻ đẹp hung bạo của dòng sông Đà

- Con sông Đà hung bạo, dữ dội trước hết ở thủy trình chảy ngược của dòng sông “Mọi con sông đều chảy theo hướng đông, duy chỉ có con sông Đà chảy theo hướng Bắc” Thủy trình của dòng sông, cho thấy được cá tính củ dòng sông.

- Sông Đà còn hùng vĩ ở cảnh “đá bờ sông dựng vách thành” Mặt sông chỗ ấy chỉ lúc “đúng ngọ” (lúc giữa trưa) mới có mặt trời Có vách đá chẹt lòng sông “như một cái yết hầu”, ccon hổ có lần vọt từ bờ này sang bờ kia Vì lòng sông hẹp, bờ sông là vách đá cao, nên ngồi trong khoang đò ở quãng sông ấy “đang mùa hè mà cũng thấy lạnh.”

- Cảnh hùng vĩ của Sông Đà còn thể hiện ở quãng mặt ghềnh Hát Loóng với hàng cây số “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm” Đây là nơi nguy hiểm, người lái đò nào đi qua khúc sông này mà không thận trọng tay lái thì “dễ lật ngửa bụng thuyền ra”.

Trang 30

b Phân tích vẻ đẹp hung bạo của dòng sông Đà

- Con Sông Đà hùng vĩ còn ở những cái “hút nước” trên sông ở quãng Tà Mường Vát Đó là những xoáy nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu” Nước ở đây “thở và kêu như của cống cái

bị sặc” Đây là nơi rất nguy hiểm, không có thuyền nào dám men gần những cái “hút nước” ấy

- Nhưng hùng vĩ nhất, hung bạo nhất là thác Sông Đà

Thác Sông Đà được miêu tả từ xa đến gần:

+ Còn xa đã nghe thấy tiếng nước thác lúc như“oán trách”, lúc như là “van xin”, lúc như là “khiêu khích”, rồi rống lên “như tiếng một ngàn con trâu mộng”.

+ Đến gấn thấy trắng xóa cả một chân trời đá.

- Cảnh bày bố thạch trận đá trên sông Đá ở đây được bày bố như một loài thủy quái, khôn ngoan, xảo quyệt để gây khó khăn cho những con thuyền đi qua.

Ngày đăng: 20/12/2021, 20:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w