Với sự phong phú và đa dạng về các kiểu loại di sản văn hóa DSVH, nằm trong danh sách những quốc gia đáng được quan tâm bậc nhất châu Á, có hệ thống chính trị ổn định, kinh tế năng động,
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THANH HUYỀN
KINH DOANH DU LỊCH
DI SẢN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 9.34.01.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI – 2021
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học xã hội Việt Nam
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS Nguyễn Thắng
2 PGS.TS Đỗ Hương Lan
Phản biện 1: GS TS Đỗ Đức Bình
Phản biện 2: PGS TS Trần Hữu Cường
Phản biện 3: PGS TS Bùi Văn Huyền
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào lúc giờ phút, ngày tháng năm 2022
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Thư viện Quốc gia Việt Nam
Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa với nhu cầu được hiểu biết, khám phá văn hóa thế giới của con người nói chung ngày càng gia tăng, với nhiều di sản văn hóa của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới và hơn 3000 di sản cấp quốc gia, 7500 di sản cấp tỉnh (theo phân loại của Việt Nam) cùng vô số các văn hóa, phong tục, tập quán, danh lam thắng cảnh, Việt Nam đã trở thành một điểm đến được ghi nhận bởi cộng đồng
du lịch trên thế giới Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch thực sự là ngành kinh
tế mũi nhọn Việt Nam sẽ thuộc nhóm các nước có ngành du lịch phát triển hàng đầu khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, đây là mục tiêu chung của ngành du lịch Và du lịch di sản văn hóa vẫn là một khái niệm còn chưa rõ ràng đối với ngành du lịch của Việt Nam Trong khi đó, thực tiễn ở các nước châu Âu như Thụy Điển, Anh, Pháp, Tây Ban Nha hay các quốc gia châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc … cho thấy đã phát triển rất tốt kinh doanh du lịch di sản văn hóa (KDDLDSVH), thu được rất nhiều lợi ích từ loại hình du lịch này Và KDDLDSVH thực sự là hướng phát triển kinh tế một cách bền vững của các quốc gia Hơn nữa, KDDLDSVH còn góp phần gìn giữ và bảo tồn các di sản văn hóa trên thế giới cũng như ở Việt Nam
Với sự phong phú và đa dạng về các kiểu loại di sản văn hóa (DSVH), nằm trong danh sách những quốc gia đáng được quan tâm bậc nhất châu Á, có hệ thống chính trị ổn định, kinh tế năng động, chính sách đối ngoại cởi mở đang từng bước cải thiện hình ảnh quốc gia, đang là điểm đến cho sự hợp tác kinh doanh và tổ chức các sự kiện, Việt Nam thực sự
có tiềm năng vô cùng lớn để khai thác, kinh doanh và phát triển du lịch di sản văn hóa Bên cạnh đó, trong Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 16/1/2017,
có nói đến quan điểm “Phát triển du lịch bền vững; bảo tồn và phát huy các DSVH và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.” Điều này cho thấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng đã đề cao việc phát triển du lịch bền vững gắn với các di sản văn hóa
Mặc dù có những điểm mạnh để góp phần cho sự phát triển KDDLDSVH như vậy nhưng vấn đề KDDLDSVH ở Việt Nam vẫn chưa được phát triển một cách rõ ràng, đồng bộ, chưa tương xứng với tiềm năng và các giá trị của nó Các cá nhân, các doanh nghiệp, các
tổ chức kinh doanh du lịch có liên quan đến DSVH hiện nay đang kinh doanh một cách đơn lẻ, manh mún, rời rạc Thậm chí, các chủ thể kinh doanh đang kinh doanh các dịch vụ
để cung cấp cho khách du lịch đến các điểm di sản văn hóa vẫn chưa nhận thức mình đang
là một trong những mắt xích của hệ thống du lịch di sản văn hóa (DLDSVH)
Về mặt lý luận, trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu về khái niệm “du lịch di sản văn hóa”, “kinh doanh du lịch” cũng như đã có một số các nghiên cứu trong nước về du lịch gắn với việc phát triển, gìn giữ và bảo tồn các di sản văn hóa Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu lý luận về KDDLDSVH như các tiêu chí đánh giá tiềm năng KDDLDSVH hay thực trạng KDDLDSVH cũng như việc đưa ra một khái niệm cụ thể về
“kinh doanh du lịch di sản văn hóa” được chấp nhận và sử dụng một cách rộng rãi Bên cạnh đó, mặc dầu có nhiều các mô hình đánh giá sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ du lịch Tuy nhiên, chưa có mô hình cụ thể để đánh giá sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ DLDSVH
Như vậy, việc nghiên cứu KDDLDSVH ở Việt Nam là vô cùng cấp thiết, thực sự có ý nghĩa quan trọng cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn Các nghiên cứu cơ sở lý luận cũng như việc đánh giá về tiềm năng và thực trạng KDDLDSVH sẽ làm cơ sở cho các giải pháp để
Trang 4cải thiện, hoàn thiện và thúc đẩy phát triển KDDLDSVH Kết quả của nghiên cứu cũng sẽ
là tài liệu tham khảo cho các nhà quản trị kinh doanh du lịch, nhà quản lý về kinh tế - du lịch, các đơn vị, các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch về vấn đề KDDLDSVH hiện nay Chính vì vậy, đề tài luận án trên rất cần thiết được nghiên cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá tiềm năng và thực trạng KDDLDSVH ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy kinh doanh dịch vụ du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về KDDLDSVH, xây dựng các tiêu chí đánh giá tiềm năng KDDLDSVH và các tiêu chí đánh giá hoạt động KDDLDSVH + Khảo sát, phân tích, đánh giá tiềm năng và hình thức kinh doanh, một số nội dung về thực trạng KDDLDSVH ở Việt Nam hiện nay (nghiên cứu trường hợp điển hình là phố cổ Hội An)
+ Dựa trên kết quả nghiên cứu về tiềm năng và thực trạng, đề xuất một số giải pháp thúc đẩy KDDLDSVH ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động KDDLDSVH ở Việt Nam, và nghiên cứu một trường hợp điển hình là di sản văn hóa tại phố cổ Hội An
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: DSVH rất đa dạng, có rất nhiều loại hình khác nhau Kinh doanh DLDSVH cũng là chủ đề rất rộng Tuy nhiên, đây là chủ đề rất mới ở Việt Nam nên tác giả muốn tiếp cận tổng thể và phân tích điểm Nội dung kinh doanh DLDSVH được xem xét ở đây chủ yếu DLDSVH bao gồm: tiềm năng du lịch DSVH; các hình thức kinh doanh; môi trường kinh doanh; chủ thể kinh doanh; đánh giá sâu về sự hài lòng của khách
du lịch và đánh giá sơ bộ kết quả kinh doanh cũng như đóng góp của các ngành dịch vụ du lịch tại điểm DSVH Trong khuôn khổ luận án này, tác giả tập trung nghiên cứu tổng quát
về tiềm năng và thực trạng kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam và phân tích sâu trường hợp ở phố cổ Hội An
- Về không gian: Việt Nam có rất nhiều các DSVH cấp thế giới và cấp quốc gia Để đánh giá chung về tiềm năng và thực trạng kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam, tác giả đã triển khai phỏng vấn, điều tra khảo sát ở các điểm di sản điển hình là phố cổ Hội
An, Văn Miếu Quốc Tử Giám, thành nhà Hồ và quần thể di tích Cố đô Huế và một số vùng phụ cận quanh các điểm di sản nói trên
Bên cạnh việc đánh giá chung về các điểm di sản ở Việt Nam, luận án chọn một điểm
di sản đại diện là Phố cổ Hội An (Quảng Nam) nhằm mục đích nghiên cứu cụ thể các hoạt động kinh doanh du lịch di sản văn hóa, phân tích các đặc điểm và nét tương đồng cũng như khác biệt của hoạt động kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở di sản này với nơi khác Phố cổ Hội An là điểm di sản có thể xem như toàn diện, có đầy đủ các yếu tố cấu thành một hệ thống du lịch hoàn thiện bao gồm điểm đến, tập hợp đầy đủ các dịch vụ về ẩm thực, lưu trú, giải trí, vận chuyển, đồng thời, điểm di sản này có giá trị lịch sử -văn hóa cao, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới Do đó, phố cổ Hội An là điểm khảo sát lý tưởng cho luận án này
- Về thời gian:
Trang 5+ Đối với dữ liệu thứ cấp: tác giả thu thập dữ liệu trong khoảng thời gian chủ yếu
từ 2010 đến 2020
+ Đối với dữ liệu sơ cấp: tác giả thu thập dữ liệu thông qua điều tra, phỏng vấn đối tượng liên quan trong khoảng thời gian các tháng trong năm 2018 và 2019
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để bổ trợ lẫn nhau Có thể khái quát thành các phương pháp nghiên cứu tại bàn và nghiên cứu thực địa; hoặc các phương pháp phân tích định tính và định lượng Cụ thể:
(i) Về chọn điểm nghiên cứu: luận án nghiên cứu phạm vi cả Việt Nam nhưng du lịch DSVH chỉ diễn ra ở các điểm DSVH Với sự giới hạn về nguồn lực, luận án chỉ có thể lựa chọn một số điểm di sản để nghiên cứu Ngoài Hội An được lựa chọn như là một trường hợp điển hình, luận án còn lựa chọn nghiên cứu tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Cố Đô Huế, thành nhà Hồ Đây là những di sản văn hóa có những đặc điểm khác nhau, và đảm bảo cho
sự đại diện của các di sản văn hóa ở Việt Nam
(ii) Về thu thập dữ liệu nghiên cứu: luận án chú trọng thu thập cả dữ liệu sơ cấp và thứ cấp Các tài liệu thứ cấp được sử dụng ở luận án này được tác giả thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu là các sách, báo, các công trình nghiên cứu của các học giả, nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam từ nguồn internet, các tài liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, Tổng cục Du lịch Việt Nam, các Trung tâm/ Ban quản lý các khu Di sản Việt Nam, các Viện nghiên cứu trong và ngoài nước…, các tài liệu từ UNESCO, UNWTO, WTTC, các tư liệu từ cá nhân các nhà khoa học thế giới Các dữ liệu sơ cấp được sử dụng cho phương pháp định tính là chủ yếu
Các dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra diện rộng bằng bảng hỏi cấu trúc
và bán cấu trúc dành cho khách du lịch, các hộ kinh doanh và doanh nghiệp kinh doanh tại điểm du lịch; qua phỏng vấn sâu dành cho các nhà quản lý, các chuyên gia và một số khách du lịch ngẫu nhiên
Về điều tra khảo sát: tác giả sử dụng bảng hỏi để phỏng vấn điều tra và nắm bắt được đặc điểm của khách DLDSVH, nhận thức và nhu cầu của thị trường về DLDSVH và điều tra
sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng các dịch vụ tại các điểm di sản được lựa chọn Ngoài ra, tác giả sử dụng bảng hỏi dành riêng cho các tổ chức kinh doanh để tìm hiểu đặc điểm và thực trạng kinh doanh của các tổ chức kinh doanh các dịch vụ trên địa bàn có di sản Qua đó, tác giả nhận biết được chất lượng lao động đã và đang tham gia vào lĩnh vực DLDSVH này Chi tiết về khảo sát được trình bày ở các nội dung chương 3 và Phụ lục của luận án
Về phỏng vấn sâu các chuyên gia: tác giả đã tham vấn các chuyên gia trong nước và ngoài nước về lĩnh vực DSVH và du lịch gắn với DSVH Qua đó, tác giả có kiến thức sâu hơn trong việc phân tích các luận điểm trong đề tài nghiên cứu Từ đó, đưa ra được các kết luận phù hợp và đúng đắn đối với các giải pháp thúc đẩy kinh doanh DLDSVH được tốt hơn
Các dữ liệu này được sử dụng cho cả phương pháp phân tích định tính và định lượng, được áp dụng chủ yếu ở các chương 3 và 4
(iii) Phương pháp nghiên cứu định tính: Phương pháp nghiên cứu này được áp dụng ở tất cả các chương của luận án Chủ yếu là các phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh
Trang 6(iv) Phương pháp nghiên cứu định lượng: Phương pháp nghiên cứu này được áp dụng chủ yếu ở chương 3 của luận án Các tài liệu sau khi thu thập sẽ được tác giả tiến hành phân loại, sàng lọc và tiến hành phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh các dữ liệu bằng phương pháp nghiên cứu định lượng với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 20 để luận giải cho vấn đề nghiên cứu của luận án
(v) Phương pháp nghiên cứu thực địa và trải nghiệm: Ngoài việc thực hiện các khảo sát
và phỏng vấn, tác giả đã tiến hành quan sát khu vực có DSVH để có cái nhìn tổng thể về vấn đề kinh doanh DLDSVH ở đây Bản thân tác giả đã trải nghiệm và đóng vai là một người đi du lịch để quan sát rõ ràng hơn các hoạt động kinh doanh DLDSVH tại các điểm
du lịch DSVH Mặc dù tác giả đã nhiều lần đi đến các điểm này trước khi thực hiện luận
án, nhưng khi thực hiện luận án đã giả đã đi thăm trở lại theo mục tiêu thực hiện luận án Các hoạt động thực địa đã được tác giả thực hiện vào các tháng trong năm 2018 và 2019 Phương pháp này giúp cho tác giả có cái nhìn thực tế, sâu sắc và rõ rệt về đối tượng nghiên cứu, từ đó mở lối cho tác giả có thêm được các tư duy và kiến thức sâu sắc, cụ thể
về DSVH, về thực trạng kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam, đồng thời rất nhiều các kiến thức thực tế khác nhằm góp phần nghiên cứu tốt hơn luận án này
(vi) Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): luận án lựa chọn những trường hợp điển hình để phân tích nhằm làm nổi bật nội dung của luận án, giúp người đọc dễ hình dung một trường hợp cụ thể, qua đó hiểu khái quát toàn bộ nội dung của luận án một cách sâu sắc hơn Trong trường hợp này, phố cổ Hội An được lựa chọn như một tình huống điển hình
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Về mặt lý luận: Mặc dầu, trên thế giới các nghiên cứu về KDDLDSVH rất phong phú,
đa dạng cũng như ở trong nước đã có nhiều nghiên cứu về du lịch gắn với di sản văn hóa nhưng các nghiên cứu về KD DLDSVH ở trong nước là rất ít, hầu như chưa có Luận án
đã đưa ra được một quan điểm, cách nhìn riêng về “du lịch di sản văn hóa” và khái niệm mới về “kinh doanh du lịch di sản văn hóa” Luận án đã hệ thống hóa lý luận về du lịch DSVH và kinh doanh DLDSVH Đây là một đóng góp mới có thể làm cơ sở tiếp tục cho các nghiên cứu sau về du lịch di sản văn hóa cũng như kinh doanh du lịch di sản văn hóa Đồng thời, dựa trên các quan điểm nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ của các học giả trên thế giới, tham khảo mô hình Hệ thống Các chức năng
du lịch bổ sung (FTS) của C.A.Gunn (1988; 2002), luận án đã thiết kế và đưa ra được mô hình nghiên cứu để đánh giá sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ DLDSVH nói chung, của Việt Nam nói riêng tiếp cận dưới góc độ cung và cầu về du lịch Luận án đã đưa ra được các tiêu chí để đánh giá về tiềm năng kinh doanh DLDSVH
Về thực tiễn: luận án đã đánh giá được thực trạng kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam
nói chung, điểm di sản Phố cổ Hội An nói riêng Ngoài ra, luận án đã đưa ra được các giải pháp kinh doanh DLDSVH về mặt nội dung kinh doanh (dịch vụ giải trí, lưu trú, vận chuyển, ẩm thực), hình thức kinh doanh (trên bờ, dưới nước), quy mô kinh doanh (trong nước, quốc tế) nhằm ứng dụng để nâng cao hiệu quả và phát triển hơn nữa kinh doanh DLDSVH trên thực tế
Nhìn chung luận án đã xây dựng được một bộ cơ sở dữ liệu bao gồm cả dữ liệu khảo sát (từ kết quả khảo sát) và dữ liệu phân tích định tính và định lượng và những giải pháp quan trọng Đây là bộ cơ sở dữ liệu toàn diện nhất, hệ thống về kinh doanh du lịch di sản văn
Trang 7hóa ở Việt Nam cho đến thời điểm này, có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng quan tâm
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về lý luận: Luận án đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp để giải quyết
các vấn đề đặt ra của đề tài Ngoài việc góp phần khái quát và phân tích các vấn đề lý luận
về kinh doanh du lịch di sản văn hóa, cụ thể ở đây là tiềm năng kinh doanh du lịch di sản văn hóa và thực trạng kinh doanh du lịch di sản văn hóa thì luận án còn có ý nghĩa trong việc xây dựng được mô hình đánh giá sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ DLDSVH nói chung, ở Việt Nam nói riêng
Về thực tiễn: Trên thực tế, việc nghiên cứu về kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam là rất
ít, thậm chí là chưa có nếu xét dưới góc độ quản trị kinh doanh du lịch Do đó, các cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh doanh du lịch di sản văn hóa để có thể tham khảo và áp dụng ra thực tế bên ngoài ở Việt Nam là còn rất hạn hẹp và thiếu thốn Luận án này đã đưa ra được các vấn đề có ý nghĩa thực tiễn như sau:
Thứ nhất, luận án đã cung cấp cho các nhà quản lý, nhà đầu tư, nhà kinh doanh du lịch (đặc biệt gắn liền với các DSVH) những phân tích và đánh giá về tiềm năng và thực trạng kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam hiện nay
Thứ hai, luận án đã cung cấp cho các nhà quản lý, nhà đầu tư, nhà kinh doanh những nghiên cứu về nhu cầu của khách du lịch nội địa cũng như quốc tế về chất lượng dịch vụ
du lịch tại các điểm DLDSVH ở Việt Nam trên thực tế thông qua việc đánh giá sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch tại các điểm di sản văn hóa ở Việt Nam Thứ ba, luận án đã đưa ra một số các giải pháp để thúc đẩy kinh doanh dịch vụ du lịch tại các điểm di sản ở Việt Nam nói chung, điểm di sản Phố cổ Hội An nói riêng Qua đó, các tổ chức kinh doanh du lịch, các cơ quan quản lý du lịch, các nhà đầu tư cũng như các bên liên quan có thể tham khảo, đối chiếu, ứng dụng trên thực tế nhằm thúc đẩy, khai thác
và kinh doanh tốt hơn lĩnh vực DLDSVH ở Việt Nam nói chung, các điểm di sản địa phương nói riêng trong tương lai
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án có bố cục gồm 4 chương như sau: Chương 1 - Tổng quan tình hình nghiên cứu; Chương 2 - Cơ sở khoa học
và mô hình nghiên cứu về kinh doanh DLDSVH; Chương 3 - Tiềm năng và thực trạng kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam, nghiên cứu trường hợp phố cổ Hội An; Chương 4 - Các giải pháp thúc đẩy kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các công trình nghiên cứu về kinh doanh du lịch
1.1.1 Các nghiên cứu về nội dung của du lịch và kinh doanh du lịch
Có rất nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau về du lịch Một trong số những nghiên cứu sâu sắc và tổng thể nhất về du lịch là cuốn sách The business of tourism của J Christopher Holloway, Claire Humphreys, Rob Davidson (2009) Cuốn sách trích lược một số khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là những di chuyển ngắn hạn tạm thời của người dân đến các điểm bên ngoài nơi mà họ thường sống và làm việc và các hoạt động trong suốt thời gian họ ở tại các điểm này; nó bao gồm sự di chuyển cho tất cả các mục đích cũng như các chuyến thăm hoặc du ngoạn trong ngày” (Viện nghiên cứu du lịch Anh Quốc, 1976: 8) Định nghĩa này đã được điều chỉnh lại một chút tại Hội nghị Quốc tế về Giải trí - Tái tạo - Du lịch được tổ chức bởi AIEST và Tourism Society năm 1981, Du lịch
có thể được xác định theo các hoạt động cụ thể được sàng lọc bởi những lựa chọn và được thực hiện ở bên ngoài môi trường gia đình Du lịch có thể không liên quan đến việc ở xa qua đêm Năm 1993, Ủy ban Thống kê của Liên Hợp Quốc đã trích dẫn định nghĩa về du lịch do WTO đưa ra vào năm 1991 “Du lịch bao gồm các hoạt động của những người đi
du lịch và lưu trú ở những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ không quá một lần liên tiếp trong năm để giải trí, kinh doanh hoặc các mục đích khác” Định nghĩa trên cũng đồng quan điểm và được bổ sung rộng hơn đối với ngành Khách sạn, Dịch vụ ăn uống và Du lịch (Hotels, Catering and Tourism - HCT) bởi Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đó là “Du lịch không chỉ bao gồm các dịch vụ cung cấp cho khách du lịch mà còn
cả cho người dân Đối với ILO, HCT bao gồm: khách sạn, nhà trọ, nhà nghỉ, trại du lịch
và trung tâm nghỉ mát; nhà hàng, quán bar, quán ăn tự phục vụ, quán ăn nhanh, quán rượu, câu lạc bộ đêm và các cơ sở tương tự; tổ chức cung cấp bữa ăn và giải khát trong bệnh viện, nhà máy, căng tin văn phòng, trường học, máy bay và tàu thuyền; các đại lý du lịch, các tổ chức hướng dẫn viên du lịch và văn phòng thông tin du lịch; và các trung tâm hội nghị triển lãm” (ILO, 2011) Trong khi đó UNWTO định nghĩa “Du lịch là một hiện tượng
xã hội, văn hóa và kinh tế đòi hỏi sự di chuyển của mọi người đến các quốc gia hoặc những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ cho mục đích cá nhân hoặc kinh doanh/ chuyên môn Những người này được gọi là du khách (có thể là khách du lịch hoặc người đi tham quan; cư dân hoặc không phải cư dân) và du lịch phải thực hiện cùng với các hoạt động của họ, một số trong đó liên quan đến chi tiêu du lịch (UNWTO, 2008) UNWTO cũng nói, Các ngành công nghiệp du lịch chủ yếu là lao động và cung cấp việc làm cho nhiều người Họ bao gồm các chuyên gia được đào tạo tốt, nhưng cũng có một số lượng lớn công nhân gặp khó khăn khi tìm việc ở nơi khác, chẳng hạn như người mới gia nhập vào thị trường lao động (thanh niên và người di cư), phụ nữ có trách nhiệm gia đình chỉ có thể làm việc bán thời gian và công nhân ít trình độ chuyên môn nói chung Du lịch cung cấp cho người lao động thu nhập và kinh nghiệm, và do đó đóng góp cho sự hòa nhập xã hội và phát triển cá nhân của họ
1.1.2 Nghiên cứu về vai trò và tác động của kinh doanh du lịch
ILO (2011:3) đã nói rằng “Du lịch là một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh nhất ở các nước trên thế giới Nó rất thâm dụng lao động và là một nguồn phát triển và việc làm đáng
kể, đặc biệt là đối với những người có khả năng hạn chế trong việc kết nối vào thị trường lao
Trang 9động, như phụ nữ, thanh niên, lao động nhập cư và dân cư nông thôn Nó có thể đóng góp đáng
kể cho sự phát triển kinh tế, xã hội và giảm nghèo” Trong khi đó, Lê Thị Thanh Huyền (2020) nói rằng “Du lịch có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của một quốc gia ở tầm vĩ mô lẫn vi mô; có ảnh hưởng lớn tới các lĩnh vực và hoạt động khác của một đất nước, từ việc phát triển kinh tế - thương mại, đến quảng bá về văn hóa – xã hội, hay tạo dựng hình ảnh, thương hiệu của một quốc gia”
J Christopher Holloway, Claire Humphreys, Rob Davidson (2009) trong nghiên cứu The business of tourism nói rằng Du lịch có nhiều tác động tới nền kinh tế, văn hóa-xã hội, môi trường Chương 5, trang 86 có nói “du lịch có lẽ là ngành công nghiệp quan trọng nhất thế giới” Tác giả phân tích rất rõ các loại sản phẩm trong ngành du lịch và lữ hành gồm cấu trúc
và tổ chức của ngành, các điểm đến du lịch, các điểm thu hút khách du lịch, hệ thống khách sạn cung cấp dịch vụ lưu trú, ăn uống, hệ thông vận chuyển bằng đường hàng không, đường thủy, đường bộ; cho các bên liên quan nhìn nhận một cách sâu sắc về sản phẩm du lịch và cách khai thác tốt nhất, đạt được tốt nhất về mặt doanh thu Bên cạnh đó, các trung gian cung cấp dịch vụ
du lịch bao gồm các tổ chức quản lý khách du lịch, khu vực công trong ngành du lịch, các tổ chức điều hành tour, các tổ chức bán và phân phối du lịch và lữ hành, các dịch vụ du lịch phụ trợ
Theo Nguyễn Văn Đính, trong Du lịch và phát triển, Một số bài học kinh nghiệm quốc tế với việc thực hiện chiến lược phát triển du lịch Việt Nam (2018): Thứ nhất, thực sự phải coi Du lịch là một ngành kinh tế, có đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc dân Cần có sự đầu tư thích đáng và sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, có hiệu quả của mọi cơ quan, tổ chức liên quan Thứ hai, trong việc xây dựng, thực hiện chiến lược và quy hoạch phát triển du lịch cần ổn định lâu dài, từ đó Chính phủ chỉ đạo và điều hành thực hiện một cách cụ thể có trọng tâm, trong điểm đối với từng vùng, từng loại hình du lịch và từng thời gian Thứ ba, về chiến lược thị trường, cần chú ý phát triển cả thị trường quốc tế và thị trường nội địa, đặc biệt chú ý phát triển thị trường du lịch quốc tế Thứ tư, chú ý phát triển du lịch bền vững, xóa đói giảm nghèo, du lịch cộng đồng, bảo vệ môi trường tự nhiên, văn hóa, đảm bảo an ninh, an toàn trong phát triển du lịch ở phạm vi quốc gia, cho cả du khách và nhà kinh doanh là biện pháp mà tất cả quốc gia đều quan tâm thực hiện Thứ năm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một nội dung đặc biệt quan trọng trong phát triển du lịch Thứ sáu, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá, ứng dụng công nghệ thông tin
Các công trình nghiên cứu Du lịch Di sản văn hóa
1.2.1 Du lịch di sản văn hóa: Lịch sử và nội hàm
Destination BC Corp., (2014) trong Cultural and Heritage Tourism Develoment đã mô
tả rằng DLDSVH đã tồn tại từ những ngày đầu tiên của du lịch giải trí Những kinh nghiệm du lịch đầu tiên thường là những cuộc hành hương tôn giáo như người Kitô giáo đến nhà thờ trong miền Đất Thánh hay người Hồi giáo tới thánh địa Mecca Người châu
Âu bắt đầu đi du lịch với mức đáng kể vào những năm 1700 và một cơ sở hạ tầng các phòng trọ, khách sạn, nhà hàng, hệ thống giao thông nổi lên Tuy nhiên, mục đích chính của du lịch vẫn là trải nghiệm một nền văn hóa khác Và những người đi du lịch thường nắm bắt những ý tưởng, phong tục truyền thống của những nơi họ đi qua mang về quê hương của họ, như người châu Âu trở về từ phương Đông và mang về một hương vị nào
đó cho các loại gia vị phương Đông đã cách mạng hóa vấn đề nấu nướng trong gia đình của họ Người Anh và người Đức đã đến Ý và Hi Lạp để nhìn thấy kiến trúc cổ điển, trải
Trang 10nghiệm nền văn hóa ấm áp và rượu vang Địa Trung Hải Từ những năm 1800, văn hóa và
du lịch đã có sự liên kết rất mật thiết
Monica Rowland, Menendez versus Mickey: A study of heritage tourism in Florida (2006) mô tả rằng “Người Hi Lạp liên tục đi tới thăm các địa điểm thiêng liêng Người du lịch đầu tiên có thể là nhà sử học người Hi Lạp Herodotus vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên hoàn toàn vì lợi ích của việc học về những nơi khác và những người sống ở đó Nhưng những người du lịch đúng nghĩa thực sự đầu tiên lại là người La Mã Công dân ở
đó với mong muốn thoát khỏi sức nóng và sự khó chịu của đô thị Rome đã kiến tạo ra ngành công nghiệp du lịch mà nó đã đạt đến đỉnh điểm trong thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, đã hoàn thành với những hướng dẫn viên du lịch, sự kết nối các chuyến đi theo lịch trình, bảo tàng và các văn phòng du lịch.”
Lê Thị Thanh Huyền (2020) cho rằng “Du lịch Di sản văn hóa là một kiểu hình du lịch cho những trải nghiệm và kiến thức thực tế về tất cả những gì thuộc về quá khứ có liên quan đến sự sống của con người hay các hoạt động vật chất và tinh thần của con người Nó
là sự kết nối những ý niệm ở thực tại với những gì đã diễn ra trong quá khứ tạo nên những cảm xúc trân trọng, tự hào và biết ơn về các giá trị của quá khứ đã đi qua”
1.2.2 Về tiềm năng và cơ hội của Du lịch di sản văn hóa
PLC, Cultural Heritage Tourism (2014) nói rằng “du lịch không còn đơn giản là du lịch nữa Nó đã trở thành một hình thức liên kết phát triển, giải trí và kết nối gia đình xảy ra xung quanh khuôn khổ của những địa điểm tham quan nhưng không nằm trong một khu phố thường ngày của bạn Đó là lối sống, phát triển kinh tế, giá trị gia đình Đó là khám phá về bản thân, cả về thể chất lẫn trí tuệ” Sự thay đổi lớn từ việc thư giãn sang việc tự khám phá bản thân được phản ánh trong sự bùng nổ của những lựa chọn của thị trường trong ngành công nghiệp du lịch Được biết đến rộng rãi hơn thường là du lịch mạo hiểm,
du lịch tôn giáo, du lịch sinh thái, du lịch ẩm thực, du lịch giáo dục Tuy nhiên, DLDSVH
là một trong những thị trường đặc biệt phát triển nhanh nhất trong ngành du lịch hiện nay Tóm lại, các nghiêm cứu cho thấy tiềm năng và cơ hội phát triển DLDSVH trong ngành
du lịch toàn cầu nói chung, các quốc gia giàu có hay có tiềm năng về DSVH nói riêng, là
vô cùng to lớn và hứa hẹn rất nhiều các giá trị, các lợi ích mà nó mang lại không chỉ về phương diện phát triển kinh tế cho quốc gia, vùng/ miền địa phương đó mà còn ở nhiều phương diện khác như xã hội, chính trị, giáo dục, hay đơn giản là niềm tự hào và lòng tự tôn dân tộc
1.2.3 Về vai trò, lợi ích và sự tác động của Du lịch di sản văn hóa
Monica Rowland, Menendez versus Mickey: A Study of heritage tourism in Florida
(2006) nói “du lịch di sản hứa hẹn nhiều lợi ích nhưng cũng sở hữu nhiều nguy hiểm Du lịch di sản đóng góp rất lớn cho phong trào bảo tồn lịch sử và cung cấp cho hàng triệu người kết nối hữu hình với lịch sử của chính họ Nhưng thông qua lịch sử du lịch di sản đã trở thành một mặt hàng tiêu dùng, và do đó, thường được đúc thành hình thức hấp dẫn nhất trước khi được bán cho công chúng du lịch.” PLC, Cultural Heritage Tourism (2014) nói rằng “DLDSVH cung cấp một cơ hội cho mọi người để được trải nghiệm về văn hóa của họ một cách sâu sắc, cho dù bằng hình thức thăm viếng các điểm du lịch, các địa điểm văn hóa hay lịch sử hoặc bằng cách tham gia vào các hoạt động văn hóa”
Raymond A Rosenfeld, Cultural and Heritage Tourism (2008) nói rằng “Du lịch di sản
và văn hóa đã trở thành nguồn thu lớn cho nhiều cộng đồng và vùng miền trên toàn cầu
Nó không chỉ tạo công ăn việc làm, mà còn có tiềm năng mang lại doanh thu cần thiết từ
Trang 11bên ngoài cộng đồng địa phương và kích thích nền kinh tế địa phương vượt ra khỏi năng lực của người dân địa phương đó”
1.2.4 Về các yếu tố thành công của hoạt động du lịch di sản văn hóa
Kaitlin Brooke Mcshea (2010) nghiên cứu Critical Success Factors for cultural heritage tourism operation đã đưa ra một danh sách gồm tám yếu tố đóng vai trò quan trọng đối với các hoạt động DLDSVH đó là: (1) Đánh giá tiềm năng DLDSVH: tiến hành kiểm kê tất cả các tài nguyên về di sản và con người, khám phá và đánh giá những gì sẽ khiến cho khách
du lịch đến tham quan; (2) Thiết lập các Nội dung và mục tiêu rõ ràng: xác định các kỳ vọng, nội dung, mục tiêu của cộng đồng thông qua các cuộc thảo luận và cuộc họp công khai, xác định các mục tiêu và nội dung phải thực hiện để bắt đầu một quy trình lập kế hoạch chiến lược; (3) Lập Kế hoạch chiến lược: là giai đoạn quan trọng của quá trình phát triển DLDSVH, Kế hoạch chiến lược phải bao gồm cả chiến lược ngắn hạn và dài hạn và phải đáp ứng được các nhu cầu của người dân và khách du lịch trong khi phải bảo tồn tính toàn vẹn của khu di tích hay địa điểm có di tích về cả tính lịch sử lẫn văn hóa và cả sự nhạy cảm đối với môi trường tự nhiên; (4) Quản lý và bảo tồn Tài nguyên Di sản: Lập kế hoạch quản lý cho các di tích lịch sử và các điểm tham quan thiên nhiên để bảo tồn tài nguyên di sản cho các thế hệ tương lai mà không cần phải có quá nhiều sự giám sát và bỏ qua các cách tiếp cận kinh doanh, thuyết minh về các tài nguyên di sản cần phải được bao gồm trong quản lý di sản; (5) Các bước chuẩn bị cho du lịch: bất cứ một khu di tích, cộng đồng hay một vùng đều phải chuẩn bị cho hoạt động du lịch với tất cả các cấp khác nhau bao gồm phát triển hệ thống khách sạn, dịch vụ ẩm thực, tiện ích đầy đủ, cơ sở hạ tầng, dịch vụ công cộng như cảnh sát, an toàn cháy nổ hay sự bảo vệ ở các khu vực của tài nguyên di sản Quá trình này thường được thực hiện và hoàn thiện theo từng giai đoạn (6) Bảo tồn sự thật (tính xác thực): Trong suốt quá trình lập kế hoạch từ ban đầu cho đến phát triển DLDSVH, cần phải nỗ lực để duy trì tính xác thực hay cái gọi là “ý thức về di sản” Yếu tố này sẽ tạo nên sự độc nhất của di sản và sẽ khiến cho khách du lịch hướng tới Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính xác thực và các kinh nghiệm giải trí sẽ khiến cho các chương trình DLDSVH thành công Tính xác thực có thể tồn tại về mặt vật thể cũng có thể thông qua các thuyết minh hay diễn giải; (7) Marketing hiệu quả: áp dụng một chiến lược marketing hiệu quả là điều cần thiết trong việc thu hút và cạnh tranh đối với khách du lịch
Có nhiều cách để thực hiện điều này và ví dụ như những điều này đã được thảo luận trong phần nghiên cứu điển hình SCNHC và chương 5 của công trình nghiên cứu này; (8) Tạo dựng các quan hệ đối tác và các gói sản phẩm: đối với sự thành công trong dài hạn và nguồn lực về tài chính thì việc thiết lập và tạo dựng các quan hệ đối tác là rất cần thiết Việc phát triển các loại hình khác nhau của các “sản phẩm du lịch” hay là các trải nghiệm cũng rất quan trọng, cùng với việc đóng gói tất cả các sản phẩm theo một cách như vậy để tối đa hóa tiềm năng kinh tế Đây là một công trình nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao đối với việc thiết lập một kế hoạch cho DLDSVH Việt Nam
1.3 Các nghiên cứu thực tiễn kinh doanh du lịch di sản văn hóa tại một số quốc gia
Shelby R.Herrin (2015), Application of Heritage Tourism Development Frameworks to Jenkins County, Georgia, bài viết áp dụng mô hình FTS của C.A.Gunn (1988) là khung lý thuyết trình bày năm thành tố quan trọng cấu thành một hệ thống du lịch nói chung và Lý thuyết Tương tác (Jamal & Getz, 1995); Phương pháp điều tra đánh giá thị trường Millen, Phương pháp phỏng vấn sâu khách du lịch đến tiểu bang Georgia Nghiên cứu chứng minh Millen và Jenkins có đủ các điều kiện và khả năng để phát triển du lịch dựa trên các yếu
Trang 12tố: tiềm năng thị trường rất lớn (7000 người lái xe qua Millen mỗi ngày); điểm du lịch đầy cuốn hút (nhà thờ Baptist lâu đời nhất trong tiểu bang, những trại giam từ thời Nội chiến, công viên tiểu bang Georgia…); giao thông thuận lợi (có cao tốc, sân bay, đường sắt), hệ thống các dịch vụ du lịch (cửa hàng lưu niệm, khu ăn uống…) Nghiên cứu phân tích rõ tiềm năng phát triển Du lịch Di sản ở Jenkins, Georgia đồng thời có sự liên kết với các tiểu bang khác Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đề cập đến một thành tố quan trọng là thành tố Ổn định chính trị (Political Stabilitty) Điều này sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo khi ứng dụng mô hình của Gunn
Xing Huibin, Azizan Marzuki, Arman Abdul Razak (2012), Protective development of cultural heritage tourism: The case of Lijiang, China nói rằng “Du lịch được coi là con dao hai lưỡi, điều này bao gồm cả DLDSVH Bên cạnh sự phát triển du lịch, sự tăng trưởng về kinh tế thì những nguy cơ về sự ảnh hưởng, áp lực xảy ra đối với môi trường, nguy cơ mất mát những truyền thống, áp lực từ đám đông du khách cũng như sự di cư miễn cưỡng của cư dân địa phương.” Với rất nhiều các lí do, bài báo này nghiên cứu để phát triển sự bảo vệ, bảo tồn của ngành du lịch di sản đối với DSVH tại phố cổ Lệ Giang, Trung Quốc Bài viết rất sâu sắc với các lý thuyết về các mô hình phát triển bảo vệ DLDSVH, trong đó, các tác giả đã thiết kế một mô hình phát triển bảo vệ di sản dành cho
Lệ Giang Mô hình gồm có ba phần: hỗ trợ, tham gia và cân bằng và giả định rằng khái niệm Phát triển bảo vệ phải trải qua toàn bộ quá trình phát triển DLDSVH là Lập kế hoạch, Đầu tư, Phát triển, Công nghiệp hóa, Quản lý và nâng cấp các quy trình Nếu tất cả các yếu tố liên quan này thỏa mãn cơ chế phân phối lợi ích thì việc phát triển bảo vệ DSVH ứng dụng cho phố cổ Lệ Giang là khả thi Đây là một tư liệu mang tính thực tiễn và
có thể tham khảo ứng dụng cho việc phát triển bảo vệ DLDSVH ở các điểm di sản của quốc gia Việt Nam
1.4 Đánh giá chung và hướng nghiên cứu của luận án
1.4.1 Đánh giá chung về các kết quả của các công trình khoa học trước luận án
Các công trình nghiên cứu khoa học đều rất sâu sắc, đầy đủ và rõ nét về ngành du lịch nói chung, các ngành hẹp, các vấn đề liên quan đặc biệt là về kinh doanh DLDSVH nói riêng Không chỉ về mặt lý thuyết mà cả về ứng dụng thực tiễn, các nghiên cứu đã đưa ra các phương pháp nghiên cứu, minh chứng và đã đưa ra các kết quả nghiên cứu có tính khoa học và ứng dụng thực tiễn rất cao Các nghiên cứu đều là những tài liệu khoa học quý báu không chỉ đối với các quốc gia trên thế giới mà đặc biệt là đối với Việt Nam
Một số các nghiên cứu có áp dụng khung lý thuyết là mô hình FTS (Hệ thống Các chức năng Du lịch) của C.A Gunn để phân tích tiềm năng và thực trạng khai thác DLDSVH tại một địa điểm nào đó, tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đề cập đến vấn đề KDDLDSVH ở Việt Nam:
- Chủ đề du lịch di sản văn hóa tại Việt Nam chưa được đặt vấn đề Tiềm năng và thực trạng kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam như thế nào?
- Sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ DLDSVH nói chung ở Việt Nam ra sao?
- Các giải pháp nào thúc đẩy kinh doanh DLDSVH cụ thể áp dụng cho các quốc gia đang phát triển như Việt Nam?
- Thực trạng kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở điểm di sản văn hóa Phố cổ Hội An như thế nào? Và các giải pháp nào đóng góp thúc đẩy tốt hơn các hoạt động kinh doanh ở điểm di sản này? Do đó, nghiên cứu này có hướng sẽ tiếp tục đề cập đến, phân tích, làm rõ các vấn đề nêu trên
1.4.2 Hướng nghiên cứu của luận án
Trang 13Khoảng trống trong việc nghiên cứu cơ sở khoa học của KDDLDSVH, mô hình đánh giá sự hài lòng của khách du lịch
Các nghiên cứu về cơ sở khoa học của DLDSVH cũng khá phong phú tuy nhiên, cơ sở khoa học và mô hình nghiên cứu về KDDLDSVH khá hạn chế Do vậy, luận án sẽ tập trung nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận và thực tiễn của KDDLDSVH và nghiên cứu phân tích đưa ra các tiêu chí đánh giá về tiềm năng KDDLDSVH và tiêu chí đánh giá thực trạng KDDLDSVH Từ các tiêu chí này, có thể đề xuất các mô hình đánh giá tiềm năng và thực trạng của KDDLDSVH ở các nghiên cứu sau
Bên cạnh đó, cũng có nhiều các mô hình đánh giá sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ nói chung, nhưng chưa có mô hình nào đánh giá sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ DLDSVH Cụ thể ở đây, là sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng các dịch vụ du lịch ở các điểm DSVH, vùng có DSVH Sự hài lòng của khách
du lịch về chất lượng các dịch vụ tại các điểm DSVH chính là một trong những yếu tố quan trọng và then chốt để đánh giá thực trạng của việc kinh doanh DLDSVH tại các điểm DSVH Do vậy, nghiên cứu này sẽ thiết kế và đưa ra mô hình đánh giá sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch tại các điểm DSVH ở Việt Nam Qua đó, sẽ đánh giá được thực trạng kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam nói chung
Khoảng trống về phạm vi nghiên cứu
Các nghiên cứu mà tác giả được tiếp cận hầu hết đều nghiên cứu về các quốc gia, các vùng khác ngoài Việt Nam, rất hiếm các tài liệu đề cập đến, hay phân tích, nghiên cứu về kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam Do đó, tác giả mạnh dạn tiếp cận các vấn
đề và thực hiện nghiên cứu cho trường hợp của Việt Nam Trong phạm vi luận án này, tác giả sẽ nghiên cứu các vấn đề quan trọng, một là tiềm năng kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam bao gồm tiềm năng về cầu du lịch di sản văn hóa và tiềm năng về cung du lịch di sản văn hóa Hai là, thực trạng kinh doanh DLDSVH nói chung ở Việt Nam cụ thể là các hình thức kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam, những đóng góp cho địa phương, doanh thu của ngành, số lượng việc làm, số lượng khách du lịch, số lượng các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành, chất lượng các dịch vụ được cung cấp Trong đó, chất lượng các dịch vụ được cung cấp sẽ được phân tích và làm rõ thông qua việc đánh giá sự hài lòng của khách
du lịch tại các điểm/ khu vực du lịch di sản văn hóa Bên cạnh đó, các nghiên cứu về Hội
An chủ yếu dưới góc độ văn hóa – lịch sử học hay du lịch học, còn các nghiên cứu về kinh doanh DLDSVH là rất ít Vì vậy, luận án sẽ tập trung nghiên cứu sâu thực trạng
KDDLDSVH ở điểm di sản điển hình là Phố cổ Hội An
Tiểu kết chương 1
Du lịch di sản văn hóa là một ngành kinh doanh đầy hấp dẫn và nhu cầu đi du lịch di sản văn hóa của cộng đồng trên thế giới ngày càng gia tăng Các nghiên cứu về kinh doanh du lịch di sản văn hóa đã có từ hơn nửa thế kỷ nay tuy nhiên, các nghiên cứu ở trong nước vẫn còn rất hạn chế và ít ỏi Trong chương 1, tác giả đã tổng quan được một số các nghiên cứu về kinh doanh du lịch, lý thuyết và cơ sở lý luận về du lịch di sản văn hóa hay sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch di sản văn hóa cũng như các kinh nghiệm thực tế của các nước trên thế giới về kinh doanh du lịch di sản văn hóa Qua đó, tác giả đã chỉ ra được các khoảng trống trong nghiên cứu về chất lượng dịch vụ du lịch di sản văn hóa, tiềm năng và thực trạng của kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở Việt