1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG tác CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU tại CHI cục hải QUAN KCN SÓNG THẦN cục hải QUAN TỈNH BÌNH DƯƠNG

100 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 629,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1.1. Thuế nhập khẩu, đặc điểm của thuế nhập khẩu và phân loại thuế nhập khẩu (13)
  • 1.1.2. Thất thu thuế nhâp khẩu và chống thất thu thuế (15)
  • 1.1.3. Sự cần thiết chống thất thu thuế nhập khẩu (19)
  • 1.2. VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN HẢI QUAN TRONG CÔNG TÁC CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU (21)
    • 1.2.1. Chức năng của cơ quan Hải quan trong quản lý thu thuế nhập khẩu 14 1.2.2. Vai trò của cơ quan Hải quan trong chống thất thu thuế nhập khẩu .16 1.2.3. Nh ững nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao vai trò của cơ quan Hải (21)
  • 1.3. KINH NGHIỆM VỀ NÂNG CAO VAI TRÒ C ỦA CƠ QUAN HẢI QUAN (28)
    • 1.3.1. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ (28)
    • 1.3.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc (29)
    • 1.3.3. Kinh nghiệm của Thái Lan (30)
    • 1.3.4. Kinh nghiệm chống thất thu thuế của Cục Hải quan Tp. Hồ Chí Minh.24 1.3.5. Kinh nghiệm chống thất thu thuế của Cục Hải quan Đồng Nai (31)
  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ NHẬP KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN HẢI QUAN TRONG CÔNG TÁC CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU (13)
    • 2.2. TÌNH HÌNH THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN KCN SÓNG THẦN (34)
    • 2.3 THỰC TRẠNG VỀ THU THUẾ VÀ THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN KCN SÓNG THẦN (39)
      • 2.3.1 Thực trạng gian lận về thuế nhập khẩu tại Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần (39)
      • 2.3.2. Thực trạng chống thất thu thuế nhập khẩu tại Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần (51)
    • 2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG TH ỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU CỦA CHI CỤC HẢI QUAN KCN SÓNG THẦN THỜI (55)
      • 2.4.1 Những kết quả đạt được (55)
      • 2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân (58)
    • 3.1. ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN HẢI QUAN (63)
      • 3.1.1. Dự báo về hội nhập kinh tế Quốc tế của Việt Nam, những cơ hội và thách thức đối với cơ quan Hải quan trong chống thất thu thuế (63)
      • 3.1.2. Định hướng phát triển của Hải quan Bình Dương đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 (66)
    • 3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA HẢI QUAN (67)
  • TRONG VI ỆC CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI (0)
    • 3.2.1. Đề ra các biện pháp chống thất thu thuế và thường xuy ên, liên tục được triển khai trong từng lĩnh vực của Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần (67)
    • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN KCN SÓNG THẦN (33)
    • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN KCN SÓNG THẦN (63)
      • 3.2.2. Hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu h àng hóa (75)
      • 3.2.3. Đẩy mạnh công tác thu thập, xử lý thông tin doanh nghiệp, áp dụng quản lý rủi ro các doanh nghiệp làm thủ tục qua Chi cục (80)
      • 3.2.4. Tăng cường và nâng cao hiệu quả trong việc theo d õi, quản lý, thu hồi nợ đọng thuế và các biện pháp xử lý vi phạm về thuế đối với đối tượng nộp thuế (82)
      • 3.2.5. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữ u quan và tạo những điều kiện thuận lợi để nâng cao vai trò của Hải quan trong chống thất thu thuế (84)
      • 3.2.6. Nâng cao trình độ nhận thức cho cả đội ngũ Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần và đối tượng nộp thuế (86)
      • 3.2.7. Giải pháp khác (88)

Nội dung

LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan luận văn “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chống thất thu thuế nhập khẩu tại Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần - Cục Hải quan tỉnh Bình Dương ” là công trìn

Thuế nhập khẩu, đặc điểm của thuế nhập khẩu và phân loại thuế nhập khẩu

Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một khái niệm đồng nhất về thuế thuế NK Thuế NK thường có tên gọi chung là thuế quan (Customs duty) Đây là loại thuế mà các nước dùng để đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN), bảo hộ sản xuất và can thiệp vào quá trình hoạt động ngoại thương, buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia.

Theo tác giả Nguyễn Thị Liên (2007) trong giáo trình nghiệp vụ thuế của Nhà xuất bản Tài chính-Hà Nội định nghĩa: “Thuế NK là sắc thuế đánh vào hàng hoá XK, NK theo quy định của pháp luật Việt Nam”.

Theo đồng tác giả Lê Quang Cường và Nguyễn Kim Quyến (2013) trong giáo trình thuế I của Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh khái niệm: “Thuế

NK là loại thuế thu vào hàng hóa được phép giao thương qua biên giới các quốc gia, nhóm quốc gia, hình thành và gắn liền với thương mại quốc tế Thuế NK áp dụng đối với hàng hóa NK qua cửa khẩu, biên giớ i; hàng hóa mua bán trao đổi của cư dân biên giới và hàng hóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa

XK, NK; hàng háo từ thị trường trong nước bán vào các khu phi thuế quan và ngược lại”.

Theo từ điển Kinh tế học (Anh - Việt giải thích): “Thuế nhập khẩu (Import duty) là khoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu Thuế nhập khẩu được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài”

Trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời của thuế NK cùng như các quan niệm về thuế nhập khẩu ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, có thể hiểu khái niệm chung về thuế NK như sau: Thuế NK là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động XK, NK hàng hoá mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo quy định của Pháp luật thuế XK, thuế NK nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

1.1.1.2 Đặc điểm của thuế nhập khẩu

Theo đồng tác giả Lê Quang Cường và Nguyễn Kim Quyến (2013) , đặc thù của thuế nhập khẩu so với các loại thuế khác trong hệ thống thuế là việc sử dụng thuế nhập khẩu không những tác động đến nền kinh tế mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ ngoại giao và chính sách đối xử với các quốc gia khác Để phân biệt thuế nhập khẩu với các loại thuế khác trong hệ thống thuế, căn cứ vào các đặc điểm cơ bản sau đây:

- Thuế xuất khấu, thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu Do đó, tác động trực tiếp đến giá cả của hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu Thật vậy, tác động đến giá cả hàng hóa nhập khẩu của thuế nhập khẩu ngoài việc thực hiện mục tiêu bảohộ của Nhà nước hay tạo khoản thu cho ngân sách Nhà nước, còn tạo nên tác động dây chuyền đến giá cả hàng hóa sản xuất hay dịch vụ trong nước có sử dụng đến hàng nhập khẩu (như linh kiện lắp ráp, nguyên vật liệu, nhiên liệu…). Tác động này có khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến giá cả hàng hóa hay dịch vụ trong nước, làm nền kinh tế mất bìnhổn Do đó, việc sử dụng thuế xuất khẩu , thuế nhập khẩu của Nhà nước cần linh hoạt về thuế suất và kết hợp với các loại thuế nội địa, các công cụ kinh tế khác, để thực hiện mục tiêu bình ổn và tăng trưởng kinh tế.

- Chính sách thương mại của một quốc gia, nhóm quốc gia sẻ ảnh hưởng nhất định đến khoản thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu qua việc thực hiện các cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu hay đối xử ưu đãi về thuế nhập khẩu Ngược lại, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng gây những tác động đáng kể đến hoạt động thương mại quốc tế và tình hình tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.

- Nhằm quản lý tập trung, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được tổ chức thu 01 lần ở khâu xuất khẩu hay nhập khẩu, áp dụng cho hang hóa xuất nhập khẩu mậu dịch và phi mậu dịch Việc áp dụng thuế cho hàng hóa phi mậu dịch,chủ yếu nhằm mục tiêu ngăn chặn các hành vi lợi dụng luật thuế.

Thất thu thuế nhâp khẩu và chống thất thu thuế

1.1.2.1 Th ất thu thuế v à nguyên nhân

*/ Khái niệm: Thất thu thuế có thể hiểu một cách đơn giản đó là khoản tiền thuế bị đối tượng nộp thuế chiếm dụng, không nộp đúng, nộp đủ theo quy định của chính sách thuế(theo Trọng Bảo, 2013).

Thất thu thuế nhập khẩu là khoản tiền thuế nhập khẩu bị tổ chức, cá nhân có hàng hoá nhập khẩu chiếm đoạt, không nộp đúng, nộp đủ theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu(theo Trọng Bảo, 2013).

*/ Nguyên nhân của thất thu thuế nhập khẩu:

Cũng theo tác giả Trọng Bảo (2013), Thất thu thuế nhập khẩu có thể do các nguyên nhân cơ bản sau đây:

M ột l à, gian l ận về m ã s ố thuế để xác định thuế suất của h àng hóa nh ập khẩu: Lợi dụng cơ chế tự kê khai, tự tính thuế trong quá trình thông quan hàng hóa nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện hành vi mô tả sai hàng hoá trên tờ khai Hải quan, đưa hàng hoá từ mã số có thuế suất cao về mã số có thuế suất thấp để gian lận trốn thuế.

Hai là, gian l ận trong việc xác định trị giá tính thuế:

- Thông đồng với nước ngoài giảm giá: Nhiều doanh nghiệp đã thông đồng với đối tác bán hàng để lập hoá đơn, hợp đồng hạ thấp giá trị hàng hoá so với giá trị thực; khai báo thấp về chất lượng hàng hóa hoặc đánh đồng tên hàng nhưng chất lượng và phẩm cấp thương mại cao hơn;

- Chia nhỏ linh kiện, phụ tùng của sản phẩm nguyên chiếc để gian lận giá; nhiều doanh nghiệp lại đang lợi dụng chính sách này để khai báo mức giá giao dịch thấp nhằm giảm số thuế phải nộp…

Ba là, làm gi ả chứng nhận xuất xứ (C/O) của h àng hoá nh ập khẩu:

Do chênh lệch lớn về mức thuế suất giữa thuế suất nhập khẩu ưu đãiđặc biệt(FTA) và thuế suất nhập khẩu ưu đãi (MFN) nên thời gian quan đã xuất hiện nhiều trường hợp làm giả chứng nhận xuất xứ hoặc khai báo sai xuất xứ hàng hóa.

B ốn l à, gian l ận định mức: Theo quy định hiện nay, hàng hóa nhập khẩu để gia công cho phía nước ngoài theo hợp đồng gia công đã kýđược miễn thuế nhập khẩu và khi xuất trả sản phẩm cho phía nước ngoài được miễn thuế xuất khẩu Lợi dụng sự thông thoáng của cơ quan quản lý Nhà nước trong việc kiểm tra, xác định định mức tiêu hao thực tế, nhiều doanh nghiệp đã kê khaiđịnh mức cao hơn định mức tiêu hao thực tế Phần chênh lệch doanh nghiệp sử dụng để sản xuất hàng tiêu thụ trong nước hoặc bán vào nội địa.

Năm là, lợi dụng chính sách ưu đ ãi c ủa Nh à n ước:

- Lợi dụng chính sách miễn giảm thuế: Lợi dụng chính sách này, nhiều doanh nghiệp khi nhập khẩu hàng hoá kê khai là tạo tài sản cố định nhưng đã không đưa về lắp ráp nhà xưởng để sản xuất mà bán thẳng ra thị trường; Có doanh nghiệp khai nhập khẩu ô tô để vận chuyển nguyên liệu nằm trong dây truyền công nghệ nhưng lại sử dụng vào mục đích khác; lợi dụng chính sách cho phép miễn thuế nguyên liệu 5 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất đối với các dự án thuộc Danh mục khuyến khích đầu tư, lĩnh vực đặc biệt khuyế n khích đầu tư nhưng thực tế nguyên liệu không đưa về nhà máy sản xuất, có doanh nghiệp bán luôn ra thị trường, năng lực sản xuất thấp nhưng khai cao để được nhập khẩu miễn thuế.

- Lợi dụng chính sách thuế ưu đãiđối với hàng hóa lắp ráp trong nước: Lợi dụng việc nhập khẩu linh kiện phụ tùng có mức thuế suất thấp hơn thuế suất sản phẩm nguyên chiếc, các doanh nghiệp đã tháo rời các sản phẩm nguyên chiếc, chia cho các công ty khác nhau nhập khẩu về và lắp ráp thành sản phẩm nguyên chiếc trong nước để trốn th uế.

- Lợi dụng hàng hoá luồng xanh (được miễm kiểm tra) để trốn thuế qua số lượng và chủng loại:

Hiện nay, hải quan đã áp dụng phương pháp quản lý hàng hoá xuất, nhập khẩu chuyển từ “tiền kiểm sang hậu kiểm” trên cơ sở phương pháp quản lý Hải quan hiện đại dựa trên phương pháp quản lý rủi ro, hàng hoá được phân luồng kiểm tra căn cứ vào các tiêu chí quản lý rủi ro và các thông tin thu thập được từ nhiều nguồn Đây là sự chuyển biến mang tính cách mạng của ngành Hải quan,vừa tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, vừa đảm bảo quản lýNhà nước về Hải quan trong tình hình mới Lợi dụng chính sách này không ít doanh nghiệp đã cố tình khai báo khôngđúng về số lượng và chủng loại hàng hoá nhập khẩu, khai báo số lượng ít đi và khai từ mặt hàng có th uế suất thuế nhập khẩu cao sang mặt hàng có thuế suất thuế nhập khẩu thấp nhằm mục đích giảm số thuế nhập khẩu phải nộp gây thất thu cho ngân sách Nhà nước Doanh nghiêp được khai báo trước 15 ngày khi hàng đến, do vậy, khi tờ khai được phân luồng Xanh, doanh nghiệp sẽ điều chỉnh số lượng hàng hóa nhập khẩu để gian lận.

- Lợi dụng chính sách ân hạn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu: Do chính sách của Nhà nước vẫn cho doanh nghiệp được ân hạn thuế trong một số trường hợp nên nhiều doanh nghiệp lợi dụng chính s ách này sau đó bỏ trốn, hoặc sau khi hàng đã tiêu thụ thì không chịu nộp tiền thuế nhập khẩu cho Nhà nước (từ 01/07/2013, Luật Hải quan số 21/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế có hiệu lực, các tờ khai nhập khẩu kinh doanh phải nộp thuế trước khi thông quan hoặc giải phóng hàng hóa, tuy nhiên, trong phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài nên vẫn để nội dung này trong luận văn).

Sáu là, th ất thu thuế do tr ình độ v à ý th ức của công chức: có một số cán bộ công chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ kiểm tra giám sát hàng hoá nhập khẩu do trìnhđộ năng lực hạn chế, hoặc sơ xuất, lơ là trong công việc cũng bị doanh nghiệp “qua mặt” một cách dễ dàng; một số ít đã sa ngã trước sự cám dỗ của vật chất đã cố ý thông đồng hoặc bao che để doanh nghiệp lợi dụng trốn thuế.

1.1.2.2 H ậu quả của thất thu thuế nhập khẩu:

Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa giữa các nước đã trở nên phổ biến và rất phát triển Để khuyến khích lưu thông hàng hóa, kích thích nền kinh tế, nhiều quốc gia trên thế giới đã giảm thiểu hàng rào thuế quan, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu,Việt Nam từ khi gia nhập WTO, ký nhiều Hiệp định đa phương và song phương cũng đã cam kết cắt giảm dần thuế suất nhập khẩu theo lộ trình của mìnhđể phù hợp với những sân chơi quốc tế này Tuy vậy, vai trò của thuế nhập khẩu vẫn không hề suy giảm Thuế nhập khẩu vẫn được coi là một nguồn thu quan trọng đối với ngân sách Nhà nước, là công cụ góp phần bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước phát triển, đóng vai trò kiểm soát và điều tiết hàng hóa nhập khẩu, khẳng định vai trò chủ quyền quốc gia, chống phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế Dưới đây sẽ xem xét hậu quả của thất thu thuế trên một số khía cạnh đối với nền kinh tế; đối với môi trường kinh doanh.

* Đối với nền kinh tế:

Trước tiên thất thu thuế nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn thu ngân sách Nhà nước Thuế nhập khẩu là một nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước Thông qua thuế Nhập khẩu, Nhà nước huy động một phần thu nhập được tạo ra từ hoạt động nhập khẩu hàng hóa để tập trung vào ngân sách Đối với các nước phát triển, thuế xuất, nhập khẩu chiếm một tỷ trọng không đáng kể trong tổng thu ngân sách (chiếm từ 1-5%) Cònở các nước đang phát triển, cụ thể như Việt Nam, số thu từ thuế xuất nhập khẩu luôn chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng số thu ngân sách (khoảng những năm gần đây tỷ trọng nguồn thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong tổng thu NSNN khoảng 8% - 9%) Việc thất thu thuế nhập khẩu do các nguyên nhân khác nhau khiến các khoản chi của Chính phủ cho đầu tư và phát triển bị hạn chế, dẫn đến tình trạng mất cân đối nguồn ngân sách Từ đó, Chính phủ có thể phải sử dụng các biện pháp như vay tiền trong dân, gây bất ổn nền kinh tế; phát hành tiề n tăng lượng tiền trong nền kinh tế gây lạm phát; nợ nước ngoài dẫn đến lệ thuộc về kinh tế, chính trị vào các nước cho vay…(Thông tư 194/2010/TT-BTC).

Thất thu thuế nhập khẩu còn làm giảm khả năng cạnh tranh của các mặt hàng trong nước do một lượng hàng hóa trốn thuế được đưa vào thị trường, gây khó khăn cho nhiều doanh nghiệp và ngành công nghiệp non trẻ đang cần được bảo hộ Không những thế, vai trò kiểm soát và điều tiết với hàng hóa nhập khẩu của thuế nhập khẩu cũng không được đảm bảo khi những hàng h óa cần hạn chế nhập khẩu hoặc tiêu dùng như ô tô, điều hòa, rượu bia…vẫn ngang nhiên được tiêu thụ trên thị trường theo cách này hay cách khác mà trốn tránh được sự kiểm soát của các cơ quan chức năng Nhiều hàng hóa thậm chí đã bị cấm nhưng vẫn xuất hiện như ma túy, vũ khí, văn hóa phẩm đồi trụy… xâm hại đến chủ quyền an ninh quốc gia, đời sống nhân dân, gây bất ổn xã hội (Thông tư 128/2013/TT- BTC). Để thực sự phát huy vai trò tạo nguồn thu ngân sách Nhà nước, bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước phát triển, kiểm soát và điều tiết hàng hóa nhập khẩu thì thuế nhập khẩu phải bao quát hết các hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa của các tổ chức, cá nhân, đảm bảo thu đúng, thu đủ và nộp kịp thời tiền thuế nhập khẩu vào ngân sách Nhà nước.

Sự cần thiết chống thất thu thuế nhập khẩu

Một là, xuất phát từ yêu cầu bảo hộ sản xuất trong nước:

- Theo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11, thuế nhập khẩu tác động trực tiếp vào đầu vào của quá trình sản xuất thông qua việc đánh thuế trên hàng hóa nhập khẩu là máy móc, thiết bị, tư liệu sản xuất….Ngoài chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế như các loại thuế gián thu khác, thuế nhập khẩu có chức năng bảo hộ nền sản xuất trong nước thông qua việc tác động vào giá cả của hàng hóa nhập khẩu trên thị trường, cụ thể:

+ Đối với những loại hàng hóa là máy móc, thiết bị, nguyên, vật liệu phục vụ sản xuất, việc đánh thuế nhập khẩu thấp nó có tác dụng trực tiếp đến đầu vào của sản phẩm, giá cả đầu vào giảm, giúp doanh nghiệp sản xuất trong nước có điều kiện đổi mới công nghệ, giảm giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước.

+ Đối với những loại hàng hóa khác, tùy vào nhu cầu v à đối tượng sử dụng, thuế nhập khẩu có tác dụng khuyến khích hay hạn chế tiêu dùng bằng việc đánh thuế thấp hay cao Qua đó, việc đánh thuế hàng nhập khẩu thể hiện mức độ bảo hộ hàng sản xuất trong nước (hàng cùng loại hoặc tương tự), bởi lẽ: Khi đánh thuế hàng nhập khẩu cao thì giá cả hàng nhập khẩu cao, sẽ hạn chế tiêu dùng hàng nhập khẩu và khuyến khích tiêu dùng sản phẩm trong nước, trong điều kiện đó hàng sản xuất trong nước sẽ có điều kiện cạnh tranh hơn hàng nhập khẩu nhờ giá thành hạ so với hàng nhập khẩu, nhờ đó sản xuất trong nước phát triển.

Có thể khẳng định rằng, thuế nhập khẩu là hàng rào bảo hộ sản xuất trong nước có hiệu quả, minh bạch nhất Với mức thuế nhập khẩu càng cao thì mức độ mở cửa thị trường càng hạn chế và ngược lại Chính vì vậy, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, đặc biệt là thuế nhập khẩu là một trong các nội dung có ý nghĩa quan trọng nhất đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Hai là, xuất phát từ yêu cầu huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước:

Theo Trọng Bảo (2013), khi thực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế và bảo hộ nền sản xuất trong nước, thuế nhập khẩu góp phần quan trọng trong việc hình thành nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Khi thu thuế nhập khẩu ở mức cao vừa bảo hộ sản xuất trong nước, vừa đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước Ngược lại, thu thuế nhập khẩu thấp, tức là khuyến khích nhập khẩu, nhìn bên ngoài số thu đóng góp cho ngân sách thấp hoặc không đáng kể, nhưng xét trong tổng thể quy trình sản xuất xã hội thì thu ngân sách sẽ tăng lênở khâu tiêu thụ sản phẩm thông qua các loại thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp,…

Một trong những mục đích cơ bản của gian lận là trốn thuế Do đó, gian lận trốn thuế càng tăng thì thất thu ngân sách Nhà nước càng lớn Nhà nước bị thất thu thuế lớn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tích luỹ vốn để tiến hành cân đối thu chi và đầu tư cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá Ngân sách Nhà nước được xác lập trên cơ sở dự toán nhu cầu chi tiêu và khả năng đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, trong đó nguồn thu từ thuế nhập khẩu có vai trò rất quan trọng Nếu việc nộp thuế bị chậm trễ hoặc doanh nghiệp cố tình trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế, thì việc thực hiện dự toán thu ngân sách sẽ không được đảm bảo Từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và các đơn vị sự nghiệp, cũng như nhu cầu về vốn cho quá trìnhđầu tư phát triển kinh tế xã hội, ảnh hưởng đến công tác bình ổn giá cả, từ đó làm cho các chiến lược phát triển kinh tế- xã hội bị chệch hướng.

Ba là, do yêu cầu kiểm soát hàng hóa nhập khẩu:

Khi mở cửa thị trường, có thể nói rằng vì mục tiêu lợi nhuận mà việc mua bán hàng hóa, dịch vụ có thể diễn ra ở bất cứ nơi nào và bất kỳ loại hàng hóa gì, cũngcó những thứ hàng hoá có thể xâm nhập vào bằng nhiều hình thức làm xâm hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia, đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Mặc dù, với xu thế tự do hóa, toàn cầu hóa đòi hỏi phải cắt giảm hàng rào thuế quan, thuế quan hóa các biện pháp phi thuế quan, nhưng vai trò, vị trí của thuế quan vẫn còn quan trọng Chính vì vậy, thông qua việc kiểm tra thu thuế nhập khẩu, để biết được thực chất hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu loại hàng hóa gì, với số lượng là bao nhiêu, nhập khẩu từ nước nào.v.v thì Nhà nước mới kiểm soát được tất cả các loại hàng hóa nhập khẩu Kết hợp với chính sách kinh tế đối ngoại thích hợp, Nhà nước cho phép nhập những loại hàng hóa gì, cấm nhập những hàng hóa nào để có biện pháp xử lý kịp thời, không để lọt vào thị trường trong nước.

VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN HẢI QUAN TRONG CÔNG TÁC CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU

Chức năng của cơ quan Hải quan trong quản lý thu thuế nhập khẩu 14 1.2.2 Vai trò của cơ quan Hải quan trong chống thất thu thuế nhập khẩu 16 1.2.3 Nh ững nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao vai trò của cơ quan Hải

Theo điều 19 Luật Hải quan (2014) quy định rõ: “Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật vềthuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.” Tại hầu hết các nước, Hải quan là thể chế công lâu đời nhất Tuy so với ban đầu ngành Hải quan không có gì thay đổi đáng kể sau nhiều năm nhưng trong vòng một thập kỷ vừa qua, lại có những thay đổi lớn trong trọng tâm và tầm quan trọng của mỗi nhiệm vụ cơ bản đó Vai trò của Hải quan được thểhiện qua các nhiệm vụchính sau:

-Cơ quan thu ngân sách:

Theo Luật Hải quan (2014), Hải quan là cơ quan có nhiệm vụthu thuếHải quan và các loại thuế khác đánh trên hàng hoá nhập khẩu và trong một số trường hợp trên hàng xuất khẩu Ởnhiều nước đang phát triển nguồn thu Hải quan vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong nguồn thu ngân sách quốc gia Hải quan là tổ chức duy nhất có vị trí thích hợp để tiến hành thu thuế có kết quả đối với hàng nhập khẩu, đồng thời cũng đóng vai trò chính trong hoàn thuếcho hàng xuất khẩu.

- Nguồn dữliệu thương mại Quốc gia:

Dữliệu do hãng vận tải và doanh nghiệp xuất nhập khẩu cung cấp trong tờ khai hải quan tại thời điểm xuất, nhập khẩu là nguồn dữliệu cơ sở tạo dựng nên dữ liệu thống kê thương mại quốc gia Hải quan đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo dữ liệu khai báo chính xác và kịp thời đểhỗ trợ các cơ quan Trung ương, Bộ Tài chính và các bộ ngành khác trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến chính sách tiền tệ, thương mại, vận tải, du lịch và các chính sách kinh tếquốc gia khác.

-Đảm bảo một sân chơi “bìnhđẳng” cho thương mại và kinh doanh:

Hải quan phải đảm bảo áp dụng nhất quán thuế nhập khẩu đối với mọi doanh nghiệp nhằm ngăn chặn bóp méo kinh tế Hải quan cần đảm bảo cho hàng nhập khẩu không bịphân loại sai, khai tăng hoặc giảm trị giá hoá đơn hoặc được áp dụng mức thuế ưu đãi theo xuất xứhoặc các căn cứ khác Hải quan cũng phải ngăn chặn hàng hoá nhập khẩu vào trong nước Thêm vào đó Hải quan cũng cần đảm bảo áp dụng công bằng các ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tránh tình trạng doanh nghiệp được miễn giảm thuế và hưởng lợi thế không thoả đáng trên thị trường.

-Cơ quan bảo vệxã hội tuyến đầu:

Hải quan chịu trách nhiệm ngăn chặn sự vận chuyển các chủng loại hàng hoá nguy hại và không an toàn qua biên giới bao gồm hàng hoá dán nhãn hiệu/bao gói không đúng quy cách hoặc xác định bởi các cơ quan hữu quan vềy tế, nông nghiệp, ngư nghiệp, bảo vệ người tiêu dùng…là không an toàn cho tiêu dùng Hải quan bảo vệxã hội khỏi hiểm hoạma tuý, vũ khí, nạn nhập cư bất hợp pháp và buôn bán các loại hàng hoá bị cấm hay hạn chế trái với các công ước Quốc tế.

- Tạo thuận lợi cho thương mại hợp pháp:

Hải quan cần nỗ lực không ngừng để duy trì một sự cân đối hợp lý giữa một bên là tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại toàn cầu tăng lên nhanh chóng với một bên là thi hành pháp luật trong thu thuếvà bảo vệxã hội, đảm bảo quản lý chặt chẽ.

1.2.2 Vai trò của cơ quan Hải quan trong chống thất thu thuế nhập khẩu

Theo Quyết định số 1169/QĐ-TCHQ, Quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của cơ quan Hải quan Chống thất thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tất yếu phải kể đến vai trò của cơ quan Hải quan, đó là một tất yếu khách quan vì:

1.2.2.1 Qu ả n lý hàng hoá xu ấ t nh ậ p kh ẩ u là ch ức năng cơ bả n c ủ a H ả i quan

Với nhiệm vụ chính trị hàng đầu là quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu, đảm bảo thu đúng, thu đủ cho ngân sách Nhà nước, chống buôn lậu và gian lận thương mại qua biên giới, ngành Hải quan luôn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức trong thời kỳ hội nhập Chống thất thu thuếnhập khẩu là một nhiệm vụhết sức nặng nề đòi hỏi các cấp lãnhđạo của ngành Hải quan phải luôn luôn trăn trở trước câu hỏi đặt ra “Làm thế nào để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, đảm bảo thu đúng, thu đủthuế cho ngân sách Nhà nước” Ngành Hải quan đã phải luôn cải cách thủ tục hành chính, học hỏi kinh nghiệm từ các nước trên thế giới, hiện đại hoá ngành Hải quan nhằm mục đích thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất, nhập khẩu nhưng vẫn phải đảm bảo chặt chẽ, chống thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước.

1.2.2.2 Trướ c s ự gia tăng không ngừ ng c ủ a các th ủ đoạ n tr ố n l ậ u thu ế xu ấ t, nh ậ p kh ẩ u c ủ a các ch ủ th ể kinh t ế

Lượng hàng hoá nhập khẩu qua các cửa khẩu tăng lên nhanh chóng, song hành với hoạt động này là việc gian lận để trốn thuế gây thất thu thuế cũng không ngừng gia tăng Nổi cộm là tình hình cácđối tượng lợi dụng việc áp dụng quản lý rủi ro, hệ thống phân luồng tự động trong quy trình thủ tục Hải quan để buôn lậu Phương thức thủ đoạn phổbiến là khai báo sai vềtên hàng, chủng loại, xuất xứ; gian lận qua giá như cố tình khai thấp giá thực tế nhập khẩu để trốn thuế; lợi dụng chính sách mặt hàng; nhập khẩu hàng thừa so với khai báo, không khai báo; nhập khẩu hàng hoá không đạt chất lượng theo quy định; xuất khẩu khai báo khống, không đúng mặt hàng Đối với loại hình đầu tư gia công, sản xuất hàng xuất khẩu, phương thức thủ đoạn phổ biến là gian lận điều chỉnh định mức để thanh khoản; bán nguyên liệu, phụ liệu và sản phẩm ra ngoài thị trường nội địa để trốn thuế sau đó hợp thức hoá bằng cách xuất khống, làm thủtục tiêu huỷhàng hoá, nguyên liệu; nhập hàng hoá thành phẩm hoặc bán thành phẩm đểgian lận xuất xứnhằm hưởng thuế suất ưu đãi

Trốn lậu thuế xuất khẩu, nhập khẩu gian lận thương mại có rất nhiều thủ đoạn tinh vi đòi hỏi phải có một tổ chức có chuyên môn nghiệp vụ cao mới có thể chống lại các hành vi đó một cách có hiệu quả Hải quan là một lực lượng được đào tạo về chuyên môn, chuyên sâu trong công tác thu thuế xuất nhập khẩu, được trang bị mọi kiến thức, trang bị kỹ thuật hiện đại để thực hiện tốt công tác chuyên môn nghiệp vụ Trước tình hình gian lận thương mại, trốn thuế ngày càng phức tạp, ngành Hải quan đã không ngừng nâng cao trìnhđộ của đội ngũ công chức, hiện đại hoá trang thiết bị để nhằm hạn chế tối đa việc gian lận trốn thuếcủa các doanh nghiệp.

1.2.2.3 Do yêu c ầ u c ạ nh tranh lành m ạ nh, bình đẳ ng trong n ề n kinh t ế th ị trường định hướ ng xã h ộ i ch ủ ngh ĩa

Cạnh tranh bình đẳng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Việc trốn thuế, gian lận thuế sẽ dẫn đến việc cạnh tranh bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp làm ăn chân chính và các doanh nghiệp gian lận làm ăn theo kiểu chụp giật Doanh nhiệp trốn được thuế sẽ bán phá giá thị trường gây nên tác động tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa sẽkhông cạnh tranh được, dẫn đếnảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp, người lao động và cả xã hội Chống thất thu thuế sẽ góp phần làm lành mạnh hoá nền kinh tế, tạo sự cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất phát triển.

1.2.2.4 Do yêu c ầ u th ự c hi ệ n nguyên t ắ c cùng có l ợ i trong quan h ệ kinh t ế qu ố c t ế

Toàn cầu hoá đang là một xu thế tất yếu và ảnh hưởng đến mọi quốc gia trên thế giới; toàn cầu hoá cho phép các nước tận dụng các cơ hội và điều kiện thuận lợi mà quá trình toàn cầu hoá tạo ra đểphát triển; đồng thời cũng xuất hiện nhiều khó khăn thách thức rất lớn cho tất cả các nước Hội nhập quốc tế đồng nghĩa với việc Việt Nam được hưởng những quyền lợi và phải thực hiện những cam kết quốc tế trong đó có việc dỡ bỏcác rào cản về thuếquan và thủ tục hành chính, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất nhập khẩu Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thuế đã mở rộng hiểu biết, tích luỹ kinh nghiệm…ứng dụng các chính sách thuế tiên tiến và quản lý thuế hiện đại của quốc tế vào Việt nam Chống gian lận thương mại, trốn thuếlà một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng, qua đó đã bảo hộ được sản xuất trong nước tạo môi trường thuận lợi đểkhuyến khích đầu tư nước ngoài, tự do hoá thương mại, thực hiện lộ trình cam kết về thuế đối với các quốc gia trên thếgiới trên nguyên tắc bìnhđẳng và cùng có lợi.

1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả của cơ quan Hải quan trong chống thất thu thuế nhập khẩu

Theo Quyết định số 1169/QĐ-TCHQ, vai trò của cơ quan Hải quan trong chống thất thu thuế nhập khẩu chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, nhưng có thể khái quát ở những nhân tố cơ bản có ảnh hưởng đến vai trò của Hải quan trong chống thất thu thuế như sau:

1.2.3 1 Cơ chế, chính sách, văn bả n pháp quy c ủa Nhà nước đố i v ớ i H ả i quan

Hoạt động ngoại thương phát triển có thể gây ra tác động tiêu cực đối với sản xuất nội địa, đặc biệt đối với nền kinh tế Để khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì N hà nước sẽ đánh thuế thấp đối với hàng hoá nhập khẩu là nguyên liệu đầu vào Nguyên l iệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu được hoàn thuế nhập khẩu khi xuất khẩu và được áp dụng thời hạn nộp thuế dài hơn Ngoài ra, để khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất trong nước, Nhà nước cho phép miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của các dự án ưu đãiđầu tư, đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá trong nước đã sản xuất được

Vòngđàm phán Uruguay (1995) kết thúc với Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và một loạt các hiệp định đa phương về nhiều lĩnh vực như thủ tục Hải quan, quản lý xuất xứ hàng hoá, phân loại và xác định mã số hàng hoá, trị giá tính thuế đối với hàng hoá, v.v Hiệp định trị giá tính thuế GATT/WTO xác lập một hệ thống đầy đủ các phương pháp xác định trị giá tính thuế, đảm bảo xác định được trị giá tính thuế của hàng hoá gần sát nhất với trị giá của chính hàng hoá đó trong giao dịch.

1.2.3 2 Năng lự c, trình độ c ủa độ i ng ũ cán bộ h ả i quan

KINH NGHIỆM VỀ NÂNG CAO VAI TRÒ C ỦA CƠ QUAN HẢI QUAN

Kinh nghiệm của Hoa Kỳ

Theo Trọng Bảo (2013), để đảm bảo việc thu hồi tiền thuế nhập khẩu, tránh tình trạng gian lận trốn thuế, gần đây Hoa Kỳ đã yêu cầu các doanh nghiệp phải nộp tiền "ký quỹ" mới được xuất nhập khẩu hàng vào nước này; đồng thời đẩy mạnh công tác kiểm tra sau thông quan đối với các đối tượng nhập khẩu hàng hoá.

Theo kinh nghiệm của Mỹ, để phòng ngừa và chống gian lận thương mại qua giá, điều đầu tiên là phải đảm bảo tính minh bạch trong hệ thống pháp quy về xác định trị giá Hải quan Trên cơ sở đó, cộng đồng doanh nghiệp sẽ tin tưởng vào hệ thống xác định trị giá và hợp tác chặt chẽ với cơ quan Hải quan trong xác định trị giá.

Hệ thống pháp quy của Mỹ cho phép doanh nghiệp đạt được sự thông thoáng trong quá trình kinh doanh mà vẫn đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định của cơ quan Hải quan Luật Hải quan Mỹ quy định doanh nghiệp có quyền khiếu nại lên các cấp có thẩm quyền, thậm chí tới cơ quan tư pháp, về các quyết định của cơ quan Hải quan liên quan đến xác định trị giá Hải quan mà không phải chịubất cứ một khoản phí nào.

Trong khi thực hiện các quy định của Hải quan, doanh nghiệp Mỹ còn có thể thường xuyên liên hệ và trao đổi thông tin với cơ quan Hải quan để nhận được những hướng dẫn chính xác nhất liên quan đến hoạt động nhập khẩu hàng hoá nói chung và xác định trị giá Hải quan nói riêng. Đối với trường hợp có khó khăn vướng mắc trong khâu xác định trị giá, Luật Hải quan Mỹ cho phép doanh nghiệp có thể lấy hàng với điều kiện có sự bảo lãnh tài chínhđối với các khoản thuế phải nộp.

Một trong những đặc điểm của tính minh bạch của Hải quan Mỹ chính là quy trình xây dựng và công bố các quyết định hành chính Hàng năm ở Mỹ, số lượng văn bản hành chính, pháp lý được ban hành rất lớn, nhưng Hải quan Mỹ đã cố gắng tập hợp và công bố các quyết định được ban hành về xác định trị giá Hải quan.

Hiện nay, Hải quan Mỹ đang sử dụng “Bách khoa toàn thư về trị giá Hải quan” Tài liệu này được cập nhật hàng năm và tóm tắt tất cả các vấn đề về xác định trị giá như các khoản hỗ trợ kỹ thuật, chi phí hoa hồng, điều ki ện xác định trị giá, các bên liên quan đến giao dịch… Đồng thời, tài liệu còn dẫn chiếu tới những quy định tương đương trong Hiệp định trị giá, tới các quy định của các luật thương mại Đây là một cuốn tài liệu quan trọng đối với cả cơ quan Hải quan và các nhà nhập khẩu Mỹ khi xác định trị giá Hải quan.

Kinh nghiệm của Trung Quốc

Người có nghĩa vụ nộp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu phải nộp đủ khoản thuế trong vòng 15 ngày, kể từ ngày cơ quan hải quan ra thông báo thuế, nếu kéo dài thời hạn nộp thuế thì sẽ bị cơ quan hải quan phạt chậm nộp thuế. Người có nghĩa vụ nộp thuế, người bảo lãnh nếu quá thời hạn ba tháng mà chưa giao nộp tiền thuế sau khi đãđược thủ trưởng cơ quan hải quan phê duyệt thì có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế như sau:

- Có giấy thông báo cho ngân hàng hoặc cơ quan tín dụng giữ số tiền còn lại trên tài khoản của chủ hàng để nộp thuế;

- Bán hóa giá những hàng hóa chưa nộp thuế theo quy định, số tiền thu được đem nộp thuế;

- Giữ hàng hóa hoặc tài sản khác có giá trị tương đương số tiền thuế phải nộp để bán đấu giá, số tiền thu được đem nộp thuế.

Khi cơ quan hải quan thực hiện các biện pháp cưỡng chế đối với những người có nghĩa vụ nộp thuế hoặc người bảo lãnh mà vẫn chưa nộp thì người có nghĩa vụ nộp thuế phải nộp xong các khoản nợ thuế, nợ tiền phạt trước khi hàng hóa được phép thông quan.

Trong nỗ lực chống thất thu thuế, chính quyền thành phố Bắc Kinh (Trung

Quốc) đã thực hiện một biện pháp khuyến khích người tiêu dùng yêu cầu các doanh nghiệp phải cấp hóa đơn bán hàng Người ta đã đưa vào một ô nhỏ trong hóa đơn để biến hóa đơn thành một vé xổ số, khách hàng cào vào ô đó có thể trúng thưởng từ 100 đến 5.000 nhân dân tệ Để ngăn ngừa sự giả mạo, một ô thứ hai với mã số cho phép khách hàng có thể kiểm tra thông qua Internet về việc công ty đưa cho họ hóa đơn có giá trị hay không (tham khảo từ website: http://vietbao.vn).

Kinh nghiệm của Thái Lan

Hiện nay, một số nước đang sử dụng thẻ ưu tiên (hay thẻ Hải quan thông minh) như là một công cụ đặc biệt trong quản lý Hải quan Hơn nữa, việc sử dụng thẻ góp phần phân loại đối tượng đấu tranh chống gian lận thương mại bằng cách đưa vào diện kiểm tra ngay từ đầu, dựa trên nguyên tắc phân tích và quản lý rủi ro thông qua phân loại doanh nghiệp Những doanh nghiệp có quá trình chấp hành pháp luật tốt, được cấp thẻ Hải quan thông minh (chứng nhận ưu tiên) sẽ được hưởng ưu đãi trong làm quá trình làm thủ tục Hải quan Việc áp dụng thẻ Hải quan thông minh được coi là điểm mới trong quản lý Hải quan hiện đại và phù hợp với khuyến nghịcủa các định ước quốc tế như Công ước Kyoto về đơn giản hoá và hài hoà hoá thủtục Hải quan.

Hải quan Thái Lan với mục tiêu trởthành một cơ quan quản lý hiện đại đã áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong phân loại các đối tượng làm thủ tục Hải quan Chính vì lý do này mà thẻ Hải quan thông minh đã rađời và nhanh chóng trở thành một công cụ quản lý hữu ích của Hải quan Thái Lan Theo quy định của Hải quan Thái Lan, mục đích chủyếu của thẻ Hải quan thông minh là nhằm xác thực nhận dạng của các khách hàng củacơ quan Hải quan, như các nhà nhập khẩu, xuất khẩu, các chủ doanh nghiệp… trong quá trình làm thủ tục Hải quan.Thẻ được làm bằng nhựa và có kích thước như loại thẻ tín dụng thông thường trong đó có gắn một vi mạch tích hợp để lưu lại những thông tin quan trọng của người được cấp thẻ.

Hải quan Thái Lan hiện sử dụng các loại thẻ Hải quan thông minh như sau: Thẻ nhà quản lý hay chủ sở hữu (thẻ loại vàng- Golden Card): cấp cho doanh nhân là chủsở hữu hoặc nhà quản lý các công ty tham gia hoạt động xuất khẩu/nhập khẩu (tham khảo từ website: http://www.mof.gov.vn).

TỔNG QUAN VỀ THUẾ NHẬP KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN HẢI QUAN TRONG CÔNG TÁC CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU

TÌNH HÌNH THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN KCN SÓNG THẦN

Trong 5 năm trở lại đây, Cục Hải quan Bình Dương luôn chủ động các biện pháp nhằm đảm bảo thu NSNN cho tỉnh Bình Dương như: tiếp tục chú trọng công tác cải cách thủ tục hành chính, tuyên truyền, hỗ trợ, cung cấp thông tin các doanh nghiệp có nhà máy xí nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương cho các Chi cục để tiến hành tiếp xúc tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp về làm thủ tục để tăng nguồn thu cho tỉnh Bình Dương

Bảng 2.1: Diễn tiến kim ngạch XNK và số thu thuế nộp NSNN năm

2010– 2014 tại Cục Hải quan Bình Dương

Ch ỉ tiêu thu thu ế XNK (t ỷ đồng)

Số thu nộp NSNN (t ỷ đồn g)

Nguồn: Cục Hải quan Bình Dương, Năm 2010 - 2014

Bên cạnh số thu nộp NSNN đạt được khả quan trong những năm qua, Bình Dương được xem là điểm trung chuyển hàng hóa thông qua đường bộ, đường thủy và đường sắt, do đó tình hình gian lận thương mai, trốn thuế được diễn ra rất phức tạp, Hải quan Bình Dương truy thu thuế hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng/năm Như thể hiện tại Bảng 2.2

Bảng 2.2: Diễn tiến tình hình thất thu thuế nộp NSNN năm 2010 –

2014 tại Cục Hải quan Bình Dương

Lý do thất thu thuế

Truy thu qua xác định giá thuế 2,49 0,19 1,34 10,66 11,32

Truy thu qua xử lý vi phạm hành chính 8,02 4,43 6,75 5,24 7,16

Truy thu qua công tác

Tru thu khác (qua áp sai mã số, xuất xứ (C/O), l ợi dụng chính sách nhà nước…)

Nguồn: Cục Hải quan Bình Dương, Năm 2010 – 2014

Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần là KCNcó lượng hàng hoá xuất, nhập khẩu lớn trong các KCN trên cả nước Loại hình xuất, nhập khẩu ch ủ yếutrong KCN là xuất, nhập khẩu thương mại, gia công, sản xuất xuất khẩu, chuyển cửa khẩu, kho ngoại quan, kho CFSvà hàng tạm nhập, tái xuất,… Đối tượng hoạt động xuất, nhập khẩu qua cửa khẩu bao gồm: Doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân, song đối tượng chủ yếu là các doanh nghiệp Hà ng năm trung bình có khoảng từ 1.000 đến 1.500 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương, thuộc tất cả các loại hình và thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất, nhập khẩu qua Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần Trong đó số lượng doanh nghiệp hoạt động nhập khẩu luôn chiếm trên 40% tổng số doanh nghiệp và tăng đều theo từng năm.

Bảng 2.3: Kim ngạch XNKChi cục Hải quan KCN Sóng Thần 2010 - 2014 ĐVT: TỷUSD

Nguồn: Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần – Bình Dương, Năm 2010 - 2014

Trong những năm qua, quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Hàn Quốc nói chung, quan hệ thương mại nói riêng đã có bước phát triển, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng cán cân mậu dịch giữa hai nước Hàng năm kim ngạch xuất, nhập khẩu đều có xu hướng tăng và kim ngạch nhập khẩu luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu.

* Kết quả thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu

Là đơn vị lớn nhất của tỉnh Bình Dương, số thu ngân sách của Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần luôn chiếm trên 30 % tổng số thu của toàn Cục Hải quan Bình Dương (toàn Cục có 8 Chi cục Hải quan), trong đó số thu chủ yếu là từ thuế hàng nhập khẩu Số liệu cụ thể thể hiện qua Bảng 2.4 sau:

Tổng thu năm 2014 đã tăng 175% so với năm 2010 và có xu hướng chung là tăng dần qua các năm và tỷ lệ tăng cũng tương đối đồng đều Nhìn vào bảng kết quả thu thì thu từ hàng hóa nhập khẩu luôn chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng thu nộp NSNN của Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần và tỷ trọng này luôn ổn định Cụ thể: năm 2010 chiếm 99,8% (1.659,7/1.662,2 tỷ đồng), năm 2011 chiếm 99,9% (1.778,3/1.780,1 tỷ đồng), năm 2012 chiếm

99,8% (1.916,1/1.918,7 tỷ đồng), năm 2013 chiếm 99,7% (2.630,6/2.636,3 tỷ đồng) và năm 2014 chiếm 99,9% (2.897,7/2.900,3 tỷ đồng).

Bảng 2.4: Kết quả thu ngân sách tại Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần

Nguồn: Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần – Bình Dương, Năm 2010 - 2014

Về cơ cấu thu, tổng thu thuế nhập khẩu và thuế GTGT chiếm tỷ trọng chủ yếu (trên 99%) trong tổng thu từ hàng hóa nhập khẩu Tốc độ tăng thu của hai sắc thuế này là khá lớn, năm 2014 so với năm 2010 tăng tới 175% (năm 2010 tổng thu thuế NK và thuế GTGT đạt 1.659,5 tỷ đồng, nhưng năm

2014 đãđạt 2.897 tỷ đồng) Tuy nhiên diễn biến thu của từng sắc thuế lại có xu hướng trái ngược nhau Tỷ trọng thuế nhập khẩu trong tổng thu từ hoạt động nhập khẩu có xu hướng giảm : năm 2010 chiếm 17% (285,5/1.659,7 tỷ đồng) nhưng đến năm 2014 chỉ chiếm 11% (321/2.897,7 tỷ đồng) Trong khi đó, tỷ trọng thuế GTGT có xu hướng tăng dần: năm 2010 chỉ chiếm 82%(1.374/1.659,7 tỷ đồng) nhưng đế n năm 2014 đã chiếm 89% (2.576/2.897,7 tỷ đồng) Nguyên nhân lý giải cho diễn biến thu trên đây là do: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, chúng ta phải thực hiện cắt giảm thuế quan theo các cam kết song phương và đa phương nên chắc chắn nguồn thu từ thuế nhập khẩu sẽ bị giảm đi. Mặt khác, để duy trì cân đối ngân sách, đảm bảo nguồn thu nhằm đáp ứng nhu cầu chi của Nhà nước thì việc tăng cường khai thác các nguồn thu khác ngoài thuế nhập khẩu, trong đó thuế GTGT là chủ yếu, sẽ được quan tâm hàng đầu Từ năm 2009 theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, đối tượng chịu thuế GTGT ở khâu nhập khẩu đã được điều chỉnh bổ sung nhóm hàng hóa là máy móc thiết bị, phương tiện nhập khẩu tạo tài sản cố định Tại Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần, nhóm hàng này chiếm tỷ lệ kim ngạch nhập khẩu lớn (trên 60%) nên quy định này đã làm thay đổi hẳn cơ cấu thu và góp phần làm tăng thu đáng kể cho Chi cục.

Các khoản thu khác từ việc xử lý vi phạm hành chính của các doanh nghiệp như: phạt về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế, khai thiếu thuế, gian lận thương mại, trốn thuế,… nhưng các khoản thu này cũng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu.

Kết quả hoàn thành nhiệm vụ thực hiện dự toán hàng năm của Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần được thể hiện qua Bảng 2.5 sau:

Bảng 2.5: Kết quả thực hiện dự toán thu ngân sách tạiChi cục Hải quan

KCN Sóng Thần 2010 - 2014 Đơn vị: tỷ đồng

TT Năm Số dự toán giao Số thực hiện

Tỷ lệ hoàn thành dự toán (%)

Nguồn: Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần – Bình Dương, Năm 2010 - 2014

Qua Bảng số liệu 2.5, có thể đánh giá trong giai đoạn 2010-2014, Chi cục đã cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu dự toán thu ngân sách hàng năm Chỉ riêng năm 2012 và năm 2014, Chi cục thu gần đạt chỉ tiêu nhưng nguyên nhân chủ yếu từ các yếu tố khách quan đã nêu trên Điều đó cho thấy đơn vị đã có nhiều cố gắng trong cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, đồng thời tăng cường công tác quản lý thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu trong thời gian qua.

THỰC TRẠNG VỀ THU THUẾ VÀ THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN KCN SÓNG THẦN

KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN KCN SÓNG THẦN

2.3.1 Thực trạng gian lận về thuế nhập khẩu tại Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần

Tình hình thất thu thuế ước tính tại Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần qua các năm nhìn chung biến động tăng Thất thu thuế chủ yếu lớn nhất là thuế nhập khẩu Mặc dù số thu của Chi cục vẫn đảm bảo hoàn thành và vượt chỉ tiêu thu NSNN mà Cục giao theo từng năm tại Bảng 2.5 Nhưng số thuế thất thu vẫn gia tăng theo từng năm, thể hiện tại Bảng 2.2: Diễn tiến tình hình thất thu thuế nộp NSNN năm 2010–2014 tại Cục Hải quan Bình Dương.

Bảng 2.6: đã thể hiện xu hướng không tốt về việc thất thu thuế theo ước tính và Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần phải có giải pháp cụ thể nhằm chống thất thu thuế.

Bảng2.6:Ước tính thất thu thuếtạiChi cục Hải quan KCN Sóng Thần

Thất thu thuế ước tính

Thất thu thuế ước tính

Th ất thu thuế ước tính

Th ất thu thuế ước tính

Th ất thu thuế ước tính

Nguồn: Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần – Bình Dương, Năm 2010 - 201

Biến động về thất thu thuế được thể hiện rõ nét qua biểu đồ 2.1 Đơn vị: Tỷ đồng

Biểu đồ2.1 biến động về thất thu thuế nhập khẩu tạiChi cục Hải quan

Nguồn: Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần – Bình Dương, Năm 2010 – 2014

Nhìn chung, việc thất thu thuế nhập khẩu tại Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần qua các năm có xu hướng tăng theo tổng thu ngân sách là do nhiều nguyên nhân Nhìn chung, việc thất thu thuế này xuất phát từ 4 nguyên nhân chính như sau:

Một là, Gian lận thuế nhập khẩu do áp sai mã số, thuế suất của hàng hóa:

Việc phân loại hàng hoá để xác định các mức thuế suất phải tuân thủ theo đúng các nguyên tắc phân loại hàng hoá, được thực hiện theo hướng dẫn về phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu hướng dẫn tại Thông tư số 49/2010/TT-BTC ngày 12/4/2010 của Bộ Tài chính và các văn bản hiện hành khác.

Lợi dụng cơ chế tự kê khai, tự tính thuế trong quá trình thông quan, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện hành vi mô tả sai hàng hoá trên tờ khai hải quan, đưa hàng hoá từ mã số có thuế suất cao về mã số có thuế suất thấp để gian lận trốn thuế.

Ngoài ra, trong thực tế, để trốn thuế, doanh nghiệp cố tình khai báo sai mã số của hàng hoá nhập khẩu; lợi dụng sự phức tạp trong cơ cấu sản phẩm cũng như tên gọi, đặc biệt là những sản phẩm mới, là hỗn hợp của nhiều chất hoặc linh kiện, phụ tùng máy móc khó có thể phân biệt công dụng, chức năng bằng cảm quan để kê khai vào mã số có thuế suất thấp.

Theo thống kê, gian lận, trốn thuế qua việc khai sai mã số thường xảy ra đối với những mặt hàng có thuế suất cao, có sự chênh lệch lớn về thuế là hàn g điện tử, điện lạnh, sắt thép, linh kiệnxe máy Có những lô hàng, do khai báo sai mặt hàng dẫn đến chênh lệch thuế vài trăm triệu đồng, thậm chí cả tỉ đồng. Đối với trường hợp hàng hoá là nguyên chiếc, đồng bộ thường có thuế suất thuế nhập khẩu cao hơn thuế suất thuế nhập khẩu của các linh kiện, chi tiết tháo rời do chính sách khuyến khích hàng hóa sản xuất, lắp ráp trong nước Lợi dụng việc này, doanh nghiệp nhập khẩu thường chia nhỏ các chi tiết, linh kiện rời của một sản phẩm để nhập khẩu dưới dạng linh kiện, phụ tùng qua nhiều lô hàng khác nhau, qua các công ty khác nhau sau đó về lắp ráp lại bằng các thao tác đơn giản thành sản phẩm nguyên chiếc để trốn thuế.

Ngoài ra, do một bộ phận công chức hải quan thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc thiếu năng lực trong việc nghiên cứu văn bản, tổ chức thực thi chính sách cũng như việc chỉ đạo thiếu kịp thời, thiếu tính nhất quán của cơ quan Hải quan các cấp trong việc phân loại hàng hóa cùng một mặt hàng tại các địa phương khác nhau Bên cạnh đó, việc kiểm tra thực tế hàng hoá sai, xác định sai tên, mã số hàng hoá nhập khẩu; áp sai tỷ giá do các nguyên nhân như không cập nhật thông tin về tỷ giá, không nghiên cứu kỹ chính sách hoặc ra thông báo thuế nhầm do sơ suất trong việc điều chỉnh tờ khai hải quan.

Hai là, Gian lận trong xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

Trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu là căn cứ tính thuế nhập khẩu, đồng thời cũng sẽ là cơ sở để xác định trị giá và tính thuế TTĐB, thuế GTGT ở khâu nhập khẩu Việc áp dụng Hiệp định trị giá GATT/WTO đã tạo bước ngoặt cơ bản cho hệ thống xác định trị giá tính thuế hiện hành ở Việt Nam, một mặt vừa đảm bảo tính công bằng về nghĩa vụ thuế và thực hiện cam kết quốc tế, mặt khác tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu thương mại.

Có 6 phương pháp để xác định trị giá của hàng hoá nhập khẩu được quy định tại Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ về việc quy định xác định trị giá hải quan đối với hàng nhập khẩu Trong đó, phương pháp trị giá giao dịch được coi là phương pháp chủ đạo, vì n ó là cơ sở cho việc xác định giá tính thuế cho phần lớn các trường hợp hàng hoá nhập khẩu Theo Phương pháp trị giá giao dịch, giá nhập khẩu căn cứ vào hóa đơn thương mại và chi phí hợp lý thực tế phát sinh Cách xác định trị giá giao dịch đã phản ánh một cách khách quan giá tính thuế của hàng nhập khẩu và loại bỏ những áp đặt về giá mà cơ quan Hải quan vẫn thực hiện trước đây qua bảng giá tối thiểu Từ đó tạo sự chủ động cho doanh nghiệp trong việc xác định giá của hàng hóa và xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình.

Xác định công tác giá là lĩnh vực công tác khó, hiện tượng gian lận thương mại qua giá hiện đang rất phổ biến và khó phát hiện, Lãnhđạo Chi cục đã quan tâm, lựa chọn những cán bộ trẻ, được đào tạo cơ bản, có trìnhđộ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, sử dụng máy tính thành thạo bố trí vào các khâu quan trọng trong quy trình thủ tục hải quan (tiếp nhận, đăng ký tờ khai, phúc tập hồ sơ ) Phân công cán bộ có kinh nghiệm, kiến thức về ngoại thương, thương phẩm học đảm nhiệm công tác tham vấn giá Đồng thời, Chi cục đã tổ chức khai thác hiệu quả các Hệ thống cơ sở dữ liệu của Ngành phục vụ tốt cho công tác xác định trị giá (như Hệ thống GTT22, GTT01, KT559 ) Thường xuyên kiểm tra, rà soát tình hình xácđịnh giá, cập nhật thông tin dữ liệu vào hệ thống GTT22, GTT01 Tổ chức thực hiện tham vấn nhanh trước khi thông quan đối với các lô hàng nhập khẩu nhạy cảm, có thuế suất cao (như điện tử, điện lạnh, sắt thép ) nhưng trị giá khai báo thấp Đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền để ngườinộp thuế hiểu và chấp hành nghiêm túc các quy định mới về khai báo, xác định trị giá tính thuế.

Mặc dù đã rất chú trọng đến công tác giá nhưng trong quá trình thực hiệnChi cục vẫn gặp nhiều khó khăn do ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp chưa cao, chưa tự giác khai báo đúng trị giá thực thanh toán Doanh nghiệp đã lợi dụng phương pháp trị giá giao dịch để gian lận tiền thuế qua khai báo trị giá tính thuế hàng nhập khẩu Các hành vi gian lận thường được các doanh nghiệp thực hiện dưới các hình thức sau:

- Dựa vào danh mục dữ liệu giá của cơ quan Hải quan để khai báo trị giá của các lô hàng nhập khẩu giống hệt, tương tự thấp hơn trị giá giao dịch thực tế, sau đó khai thấp dần trị giá khai báo đối với các lô hàng cùng loại, tương tự đã nhập khẩu trước đó.

- Khai thấp trị giá đối với lô hàng nhập “thử”, tức nhập để thăm dò tháiđộ của cơ quan hải quan sau đó nhập khẩu ồ ạt liên tục trong một khoảng thời gian ngắn theo mức giá thấp đã khai báo trước đó và khi cơ quan hải quan chưa kịp xác minh, xử lý thì doanh nghiệp tiến hành thủ tục giải thể hoặc bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh.

- Lợi dụng việc được trừ giá tính thuế các khoản được giảm trừ: Đây chính là điểm để các doanh nghiệp lợi dụng tối đa khoản được trừ để khai báo hải quan Không ít doanh nghiệp lợi dụng quy định "việc giảm giá được lập thành văn bản trước khi xếp hàng lên phương tiện vận chuyển và có số liệu, chứng từ hợp lệ" (Hiệp định trị giá GATT) để tách khoản giảm giá này ra khỏi hóa đơn Ví dụ: khi biết cơ sở dữ liệu của hải quan chấp nhận trị giá tính thuế một chiếc xe máy loại X là 1.000 USD thì doanh nghiệp sẽ hợp thức hóa hợp đồng ngoại thương, hóa đơn thương mại và tờ khai trị giá đều có giá 1.000 USD. Việc khai báo trùng khớp này sẽ tránh được nghi ngờ và tham vấn giá từ phía hải quan Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là các doanh nghiệp đã lợi dụng phần đính kèm trong hợp đồng ngoại thương và hóa đơn thương mại là số lượng mua từ 2 trở lên thì được giảm giá 5% để khai báo và được trừ khi tính các loại thuế Nếu làm như vậy, giá thực thanh toán của chiếc xe máy X khi doanh nghiệp đăng ký mua 2 chiếc trở lên chỉ còn 950 USD.

ĐÁNH GIÁ CHUNG TH ỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU CỦA CHI CỤC HẢI QUAN KCN SÓNG THẦN THỜI

2.4.1 Những kết quả đạt được Được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Cục Hải quan tỉnh Bình Dương, sự phối hợp chặt chẽ của các Phòng tham mưu chức năng thuộc Cục, của các cơ quan trong và ngoài ngành, Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trong công tác chống thất thu thuế cho Ngân sách Nhà nước và đãđạt được những kết quả cụ thể sau đây:

2.4.1.1 Góp ph ần quan trọng v ào ngu ồn thu Ngân sách Nhà nước, hạn ch ế nợ đọng, chống thất thu cho Ngân sách Nh à n ước

Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần đã chủ động, tích cực đề xuất và triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu thu nộp ngân sách Nhà nước, đồng thời phát hiện ngăn chặn và xử lý các hành vi trốn thuế, gian lận thuế ngày càng có hiệu quả.

Công tác chống thất thu thuế đãđược Chi cục quan tâm triển khai toàn diện, đồng bộ trên tất cả các khâu nghiệp vụ trong quy trình thủ tục hải quan và sau thông quan Đặc biệt từ khi triển khai thủ tục hải quan điện tử đến nay, thời gian thông quan hàng hóa đã giảm đáng kể Mọi vướng mắc phát sinh được giải quyết kịp thời Về cơ bản đã đảm bảo đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời vẫn đảm bảo sự quản lý chặt chẽ đối với hoạt động thu thuế nhập khẩu tại Chi cục Đây là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy kim ngạch XNK không ngừng tăng trưởng, giúp cho Chi cục hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách trong những năm vừa qua.

Giải quyết đáng kể số nợ truy thu do chính sách thuế từ những năm trước.Các biện pháp đôn đốc thu hồi nợ thuế và cưỡng chế thuế được xử lý theo từng bước thận trọng Việc rà soát đối chiếu và phân loại nợ được thực hiện thường xuyên Số liệu nợ thuế ngày càng chính xác, hiện tượng nợ ảo hầu như không còn.

Công tác phối kết hợp với các lực lượng chức năng trong đơn vị cũng như với chính quyền địa phương luôn đảm bảo chặt chẽ, thống nhất trong điều hành quản lý hoạt động tại Chi cục Do đó đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý của cơ quan Hải quan.

2.4.1.2 Chi c ục Hải quan KCN Sóng Thần góp ph ần thực hiện cải cách m ạnh mẽ v à hi ệu quả thủ tục h ành chính trong l ĩnh vực Hải quan

Từ năm 2009 đến nay, Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần đã có sự chuyển biến căn bản, đó là chuyển từ phương pháp quản lý thủ công lên phương pháp quản lý phân tích thông tin “rủi ro” dựa chủ yếu vào việc khai thác và ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin Do đó đã tạo thuận lợi cho người khai hải quan, người nộp thuế trong quá trình thông quan hàng hóa cũng như trong việc quản lý thu thuế.

Từ năm 2009, Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần tiếp tục triển khai thí điểm thủ tục hải quan điện tử và đã thành công chỉ sau một thời gian ngắn Quá trình thực hiện cho thấy thủ tục hải quan điện tử cơ bản đáp ứng được yêu cầu thông quan nhanh hàng hoá do quy trình thủ tục đơn giản, rõ ràng, dễ thực hiện Vì vậy, doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian, chi phí, nhân lực, tạo được chủ động và cắt giảm chi phí hạ giá thành sản phẩm Việc khai báo hải quan điện tử ít sử dụng giấy tờ mẫu biểu hơn, lưu trữ số liệu, hồ sơ dễ dàng, thuận tiện Ngoài ra thủ tục hải quan điện tử sẽ giảm sự tiếp xúc giữa cán bộ, công chức hải quan và doanh nghiệp, tránh phiền hà, bức xúc cho doanh nghiệp.

Từ 20/4/2014, Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS đã được triển khai chính thức tại Chi cục, Hệ thống VNACCS/VCIS do Nhật Bản tài trợ không hoàn lại cho Việt Nam nhằm xây dựng, triển khai hải quan điện tử và cơ chế một cửa quốc gia phục vụ hiện đại hóa hải quan tại Việt Nam (gọi tắt là Dự án VNACCS/VCIS) Việc triển khai Hệ thống VNACCS/VCIS đã mang lại nhiều lợi ích hơn cho cộng đồng doanh nghiệp do thời gian thông quan nhanh hơn, độ chính xác cao hơn, hệ thống vận hành ổn định hơn, tiến đến phương thức thủ tục hải quan phi giấy tờ, mọi chính sách pháp luật liên quan đến quản lý hàng hóa, chính sách mặt hàng… được đồng bộ hóa trong Hệ thống, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Nhằm đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa ngành Hải quan, Đội ngũ cán bộ công chức từ lãnh đạo Chi cục, lãnh đạo Đội đến c ông chức thừa hành đãđược kiện toàn, trẻ hóa, chuẩn hóa về tiêu chuẩn trìnhđộ Đặc biệt, những cán bộ bố trí vào dây chuyền nghiệp vụ đều qua đào tạo đại học trở lên, có chuyên ngành phù hợp với công việc đảm nhiệm, có trìnhđộ chuyên môn nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ… vững vàng Thường xuyên tự trau dồi hoặc được cử tham gia học tập nâng cao trìnhđộ nên đáp ứng tốt yêu cầu công tác.

2.4.1.3 Minh b ạch trong công tác quản lý, rà soát và đề xuất ho àn thi ện quy trình th ủ tục hải quan v à các chính sách qu ản lý Nhà n ước

Các văn bản quy định đều được Chi cục niêm yết công khai tại các điểm làm thủ tục hải quan, để doanh nghiệp nắm vững và giám sát quá trình thực hiện quy trình thủ tục của công chức hải quan Doanh nghiệp có quyền khiếu nại, tố cáo những biểu hiện không minh bạch của công chức hải quan Thiết lập đường dây nóng, công khai số điện thoại nóng của các đồng chí Lãnh đạo Chi cục để doanh nghiệp phản ánh những vướng mắc khi cần thiết Thường xuyên tổ chức các cuộc đối thoại giữa cơ quan Hải quan và d oanh nghiệp nhằm lắng nghe, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc từ phía doanh nghiệp trong quá trình làm thủ tục hải quan. Để chống gian lận qua việc áp mã hàng hóa xuất, nhập khẩu (mã HS) và xuất phát từ những vụ việc đã phát hiện, tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, Tổng cục Hải quan đã có văn bản số 4871/TCHQ-ĐT ngày 29/9/2010 để cảnh báo về một số trường hợp cố ý khai sai mã số hàng hóa, thay đổi địa điểm làm thủ tục hải quan nhằm trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan Hải quan, đồng thời yêu cầu Hải quan địa phương tăng cường thu thập và chuyển giao thông tin cho đơn vị chủ trìđầu mối để xử lý theo quy định.

Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần đã chủ động kiến nghị lên Cục Hải quan tỉnh Bình Dương đề xuất Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính, Chính phủ hoàn thiện cơ chế quản lý hải quan; kiến nghị với các Bộ, ngành có liên quan sửa đổi, bổ sung và có biện pháp quản lý phù hợp Vừa qua ngành Hải quan kiến nghị với Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, Ngân hàng Nhà nước, công bố các tiêu chuẩn với loại xe chở tiền, xe van… tránh tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng chính sách chưa rõ ràngđể trốn và gian lận thuế nhập khẩu.

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân

Những kết quả đãđược trong công tác chống thất thu thuế nhập khẩu của Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần thật đáng ghi nhận, góp phần ngăn chặn và giảm thiểu các hiện tượng gian lận, trốn thuế làm thất thu Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, công tác chống thất thu thuế nhập khẩu vẫn còn bộc lộ một số mặt hạn chế:

- Công tác hoạch định, xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch dài hạn của Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần về hoạt động chống thất thu thuế nhập khẩu vẫn còn hạn chế và chưa đồng bộ, thống nhất giữa các lực lượng nghiệp vụ trong đơn vị, nhiều lĩnh vực chồng chéo khiến nhiều lực lượng cùng tiến hành làm nhưng lại không hiệu quả, trong khi nhiều lĩnh vực chưa được quan tâm đúng mức hoặc bị bỏ sót.

- Tình trạng gian lận, trốn thuế, nợ đọng thuế vẫn còn diễn ra tương đối phổ biến, hiện tượng doanh nghiệp gian lận trong việc áp mã, kê kh ai trị giá hàng nhập khẩu, làm giả giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), gian lận trong định mức vẫn còn tồn tại phổ biến, chưa được ngăn chặn kịp thời.

ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN HẢI QUAN

3.1.1 Dự báo về hội nhập kinh tế Quốc tế của Việt Nam, những cơ hội và thách thức đối với cơ quan Hải quan trong chống thất thu thuế

Khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO, cùng với quan điểm đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ kinh tế Quốc tế của Đảng ta thì quá trình hội nhập kinh tế khu vực và Quốc tế sẽ ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu Xuất nhập khẩu hàng hoá là một trong những nội dung quan trọng của quá trình hội nhập kinh tế Quốc tế Vì vậy, trong thời gian tới lưu lượng hàng hoá xuất nhập khẩu sẽ ngày càng tăng, tất yếu việc trốn lậu thuế sẽ ngày càng phức tạp và do đó vai trò của cơ quan Hải quan trong việc chống thất thu thuế hàng hoá xuất nhập khẩu sẽ ngày càng phải đẩy mạnh và nâng cao.

Gia nhập WTO, Việt nam sẽ có rất nhiều cơ hội để phát triển kinh tế, tiếp cận được nguồn vốn, khoa học công nghệ tiên tiến của nước bạn, sản phẩm hàng hoá của Việt nam sẽ có cơ hội phát triển sâu rộng ra các nước trên thế giới, lượng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu sẽ không ngừng gia tăng thúc đẩy việc thông thương hàng hoá với các nước ngày càng phát triển Tuy nhiên, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với không ít thách thức ngay trên sân nhà Đặc biệt trong vĩnh vực quản lý nhà nước về Hải quan, chúng ta cũng sẽ phải đối mặt với không ít thách thức trước yêu cầu phải tiếp cận với biện pháp quản lý Hải quan hiện đại nhưng vẫn phải tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, đồng thời vẫn phải đảm bảo quản lý chặt chẽ không để cho các đối tượng khác lợi dụng để trốn thuế nhập khẩu.

Trước việc gia tăng không ngừng của lượng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, ngành Hải quan cũng sẽ phải đổi mới cả về tư duy, con người và phương pháp quản lý hiện đại để đáp ứng yêu cầu quản lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Với tư cách là người “gác cửa” nền kinh tế của đất nước, vai trò của lực lượng Hải quan chiếm một vị trí hết sức quan trọng, là đầu mối quản lý đối với hàng hoá xuất nhập khẩu, là lực lượng có nhiệm vụ thu đúng, thu đủ thuế, ngăn chặn các đối tượng trốn thuế, gian lận thương mại để tăng thu cho ngân sách Nhà nước.

Trong nhận thức xã hội dường như vẫn còn tồn tại một lối suy nghĩ tương đối phổ biến là việc tham gia các Điều ước quốc tế, hay rộng hơn là hội nhập kinh tế quốc tế đơn thuần chỉ là việc của Nhà nước, của Chính phủ, của các Bộ, ngành Trong thực tế, đây chính là việc của cả nước, của toàn dân, liên quan đến lợi ích và nghĩa vụ của mọi tầng lớp Chính vì thế, hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta chưa biến thành nhận thức ở cơ sở, chưa trở thành mối quan tâm, sự hào hứng và nỗi lo âu trăn trở ở cơ sở Các doanh nghiệp là trận địa chủ yếu trong hội nhập kinh tế quốc tế, quyết định sự thành bại của hội nhập kinh tế ở một quốc gia Với cách quan niệm như trên, hầu như phần lớn doanh nghiệp của chúng ta vẫn đứng ngoài cuộc Đó là một điều hết sức đáng báo động Thậm chí, sự phối hợp giữa các ngành với nhau cũng còn kh á lỏng lẻo, còn cho rằng Điều ước quốc tế liên quan chủ yếu đến lĩnh vực nào thì ngành được phân công làm

"đầu mối" phải lo toàn bộ, là việc riêng của họ.

Mỗi Điều ước quốc tế đa phương thường liên quan đến nhiều lĩnh vực. Việc tham gia Điều ước và áp dụng , thi hành Điều ước đòi hỏi phải điều chỉnh, bổ sung, thậm chí phải ban hành mới nhiều văn bản pháp luật ở nhiều ngành.Tuy là Công ước Hải quan, nhưng hai Công ước Kyoto và HS không chỉ thuộc lĩnh vực pháp luật Hải quan, mà liên quan rất nhiều đến Luật Thương mại, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Ngân hàng, Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Hàng hải, Luật Hàng không, Luật Đường bộ, Luật Môi trường, Pháp lệnh Thanh tra, Pháp lệnh ưu đãi miễn trừ ngoại giao và rất nhiều văn bản pháp luật khác về cả kinh tế, văn hoá, an ninh, đối ngoại Bởi vậy, khi cần nội luật hoá, điều chỉnh cả một khối lượng hệ thống luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư không phải là việc đơn giản.

Trình độ cán bộ trong nhiều lĩnh vực so với trình độ thế giới vẫn còn khoảng cách khá xa chưa kể sự hạn chế về ngoại ngữ ở số lớn cán bộ, nhân dân không tiếp cận được các văn bản, điều ước và các tài liệu giải thích, phân tích bằng tiếng nước ngoài.

Trong phạm vi quốc gia, còn thiếu một lộ trình tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế, một chiến lược toàn cục tiếp cận các Điều ước quốc tế đa phương để phân định cho từng ngành, từng lĩnh vực đi vào trong từng thời kỳ với sự phối hợp nhịp nhàng trên bình diện chung Trong kinh tế nói chung thì nên lấy việc tiếp cận các Điều ước trong khuôn khổ GATT/WTO làm trọng tâm, vìđó là "sân chơi" tiêu biểu nhất, nơi đặt ra "luật chơi" mang tính chi phối cho nhiều "sân chơi" khác Ở từng lĩnh vực cụ thể thì vừa chú trọng tiếp cận những "luật chơi" của GATT/WTO, vừa phải chủ động tiếp cận các Điều ước đa phương thuộc chuyên ngành mìnhđể bổ sung cho chương trình hoạt động của quốc gia (ví dụ ngành Hải quan phải chú ý các Điều ước của WCO).

Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã cam kết cắt giảm khoảng 30% mức thuế nhập khẩu hiện hành và sẽ thực hiện chủ yếu trong vòng 5 năm kể từ khi chính thức gia nhập tổ chức này Việt Nam đã đàm phán biểu thuế nhập khẩu gồm 10.600 dòng thuế, trong đó, những ngành hàng có mức cắt giảm nhiều nhất là dệt may, cá và sản phẩm cá, máy móc thiết bị điện và điện tử Do đó nâng cao hiệu quả công tác thu thuế, công tác kiểm tra, công tác kế toán kiểm toán, công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo nguồn thu cho ngân sáchNhà nước.

3.1.2.Định hướng phát triển củaHải quan Bình Dương đến năm 2015 và tầm nhìnđến năm 2020

Theo Báo cáo tình hình kết quả thực hiện chương trình công tác năm của Hải quan Bình Dương (2014) và báo cáo 20 năm xây dựng và phát triển của Cục Hải quan Bình Dương (2011), mục tiêu xây dựng Hải quan Bình Dương trở thành lực lượng chuyên nghiệp và hiện đại, hoạt động minh bạch và có hiệu quả; Bảo vệ và góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia; Bảo đảm nguồn thu cho nhân sách; chống buôn lậu, gian lận thương mại, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng; Góp phần bảo vệ chủ quyền kinh tế, an ninh quốc gia và an toàn xã hội.

Lực lượng Hải quan sẽ là lực lượng hoạt động có tính kỷ luật cao; thành thạo về trình độ nghiệp vụ chuyên môn theo chức trách được phân công; hoạt động minh bạch, liêm chính; làm chủ được các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Phương pháp quản lý hiện nay sẽ được thay thế bằng phương pháp quản lý hiện đại dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro trong tất cả các khâu làm thủ tục hải quan. Quy trình thủ tục kiểm tra, giám sát và thông quan nhanh gọn Đơn giản hoá tối đa các khâu nghiệp vụ về tiếp nhận khai báo, kiểm hoá, tính thuế.

Tầm nhìnđến năm 2020, Hải quan Bình Dương sẽ phấn đấu phát triểncó trình độ quản lý hiện đại, hệ thống pháp luật Hải quan ổn định, minh bạch phù hợp với chuẩn mực Quốc tế Quy trình thủ tục Hải quan đơn giản, hệ thống thông quan tự động hoá Lực lượng Hải quan đạt trìnhđộ chuyên sâu, chuyên nghiệp góp phần tích cực vào việc thúc đẩy kinh tế phát triển.

- Trước hết, Hải quan Bình Dương hoàn thành việc cải cách chuyển đổi các hoạt động nghiệp vụ Hải quan theo chuẩn mực Hải quan hiện đại, đáp ứng với yêu cầu hội nhập quốc tế về Hải quan.

Thực hiện thông quan điện tử tự động đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Bước đầu xây dựng hạ tầng cơ sở và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin kết hợp với áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong một số hoạt động nghiệp vụ cũng như hoạt động quản lý.

ỆC CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI

Ngày đăng: 20/12/2021, 16:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[22]. TS. Lê Thị Thanh (2010), Giáo trình Lý thuyết thuế , Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết thuế
Tác giả: TS. Lê Thị Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Tàichính
Năm: 2010
[23]. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật đầu tư s ố 59/2005/QH11 , Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đầu tưsố 59/2005/QH11
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2005
[24]. Quốc hội nước Cộn g hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11, Nhà xuất bản Tài chính, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quản lýthuế số 78/2006/QH11
Tác giả: Quốc hội nước Cộn g hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bảnTài chính
Năm: 2006
[25]. Quốc hội nước Cộng ho à xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13, Nhà xuất bản Tài chính, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13
Tác giả: Quốc hội nước Cộng ho à xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Tàichính
Năm: 2012
[26]. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12, Nhà xuất bản Tài chính, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thuế giá trị giatăng số 13/2008/QH12
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
[38]. Học viện T ài chính (2010), Giáo trình Lý thuy ết thuế, Nhà xuất bản T ài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết thuế
Tác giả: Học viện T ài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Tàichính
Năm: 2010
[39]. Học viện T ài chính (2010), Giáo trình Quản lý thuế, Nhà xu ất bản Tài chính, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý thuế
Tác giả: Học viện T ài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2010
[32]. Trọng Bảo (2013) Chống thất thu thuế: từ thực tiễn đến hành động, Tạp chí thuế online.< http://tapchithue.com.vn/dien-dan-nghiep-vu/159-dien- Link
[2]. Bộ Tài chính (2013), Thông tư 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013 hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và qu ản lý thuế đối với h àng hoá xu ất khẩu, nhập khẩu Khác
[3]. Bộ Tài chính (2012), Thông tư 196/2012/TT-BTC quy định thủ tục hải quan điện t ử đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu thương mại Khác
[4]. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 49/2010/TT-BTC hướng dẫn việc phân loại, áp dụng mức thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Khác
[5]. Bộ Tài chính (2012), Thông tư 06/2012/TT-BTC hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định 123/2008/NĐ-CP và 121/2011/NĐ-CP Khác
[6]. Bộ Tài chính (2011), Thông tư số 162/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đ ãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Khu vực Thương mại Tự do ASEAN – Trung Quốc giai đoạn 2012-2014 Khác
[7]. Bộ Tài chính (2007), Thông tư 45/2007/TT-BTC về việc hướng dẫn thực hiện thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt Khác
[8]. Bộ Tài chính (2010), Thông tư 194/2010/TT-BTC hướng dẫn về thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Hết hiệu lực, thay thế bằng Thông tư 128/2013/TT-BTC) Khác
[9]. Bộ T ài chính (2011), Thông tư 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn về thuế bảo vệ môi trường Khác
[10]. Chính phủ (2005), Nghị định số 108/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi h ành Luật đầu tư Khác
[11]. Chính phủ (2005), Nghị định số 154/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan Khác
[12]. Chính phủ (2007), Nghị định số 40/2007/NĐ-CP v ề xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xu ất khẩu, nhập khẩu Khác
[13]. Chính phủ (2007), Nghị định số 85/2007/NĐ-CP quy định một số điều Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w