Câu 1: Việc thỏa thuận thành lập công ty cổ phần Nam Phát của các đốitượng trong tình huống trên có phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 không?. - Việc thỏa thuận thành lập cô
Trang 1HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Họ và tên: Đồng Thị Vân Giang Mã Sinh viên: 1973402011289 Khóa/Lớp: (tín chỉ)CQ57/11.04LT2 (Niên chế) CQ57/11.09
Hình thức thi: Bài tập lớn
Mã đề thi: 15KT-BLT Thời gian hoàn thành: 01 ngày
Tháng 12 năm 2021
Trang 2Câu 1: Việc thỏa thuận thành lập công ty cổ phần Nam Phát của các đối tượng
trong tình huống trên có phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp 2020
Câu 2: Bình luận về việc cấp Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp của
Trang 3Câu 1: Việc thỏa thuận thành lập công ty cổ phần Nam Phát của các đối
tượng trong tình huống trên có phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp
2020 không? Giải thích?
- Việc thỏa thuận thành lập công ty cổ phần Nam Phát của các đối tượng trong tình huống trên không phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp 2020
- Vì theo điều 17 Luật Doanh nghiệp quy định:
“1 Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2 Tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức
và Luật Viên chức;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống
Trang 4tham nhũng Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh;
- Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.”
=> Như vậy, đối chiếu với quy định trên, anh Nam, Bắc và bà Lan không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 17
- Anh Tây thuộc trường hợp “Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác” do anh đang là Trưởng phòng Tài chính của
Doanh nghiệp Nhà nước và không được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản
lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác (Khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp 2020:
“Điều 88 Doanh nghiệp nhà nước
1 Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, bao gồm:
a) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
b) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số
cổ phần có quyền biểu quyết, trừ doanh nghiệp quy định tại điểm a khoản
1 Điều này”).
- Anh Đông thuộc trường hợp “Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức” vì anh đang làm hợp đồng tại Bộ N,
thuộc viên chức quy định tại Luật Viên chức 2010, sửa đổi 2019:
“ Điều 2 Viên chức _ Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng
theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.”
Câu 2: Bình luận về việc cấp Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp của
Phòng Đăng ký kinh doanh tỉnh N.
- Việc cấp Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp của Phòng Đăng ký kinh doanh tỉnh N là không phù hợp
Trang 5- Vì theo Nghị định 78/2015-NĐ/CP (sửa đổi Nghị định 108/2018-NĐ/CP):
“Điều 27 Tiếp nhận, xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp
1 Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp hoặc người đại diện theo ủy quyền nộp hồ sơ theo quy định tại Nghị định này tại Phòng Đăng
ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.”
=> Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và đầu tư cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, cụ thể trong trường hợp này là Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội chứ không phải thuộc tỉnh N, vậy nên việc Phòng Đăng ký kinh doanh tỉnh N cấp Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp cho công ty cổ phần Nam Phát là không phù hợp với quy định
Câu 3:
a, Việc đăng ký mua và thanh toán cổ phần phổ thông của anh Nam, anh Bắc và
bà Lan không phù hợp
- Vì theo khoản 2 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định:
“2 Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng
số cổ phần phổ thông được quyền chào bán khi đăng ký thành lập doanh nghiệp.”
=> Trong trường hợp trên, cả 3 cổ đông sáng lập đã đăng ký mua 195.000 cổ phần phổ thông được quyền chào bán (mỗi người đăng ký mua 65.000) trên tổng
số 1 triệu cổ phần phổ thông công ty đã chào bán khi thành lập doanh nghiệp -chiếm 19,5% tổng số cổ phần phổ thông, ít hơn 20% của quy định (200.000 cổ phần phổ thông được quyền chào bán trên tổng số 1 triệu cổ phần phổ thông công ty đã chào bán khi thành lập doanh nghiệp) nên việc đăng ký mua và thanh toán cổ phần phổ thông của anh Nam, anh Bắc và bà Lan không phù hợp
b, Việc chuyển nhượng cổ phần của bà Lan cho anh Tây là không phù hợp
- Vì theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định:
“3 Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tự
do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại Hội đồng cổ đông Trường hợp này, cổ đông sáng lập dự định chuyển
Trang 6nhượng cổ phần phổ thông thì không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng cổ phần đó”.
=> Ngày 1/1/2020, công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nên phải đến ngày 1/1/2023, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập, ở đây là
bà Lan, mới được tự do chuyển nhượng cho người không phải cố đông sáng lập (anh Tây) nếu Đại hội đồng cổ đông chấp thuận Nhưng ở ngày 21/10/2021, bà Lan đã chuyển nhượng 65.000 cổ phần phổ thông của mình cho anh Tây (chưa
đủ 3 năm) nên việc chuyển nhượng trên là không phù hợp với quy định tại
khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020.
Câu 4:
- Trong trường hợp này, bộ máy tổ chức quản lý của công ty phải thành lập Ban kiểm soát
- Vì theo khoản 1 Điều 137 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định:
“1 Trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác, công ty
cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai
mô hình sau đây:
a) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;
b) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị.
Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban kiểm toán quy định tại Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động của Ủy ban kiểm toán do Hội đồng quản trị ban hành.”
=> Trường hợp này, công ty Cổ phần Nam Phát được thành lập với 10 cổ đông
là cá nhân và 1 cổ đông là tổ chức sở hữu 45% tổng số cổ phần công ty (11 cổ đông, cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty, không
có Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị), nên công ty Nam Phát là trường hợp thuộc khoản a, có thành lập Ban kiểm soát
Trang 7Câu 5:
a, - Việc triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông của nhóm cổ đông trong tình huống
trên là không phù hợp
- Vì theo Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định như sau:
“ Khoản 3 Cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều này (Khoản 2 Điều 115: Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số
cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại
Điều lệ công ty) có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông
trong trường hợp sau đây:
a) Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao; b) Trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty.”
=> Do nhóm cổ đông trên chỉ sở hữu 0,4% < 5% tổng số cổ phần phổ thông, mà công ty lại không có quy định khác trong Điều lệ công ty, nên nhóm cổ đông trên chưa có đủ quyền để triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông dù Hội đồng quản trị đã ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao
b, - Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất của công ty cổ phần Nam Phát
không hợp lệ
- Vì theo khoản 1 Điều 145 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định:
“ Điều 145 Điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông
1 Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện trên 50% tổng số phiếu biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.”
=> Như vậy, ta có thể thấy để tiến hành được cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thì
số cổ đông tham dự họp đại diện phải trên 50% tổng số phiếu biểu quyết (công
ty không có quy định khác) Trong trường hợp của công ty Nam Phát, số cổ đông dự họp chỉ đại diện cho 50% tổng số phiếu biểu quyết trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất nên cuộc họp trên là không phù hợp
Câu 6:
- Hợp đồng do anh Bắc và ông ShuShi ký kết có là hợp đồng không có yếu
tố nước ngoài
- Vì theo khoản 2 Điều 633 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Trang 8“2 Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam
nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy
ra tại nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam
nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”
=> Công ty TNHH 1 thành viên Hoa Anh Đào do ông ShuShi - quốc tịch
Nhật-làm chủ sở hữu và là đại diện theo pháp luật của công ty Ông ShuShi là cá nhân
nước ngoài (theo khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020: “Cá nhân nước
ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài” ), nhưng công ty
Hoa Anh Đào lại có trụ sở đặt tại Việt Nam (quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh)
nên theo khoản 1 điều 676 Bộ luật Dân sự 2015: “ Quốc tịch của pháp nhân
được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập”, công ty Hoa
Anh Đào là pháp nhân Việt Nam Từ đó ta thấy hợp đồng mua lô thiết bị y tế của
2 công ty có hai bên tham gia đều là pháp nhân Việt Nam,hợp đồng do anh Bắc
và ông ShuShi ký kết là hợp đồng không có yếu tố nước ngoài
Câu 7:
a, - Thỏa thuận của các bên về mức phạt vi phạm trong tình huống trên không
làm hợp đồng vô hiệu
- Vì theo Điều 301 Luật Thương mại 2005 quy định:
“Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối
với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không
quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy
định tại Điều 266 của Luật này.”
(Điều 266 Phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp kết quả
giám định sai)
=> Hai bên thỏa thuận trong hợp đồng: “Nếu có vi phạm hợp đồng, bên vi phạm phải trả tiền phạt cho bên bị vi phạm 8% giá trị của hợp đồng”, điều khoản quy
định giữa hai bên không vượt quá mức quy định theo điều luật trên, thỏa thuận
Trang 9của các bên về mức phạt vi phạm trong tình huống trên là hoàn toàn phù hợp với quy định
b, - Trung tâm trọng tài thương mại Á Châu không có thẩm quyền giải quyết vụ
tranh chấp như các bên đã thỏa thuận
- Vì theo Điều 16 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định:
“1 Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng.
2 Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản: a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng
telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;
c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;
đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.
=> Hai bên thỏa thuận ngoài hợp đồng bằng lời nói: “Nếu có vi phạm hợp đồng xảy ra sẽ giải quyết tại Trung tâm Trọng tài thương mại Á Châu”, mà theo quy
định “Thỏa thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản” nên thỏa
thuận trọng tài bằng lời nói ngoài hợp đồng của hai bên là vô hiệu, hoàn toàn không phù hợp với quy định tại điều trên, Trung tâm trọng tài thương mại Á Châu không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp như các bên đã thỏa thuận
Câu 8: Việc thành lập công ty Hưng Thịnh Phát thuộc hình thức hợp nhất công
ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020.
- Vì theo Điều 200 Luật Doanh nghiệp 2020:
Trang 10“Hai hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất”
=> Công ty cổ phần Nam Phát và công ty hợp danh Hưng Thịnh hợp nhất thành một công ty mới (công ty cổ phần Hưng Thịnh Phát), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của hai công ty Nam Phát và công ty Hưng Thịnh nên việc thành lập công ty Hưng Thịnh Phát thuộc hình thức hợp nhất công ty
Câu 9:
- Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, tranh chấp trong tình huống
trên là tranh chấp kinh doanh, thương mại, thuộc loại: “Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn
giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty” _ Khoản 4
Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
- Tòa án Nhân dân có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp đó là Tòa án Nhân
dân cấp tỉnh Vì điểm a khoản 1 điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy
định:
“1 Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây:
a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này”
=> Tình huống tranh chấp của trường hợp trên thuộc loại tranh chấp trong
Khoản 4 Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 nên theo quy định thì sẽ thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án Nhân dân cấp tỉnh
Câu 10:
a, Chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục giải quyết phá sản
đối với công ty cổ phần Nam Phát quy định trong Điều 5, Luật Phá sản 2014 là:
“1 Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày