Như vậy có thể thấy, tội phạm có tính chất quốc tế và tội phạm hình sựchung về bản chất pháp lý đều là tội phạm hình sự chung nhưng tội phạm cótính chất quốc tế có thêm yếu tố nước ngoài
Trang 1VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
NHỮNG VẤ ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN
VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM.
Trang 2MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ 1
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM 2
1.Khái niệm hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm 2
2 Cơ sở pháp lý của hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm 4
3 Hình thức pháp lý của hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm 5
4 Nội dung chủ yếu của các điều ước quốc tế về phòng chống tội phạm có tính chất quốc tế 6
5 Vai trò của luật quốc tế và hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm 11
II NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ THIẾT CHẾ QUỐC TẾ TRONG HỢP TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM 12
1 Tương trợ tư pháp về hình sự 12
2 Tương trợ tư pháp về dẫn độ 14
3 Liên hợp quốc 19
4 Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol) 22
5 Các tổ chức khác 23
III NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ THIẾT CHẾ QUỐC TẾ TRONG HỢP TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM 24
1 Thực tiễn hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm 24
2 Cụ thể về Việt Nam-ASEAN trong hợp tác quốc tế, phòng chống tội phạm đối với tội mua bán người 26
3 Hạn chế về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm 27
4 Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm 29
Trang 3C KẾT LUẬN 31
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 4A ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, tội phạm quốc tế đã và đang là mối đe dọa đến an ninh củamột quốc gia, các vùng lãnh thổ và cũng là hiểm họa trên phạm vi toàn cầu.Với bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia tăng cường công nghiệphóa- hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Bên cạnh những mặt tích cực mà quátrình hội nhập mang lại, cho các quốc gia cũng đang phải đối mặt với nhữngthách thức như sự tăng nhanh về quy mô lẫn tính chất của các loại tội phạmquốc tế Như vậy, hoạt động đấu tranh phòng, chống loại tội phạm là một vấn
đề vô cùng cấp thiết, cần tới sự đoàn kết và đồng thuận của các thành viêntrong cộng đồng quốc tế thông qua các thiết chế quốc tế nhằm ngăn chặn vàtiến tới xóa bỏ tội phạm quốc tế Thực tiễn đó đã đặt ra yêu cầu cho các quốcgia nghiên cứu sâu rộng hơn về việc hợp tác trong phòng chống và đấu tranh,nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu nhất
Chính vì lý do đó, nhóm 3 chúng em đã chọn đề tài: “Những vấn đề pháp lý và thực tiễn về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm?” làm đề tài nghiên cứu cho bài tập nhóm môn Công pháp quốc tế.
Trang 51.2 Khái niệm tội phạm quốc tế
Tội phạm quốc tế: là những hành vi đặc biệt nguy hiểm, do người cónăng lực trách nhiệm hình sự, từ đủ 18 tuổi trở lên, thực hiện một cách cố ý,xâm phạm hòa bình an ninh quốc tế, gây lo ngại cho toàn thể cộng đồng quốc
tế [11]
1.3 Khái niệm tội phạm có tính chất quốc tế
Theo quy chế Rome có thể hiểu tội phạm quốc tế là những hành vi đặcbiệt nguy hiểm Tội phạm này do người có năng lực trách nhiệm hình sự, từ
đủ 18 tuổi trở lên, thực hiện một cách cố ý, xâm phạm hòa bình an ninh quốc
tế, gây lo ngại cho toàn thể cộng đồng quốc tế [11]
1.4 Phân loại tội phạm quốc tế
Theo Khoa học luật quốc tế có thể phân biệt các loại tội phạm như sau:Tội phạm quốc tế hay còn gọi là tội ác quốc tế; Tội phạm có tính chất quốc tế;
Và tội phạm hình sự chung
Trang 6Với cách phân loại này, tội phạm quốc tế là những tội ác đặc biệt nghiêmtrọng xâm phạm tự do của nhân dân thế giới, quyền và lợi ích của toàn thểnhân loại, được quy định tại các văn bản pháp lý quốc tế Theo Ủy ban luậtquốc tế xác định, tội phạm quốc tế là các hoạt động chống lại pháp luật quốc
tế, phát sinh do hành vi vi phạm nghĩa vụ của quốc gia Nghĩa vụ này có ảnhhưởng tới sự tồn tại và phát triển của cộng đồng quốc tế và loài người
- Tội phạm có tính chất quốc tế hay còn gọi là tội phạm theo công ước làtội phạm xâm hại tới trật tự pháp lý quốc gia và an ninh, hòa bình quốc tế, gâyảnh hưởng tiêu cực tới đời sống của cộng đồng quốc tế nhưng mức độ khôngquá nguy hiểm như tội phạm quốc tế Đối với nhóm tội phạm này, cộng đồngquốc tế đã thừa nhận nhiệm vụ ngăn ngừa và trừng trị tội phạm này là tráchnhiệm chung của cộng đồng quốc tế chứ không của riêng một quốc gia nào
- Tội phạm hình sự chung là nhóm tội phạm không xâm phạm đến trật tựpháp lý quốc tế và không đụng chạm đến các quyền lợi của cộng đồng quốc
tế Nói cách khác, tội phạm hình sự chung là nhóm tội phạm xâm phạm đếnquyền và lợi ích của một quốc gia và thông thường nó được trừng trị, ngănchặn bằng pháp luật quốc gia đó Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, tội phạmdùng các thủ đoạn tinh vi nhằm lẩn trốn sự trừng phạt của pháp luật quốc gia,
ví dụ bằng cách này, bên cạnh pháp luật quốc gia cần phải có sự trợ giúp từcác quốc gia khác để có thể thực thi được công lý và trừng phạt được người
có tội Như vậy có thể thấy, tội phạm có tính chất quốc tế và tội phạm hình sựchung về bản chất pháp lý đều là tội phạm hình sự chung nhưng tội phạm cótính chất quốc tế có thêm yếu tố nước ngoài trong cấu thành tội phạm, lẩn trốnsang quốc gia khác.[2]
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu khái niệm hoạt động hợp tác quốc
tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm là các hoạt động của cộng đồngquốc tế nhằm ngăn ngừa và khắc phục hậu quả của tội phạm trong đời sốngquốc gia và quốc tế Là sự thỏa thuận, trao đổi và thống nhất các kế hoạch,
Trang 7chương trình chung giữa các quốc gia với nhau trên cơ sở hỗ trợ, giúp đỡ lẫnnhau nhằm đạt được mục tiêu chung đó là đấu tranh và phòng ngừa tội phạm
vì lợi ích của các bên hữu quan cũng như phù hợp với pháp luật quốc gia vàpháp luật quốc tế
2 Cơ sở pháp lý của hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
Cơ sở pháp lý của hoạt động hợp tác quốc tế về đấu tranh phòng, chốngtội phạm là tổng hợp các quy phạm được nêu trong các điều ước quốc tế songphương, đa phương; các quy định được nêu trong pháp luật quốc gia và cácnguyên tắc được hình thành trong thực tiễn tư pháp hình sự quốc tế mà trên
cơ sở đó các quốc gia có quyền và trách nhiệm hợp tác với các quốc gia khácnhằm mục đích đấu tranh phòng, chống tội Như vậy, có thể chia cơ sở pháp
lý của hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm theo các tiêu chí sau:
Thứ nhất, theo các quy định pháp lý trên cơ sở các điều ước quốc tế hoặc
các tổ chức quốc tế mà quốc gia đã tham gia ký kết, gia nhập hoặc là thànhviên thì có thể phân chia như sau: Các quy định pháp lý đa phương: cơ sở củacác quy định này là các điều ước quốc tế đa phương về phòng, chống tộiphạm, được ký kết giữa các quốc gia với nhau khi: Công ước của Liên hợpquốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000; Công ước củaLiên hợp quốc về phòng, chống tham nhũng năm 2003 Những quy định nàythông thường mang tính kiểu mẫu, xây dựng các quy chế hoặc quy định mẫu
về một vấn đề cho các quốc gia xây dựng theo, tuy nhiên những quy định củacác điều ước quốc tế đa phương này không mang tính bắt buộc các quốc giathành viên phải tuân theo triệt để
- Các quy định pháp lý được nêu trong các điều ước quốc tế songphương Thông thường, điều ước quốc tế song phương là căn cứ pháp lý đểcác quốc gia triển khai cụ thể các công tác, kế hoạch hợp tác trong đấu tranhphòng, chống tội phạm giữa hai quốc gia với nhau Trong nội dung của điều
Trang 8ước quốc tế song phương quy định rất rõ ràng và cụ thể cách thức, trình tự,thủ tục và các vấn đề khác liên quan trong hoạt động hợp tác quốc tế giữa haiquốc gia với nhau; [2]
- Ngoài ra, các quy định pháp lý của hoạt động hợp tác còn có thể đượcnêu trong các văn kiện của các "liên minh" Khi các quốc gia tham gia vàocác liên minh nhất định thì theo nguyên tắc hoạt động, nếu các liên minh này
có những yêu cầu liên quan đến hoạt động hợp tác nói chung và hoạt độnghợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm nói riêng thì các quốc gia thành
viên phải tuân thủ theo Ví dụ: Các nghị quyết, công ước của Liên minh châu
Âu (EU); hay của khối Bắc Âu (Nordic)
Thứ hai, theo các quy định pháp lý trên cơ sở các quy định của pháp luật
quốc gia Về nguyên tắc, hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng,chống tội phạm được thực hiện trên cơ sở các quy định của điều ước quốc tế
đa phương, song phương, những nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục và trình tựhợp tác tuân theo những quy định riêng của pháp luật quốc gia (nội luật) nhưLuật tố tụng hình sự, Luật tương trợ tư pháp Những quy định này không chỉ
áp dụng cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước mà còn áp dụng cho cảcác cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài có liên quan
3 Hình thức pháp lý của hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
Hình thức pháp lý là phương thức thể hiện nội dung hoạt động hợp tác,
nó cũng thể hiện cách thức tổ chức và thực hiện của hoạt động hợp tác quốc tếtrong phòng, chống tội phạm Có vai trò quan trọng trong hoạt động hợp tác,quyết định hiệu quả của hoạt động hợp tác giữa các bên hữu quan Ngày nay,quá trình phát triển hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tộiphạm đã hình thành các hình thức giải quyết cơ bản sau:
- Hợp tác chính thức giữa các chính phủ với nhau
Trang 9- Hợp tác không chính thức giữa các cơ quan có thẩm quyền, hệ thốngchuyên ngành hoặc tổ chức có liên quan trong công tác phòng, chống tộiphạm giữa các quốc gia với nhau Qua quá trình phát triển và thực tiễn củahoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm đãhình thành các phương thức giải quyết sau:
+ Đối với tội phạm quốc tế:
Các quốc gia có thể tự xét xử các tội phạm chiến tranh theo quy địnhriêng trong bộ luật hình sự nước mình Trong một số trường hợp đặc biệt, cácquốc gia có thể thỏa thuận và thống nhất ký kết các điều ước quốc tế để thànhlập các tòa án quân sự quốc tế Ví dụ: Tòa án quân sự quốc tế Nurumbéc vàTokyo - Thành lập tòa án quốc tế theo quyết định của Hội đồng Bảo an Liênhợp quốc như Nghị quyết số 808 năm 1993 quyết định thành lập Tòa án quốc
tế về Nam Tư cũ và Nghị quyết số 955 năm 1994 thành lập Tòa án quốc tế vềRuanda - để truy cứu trách nhiệm hình sự các cá nhân có hành vi vi phạmnghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế; Hay việc thành lập Tòa án quốc tế giữaLiên hợp quốc và chính quyền Campuchia để xét xử tội ác diệt chủng củaKhmer Đỏ…Sau quá trình hình thành và phát triển, đến năm 1998, tại Hộinghị ngoại giao tại Rôma, Italia đã thông qua Hiệp ước về thành lập tòa ánhình sự quốc tế hay còn gọi là Quy chế tòa án hình sự quốc tế Tòa án hình sựquốc tế có trụ sở tại Hay (Hà Lan) chính thức hoạt động vào ngày 01-07-
2003 Việc thành lập tòa án hình sự quốc tế thể hiện sự cương quyết, nghiêmkhắc nhất trong quá trình trừng phạt tội phạm thuộc nhóm tội phạm quốc tế + Đối với tội phạm có tính chất quốc tế và tội phạm hình sự chung:Phương thức hợp tác chủ yếu giữa các quốc gia là ký kết các điều ước quốc tếsong phương và đa phương toàn cầu hoặc trong khu vực đồng thời có sự bảotrợ của các tổ chức quốc tế có liên quan [11]
4 Nội dung chủ yếu của các điều ước quốc tế về phòng chống tội phạm có tính chất quốc tế
Trang 10Tội phạm hình sự quốc tế là loại tội phạm được quy định trong các điềuquốc tế có liên quan Quá trình hợp tác quốc tế đấu tranh phòng, chống tộiphạm đã đòi hỏi các quốc gia ký kết và hình thành một hệ thống các điều ướcquốc tế đa phương có giá trị và đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựngkhuôn khổ pháp lý toàn cầu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Tùytừng loại tội phạm hình sự quốc tế khác nhau sẽ chịu sự điều chỉnh của điềuước quốc tế đa phương có liên quan [11]
4.1 Tội phạm cướp biển
Hoạt động cướp biển đã xuất hiện từ năm 300 trước Công nguyên, tuynhiên thời kỳ hoàng kim nhất của cướp biển là giai đoạn cuối thế kỷ XVII đầuthế kỷ XVIII Ngày nay, cướp biển đã trở thành hoạt động có quy mô và tổchức, gây thiệt hại cho nền kinh tế thế giới và an ninh hàng hải nghiêm trọng.Hoạt động này diễn ra ngày càng nhiều nhưng chủ yếu tập trung ở vùng biểnCaribê, Đông Nam Á, Đông Phi…
Do đó, trong luật quốc tế đã hình thành nguyên tắc cho phép bất kỳ quốcgia nào cũng có quyền tài phán đối với tội phạm cướp biển Trong đó có Côngước về biển cả năm 1958 đã đưa ra khái niệm về hành vi cướp biển, đồng thờixác định nghĩa vụ pháp lý quốc tế về trừng phạt tội cướp biển
Theo Điều 101 Công ước về Luật biển năm 1982: “Hành vi cướp biển làhành động trái phép dùng hành động hay bắt giữ hoặc bất kỳ sự cướp phá nào
do thủy thủ hoặc hành khách trên một chiếc tàu hay một phương tiện bay tưnhân gây nên, vì những mục đích riêng tư, và nhằm chống lại một chiếc tàuhay một phương tiện bay khác, hay chống lại những người hay của cải ở trêncon tàu hoặc phương tiện bay đỗ ở biển cả; hoặc nhằm chống lại một chiếctàu hay một phương tiện bay, người hay của cải, ở một nơi không thuộcquyền tài phán của một quốc gia nào”. [1] [11]
Trang 11Công ước năm 1982 quy định nghĩa vụ pháp lý của các quốc gia phảihợp tác với nhau để trấn áp nạn cướp biển, cho phép mọi quốc gia có thẩmquyền bắt giữ tàu thuyền và phương tiện bay đang thực hiện hành vi cướpbiển trên vùng biển quốc tế hoặc khu vực không thuộc quyền lực của bất kỳquốc gia nào Như vậy, với nguyên tắc này, thẩm quyền xét xử sẽ thuộc vềquốc gia bắt giữ tàu thuyền và phương tiện bay phạm tội cướp biển, tòa ánquốc gia đã tiến hành việc bắt đó có thể công bố các hình phạt cũng như cácbiện pháp áp dụng đối với chiếc tàu, phương tiện bay hay tài sản trên tàu Do
đó, nghĩa vụ dẫn độ không đặt ra đối với các quốc gia hữu quan trong trườnghợp này
4.2 Tội buôn bán nô lệ và buôn bán người
Trên cơ sở thực tiễn áp dụng các quy phạm tập quán quốc tế cũng nhưyêu cầu cấp bách trước nạn buôn bán nô lệ và con người, đòi hỏi cần phải cómột khuôn khổ pháp lý chung cho các quốc gia trong cuộc đấu tranh chốngnạn buôn bán nô lệ Từ thực tiễn này, điều ước quốc tế đa phương đầu tiênthống nhất cuộc đấu tranh chống chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ đã ra đời, đó
là Công ước Xanh Giécmanh năm 1919 Sau công ước này, trong tiến trìnhđấu tranh chống lại tội phạm buôn bán nô lệ và con người, các quốc gia đãcùng nhau thông qua rất nhiều văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng khác như:
[2, 3]
- Công ước năm 1926 về vấn đề nô lệ;
- Nghị định thư bổ sung năm 1953 cho Công ước năm 1926;
- Công ước bổ sung năm 1956 về việc hủy bỏ chế độ nô lệ, buôn bán nô
lệ, các cơ cấu và thực tiễn giống như chế độ nô lệ;
- Công ước năm 1966 về quyền dân sự và chính trị (Điều 8)
Trang 12Công ước năm 1950 quy định về tội buôn bán người và các tội khác cóliên quan đến việc khai thác người khác hành nghề mại dâm; Điều ước quốc
tế sớm nhất là năm 1904, sau đó là các điều ước quốc tế khác năm 1910 vànăm 1921 Tuy nhiên đến khi Công ước năm 1950 đã ra đời thì mới tổng hợp
và thống nhất các quy định trong các điều ước quốc tế đã ban hành trước đó.Trên cơ sở ghi nhận và kế thừa những quy định về hành vi buôn bán ngườitheo phương thức “truyền thống”, công ước đã quy định trừng trị cả các hành
vi khác có liên quan như các hình thức khai thác mại dâm, tham gia việc quản
lý, duy trì hoặc tài trợ nhà chứa mại dâm; kể cả hành vi nhượng lại nhà cửa,
cơ sở cho người khác mà biết rằng mục đích sử dụng để kinh doanh mại dâm.Ngoài ra, công ước cũng quy định các trường hợp và điều kiện dẫn độ tộiphạm cho quốc gia khác.[4, 5, 6]
4.3 Tội phạm khủng bố quốc tế
Công ước năm 1997 về ngăn ngừa và trừng trị khủng bố quốc tế bằngbom quy định hành vi khủng bố tại khoản 1 Điều 2: “1) Người nào ném, đặt,làm nổ hoặc kích nổ một cách bất hợp pháp và cố ý chất nổ hoặc gây chếtngười khác tại, vào, hoặc đối với nơi công cộng, trang thiết bị của Nhà nướchoặc Chính phủ, hệ thống vận tải công cộng hoặc cơ sở hạ tầng, thì bị coi làphạm tội theo Công ước này”.[7]
4.4 Tội phạm bắt cóc con tin
Trong quá trình đấu tranh chống lại loại tội phạm bắt cóc con tin đòi hỏicác nước thành viên có nghĩa vụ sẵn sàng hợp tác với nhau để có thể ngănngừa và trừng trị thích đáng tội phạm bắt cóc con tin
4.5 Tội phạm đe dọa an ninh hàng không dân dụng
Sau Công ước Tôkyô năm 1963, cộng đồng quốc tế đã thông qua và cho
ra đời rất nhiều các công ước khác liên quan đến vấn đề bảo đảm an ninhhàng không dân dụng quốc tế như: Công ước La Hay năm 1970 về ngăn chặn
Trang 13việc bắt giữ bất hợp pháp tàu bay; Công ước Môngtrêan năm 1971 về ngănchặn các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hoạt động hàng không dândụng và Nghị định thư năm 1988 bổ sung cho Công ước này.[8]
4.6 Tội phạm đe dọa an ninh hàng hải
Tội phạm đe dọa an ninh hàng hải quốc tế được ghi nhận trong Công ướcRôma năm 1988 về đấu tranh chống các hành vi bất hợp pháp nhằm vào anninh hàng hải và Nghị định thư năm 1988 về ngăn ngừa các hành vi bất hợppháp chống lại an ninh của các dàn khoan dầu được xây dựng trên thềm lụcđịa Cả hai văn bản pháp luật quốc tế này đều quy định hành vi tội phạm làcác hành vi bất hợp pháp và cố ý chiếm đoạt tàu thuyền và dàn khoan dầucũng như đe dọa an ninh hàng hải quốc tế của tàu thuyền hoặc an ninh củadàn khoan dầu.[9]
4.7 Tội buôn bán bất hợp pháp ma túy
Theo quy định chung của Công ước năm 1961, ma túy được quy định lànhững chất tự nhiên hoặc tổng hợp được quy định kèm theo danh mục I và II.Chất hướng thần là các chất tự nhiên hoặc tổng hợp hay khoáng vật thiênnhiên theo danh mục từ I đến IV của Công ước năm 1971 Đây không phải làdanh sách cố định, trong trường hợp phát hiện thêm chất mới có thể bổ sungvào danh sách này theo những quy định nhất định
4.8 Tội làm tiền giả
Theo Điều 3 của Công ước, cần phải trừng phạt các hành vi tội phạm saunhư là tội phạm hình sự:
(i) Tất cả các hành vi lừa dối trong sản xuất và làm thay đổi đồng tiền,bất kể bằng phương thức nào để đạt được mục đích;
(ii) Hành vi tiêu thụ tiền giả;
Trang 14(iii) Các hành vi nhằm tiêu thụ, vận chuyển vào trong nước hoặc tiếpnhận hay tìm kiếm tiền giả cho mình, với điều kiện tính chất làm giả của đồngtiền phải rõ ràng; (iv) Hành vi đồng phạm có ý thức;
(v) Các hành vi lừa dối trong tiếp nhận, chế tạo hoặc cung cấp các trangthiết bị, dụng cụ nhằm mục đích in ấn tiền giả
Điều 5 của Công ước yêu cầu các quốc gia có nghĩa vụ trừng phạt tộiphạm làm tiền giả ở mức trừng trị như nhau đối với hành vi làm tiền giả đồngtiền trong nước hay nước ngoài Điều khoản về dẫn độ tương tự như quy địnhchung về dẫn độ, các quốc gia thành viên của Công ước có nghĩa vụ hợp tácvới quốc gia khác trong việc truy tố và trừng trị người phạm tội, nếu khôngdẫn độ vì lý do nào đó thì phải trừng phạt theo pháp luật quốc gia mình Côngước cũng quy định hành vi làm tiền giả là hành vi được yêu cầu phải dẫn độ
và các quốc gia thành viên phải tạo điều kiện giúp đỡ về vấn đề này.[10]
5 Vai trò của luật quốc tế và hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm
Luật quốc tế là một hệ thống pháp luật tồn tại song song với hệ thốngpháp luật của từng quốc gia Luật quốc tế đóng một vai trò quan trọng trongviệc đấu tranh, ngăn chặn tội phạm nói chung và tội phạm quốc tế nói riêng.Đồng thời, đây cũng là cơ sở pháp lý cho sự hợp tác đấu tranh, ngăn chặn tộiphạm trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi quá trìnhtoàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, xuất hiện ngày càng nhiều những tội phạm
mà phạm vi hoạt động và ảnh hưởng không chỉ ở một quốc gia mà còn vượt
ra ngoài biên giới lãnh thổ quốc gia Để đấu tranh, phòng, chống tội phạmnày, chỉ nỗ lực của pháp luật quốc gia là không đủ mà còn cần có sự hợp tácgiữa các quốc gia với nhau
Bên cạnh đó, cộng đồng thế giới cũng đã chứng kiến sự xuất hiện nhữnghành động tội ác đặc biệt nghiêm trọng, không chỉ xâm hại đến lợi ích của cá
Trang 15nhân hay nhóm nhỏ cộng đồng mà còn xâm hại đến lợi ích của cả dân tộc,quốc gia và thậm chí cả cộng đồng quốc tế Đó là những hành vi bị coi là tội
ác quốc tế Trách nhiệm ngăn ngừa và trấn áp loại tội ác đặc biệt nghiêmtrọng này không chỉ thuộc về một quốc gia mà thuộc về cả cộng đồng quốc tế.Như vậy, có thể thấy, luật quốc tế và hoạt động hợp tác quốc tế trong phòng,chống tội phạm có vị trí và vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh quốc gia,giữ gìn trật tự an toàn xã hội ở mỗi quốc gia và bảo đảm hòa bình, an ninhtrên phạm vi thế giới [11]
II NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ THIẾT CHẾ QUỐC TẾ TRONG HỢP TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM
1 Tương trợ tư pháp về hình sự
1.1 Khái niệm
Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm đã trở thành nhucầu tất yếu nội tại của mỗi quốc gia Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốcgia là tối cao, bất khả xâm phạm, không quốc gia nào có quyền can thiệp vàocông việc thuộc thẩm quyền của quốc gia khác được luật quốc tế hiện đại ghinhận Điều này dẫn đến một hệ quả là quyền lực quốc gia chấm dứt tại biêngiới quốc gia đó Trong các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài tôi phạm có tổchức xuyên quốc gia, cơ quan tư pháp của một quốc gia không thể tự mìnhtiến hành các hoạt động tố tụng thông thường mà phải thông sự giúp đỡ tươngtrợ của quốc gia khác Hoạt động tố tụng này được gọi là tương trợ tư pháp vềhình sự (Mutual legal assistance in criminal matters) Tương trợ tư pháp vềhình sự là một khái niệm hiện đại trong luật quốc tế Khái niệm này xuất hiệntrong Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn lậu ma túy và chất hướngthần năm 1988, Hiệp định mẫu của Liên hợp quốc về tương trợ pháp lý vềhình sự năm 1990 Ngày nay, tương trợ tư pháp về hình sự cũng được ghi
Trang 16nhận trong các điều ước quốc tế đa phương, song phương và trong pháp luậtcủa hầu hết các quốc gia.
Trong khoa học pháp lý chưa đưa ra định nghĩa về trong trợ tư pháp vềhình sự Tuy vậy, căn cứ vào bản chất của hoạt động tương trợ tư pháp vềhình sự, có thể hiểu: Tương trợ tư pháp về hình sự là việc cơ quan có thẩmquyền của các quốc gia liên quan, căn cứ vào các điều ước quốc tế và phápluật quốc gia thực hiện một hoặc một số hoạt động về trao đổi thông tin tổngđại giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; triệu tập nhân chứng; thu thập hoặc cung cấpchứng cứ, truy cứu trách nhiệm hình sự và thực hiện các yêu cầu tương trợ tưpháp khác về hình sự nhằm hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong giải quyết vụ án cóyếu tố nước ngoài [11]
1.2 Một số nội dung của hoạt động tương trợ tư pháp về Hình sự
a Phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự
Phạm vi tương trợ tư Pháp về hình sự bao gồm các hoạt động cơ bản sauthu thập chứng cứ, lấy lời khai của người có liên quan; trợ giúp công tác điềutra; giúp đỡ trong việc bắt giam, giữ người hoặc tạo điều kiện cho việc cungcấp chứng cứ; tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu tư pháp; khám xét và thu giữ;kiểm tra vật chứng và các địa điểm; thu thập thông tin, vật chứng liên quanđến vụ án; cung cấp bản gốc hoặc bản sao có xác nhận những tài liệu, hồ sơliên quan, xác định, thu hồi tài sản do phạm tội mà có; xác định, truy tìm công
cụ phương tiện phạm tội; xác minh địa chỉ, nhân dạng người làm chứng người
bị tình nghi, tung tích nạn nhân và các hoạt động tương trợ tư pháp kháckhông trái với nguyên tắc và luật pháp của nước được yêu cầu [11]
b Từ chối tương trợ tư pháp về hình sự
Các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự đều kêu gọi các bêntạo điều kiện và khả năng giúp đỡ cho nhau tối đa về công tác điều tra hoặcxét xử những tội phạm mà các bên yêu cầu theo thẩm quyền pháp lý của mỗi
Trang 17nước Tuy vậy, không phải trường hợp nào quốc gia được yêu cầu cũng đápứng các yêu cầu tương trợ của quốc gia yêu cầu Pháp luật quốc tế ghi nhậnnhững trường hợp một quốc gia được yêu cầu có quyền từ chối tương trợ tưpháp hình sự, khi: việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp có thể gây phươnghại đến vấn đề chủ quyền an ninh, trật tự xã hội, lợi ích công cộng cơ bản; yêucầu tương trợ trái với nguyên tắc và cam kết quốc tế của quốc gia được yêucầu có cơ sở để tin rằng mục đích của yêu cầu tương trợ là để truy tố mộtngười về vấn đề chủng tộc tôn giáo giới tính, quốc tịch, quan điểm chính trị,liên quan đến một tội phạm đang được điều tra hoặc truy tố ở nước được yêucầu trái với quy định của pháp luật việc truy tố tội phạm được yêu cầu trái vớiquy định phần luật của quốc gia được yêu cầu; nước được yêu cầu, coi tươngtrợ đó liên quan đến vấn đề chính trị Ngoài ra pháp luật một số quốc gia cònquy định tội phạm có mức hình phạt cao nhất là tử hình, tội phạm chính trị,tội phạm quân sự, người thực hiện hành vi phạm tội là công dân nước đượcyêu cầu có thể từ chối yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự [11]
2 Tương trợ tư pháp về dẫn độ
2.1 Khái niệm dẫn độ
Dẫn độ là một hình thức tương trợ tư pháp giữa các quốc gia Trong đó,quốc gia được yêu cầu dẫn độ, dựa trên cơ sở của pháp luật quốc tế và phápluật quốc gia chuyển giao người có hành vi phạm tội hoặc người đã bị kết ánbằng một bàn án có hiệu lực pháp luật đang có mặt trên lãnh thổ của quốc giađược yêu cầu đế quốc gia yêu cầu tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sựhoặc thi hành bản án đối với người đó
Dẫn độ có các đặc điểm cơ bản sau:
a) Dẫn độ là một hình thức tương trợ tư pháp giữa các quốc gia Trong
các hình thức hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm songphương khu vực và quốc tế, tương trợ tư pháp luôn là hoạt động được các
Trang 18quốc gia quan tâm đặc biệt do hiệu quả rõ ràng của hoạt động này Cũng cầnphân biệt dẫn độ với tương trợ tư pháp hình sự Điều 4, giới hạn phạm vi ápdụng của luật mẫu của Liên hợp quốc về tương trợ tư pháp hình sự năm 1990quy định: Luật này không áp dụng đối với việc i) Dẫn độ một người, bắt hoặcgiam giữ một người liên quan đến việc dẫn độ người đó; hoặc ii) Chuyển giaomột người đang bị giam giữ nhằm mục đích chấp hành một bản án hoặc iii)Chuyển giao vụ án hình sự Các quy định dẫn độ được quy định trong Hiệpđịnh mẫu của Liên hợp quốc về dẫn độ năm 1990.
b) Dẫn độ là hình thức hợp tác được tiến hành giữa các quốc gia, trong
đó nước được yêu cầu chuyển giao người có thành vi phạm tội hoặc đã bị kết
án bởi một bản án có hiệu lực pháp luật cho nước yêu cầu Thực chất của
hoạt động tương trợ tư pháp nói chung và dẫn độ nói riêng là sự giúp đỡ lẫnnhau giữa các quốc gia trong việc giải quyết thỏa đáng các vấn đề tư pháp màcác bên quan tâm Yêu cầu dẫn độ là cơ sở để nước được yêu cầu chuyển giaongười có hành vi phạm tội Đây là căn cứ phát sinh quan hệ về dẫn độ giữacác quốc gia hữu quan Người bị dẫn độ là người thực hiện hành vi phạm tội
và người đó đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án bằng mộtbản án có hiệu lực pháp luật nhưng đã bỏ trốn sang nước được yêu cầu
c) Yêu cầu dẫn độ phải phù hợp với pháp luật của nước được yêu cầu.
Đối tượng bị dẫn độ chỉ có thể là cá nhân nhưng không phải cá nhân nàocũng bị dẫn độ Thông thường, khi quốc gia đưa ra một yêu cầu dẫn độ mộtđối tượng để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đóđều phải dựa trên những căn cứ cụ thể
Quốc gia được yêu cầu là quốc gia có sự hiện diện của thể nhân bị yêucầu dẫn độ Khi nhận được yêu cầu dẫn độ, quốc gia được yêu cầu sẽ xem xéttính phù hợp của yêu cầu đối với pháp luật hình sự của quốc gia mình Trongtrường hợp yêu cầu dẫn độ không phù hợp với pháp luật quốc gia được yêucầu dẫn độ thì quốc gia được yêu cầu sẽ từ chối dẫn độ Ngược lại, khi xét
Trang 19thấy yêu cầu dẫn độ là phù hợp thì quốc gia được yêu cầu sẽ xem xét và quyếtđịnh dẫn độ Các trường hợp dẫn độ hay từ chối dẫn độ đều được quy định cụthể trong pháp luật quốc gia.
d) Mục đích của dẫn độ nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với người đó Khi tiến hành dẫn độ
thì quốc gia yêu cầu hướng tới mục đích hành vi phạm tội của người đó phải
bị trừng trị, bảo đảm sự ổn định xã hội, tính tối cao của luật pháp và công lýphải được thực thi Trường hợp tội phạm chưa bị xử lý thì việc dẫn độ chính
là cách thức đế quốc gia yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
đó Trong trường hợp người bị yêu cầu dẫn độ đã bị kết án thì bản án đó phải
là bản án đã có hiệu lực pháp luật
e) Việc dẫn độ phải tuân thủ các nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế
và nguyên tắc riêng của dẫn độ [11]
2.2 Các nguyên tắc pháp lý chủ yếu về dẫn độ
Các quốc gia khi tiến hành các hoạt động hợp tác đấu tranh phòng,chống tội phạm bằng hình thức dẫn độ phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
a) Nguyên tắc có đi có lại
Nguyên tắc “có đi có lại” được hiểu khi quốc gia này được yêu cầu dẫn
độ một người cho quốc gia kia thì quốc gia này sẽ đáp ứng yêu cầu dẫn độ đókhi và chỉ khi quốc gia được yêu cầu có cơ sở chắc chắn rằng trong trườnghợp tương tự, ở tương lai quốc gia đưa ra yêu cầu dẫn độ sẽ đáp ứng yêu cầucủa quốc gia này Khi các quốc gia chưa có sự thỏa thuận về hợp tác dẫn độthì việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại” góp phần nâng cao hiệu quả củacông tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của mỗi quốc gia
Nguyên tắc “có đi có lại” thể hiện sự bình đẳng giữa các quốc gia và chỉ khi các quốc gia bình đẳng với nhau thì nguyên tắc “có đi có lại” mới được