1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam

260 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 260
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu thế toàn cầu hóa, với nhu cầu được hiểu biết và khám phá văn hóa của cộng đồng trên thế giới ngày càng gia tăng, với nhiều di sản văn hóa của Việt Nam được UNESCO công nhận là d

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THANH HUYỀN

KINH DOANH DU LỊCH

DI SẢN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ NỘI, 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THANH HUYỀN

KINH DOANH DU LỊCH

DI SẢN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM

Ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 9.34.01.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: 1.TS Nguyễn Thắng

2 PGS TS Đỗ Hương Lan

HÀ NỘI, 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập, không sao chép bất cứ tài liệu nào và chưa từng được công bố nội dung ở đâu, bất kỳ nơi nào; các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình!

Lê Thị Thanh Huyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tác giả xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc, sự kính trọng và ngưỡng

mộ tới: TS Nguyễn Thắng – thầy hướng dẫn luận án 1 và PGS TS Đỗ Hương Lan – thầy hướng dẫn luận án 2 của tác giả; PGS TS Nguyễn Xuân Trung – trưởng khoa Quản trị Doanh nghiệp cùng các cán bộ thuộc khoa Quản trị Doanh nghiệp và Phòng Đào tạo, Học viện Khoa học xã hội; PGS TS Lê Ngọc Thắng – tổng biên tập Tạp chí Dân tộc và Thời đại – nơi tác giả làm việc đã tạo mọi điều kiện, động viên và giúp đỡ để tác giả có thể hoàn thành tốt luận án này Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn TS Trần Quý Thịnh, TS Bùi Văn Hiếu (Viện Khảo cổ học), TS Lê Xuân Kiêu (Văn Miếu Quốc Tử Giám), Th.S Nguyễn Văn Hai (Trung tâm hỗ trợ khách du lịch Hội An), Th.S Nguyễn Tuấn Lâm (Chuyên gia Khảo cổ học dưới nước, Công ty Phát triển Anh Thu) cùng nhóm nghiên cứu Trần Việt Triều, Trần Quốc Trung, Lê Hải Đăng đã giúp đỡ tác giả để có được cơ sở các dữ liệu quý giá phục vụ cho luận án này

Và tác giả vô cùng biết ơn đến gia đình và bằng hữu đã luôn ở bên, động viên, giúp

đỡ tác giả những lúc khó khăn để có thể vượt qua và hoàn thành tốt luận án này

Lần nữa, tác giả xin trân quý, chân thành cảm ơn các thầy cô, đồng nghiệp, bằng hữu và gia đình!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10

1.1 Các công trình nghiên cứu về kinh doanh du lịch 10

1.1.1 Các nghiên cứu về nội dung của du lịch và kinh doanh du lịch 10

1.1.2 Nghiên cứu về vai trò và tác động của kinh doanh du lịch 15

1.2 Các công trình nghiên cứu Du lịch Di sản văn hóa 21

1.2.1 Du lịch di sản văn hóa: Lịch sử và nội hàm 21

1.2.2 Về tiềm năng và cơ hội của Du lịch di sản văn hóa 23

1.2.3 Về vai trò, lợi ích và sự tác động của Du lịch di sản văn hóa 25

1.2.4 Về các yếu tố thành công của hoạt động du lịch di sản văn hóa 27

1.3 Các nghiên cứu thực tiễn kinh doanh du lịch di sản văn hóa tại một số quốc gia 31

1.4 Đánh giá chung và hướng nghiên cứu của luận án 35

1.4.1 Đánh giá chung về các kết quả của các công trình khoa học trước luận án 35

1.4.2 Hướng nghiên cứu của luận án 36

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KINH DOANH DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA 38

2.1 Cơ sở lý luận về kinh doanh du lịch di sản văn hóa 38

2.1.1 Các khái niệm cơ bản 38

2.1.2 Vai trò và lợi ích của kinh doanh du lịch di sản văn hóa 50

2.1.3 Hình thức kinh doanh du lịch di sản văn hóa 51

2.1.4 Các tiêu chí đánh giá tiềm năng và thực trạng kinh doanh du lịch di sản văn hóa 54

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh doanh du lịch di sản văn hóa 56

2.2 Thực tiễn kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở một số nơi trên thế giới 59

2.2.1 Các hình thức kinh doanh du lịch di sản văn hóa trên thế giới 59

Trang 6

2.2.2 Một số kinh nghiệm cho Việt Nam 73

2.3 Mô hình nghiên cứu của luận án 77

2.3.1 Quy trình nghiên cứu 77

2.3.2 Khung phân tích 78

2.3.3 Thiết kế mô hình đánh giá sự hài lòng của khách du lịch tại các điểm di sản văn hóa 79

Tiểu kết chương 2 89

Chương 3: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG KINH DOANH DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM, TRƯỜNG HỢP PHỐ CỔ HỘI AN 90

3.1 Tiềm năng kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam 90

3.1.1 Tiềm năng về cầu du lịch di sản văn hóa 91

3.1.2 Tiềm năng về cung du lịch di sản văn hóa 94

3.2 Các loại hình kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam 100

3.2.1 Kinh doanh dịch vụ tham quan bảo tàng 100

3.2.2 Kinh doanh dịch vụ lưu trú gắn với di sản văn hóa 101

3.2.3 Kinh doanh dịch vụ vận chuyển gắn với di sản văn hóa 103

3.2.4 Kinh doanh dịch vụ ẩm thực tại điểm di sản 105

3.2.5 Kinh doanh dịch vụ giải trí tại điểm di sản 106

3.3 Đánh giá hoạt động kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam 107

3.3.1 Số lượng khách du lịch nội địa và quốc tế đến 107

3.3.2 Đóng góp của du lịch di sản văn hóa cho nền kinh tế quốc gia 109

3.3.3 Các đánh giá của khách du lịch về môi trường tại điểm di sản 111

3.4 Sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ DLDSVH ở Việt Nam 115

3.4.1 Đặc điểm của khách du lịch tham gia khảo sát 115

3.4.2 Kết quả trả lời các câu hỏi điều tra (Frequencies Statistics) 116

3.4.3 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 116

3.4.4 Phân tích nhân tố khám phá EFA 117

3.4.5 Xem xét sự tương quan giữa các khái niệm 119

Trang 7

3.4.6 Xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính 120

3.4.7 Đánh giá chung về thực trạng kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam 125

3.5 Nghiên cứu trường hợp điểm du lịch di sản văn hóa phố cổ Hội An 127

3.5.1 Khái quát Hội An 127

3.5.2 Các hình thức kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở phố cổ Hội An 128

3.5.3 Đánh giá hoạt động kinh doanh du lịch di sản văn hóa tại Hội An 137

Tiểu kết chương 3 151

Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY KINH DOANH DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM 152

4.1 Bối cảnh phát triển du lịch di sản văn hóa hiện nay 152

4.1.1 Cơ hội 152

4.1.2 Thách thức 154

4.2 Các giải pháp thúc đẩy kinh doanh du lịch di sản văn hóa 155

4.2.1 Giải pháp chung 155

4.2.2 Giải pháp dành cho các chủ thể kinh doanh du lịch di sản văn hóa nói chung 157

4.3 Các giải pháp thúc đẩy kinh doanh du lịch di sản văn hóa đối với phố cổ Hội An 159

4.3.1 Giải pháp đối với các cơ quan quản lý của thành phố Hội An 159

4.3.2 Giải pháp dành cho các chủ thể kinh doanh 162

4.4 Hạn chế của luận án và gợi ý cho các nghiên cứu trong tương lai 164

Tiểu kết chương 4 166

KẾT LUẬN 167

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 169

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 170 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

lịch

Monuments and Sites

Hội đồng Di tích và Di chỉ Quốc tế

Cooperation Agency

Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản

Scientific and Cultural Organization

of Tourism

Tổng cục Du lịch Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thang đo Dịch vụ ẩm thực 81

Bảng 2.2: Thang đo Dịch vụ giải trí 82

Bảng 2.3: Thang đo Dịch vụ lưu trú 82

Bảng 2.4: Thang đo Dịch vụ vận chuyển 83

Bảng 2.5: Thang đo dịch vụ cung cấp kiến thức về di sản 83

Bảng 2.6: Thang đo Đặc điểm của di sản 84

Bảng 2.7: Thang đo sự hài lòng chung 84

Bảng 3.1 Ý định quay trở lại và sẵn sàng giới thiệu về di sản văn hóa Việt Nam của khách du lịch 93

Bảng 3.2 Cơ sở lưu trú du lịch giai đoạn 2014-2018 102

Bảng 3.3 Tăng trưởng khách du lịch đến Văn Miếu Quốc Tử Giám 109

Bảng 3.4 Đóng góp của ngành du lịch Việt Nam đối với nền kinh tế quốc gia 110

Bảng 3.5 Đóng góp của du lịch di sản Văn Miếu đối với nền kinh tế quốc gia 111

Bảng 3.6 Thống kê đánh giá chất lượng về môi trường ở các điểm di sản 112

Bảng 3.7: Thống kê đánh giá chất lượng về an ninh, trật tự ở các điểm di sản 113

Bảng 3.8 Kết quả kiểm định KMO and Bartlett's Test 118

Bảng 3.9: Phỏng vấn sâu các chủ thể kinh doanh ở khu di sản Hội An 132

Bảng 3.10 Tăng trưởng khách du lịch đến Di sản văn hóa Phố cổ Hội An 137

Bảng 3.11 Đóng góp của du lịch di sản Hội An đối với nền kinh tế quốc gia 138

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu 77

Hình 2.2 Khung phân tích 78

Hình 2.3 Mô hình đánh giá sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ tại các điểm du lịch di sản văn hóa 79

Hình 3.1: Khung phân tích tiềm năng du lịch 90

Hình 3.2 Doanh thu ngành du lịch toàn cầu 92

Biểu đồ 3.3 Tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam (2008-2018) 107

Biểu đồ 3.4 Số lượng khách du lịch quốc tế và nội địa đến các điểm di sản văn hóa của Việt Nam năm 2019 (lượt người) 108

Biểu đồ 3.5 Doanh thu của các điểm di sản văn hóa năm 2019 (tỷ đồng) 110

Hộp: 3.1 Tổng hợp ý kiến đánh giá về Văn Miếu Quốc tử giám 114

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu

Di sản văn hóa (DSVH) là một trong những tài nguyên du lịch quan trọng nhất trên thế giới và du lịch di sản văn hóa (DLDSVH) là một trong những hình thức du lịch hiện đại nổi bật nhất dựa trên di sản của loài người (Timothy, 2011) Du lịch di sản là loại hình du lịch lâu đời nhất (Bonarou, 2011) Du lịch di sản nói đến những người đi du lịch đến tham quan những nơi có tính truyền thống, lịch sử và tầm quan trọng về văn hóa với mục đích để học hỏi, với sự tôn kính và mục đích bảo tồn (Nzama, et al., 2005) Và kinh doanh du lịch di sản văn hóa (KDDLDSVH) về cơ bản đòi hỏi phải đáp ứng nhu cầu thị trường khách du lịch muốn trải nghiệm quá khứ một cách giải trí (Australian Heritage Commission, 2001; Jones and Shaw, 2007)

Các nhà bảo tồn di sản thường coi thương mại hóa là một con đường làm suy giảm tính toàn vẹn, giá trị và tính xác thực của di sản được đại diện (Breathnach, 2009; Cohen, 1988) Nhưng trên thực tế, sự thống trị của mô hình bảo tồn trong DLDSVH và sự thiếu chú trọng đến các nguyên tắc và thực hành kinh doanh đã dẫn đến tỷ lệ thất bại cao trong các hoạt động của DLDSVH (Bramley, 2001; Prideaux

& Kininmont, 1999; Young, 2006) Fyall & Garrod (2007) cho rằng, việc cân bằng giữa sự thỏa mãn các kì vọng của du khách với sự quản lý các tác động của chúng,

mà không ảnh hưởng đến tính xác thực của trải nghiệm di sản, bản thân nó đưa ra một tình thế khó xử đối với các nhà quản lý DLDSVH Ngược lại, một số tác giả cho rằng thương mại hóa không nhất thiết phải phá hủy tính xác thực của di sản mà các hoạt động kinh doanh còn có thể củng cố bản sắc văn hóa thông qua việc phổ biến và thúc đẩy tính hợp pháp của văn hóa Điều này đặc biệt đúng khi được thúc đẩy từ bên trong một cộng đồng nhằm đạt được những mục tiêu như vậy (Halewood

Trang 12

Queensland (Prideaux & Kininmont, 1999); hay Các khu định cư tiên phong và bảo tàng ngoài trời nói chung (Young, 2006) Sự phát triển DLDSVH được cho là đại diện cho sự kết hợp độc đáo và có khả năng không nhất quán giữa kinh doanh thương mại và các DSVH Và do đó, điều quan trọng là phải xác định các yếu tố thành công chính trong kinh doanh mà các nhà quản lý di sản có thể áp dụng để tránh thất bại kinh doanh (Hughes & Carlsen, 2010) Tuy nhiên, thực tiễn ở các nước châu Âu như Thụy Điển, Anh, Pháp, Tây Ban Nha hay các quốc gia châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc … cho thấy đã phát triển rất tốt KDDLDSVH, thu được rất nhiều lợi ích từ loại hình du lịch này Và KDDLDSVH thực sự là hướng phát triển kinh tế một cách bền vững của các quốc gia Hơn nữa, KDDLDSVH còn góp phần gìn giữ và bảo tồn các DSVH trên thế giới

Trong xu thế toàn cầu hóa, với nhu cầu được hiểu biết và khám phá văn hóa của cộng đồng trên thế giới ngày càng gia tăng, với nhiều di sản văn hóa của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới và hơn 3000 di sản cấp quốc gia, phong phú và đa dạng về các kiểu loại DSVH, các phong tục, tập quán hay danh lam thắng cảnh; Việt Nam có hệ thống chính trị ổn định, kinh tế năng động, chính sách đối ngoại cởi mở, là điểm đến cho sự hợp tác kinh doanh và tổ chức các sự kiện trên thế giới, Việt Nam thực sự có tiềm năng vô cùng lớn để khai thác, kinh doanh và phát triển du lịch di sản văn hóa Bên cạnh đó, trong Nghị quyết

số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 16/1/2017, có nói đến quan điểm

“Phát triển du lịch bền vững; bảo tồn và phát huy các DSVH và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.” Điều này cho thấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng đã đề

cao việc phát triển du lịch bền vững gắn với các DSVH

Mặc dù có những điểm mạnh để góp phần cho sự phát triển KDDLDSVH như vậy nhưng vấn đề KDDLDSVH ở Việt Nam vẫn chưa được phát triển một cách rõ ràng, đồng bộ, chưa tương xứng với tiềm năng và các giá trị của nó Các cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh du lịch có liên quan đến DSVH hiện nay đang kinh doanh một cách đơn lẻ, manh mún, rời rạc Thậm chí, các chủ thể kinh doanh đang kinh doanh các dịch vụ để cung cấp cho khách du lịch đến các điểm di sản văn hóa vẫn chưa nhận thức mình đang là một trong những mắt xích của hệ thống DLDSVH

Trang 13

Về mặt lý luận, trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu về khái niệm “du lịch di sản văn hóa” như cuốn sách “Cultural heritage and Tourism” của Timothy (2011); “Cultural Tourism: The Partnership Between Tourism and Cultural Heritage Management” của McKercher & Cros (2002); “Heritage tourism” của Boyd & Timothy (2003); “Cultural Heritage Tourism: Five Steps for Success and Sustainability” Hargrove (2017) … hay các nghiên cứu về kinh doanh du lịch như

“The business of tourism” của Holloway (2009) cũng như đã có một số các nghiên cứu trong nước về du lịch gắn với việc phát triển, gìn giữ và bảo tồn các DSVH Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu lý luận về KDDLDSVH như các tiêu chí đánh giá tiềm năng hay thực trạng KDDLDSVH cũng như việc đưa ra một khái niệm cụ thể về “kinh doanh du lịch di sản văn hóa” được chấp nhận và sử dụng một cách rộng rãi Bên cạnh đó, mặc dầu có nhiều các mô hình đánh giá sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ du lịch Tuy nhiên, chưa có mô hình cụ thể để đánh giá sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ DLDSVH

Như vậy, việc nghiên cứu “Kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam”

là một đề tài vô cùng cấp thiết, thực sự có ý nghĩa quan trọng cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn Các nghiên cứu cơ sở lý luận cũng như việc đánh giá về tiềm năng và thực trạng KDDLDSVH sẽ làm cơ sở cho các giải pháp để cải thiện, hoàn thiện và thúc đẩy phát triển KDDLDSVH Kết quả của nghiên cứu cũng sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà quản trị kinh doanh du lịch, nhà quản lý về kinh tế - du lịch, các đơn vị, các tổ chức và doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch về vấn đề KDDLDSVH hiện nay

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá tiềm năng và thực trạng kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy kinh doanh dịch vụ du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về KDDLDSVH, xây dựng các tiêu chí đánh giá tiềm năng KDDLDSVH và các tiêu chí đánh giá hoạt động

KDDLDSVH

Trang 14

+ Khảo sát, phân tích, đánh giá tiềm năng và hình thức kinh doanh, một số nội dung về thực trạng kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam hiện nay (nghiên cứu trường hợp điển hình là phố cổ Hội An)

+ Dựa trên kết quả nghiên cứu về tiềm năng và thực trạng, đề xuất một số giải pháp thúc đẩy KDDLDSVH ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh doanh du lịch

di sản văn hóa của một quốc gia, và nghiên cứu một trường hợp điển hình là hoạt

động KDDLDSVH tại di sản văn hóa phố cổ Hội An

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: DSVH rất đa dạng, có rất nhiều loại hình khác nhau Kinh

doanh DLDSVH cũng là chủ đề rất rộng Tuy nhiên, đây là chủ đề rất mới ở Việt Nam nên tác giả muốn tiếp cận tổng thể và phân tích điểm Nội dung kinh doanh DLDSVH được xem xét ở đây chủ yếu DLDSVH bao gồm: tiềm năng du lịch DSVH; các hình thức kinh doanh; môi trường kinh doanh; chủ thể kinh doanh; đánh giá sâu về sự hài lòng của khách du lịch và đánh giá sơ bộ kết quả kinh doanh cũng như đóng góp của các ngành dịch vụ du lịch tại điểm DSVH Trong khuôn khổ luận án này, tác giả tập trung nghiên cứu tổng quát về tiềm năng và thực trạng KDDLDSVH ở Việt Nam và phân tích sâu trường hợp ở phố cổ Hội An

- Về không gian: Việt Nam có rất nhiều các DSVH cấp thế giới và cấp quốc

gia Để đánh giá chung về tiềm năng và thực trạng KDDLDSVH ở Việt Nam, tác giả đã triển khai phỏng vấn, điều tra khảo sát ở các điểm di sản điển hình là phố cổ Hội An, Văn Miếu Quốc Tử Giám, thành nhà Hồ và quần thể di tích Cố đô Huế và một số vùng phụ cận quanh các điểm di sản nói trên

Bên cạnh việc đánh giá chung về các điểm di sản ở Việt Nam, luận án chọn một điểm di sản đại diện là Phố cổ Hội An (Quảng Nam) nhằm mục đích nghiên cứu cụ thể các hoạt động KDDLDSVH, phân tích các đặc điểm và nét tương đồng cũng như khác biệt của hoạt động KDDLDSVH ở di sản này với nơi khác Phố cổ Hội An là điểm di sản có thể xem như toàn diện, có đầy đủ các yếu tố cấu thành một

hệ thống du lịch hoàn thiện bao gồm điểm đến, tập hợp đầy đủ các dịch vụ về ẩm

Trang 15

thực, lưu trú, giải trí, vận chuyển, đồng thời, điểm di sản này có giá trị lịch sử - văn hóa cao, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới Do đó, phố cổ Hội

An là điểm khảo sát lý tưởng cho luận án này

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cách tiếp cận

Thứ nhất, đề tài luận án tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc nhìn của quản trị kinh doanh du lịch, cụ thể là kinh doanh các dịch vụ du lịch gắn với các di sản văn hóa, được cung cấp bởi các chủ thể kinh doanh là các tổ chức, doanh nghiệp, các cá nhân, hộ gia đình tại điểm di sản văn hóa, vùng có di sản văn hóa hay các khu vực

có liên quan đến các di sản văn hóa Các hoạt động kinh doanh đặt trong khuôn khổ luật pháp điều chỉnh của Việt Nam

Thứ hai, KDDLDSVH không chỉ tập trung lợi nhuận kinh tế mà còn chú trọng lợi ích cộng đồng (có thể phi tài chính) và phát triển bền vững gắn với duy trì, bảo tồn và nâng cao hình ảnh của các DSVH của Việt Nam

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để bổ trợ lẫn nhau

Có thể khái quát thành các phương pháp nghiên cứu tại bàn và nghiên cứu thực địa; hoặc các phương pháp phân tích định tính và định lượng Cụ thể:

(i) Về chọn điểm nghiên cứu: luận án nghiên cứu phạm vi cả Việt Nam nhưng

du lịch DSVH chỉ diễn ra ở các điểm DSVH Với sự giới hạn về nguồn lực, luận án chỉ có thể lựa chọn một số điểm di sản để nghiên cứu Ngoài Hội An được lựa chọn như là một trường hợp điển hình, luận án còn lựa chọn nghiên cứu tại Văn Miếu Quốc

Tử Giám, Cố Đô Huế, thành nhà Hồ Đây là những di sản văn hóa có những đặc điểm khác nhau, và đảm bảo cho sự đại diện của các di sản văn hóa ở Việt Nam

Trang 16

(ii) Về thu thập dữ liệu nghiên cứu: luận án chú trọng thu thập cả dữ liệu sơ

cấp và thứ cấp Các tài liệu thứ cấp được sử dụng ở luận án này được tác giả thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu là các sách, báo, các công trình nghiên cứu của các học giả, nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam từ nguồn internet, các tài liệu

từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, Tổng cục Du lịch Việt Nam, các Trung tâm/ Ban quản lý các khu Di sản Việt Nam, các Viện nghiên cứu trong và ngoài nước…, các tài liệu từ UNESCO, UNWTO, WTTC, các tư liệu từ cá nhân các nhà khoa học thế giới Các dữ liệu thứ cấp được sử dụng cho phương pháp định tính là chủ yếu

Các dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra diện rộng bằng bảng hỏi cấu trúc và bán cấu trúc dành cho khách du lịch, các hộ kinh doanh và doanh nghiệp kinh doanh tại điểm du lịch; qua phỏng vấn sâu dành cho các nhà quản lý, các chuyên gia và một số khách du lịch ngẫu nhiên

Về điều tra khảo sát: tác giả sử dụng bảng hỏi để phỏng vấn điều tra và nắm

bắt được đặc điểm của khách DLDSVH, nhận thức và nhu cầu của thị trường về DLDSVH và điều tra sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng các dịch vụ tại các điểm di sản được lựa chọn Ngoài ra, tác giả sử dụng bảng hỏi dành riêng cho các tổ chức kinh doanh để tìm hiểu đặc điểm và thực trạng kinh doanh của các tổ chức kinh doanh các dịch vụ trên địa bàn có di sản Qua đó, tác giả nhận biết được chất lượng lao động đã và đang tham gia vào lĩnh vực DLDSVH này Chi tiết về khảo sát được trình bày ở các nội dung chương 3 và Phụ lục của luận án

Về phỏng vấn sâu các chuyên gia: tác giả đã tham vấn các chuyên gia trong

nước và ngoài nước về lĩnh vực DSVH và du lịch gắn với DSVH Qua đó, tác giả

có kiến thức sâu hơn trong việc phân tích các luận điểm trong đề tài nghiên cứu Từ

đó, đưa ra được các kết luận phù hợp và đúng đắn đối với các giải pháp thúc đẩy

KDDLDSVH được tốt hơn

Các dữ liệu này được sử dụng cho cả phương pháp phân tích định tính và định lượng, được áp dụng chủ yếu ở các chương 3 và 4

(iii) Phương pháp nghiên cứu định tính: Phương pháp nghiên cứu này được áp

dụng ở tất cả các chương của luận án Chủ yếu là các phương pháp phân tích thống

kê mô tả, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh

Trang 17

(iv) Phương pháp nghiên cứu định lượng: Phương pháp nghiên cứu này được

áp dụng chủ yếu ở chương 3 của luận án Các tài liệu sau khi thu thập sẽ được tác giả tiến hành phân loại, sàng lọc và tiến hành phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh các dữ liệu bằng phương pháp nghiên cứu định lượng với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 20 để luận giải cho vấn đề nghiên cứu của luận án

(v) Phương pháp nghiên cứu thực địa và trải nghiệm: Ngoài việc thực hiện các

khảo sát và phỏng vấn, tác giả đã tiến hành quan sát khu vực có DSVH để có cái nhìn tổng thể về vấn đề kinh doanh DLDSVH ở đây Bản thân tác giả đã trải nghiệm và đóng vai là một người đi du lịch để quan sát rõ ràng hơn các hoạt động KDDLDSVH tại các điểm du lịch DSVH Mặc dù tác giả đã nhiều lần đi đến các điểm này trước khi thực hiện luận án, nhưng khi thực hiện luận án tác giả đã đi

thăm trở lại theo mục tiêu thực hiện luận án

Các hoạt động thực địa đã được tác giả thực hiện vào các tháng trong năm

2018 và 2019 Phương pháp này giúp cho tác giả có cái nhìn thực tế, sâu sắc và rõ rệt về đối tượng nghiên cứu, từ đó mở lối cho tác giả có thêm được các tư duy và kiến thức sâu sắc, cụ thể về DSVH, về thực trạng KDDLDSVH ở Việt Nam, đồng thời rất nhiều các kiến thức thực tế khác nhằm góp phần nghiên cứu tốt hơn luận án này

(vi) Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): luận án lựa chọn những

trường hợp điển hình để phân tích nhằm làm nổi bật nội dung của luận án, giúp người đọc dễ hình dung một trường hợp cụ thể, qua đó hiểu khái quát toàn bộ nội dung của luận án một cách sâu sắc hơn Trong trường hợp này, phố cổ Hội An được lựa chọn như một tình huống điển hình

5 Đóng góp mới của luận án

Về mặt lý luận: Mặc dầu, trên thế giới các nghiên cứu về KDDLDSVH rất phong

phú, đa dạng cũng như ở trong nước đã có nhiều nghiên cứu về du lịch gắn với di sản văn hóa nhưng các nghiên cứu về kinh doanh DLDSVH ở trong nước là rất ít, hầu như chưa có Luận án đã đưa ra được một quan điểm, cách nhìn riêng về “du lịch di sản văn hóa” và khái niệm mới về “kinh doanh du lịch di sản văn hóa” Luận án đã hệ thống hóa

lý luận về DLDSVH và KDDLDSVH Đây là một đóng góp mới có thể làm cơ sở tiếp tục cho các nghiên cứu sau về DLDSVH cũng như kinh doanh du lịch di sản văn hóa

Trang 18

Đồng thời, dựa trên các quan điểm nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ của các học giả trên thế giới, tham khảo mô hình Hệ thống Các chức năng du lịch bổ sung (FTS) của C.A.Gunn (1988; 2002; 2020), luận án đã thiết

kế và đưa ra được mô hình nghiên cứu để đánh giá sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ DLDSVH nói chung, của Việt Nam nói riêng tiếp cận dưới góc

độ cung và cầu về du lịch Luận án đã đưa ra được các tiêu chí để đánh giá về tiềm năng kinh doanh DLDSVH

Về thực tiễn: luận án đã đánh giá được thực trạng kinh doanh DLDSVH ở Việt

Nam nói chung, điểm di sản Phố cổ Hội An nói riêng Ngoài ra, luận án đã đưa ra được các giải pháp kinh doanh DLDSVH về mặt nội dung kinh doanh (dịch vụ giải trí, lưu trú, vận chuyển, ẩm thực), hình thức kinh doanh (trên bờ, dưới nước), quy mô kinh doanh (trong nước, quốc tế) nhằm ứng dụng để nâng cao hiệu quả và phát triển hơn nữa kinh doanh DLDSVH trên thực tế

Nhìn chung luận án đã xây dựng được một bộ cơ sở dữ liệu bao gồm cả dữ liệu khảo sát (từ kết quả khảo sát) và dữ liệu phân tích định tính và định lượng và những giải pháp quan trọng Đây là bộ cơ sở dữ liệu toàn diện và hệ thống nhất về kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam cho đến thời điểm này, có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng quan tâm

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về lý luận: Luận án đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp để giải

quyết các vấn đề đặt ra của đề tài Ngoài việc góp phần khái quát và phân tích các vấn đề lý luận về kinh doanh du lịch di sản văn hóa, cụ thể ở đây là tiềm năng kinh doanh du lịch di sản văn hóa và thực trạng kinh doanh du lịch di sản văn hóa thì luận án còn có ý nghĩa trong việc xây dựng được mô hình đánh giá sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ DLDSVH nói chung, ở Việt Nam nói riêng

Về thực tiễn: Trên thực tế, việc nghiên cứu về kinh doanh DLDSVH ở Việt

Nam là rất ít, thậm chí là chưa có nếu xét dưới góc độ quản trị kinh doanh du lịch

Do đó, các cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh doanh du lịch di sản văn hóa để có thể tham khảo và áp dụng ra thực tế bên ngoài ở Việt Nam là còn rất hạn hẹp và thiếu thốn Luận án này đã đưa ra được các vấn đề có ý nghĩa thực tiễn như sau:

Trang 19

Thứ nhất, luận án đã cung cấp cho các nhà quản lý, nhà đầu tư, nhà kinh doanh

du lịch (đặc biệt gắn liền với các DSVH) những phân tích và đánh giá về tiềm năng

và thực trạng kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam hiện nay

Thứ hai, luận án đã cung cấp cho các nhà quản lý, nhà đầu tư, nhà kinh doanh những nghiên cứu về nhu cầu của khách du lịch nội địa cũng như quốc tế về chất lượng dịch vụ du lịch tại các điểm DLDSVH ở Việt Nam trên thực tế thông qua việc đánh giá sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch tại các điểm di sản văn hóa ở Việt Nam

Thứ ba, luận án đã đưa ra một số các giải pháp để thúc đẩy kinh doanh dịch vụ

du lịch tại các điểm di sản ở Việt Nam nói chung, điểm di sản Phố cổ Hội An nói riêng Qua đó, các tổ chức kinh doanh du lịch, các cơ quan quản lý du lịch, các nhà đầu tư cũng như các bên liên quan có thể tham khảo, đối chiếu, ứng dụng trên thực

tế nhằm thúc đẩy, khai thác và kinh doanh tốt hơn lĩnh vực DLDSVH ở Việt Nam nói chung, các điểm di sản địa phương nói riêng trong tương lai

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án có bố cục gồm 4 chương như sau: Chương 1 - Tổng quan tình hình nghiên cứu; Chương 2 -

Cơ sở khoa học và mô hình nghiên cứu về kinh doanh DLDSVH; Chương 3 - Tiềm năng và thực trạng kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam, nghiên cứu trường hợp phố cổ Hội An; Chương 4 - Các giải pháp thúc đẩy kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam

Trang 20

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới về KDDLDSVH khá đa dạng tuy nhiên chưa thấy có nghiên cứu nào đề cập đến trường hợp KDDLDSVH ở Việt Nam

Du lịch là loại hình kinh doanh dịch vụ có từ lâu đời, do vậy các nghiên cứu là rất phong phú, sâu rộng với rất nhiều chuyên ngành hẹp khác nhau Kinh doanh du lịch gắn với di sản văn hóa (DSVH) là một khái niệm không xa lạ đối với các nhà nghiên cứu khoa học, các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh du lịch, thậm chí là khách du lịch ở các nước phương Tây như Mỹ, Pháp, Thụy Điển, Anh, Ý… Do vậy,

hệ thống lý thuyết, các quan điểm về DLDSVH được định hình và phát triển rất mạnh trên thế giới Hiện nay có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về Du lịch nói chung và mô hình DLDSVH nói riêng với các nội dung và mục đích khác nhau Kinh doanh du lịch có nhiều mô hình khác nhau như mô hình du lịch cộng đồng (Community-Based tourism), mô hình du lịch sinh thái (Ecotourism), mô hình du lịch sức khỏe (Health & Wellness tourism), mô hình du lịch mạo hiểm (Adventure tourism), mô hình du lịch nông thôn (Rural tourism), mô hình du lịch biển (maritime tourism)… Trong đó, mô hình DLDSVH (Cultural Heritage Tourism) là một mô hình kinh doanh du lịch hướng tới sự phát triển bền vững, có nội hàm phát triển du lịch đồng thời với việc bảo tồn các DSVH Một số các nghiên cứu mà tác giả được tiếp cận, có thể chia ra thành các chủ đề như sau:

1.1 Các công trình nghiên cứu về kinh doanh du lịch

1.1.1 Các nghiên cứu về nội dung của du lịch và kinh doanh du lịch

Có rất nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau về du lịch Một trong số

những nghiên cứu sâu sắc và tổng thể nhất về du lịch là cuốn sách The business of tourism của J Christopher Holloway, Claire Humphreys, Rob Davidson (2009) Cuốn sách trích lược một số khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là những di chuyển ngắn hạn tạm thời của người dân đến các điểm bên ngoài nơi mà họ thường sống và làm việc và các hoạt động trong suốt thời gian họ ở tại các điểm này; nó bao gồm sự di chuyển cho tất cả các mục đích cũng như các chuyến thăm hoặc du ngoạn trong ngày” (Viện nghiên cứu du lịch Anh Quốc, 1976: 8) Định nghĩa này

Trang 21

đã được điều chỉnh lại một chút tại Hội nghị Quốc tế về Giải trí - Tái tạo - Du lịch

được tổ chức bởi AIEST và Tourism Society năm 1981, Du lịch có thể được xác định theo các hoạt động cụ thể được sàng lọc bởi những lựa chọn và được thực hiện

ở bên ngoài môi trường gia đình Du lịch có thể không liên quan đến việc ở xa qua đêm Năm 1993, Ủy ban Thống kê của Liên Hợp Quốc đã trích dẫn định nghĩa về

du lịch do WTO đưa ra vào năm 1991 “Du lịch bao gồm các hoạt động của những người đi du lịch và lưu trú ở những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ không quá một lần liên tiếp trong năm để giải trí, kinh doanh hoặc các mục đích khác” Định nghĩa trên cũng đồng quan điểm và được bổ sung rộng hơn đối với

ngành Khách sạn, Dịch vụ ăn uống và Du lịch (Hotels, Catering and Tourism -

HCT) bởi Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đó là “Du lịch không chỉ bao gồm các dịch vụ cung cấp cho khách du lịch mà còn cả cho người dân Đối với ILO, HCT bao gồm: khách sạn, nhà trọ, nhà nghỉ, trại du lịch và trung tâm nghỉ mát; nhà hàng, quán bar, quán ăn tự phục vụ, quán ăn nhanh, quán rượu, câu lạc bộ đêm và các cơ sở tương tự; tổ chức cung cấp bữa ăn và giải khát trong bệnh viện, nhà máy, căng tin văn phòng, trường học, máy bay và tàu thuyền; các đại lý du lịch, các tổ chức hướng dẫn viên du lịch và văn phòng thông tin du lịch; và các trung tâm hội nghị triển lãm” (ILO, 2011) Trong khi đó UNWTO định nghĩa “Du lịch là một hiện tượng xã hội, văn hóa và kinh tế đòi hỏi sự di chuyển của mọi người đến các quốc gia hoặc những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ cho mục đích cá nhân hoặc kinh doanh/ chuyên môn Những người này được gọi là du khách (có thể

là khách du lịch hoặc người đi tham quan; cư dân hoặc không phải cư dân) và du lịch phải thực hiện cùng với các hoạt động của họ, một số trong đó liên quan đến chi tiêu du lịch (UNWTO, 2008) UNWTO cũng nói, Các ngành công nghiệp du lịch chủ yếu là lao động và cung cấp việc làm cho nhiều người Họ bao gồm các chuyên gia được đào tạo tốt, nhưng cũng có một số lượng lớn công nhân gặp khó khăn khi tìm việc ở nơi khác, chẳng hạn như người mới gia nhập vào thị trường lao động (thanh niên và người di cư), phụ nữ có trách nhiệm gia đình chỉ có thể làm việc bán thời gian và công nhân ít trình độ chuyên môn nói chung Du lịch cung cấp cho người lao động thu nhập và kinh nghiệm, và do đó đóng góp cho sự hòa nhập

xã hội và phát triển cá nhân của họ

Trang 22

Trong cuốn Heritage or Heresy, Archaeology and Culture on Maya Riviera

của tác giả Cameron Jean Walker, 2009 có trích dẫn đến quan điểm của Thomas Lea Davidson (1994:22) đến Du lịch rằng “du lịch thường được mô tả theo thuật ngữ kinh tế là một ngành công nghiệp và, như vậy, đã được sử dụng và ghi nhận theo cách tương tự như các ngành công nghiệp khác như nông nghiệp Trong một bài viết có tiêu đề “Thế nào là Du lịch và lữ hành: Chúng có thực sự là một ngành công nghiệp?” Thomas lập luận rằng chúng ta đang xem du lịch là một ngành công nghiệp đã góp phần gây ra rất nhiều hiểu lầm trong các cuộc thảo luận về du lịch Trong kinh tế học, một ngành thường được định nghĩa là “một nhóm các doanh nghiệp độc lập và tất cả tạo ra cùng một sản phẩm”; do đó, khi được coi là một ngành công nghiệp, du lịch đề cập đến lợi ích kinh doanh kết hợp lợi ích kinh tế cụ thể của khách sạn, nhà hàng, cơ sở hạ tầng giao thông và địa điểm vui chơi Du lịch

có thể dễ dàng được coi là một hiện tượng xã hội bởi vì nó tạo ra một trải nghiệm chủ yếu dựa vào chi tiêu thay vì dựa vào các khoản thu”

Đồng quan điểm, cuốn sách The economic Geography of the tourist industry: a supply-side analysis của hai tác giả Dimitri Ioannides và Keith G Debbage, 1998 đã trích dẫn quan điểm của Tucker và Sundberg (1988:145) “Du lịch không phải là một ngành công nghiệp theo nghĩa thông thường vì nó không có một quy trình sản xuất, sản phẩm đồng nhất hoặc thị trường hạn chế theo địa điểm” Leiper (1990:602) nói rằng, một công ty trong ngành công nghiệp hay kinh doanh du lịch chỉ vì nó có những khách hàng có thể được mô tả là khách du lịch tương tự như việc quan sát những người có mái tóc màu đỏ trong số những khách hàng của người bán thịt, thợ làm bánh hay nhà sản xuất nến và suy ra sự tồn tại của một

“ngành công nghiệp đầu đỏ” Leiper tiếp tục đề xuất rằng, du lịch có thể được mô

tả tốt nhất là “công nghiệp hóa một phần” Điều này, Leiper ý muốn nói là du khách được phục vụ, như một phần của trải nghiệm du lịch, cả bởi các công ty phục vụ gần như độc quyền cho khách cũng như các công ty khác mà khách du lịch chỉ là một phần nhỏ trong cơ sở khách hàng của họ Quy mô và cấu trúc của ngành du lịch được tạo thành từ các thành phần rất phân tán và đa dạng Ngành du lịch bao gồm các thành phần khác nhau như công ty lữ hành, đại lý du lịch, nhà cung cấp chỗ ở, nhà vận chuyển, hiệp hội du lịch, tổ chức điểm đến và tư vấn (Mowforth và Munt 1998) Như

Trang 23

Bhatia (2006) đã nêu, đây là tập hợp của nhiều ngành công nghiệp khác nhau với phạm

vi hoạt động đa dạng, chủ yếu nhắm vào doanh thu được tạo ra từ du lịch

Trong báo cáo Knowledge Intensive Service Activities in the Tourism Industry

in Australia (2004) của Australia Government nói rằng Tổ chức Phân loại công

nghiệp tiêu chuẩn Úc và New Zealand (the Australian and New Zealand Standard Industrial Classification - ANZSIC) cũng không công nhận du lịch là “một ngành công nghiệp” riêng biệt bởi vì “các ngành được phân loại theo hàng hóa và dịch vụ

mà họ sản xuất, trong khi du lịch phụ thuộc vào trạng thái của người tiêu dùng” (ABS 2004:3) Với mục đích tách biệt tiêu dùng của khách du lịch ra khỏi những người không phải là khách du lịch, du lịch được định nghĩa là “hoạt động của những người đi du lịch và ở những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ không quá một năm liên tiếp để giải trí, kinh doanh hay các mục đích khác không liên quan đến việc thực hiện một hoạt động được trả thù lao từ trong địa điểm đã viếng thăm” (ABS 2004:48) Định nghĩa này được điều chỉnh từ định nghĩa về du lịch của UNWTO Tuy nhiên, trong các chương mục của tổ chức ABS Australian National Accounts, du lịch được xác định theo các tiêu chuẩn quốc tế bao gồm khách du lịch

là những người đi với mục đích chính là các doanh nghiệp tư nhân hay chính phủ cũng như du lịch quen thuộc hơn là mục đích giải trí (ABS, 2003) Do đó, nó không chỉ bị hạn chế trong hoạt động giải trí mà còn bao gồm cả việc đi công tác và các lí

do khác như giáo dục Nếu người đó ở lại lâu hơn 1 năm tại một địa điểm, họ không được coi là khách du lịch nữa

Fundamentals of Business của Stephen J Skripkak (2018) là cuốn sách giáo

khoa dành cho khóa học kinh doanh của Đại học Virginia Tech’s Pamplin nói rằng

“ngành kinh doanh du lịch thường được coi là ngành công nghiệp lớn nhất trên thế giới, đóng góp 10% GDP của thế giới Trong năm 2016, có hơn 1,2 tỷ khách du lịch quốc tế: đó là tác động kinh tế đáng kể và sự di chuyển của hàng hóa và dịch vụ” Nghiên cứu đề cập “sẽ hữu ích nếu chia du lịch thành các nhóm ngành: dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, vui chơi và giải trí, quản lý hội nghị và sự kiện, dịch vụ du lịch, câu lạc bộ riêng Trong đó, lưu trú được định nghĩa như “công việc kinh doanh giúp mọi người cảm thấy được chào đón, thư giãn và tận hưởng bản thân” Nói một cách đơn giản, ngành kinh doanh lưu trú là sự kết hợp của các nhóm chỗ ở (lưu trú),

Trang 24

thực phẩm và đồ uống và tạo nên một phân khúc lớn nhất của ngành Ngoài các vấn

đề cơ bản của du lịch, sách còn đề cập đến cấu trúc của hệ thống hoạt động dịch vụ lưu trú và kiểm tra các hạng mục khác nhau của hoạt động dịch vụ ăn uống cũng như việc hiểu về các loại cuộc họp, sự kiện hay hội nghị

Bài nghiên cứu Creative Tourism Business Model And Its Application In Bulgaria của Rossitza Ohridska-Olson và Stanislav Ivanov, 2010 đã cho thấy kinh

doanh du lịch có nhiều mô hình khác nhau trong đó mô hình kinh doanh du lịch sáng tạo bao gồm 5 nhóm yếu tố sau: (1) Yếu tố nhu cầu (bảo tồn di sản văn hóa, sáng tạo, đổi mới, tính chân thực…); (2) Yếu tố cung cấp (nguồn tài nguyên du lịch,

hạ tầng du lịch địa phương, hạ tầng khách sạn, nghệ thuật hay hàng thủ công đặc trưng của địa phương…); (3) Lợi ích hữu hình (mở rộng thị trường mục tiêu, đổi mới, bảo tồn di sản văn hóa, tính bền vững, kiến tạo việc làm, tầm nhìn thương hiệu, xuất khẩu…); (4) Lợi ích vô hình (bảo tồn giá trị văn hóa, giá trị về đạo đức

và tinh thần, trao đổi văn hóa, bản sắc địa phương và tính độc đáo…) và (5) Kết quả tài chính cho điểm đến (Rossitza Vassileva Ohridska-Olson, Stanislav Hristov Ivanov, 2010)

Trong khi đó, bài nghiên cứu Innovations in Rural Tourism Business Model

của Saeed Nosratabadi & Rolandas Drejeris (2016) đề cập đến mô hình kinh doanh

du lịch nông thôn và cần phải được xây dựng từ các thành phần sau: (1) đề xuất giá trị, (2) xác định khách hàng mục tiêu, (3) giao diện khách hàng, (4) mạng lưới quan

hệ đối tác, (5) lựa chọn cấu trúc chi phí phù hợp, (6) mô hình doanh thu lâu dài (Saeed Nosratabadi, Rolandas Drejeris , 2016)

Peric và cộng sự (2016) trong nghiên cứu Conceptualising innovative business models for sustainable sport tourism đã bổ sung thêm vào mô hình kinh doanh du

lịch thể thao những yếu tố mới Mô hình này gồm bốn danh mục chính (đề xuất giá trị, nguồn lực chính, quy trình quan trọng và nắm bắt giá trị) tạo nên cốt lõi của mô hình kinh doanh và tổng cộng 27 yếu tố Cụ thể, Đề xuất giá trị bao gồm 5 yếu tố là Trải nghiệm, Sản phẩm, Dịch vụ, Khách hàng và Sự an toàn; Nguồn lực chính bao gồm 7 yếu tố là Nhân lực, Công nghệ, Thiết bị, Thông tin, Mạng lưới đối tác, Môi trường và Các đối thủ cạnh tranh; Quy trình chính bao gồm 11 yếu tố là Thiết kế, Phát triển sản phẩm, Sản xuất, Marketing, An ninh, Bảo vệ môi trường, Tuyển dụng

Trang 25

và Đào tạo, Công nghệ thông tin, Nguồn cung, Đầu tư và Các quy tắc; Nắm bắt giá trị bao gồm giá cả, doanh thu, chi phí và mô hình ký quỹ

Tuy nhiên, Sahebalzamani và Bertella (2018) trong bài nghiên cứu Business Models and Sustainability in Nature Tourism: A Systematic Review of the Literature

đã phát hiện rằng “tài liệu về các mô hình kinh doanh trong du lịch tự nhiên vẫn còn rất ít và khái niệm mô hình kinh doanh trong du lịch tự nhiên được hiểu và sử dụng một cách tương đối hạn chế Điều này phù hợp với tài liệu về mô hình kinh doanh

du lịch rộng hơn Một số nghiên cứu được điều tra áp dụng khái niệm mô hình kinh doanh dựa trên bản tường thuật nghiên cứu hơn là khái niệm thực tế của mô hình kinh doanh, thường không có bất kỳ định nghĩa rõ ràng nào về khái niệm này”

1.1.2 Nghiên cứu về vai trò và tác động của kinh doanh du lịch

ILO (2011:3) đã nói rằng “Du lịch là một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh nhất ở các nước trên thế giới Nó rất thâm dụng lao động và là một nguồn phát triển và việc làm đáng kể, đặc biệt là đối với những người có khả năng hạn chế trong việc kết nối vào thị trường lao động, như phụ nữ, thanh niên, lao động nhập

cư và dân cư nông thôn Nó có thể đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế, xã hội và giảm nghèo” Trong khi đó, Lê Thị Thanh Huyền (2020) nói rằng “Du lịch

có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của một quốc gia ở tầm vĩ mô lẫn vi mô; có ảnh hưởng lớn tới các lĩnh vực và hoạt động khác của một đất nước, từ việc phát triển kinh tế - thương mại, đến quảng bá về văn hóa – xã hội, hay tạo dựng hình ảnh, thương hiệu của một quốc gia”

Báo cáo Các hoạt động dịch vụ chuyên sâu kiến thức trong ngành công nghiệp

du lịch ở Australia (2004) của Autralia Government cho rằng du lịch có vai trò quan

trọng trong sự phát triển nền kinh tế của Australia Những năm 2002-2003, đã có rất nhiều các hoạt động, chương trình và chính sách mà Chính phủ Úc đã thực hiện nhằm phát triển mạnh hơn ngành du lịch như việc tăng cường quảng bá trên trường quốc tế về việc Úc là một địa điểm để đi du lịch tuyệt vời; nâng cao khả năng cạnh tranh và sự đa dạng của các điểm tham quan trong khu vực thông qua các chương trình du lịch vùng; hỗ trợ cho các nhà xuất khẩu du lịch vừa và nhỏ thông qua các Chương trình tài trợ phát triển thị trường và các chương trình khuyến khích người

Úc có nhiều ngày lễ hơn ở trong nước

Trang 26

Bruce Epler (2007), Tourism, the Economy, Population Growth and Conservation in Galapagos cũng nhắc đến vai trò quan trọng của ngành du lịch

Galapagos phát triển với sự gia tăng số lượng khách du lịch cũng như sự nâng cấp, cải thiện và thay đổi chất lượng của đội tàu du lịch, cơ sở hạ tầng, các dịch vụ du lịch như hệ thống mua sắm, ăn uống, đồ lưu niệm, hoạt động bơi lặn… Một số tổ chức Phi chính phủ (NGO) có văn phòng tại Galapagos như Quỹ Charles Darwin (CDF), Quỹ Bảo vệ Động vật hoang dã Thế giới (WWF) trực tiếp tham gia vào các công việc Bảo tồn thiên nhiên ở đây Bên cạnh sự phát triển và gia tăng về kinh tế du lịch và tăng dân số là sự đe dọa bất ổn về dân sự và làm suy yếu các nỗ lực bảo tồn

J Christopher Holloway, Claire Humphreys, Rob Davidson (2009) trong

nghiên cứu The business of tourism nói rằng Du lịch có nhiều tác động tới nền kinh

tế, văn hóa-xã hội, môi trường Chương 5, trang 86 có nói “du lịch có lẽ là ngành công nghiệp quan trọng nhất thế giới” Tác giả phân tích rất rõ các loại sản phẩm

trong ngành du lịch và lữ hành gồm cấu trúc và tổ chức của ngành, các điểm đến du lịch, các điểm thu hút khách du lịch, hệ thống khách sạn cung cấp dịch vụ lưu trú,

ăn uống, hệ thống vận chuyển bằng đường hàng không, đường thủy, đường bộ; cho các bên liên quan nhìn nhận một cách sâu sắc về sản phẩm du lịch và cách khai thác tốt nhất, đạt được tốt nhất về mặt doanh thu Bên cạnh đó, các trung gian cung cấp dịch vụ du lịch bao gồm các tổ chức quản lý khách du lịch, khu vực công trong ngành du lịch, các tổ chức điều hành tour, các tổ chức bán và phân phối du lịch và

lữ hành, các dịch vụ du lịch phụ trợ

Một nghiên cứu toàn diện khác của Clare A Gunn và Turgut Var (2002) trong

cuốn Tourism Planning: Basics, Concepts, Cases đã mô hình hóa hệ thống du lịch,

rằng “Du lịch không thể được lên kế hoạch mà không hiểu mối quan hệ tương quan giữa một số bộ phận của phía cung, đặc biệt là khi chúng liên quan đến nhu cầu thị trường” (Clare A Gunn, Turgut Var, 2002) Gunn và cộng sự đã đưa ra Mô hình các chức năng du lịch “The Functioning Tourism System” (FTS) tiếp cận dưới góc

độ cung và cầu du lịch Cầu được xác định bằng đo lường nhóm dân cư quan tâm, yêu thích, có khả năng về tài chính, có thời gian, sức khỏe và có khả năng đi du lịch Cung được xác định qua 5 thành tố sau: Điểm đến là các điểm tham quan du lịch; Dịch vụ như ẩm thực, lưu trú, giải trí, mua sắm và các dịch vụ khác; Giao

Trang 27

thông vận tải bao gồm cơ sở hạ tầng giao thông (đường bộ, đường thủy, đường hàng không) và các phương tiện giao thông phục vụ khách du lịch; Thông tin bao gồm tất

cả các nguồn thông tin về điểm du lịch để cung cấp cho khách du lịch và Quảng bá

là các cách thức quảng bá tới cộng đồng về các điểm du lịch Mô hình FTS được Shelby R Herrin (2015) hiệu chỉnh ghép thành tố “Thông tin” và thành tố “Quảng

bá” làm một để đánh giá sự phát triển du lịch di sản Trong nghiên cứu Assessment

of cultural heritage tourism potential in Vietnam, Lê Thị Thanh Huyền (2020) đã bổ

sung thêm một thành tố quan trọng vào mô hình FTS là “An toàn, an ninh trật tự” nhằm đánh giá tiềm năng DLDSVH ở Việt Nam Như vậy, hệ thống các chức năng

du lịch là một hệ thống hoàn thiện với mối quan hệ tương quan giữa các thành tố quan trọng cấu thành hệ thống du lịch

Marica Mazurek, Competitiveness in tourism – models of tourism competitiveness and their applicability: case study Austria and Switzerland (2014)

cho thấy du lịch ở Austria tập trung vào ba vấn đề chính là công nghệ, phát triển vùng và mối quan hệ giữa người dân địa phương và khách du lịch Ví dụ như các hoạt động quản lý hợp tác vùng và liên kết Austria với các đất nước lân cận như Hungary, Slovenia, Cộng hòa Séc, Slovakia… Trong khi đó, Switzerland đặt thứ bậc ưu tiên là chất lượng nguồn nhân lực, an ninh trật tự, môi trường bền vững, cơ

sở hạ tầng mặt đất (sau Hồng Kông và Singapore) và đã có thể xây dựng và cung cấp dịch vụ chất lượng cao dựa trên nguyên tắc đồng sáng tạo và các dịch vụ độc đáo trong ngành du lịch Bài nghiên cứu này đã đưa ra bảy mô hình cạnh tranh du lịch và là tài liệu tham khảo quý giá không chỉ ở mặt lý luận mà cả trong thực tiễn đối với các nhà hoạt động và kinh doanh du lịch ở Việt Nam trong vấn đề cạnh

tranh của ngành (Mazurek, 2014)

WTTC, Travel and Tourism: Economic impact 2019 – World (2019): Bản báo

cáo đưa ra các con số rất đáng kể về sự tác động của ngành kinh doanh Du lịch và

Lữ hành tới nền kinh tế toàn cầu Du lịch và Lữ hành đóng góp 10,4% GDP toàn cầu năm 2018, dự đoán tăng lên khoảng 3,7% mỗi năm và sẽ chiếm 11,5% GDP toàn cầu vào năm 2029; đóng góp 10,0% tổng số việc làm trên toàn cầu năm 2018,

dự đoán sẽ đạt 11,7% việc làm toàn cầu vào năm 2029 Bên cạnh đó, xuất khẩu tại chỗ chiếm 6,5% tổng giá trị xuất khẩu thế giới năm 2018, dự đoán xuất khẩu tại chỗ

sẽ tăng trung bình khoảng 4,0% từ năm 2019-2029 và chiếm 7,2% toàn cầu năm

Trang 28

2029 Ngoài ra, đầu tư trong ngành chiếm 4,4% tổng giá trị đầu tư toàn cầu, dự đoán sẽ chiếm 5,0% đầu tư toàn cầu vào năm 2029

Salvo Creaco, Giulio Querini (2003) trong bài The role of tourism in sustainable economic development đề cập đến phát triển du lịch bền vững “là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không cần làm ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng nhu cầu của chính nó” Hay xét về mặt

lợi ích, thì du lịch tác động lên nền kinh tế - xã hội của quốc gia hay vùng như: cán cân thanh toán; phát triển khu vực (du lịch thường xuyên sẽ lan truyền các hoạt động kinh tế qua cả biên giới của các quốc gia); đa dạng hóa nền kinh tế; mức thu nhập, thu nhập của vùng, cơ hội việc làm

UNWTO, Tourism Toward 2030 – Global Overview (2011): Tăng trưởng toàn

cầu về lượt khách du lịch quốc tế sẽ tiếp tục với tốc độ vừa phải Số lượng khách du lịch quốc tế trên toàn thế giới dự đoán sẽ tăng 3,3% mỗi năm, tính trung bình giai đoạn từ 2010-2030 so sánh với mức trung bình 3,9% mỗi năm giai đoạn 1995-2010 Theo thời gian tốc độ tăng trưởng chậm dần từ 3,8% năm 2011 xuống 2,5% năm

2030 Số lượt khách du lịch quốc tế sẽ gia tăng khoảng 43 triệu lượt mỗi năm tính

trung bình từ 2010 đến 2030 (so sánh với mức tăng trung bình 28 triệu mỗi năm

trong giai đoạn 1995-2010) Số lượt khách du lịch quốc tế sẽ đạt mốc 1,8 tỉ lượt trong năm 2030 Khách du lịch quốc tế đến các điểm du lịch ở các nước mới nổi sẽ vượt qua các điểm đến du lịch ở các nước đã phát triển vào năm 2015 Châu Á và Thái Bình Dương sẽ thu hút hầu hết khách du lịch Nam Á sẽ là tiểu vùng đạt sự tăng trưởng nhanh nhất về lượt khách du lịch quốc tế Đông Bắc Á sẽ là tiểu vùng

được đến nhiều nhất vào năm 2030…

Tại Việt Nam, cũng có một số nghiên cứu đáng quan tâm Nguyễn Văn Lưu, Thị trường du lịch (1998): Kinh doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hoặc

toàn bộ các công đoạn đầu tư tạo ra sản phẩm du lịch, đến tổ chức tiêu thụ, thực hiện được các sản phẩm du lịch (Hàng hóa và dịch vụ du lịch) trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Các ngành kinh doanh trong du lịch có thể phân thành bốn nhóm chính: Các cơ sở mà hầu như toàn bộ các hoạt động của nó phục vụ cho du lịch, đáp ứng trực tiếp các nhu cầu của khách du lịch như các hãng lữ hành, đại lý du lịch, các

cơ sở lưu trú, nhà hàng, cơ sở vận chuyển…; Các cơ sở mà một phần hoạt động của

nó phục vụ cho du lịch, nhưng đáp ứng trực tiếp nhu cầu của khách du lịch như

Trang 29

ngành Giao thông, Bưu điện, Nhà hàng, quán ăn, các cơ sở dịch vụ…; Các cơ sở mà hầu như toàn bộ hoạt động của nó chỉ phục vụ du lịch, nhưng đáp ứng gián tiếp nhu cầu của khách du lịch, như các cơ sở sản xuất đồ lưu niệm, sách vở, ấn phẩm liên quan đến du lịch…; Các cơ sở mà chỉ có một phần hoạt động của nó phục vụ du lịch, đáp ứng gián tiếp nhu cầu của khách tham quan du lịch như các doanh nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm, nước…

Nguyễn Hồng Giáp, Kinh tế du lịch, 2002 đưa ra chi tiết về khái niệm du lịch, các

loại hình du lịch, sản phẩm du lịch Nghiên cứu tổng hợp các loại hình doanh nghiệp du lịch có các dạng sau: kinh doanh khách sạn và các dạng lưu trú; các công ty vận tải đường bộ, đường thủy, hàng không; các đại lý, các tổ chức du lịch; các công ty cổ động, thông tin, giải trí Đặc biệt nghiên cứu đi sâu vào môi trường doanh nghiệp du lịch cũng như các tiêu chuẩn sinh lời của đầu tư du lịch Ngoài ra, nghiên cứu còn phân tích vai trò của du lịch đối với các nước đang phát triển như du lịch thu hút nguồn ngoại tệ mạnh, thu nhập xuất khẩu; du lịch làm phát sinh công ăn việc làm trực tiếp, gián tiếp và phát sinh quan trọng; du lịch là nguồn đầu tư; nguồn thu nhập…

Đỗ Hương Lan, Thị trường dịch vụ du lịch thế giới và hoạt động xuất khẩu dịch vụ du lịch của Việt Nam (2013): Dịch vụ du lịch có thể được hiểu là tập hợp tất

cả các hoạt động do các cơ sở du lịch cung cấp cho khách du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách như vận chuyển, bố trí chỗ ăn ở, hướng dẫn du lịch, …tổ chức tham quan, các hoạt động giải trí và các hoạt động khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, phụ thuộc vào mục đích của chuyến du lịch…

Nguyễn Quyết Thắng, Quản trị kinh doanh khách sạn (Từ lý thuyết đến thực tiễn) (2014) nói “Một trong những thành phần quan trọng của cơ sở vật chất kỹ

thuật phục vụ cho du lịch là cơ sở lưu trú và ăn uống” Và “khách sạn là một lĩnh vực quan trọng trong kinh doanh du lịch của một địa phương, vùng, quốc gia Mặt khác, khách sạn cũng là một loại hình cơ sở kinh doanh về lưu trú của ngành du lịch” Cuốn sách này đã tổng quan các khái niệm, đặc điểm về kinh doanh khách sạn như “Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và dịch vụ bổ sung trong những điều kiện về cơ sở vật chất

và mức độ phục vụ nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách khi tiêu dùng các dịch vụ này” và các loại hình cơ sở lưu trú như motel, nhà trọ, Bungalow, biệt thự…

Trang 30

Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng nêu bật các vấn đề cơ bản về cấu trúc tổ chức trong kinh doanh khách sạn cũng như các vấn đề về nghiệp vụ cơ bản trong kinh doanh khách sạn Nghiên cứu cũng nói rằng, hoạt động kinh doanh lưu trú trong khách sạn

là nghiệp vụ chính yếu nhất của khách sạn, chiếm doanh thu lớn nhất trong tỷ trọng doanh thu khách sạn và chi phối các hoạt động khác trong khách sạn

Ngoài ra, nghiên cứu có đề cập đến vấn đề về hoạt động kinh doanh ẩm thực

(food and beverage) Kinh doanh ăn uống trong du lịch là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp sự phục vụ thức ăn, đồ uống và các dịch vụ khác nhằm thỏa mãn nhu cầu về ăn uống, thưởng thức và giải trí của con người tại nhà hàng và các

cơ sở ăn uống khác Hoạt động kinh doanh ẩm thực tại nhà hàng và các cơ sở ăn

uống bên trong nó là hoạt động không thể thiếu Cùng với dịch vụ lưu trú, dịch vụ

ăn uống đã trở thành dịch vụ cơ bản đối với nhiều khách sạn

Theo Nguyễn Văn Đính, trong Du lịch và phát triển, Một số bài học kinh nghiệm quốc tế với việc thực hiện chiến lược phát triển du lịch Việt Nam (2018):

Thứ nhất, thực sự phải coi Du lịch là một ngành kinh tế, có đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc dân Cần có sự đầu tư thích đáng và sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, có hiệu quả của mọi cơ quan, tổ chức liên quan Thứ hai, trong việc xây dựng, thực hiện chiến lược và quy hoạch phát triển du lịch cần ổn định lâu dài, từ đó Chính phủ chỉ đạo và điều hành thực hiện một cách cụ thể có trọng tâm, trong điểm đối với từng vùng, từng loại hình du lịch và từng thời gian Thứ ba, về chiến lược thị trường, cần chú ý phát triển cả thị trường quốc tế và thị trường nội địa, đặc biệt chú

ý phát triển thị trường du lịch quốc tế Thứ tư, chú ý phát triển du lịch bền vững, xóa đói giảm nghèo, du lịch cộng đồng, bảo vệ môi trường tự nhiên, văn hóa, đảm bảo an ninh, an toàn trong phát triển du lịch ở phạm vi quốc gia, cho cả du khách và nhà kinh doanh là biện pháp mà tất cả quốc gia đều quan tâm thực hiện Thứ năm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một nội dung đặc biệt quan trọng trong phát triển du lịch Thứ sáu, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy mạnh xúc tiến, quảng

bá, ứng dụng công nghệ thông tin

Trang 31

1.2 Các công trình nghiên cứu Du lịch Di sản văn hóa

1.2.1 Du lịch di sản văn hóa: Lịch sử và nội hàm

Destination BC Corp., (2014) trong Cultural and Heritage Tourism Develoment đã mô tả rằng DLDSVH đã tồn tại từ những ngày đầu tiên của du lịch

giải trí Những kinh nghiệm du lịch đầu tiên thường là những cuộc hành hương tôn giáo như người Kitô giáo đến nhà thờ trong miền Đất Thánh hay người Hồi giáo tới thánh địa Mecca Người châu Âu bắt đầu đi du lịch với mức đáng kể vào những năm 1700 và một cơ sở hạ tầng các phòng trọ, khách sạn, nhà hàng, hệ thống giao thông nổi lên Tuy nhiên, mục đích chính của du lịch vẫn là trải nghiệm một nền văn hóa khác Và những người đi du lịch thường nắm bắt những ý tưởng, phong tục truyền thống của những nơi họ đi qua mang về quê hương của họ, như người châu

Âu trở về từ phương Đông và mang về một hương vị nào đó cho các loại gia vị phương Đông đã cách mạng hóa vấn đề nấu nướng trong gia đình của họ Người Anh và người Đức đã đến Ý và Hi Lạp để nhìn thấy kiến trúc cổ điển, trải nghiệm nền văn hóa ấm áp và rượu vang Địa Trung Hải Từ những năm 1800, văn hóa và

du lịch đã có sự liên kết rất mật thiết (Destination BC Corp, 2014)

Monica Rowland, Menendez versus Mickey: A study of heritage tourism in Florida (2006) mô tả rằng “Người Hi Lạp liên tục đi tới thăm các địa điểm thiêng

liêng Người du lịch đầu tiên có thể là nhà sử học người Hi Lạp Herodotus vào thế

kỷ thứ 5 trước Công nguyên hoàn toàn vì lợi ích của việc học về những nơi khác và những người sống ở đó Nhưng những người du lịch đúng nghĩa thực sự đầu tiên lại

là người La Mã Công dân ở đó với mong muốn thoát khỏi sức nóng và sự khó chịu của đô thị Rome đã kiến tạo ra ngành công nghiệp du lịch mà nó đã đạt đến đỉnh điểm trong thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, đã hoàn thành với những hướng dẫn viên du

lịch, sự kết nối các chuyến đi theo lịch trình, bảo tàng và các văn phòng du lịch.” Christina Bonarou, Heritage Tourism & Museum Management (2011) nói rằng

“nguồn gốc của du lịch di sản là loại hình du lịch lâu đời nhất Những người du lịch

cổ đại đi từ Kim Tự Tháp đến sông Nile; những người Hi Lạp cổ đại đi với mục đích xưng tội, tham gia các sự kiện, cuộc thi; nhà sử học người Hi Lạp thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên đã đưa ra danh sách “bảy kì quan của thế giới” hay “Grand Tour” đầu tiên của người châu Âu vào thế kỷ 16-17…” Bonarou, cũng dẫn rằng Du

Trang 32

lịch di sản “dù trong hình thức đi tham quan thắng cảnh ưa thích, các khu di tích lịch sử, tòa nhà hay các di tích khác nó cũng là đi du lịch trải nghiệm trong một ý thức tìm kiếm sự giao thoa với thiên nhiên hoặc là sự cảm nhận phần lịch sử của địa điểm đó (Hall and Zeppel, 1990: 87); Lĩnh vực du lịch đặc biệt ở nước ngoài, dựa trên những hoài niệm về quá khứ và mong muốn được trải nghiệm những thắng cảnh hay hình thức văn hóa Nó bao gồm đi dự các lễ hội, sự kiện văn hóa, đến tham quan các địa danh hay các khu di tích, đi nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa dân gian hay nghệ thuật của các cuộc hành hương (Hall and Zeppel, 1992) Các chuyến thăm của những người đến từ bên ngoài nơi chốn của cộng đồng địa phương được thúc đẩy bởi hầu hết hoặc một phần của sự quan tâm thích thú với lịch sử, nghệ thuật, khoa học hay lối sống – cái gọi là di sản của cộng đồng, khu vực, nhóm hay

tổ chức (Lord, 1999) Khái niệm về du lịch văn hóa gồm một loạt các quan điểm lớn thể hiện đầy đủ các biểu lộ hay ấn tượng của con người mà những du khách thực hiện để trải nghiệm các di sản, nghệ thuật, lối sống… từ những con người sống tại những điểm đến văn hóa Du lịch di sản thường được coi là du lịch văn hóa

(Nzama, et al., 2005).”

János Csapó, (2012) cho rằng du lịch di sản là một trong những kiểu hình của

du lịch văn hóa với các hoạt động và sản phẩm du lịch như DSVH và thiên nhiên (rất gần với thiên nhiên hay các hoạt động du lịch sinh thái), các sản phẩm hữu hình như các tòa nhà di sản, khu kiến trúc di sản, các DSVH thế giới, các khu lưu niệm lịch sử quốc gia; các sản phẩm vô hình như văn hóa, nghệ thuật, truyền thống; các khu DSVH như bảo tàng, nhà trưng bày, thư viện, nhà hát, các điểm sự kiện hay các khu lưu niệm gắn với những con người lịch sử

Du lịch Di sản giống như “đi du lịch để trải nghiệm những địa điểm, di tích, di vật và các hoạt động mà chúng mô tả một cách chân thực về những câu chuyện và con người ở trong quá khứ” và “du lịch Di sản bao gồm văn hóa, lịch sử và tài nguyên thiên nhiên” (The National Trust for Historic Preservation, Hoa Kỳ) Hay

“DLDSVH bao gồm việc đến thăm những nơi có ý nghĩa đối với bản sắc văn hóa trong quá khứ hay hiện tại của một nhóm người cụ thể”, “DLDSVH là ứng dụng phối hợp và tương hỗ lẫn nhau giữa các nguồn tài nguyên di sản, văn hóa và du lịch nhằm cải thiện chất lượng chung của đời sống cộng đồng” và “những người đi

Trang 33

DLDSVH trải nghiệm các văn hóa khác nhau và nghiên cứu về quá khứ nhưng họ thực hiện điều đó với vai trò là người đi du lịch chứ không phải là chuyên gia”

(PLC, Cultural Heritage Tourism, 2014, trang 8) Theo Jascha M Zeitlin; Steven

W Burr, A Heritage Tourism Overview (Tổng quan Du lịch Di sản), 2011: “Du lịch

di sản là du lịch tập trung vào khía cạnh lịch sử và DSVH Nó bao gồm các sự kiện

và lễ hội cũng như là các khu di tích và các địa điểm tham quan/ địa điểm du lịch có liên quan đến con người, lối sống và các truyền thống trong quá khứ”

Lê Thị Thanh Huyền (2020) cho rằng “Du lịch Di sản văn hóa là một kiểu hình

du lịch cho những trải nghiệm và kiến thức thực tế về tất cả những gì thuộc về quá khứ có liên quan đến sự sống của con người hay các hoạt động vật chất và tinh thần của con người Nó là sự kết nối những ý niệm ở thực tại với những gì đã diễn ra trong quá khứ tạo nên những cảm xúc trân trọng, tự hào và biết ơn về các giá trị của quá khứ đã đi qua”

1.2.2 Về tiềm năng và cơ hội của Du lịch di sản văn hóa

Destination BC Corp., Cultural and Heritage Tourism Develoment (2014) đã

đặt câu hỏi “Tại sao DLDSVH bây giờ lại rất phổ biến? Câu trả lời nằm ở nhu cầu của thị trường cho loại hình du lịch này và lợi ích mà nó mang lại cho cộng đồng.” Một số đặc điểm chính khiến DLDSVH trở thành cơ hội để phát triển kinh tế bền

vững như (1) Ảnh hưởng của thị trường, du khách quan tâm đến DLDSVH có xu

hướng có tiền và sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn, sau khi mua sắm và ăn uống, các hoạt động thuộc về DSVH có tỉ lệ tham gia cao nhất trong tất cả các hoạt động du lịch

khác; (2) Xu hướng nhân khẩu học, thời kỳ hoàng kim của những hoạt động du lịch

phiêu lưu như chèo thuyền, trượt tuyết, đi bộ đường dài… của những năm sau Thế chiến thứ 2 nay đã trở nên “lão hóa” theo hồ sơ nhân khẩu học và nhu cầu của

những du khách đã thay đổi; (3) Xu hướng nhập cư, mà quốc gia Canada là một ví

dụ cụ thể, có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu du lịch Những người sinh ra và lớn lên trong các khu vực thành thị (thường là dân nhập cư), thường không tiếp xúc với các hoạt động ngoài trời, nên hoặc các hoạt động ngoài trời có sức hấp dẫn hạn chế khiến cho cánh cửa đến với DLDSVH hấp dẫn hơn và phù hợp hơn với những mong muốn của họ như sự trải nghiệm ẩm thực ở các vùng miền khác, văn hóa

nghệ thuật hay phong cách lối sống ở những nền văn hóa khác nhau; (4) Xu hướng

Trang 34

kinh tế, du lịch là một ngành rất năng động Ngành du lịch toàn cầu đã phải định

hình và thích nghi để đáp ứng lại nhu cầu của các lực lượng kinh tế, xã hội, chính trị

và môi trường Suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến doanh thu của ngành và buộc ngành phải suy nghĩ lại về thị trường và nhu cầu thay đổi đối với các sản phẩm

du lịch DLDSVH cũng là một cách để tăng thêm các sản phẩm du lịch để đáp ứng cho thị trường thay đổi ngày nay

Marianne Lehtimaki, Cultural Heritage and Tourism: Potential, Impact, Partnership and Governance (2008): Tác giả Lehtimaki thu thập, phân tích và tổng

hợp các tư liệu nghiên cứu, các bài viết từ các chuyên gia về du lịch, khảo cổ học, DSVH… như Helena Edgren, Mike Robinson, Torunn Herje… Cuốn sách tập hợp các nghiên cứu cho thấy tiềm năng về DLDSVH là vô cùng to lớn và ngày càng phát triển DLDSVH phát triển từ các thành phố văn hóa như Paris, Athens, Riga, Krakow…từ các bảo tàng, nhà lịch sử, thánh đường… các địa điểm văn hóa, các nghi thức, các lễ hội… Ảnh hưởng của DSVH đối với du lịch là vô cùng lớn, nó có tác động lớn làm thay đổi nền kinh tế của một quốc gia cũng như nền kinh tế của toàn cầu DSVH và du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và có sự hợp tác lâu dài và bền vững Điều này kéo theo việc quản trị DLDSVH phải rất quy mô, có hệ thống, có sự liên kết chặt chẽ trong tổng thể ngành du lịch nói chung Cuốn sách là nguồn tài liệu quý giá đối với các nhà phân tích kinh tế du lịch, các chuyên gia, các doanh nghiệp, tổ chức khai thác kinh doanh du lịch Tư liệu cho thấy DSVH và du lịch có mối liên kết rất chặt chẽ và kinh nghiệm thực tiễn các nước trên thế giới có vai trò dẫn đường, rất quan trọng đối với Việt Nam Các nghiên cứu chưa đề cập đến Việt Nam, do đó, sẽ là khoảng trống để các nhà nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu trường hợp Việt Nam

PLC, Cultural Heritage Tourism (2014) nói rằng “du lịch không còn đơn giản

là du lịch nữa Nó đã trở thành một hình thức liên kết phát triển, giải trí và kết nối gia đình xảy ra xung quanh khuôn khổ của những địa điểm tham quan nhưng không nằm trong một khu phố thường ngày của bạn Đó là lối sống, phát triển kinh tế, giá trị gia đình Đó là khám phá về bản thân, cả về thể chất lẫn trí tuệ” Sự thay đổi lớn

từ việc thư giãn sang việc tự khám phá bản thân được phản ánh trong sự bùng nổ của những lựa chọn của thị trường trong ngành công nghiệp du lịch Được biết đến

Trang 35

rộng rãi hơn thường là du lịch mạo hiểm, du lịch tôn giáo, du lịch sinh thái, du lịch

ẩm thực, du lịch giáo dục Tuy nhiên, DLDSVH là một trong những thị trường đặc biệt phát triển nhanh nhất trong ngành du lịch hiện nay

Tóm lại, các nghiên cứu cho thấy tiềm năng và cơ hội phát triển DLDSVH trong ngành du lịch toàn cầu nói chung, các quốc gia giàu có hay có tiềm năng về DSVH nói riêng, là vô cùng to lớn và hứa hẹn rất nhiều các giá trị, các lợi ích mà nó mang lại không chỉ về phương diện phát triển kinh tế cho quốc gia, vùng/ miền địa phương đó mà còn ở nhiều phương diện khác như xã hội, chính trị, giáo dục, hay đơn giản là niềm tự hào và lòng tự tôn dân tộc

1.2.3 Về vai trò, lợi ích và sự tác động của Du lịch di sản văn hóa

Century: Valued Traditions and New Perspectives nói rằng “Du lịch di sản cũng

thường được sử dụng để xây dựng lòng ái quốc ở cấp độ trong nước và truyền bá tới

du khách quốc tế Các điểm di sản thường được thể hiện trong sự cố gắng để làm nổi bật lên các đức tính của các ý thức hệ chính trị cụ thể Ví dụ, ở các nước xã hội chủ nghĩa, các tour du lịch thường bao gồm các chuyến viếng thăm tới các đền thờ hay các tượng đài dành riêng cho các nhà lãnh đạo hay nhà yêu nước vĩ đại của cộng sản Các tour du lịch cũng bao gồm các chuyến viếng thăm tới trường học, các trung tâm cộng đồng, các nhà máy đặc biệt là các ngôi làng được thiết kế nơi mà những người dân ở đó thường là các diễn viên sinh sống với một lối sống cộng sản lý tưởng hóa Đây chắc chắn là trường hợp ở Trung Quốc hay các quốc gia theo chủ nghĩa Mác-Lenin ở Đông Âu và là một đặc điểm đặc biệt của du lịch ở Bắc Triều Tiên ngày nay Các điểm du lịch di sản và sự kiện cũng thường được sử dụng làm công cụ xây dựng chủ nghĩa dân tộc và tinh thần yêu nước của khách du lịch nội địa (McLean, 1998; Cano M & Mysyk, 2004; Timothy & Boyd, 2006) Chiến trường, nghĩa trang, tượng đài các anh hùng dân tộc và những nơi quan trọng khác trong tinh thần quốc gia là trọng tâm của việc sử dụng di sản đặc biệt này (Chang, 1999; Chronis, 2005; Leong,

1989; Cheung, 1999); Leong, 1989).”

Destination BC Corp., (2014) Cultural and Heritage Tourism Develoment,

trang 8 có nói DLDSVH mang lại lợi ích cho các tổ chức điều hành du lịch, khách

du lịch, cộng đồng địa phương bao gồm thu nhập kinh tế và việc làm Trong đó, lợi

Trang 36

ích về kinh tế như việc kiến tạo một đề xuất bán hàng độc đáo “Trong khi bạn đang đấu tranh để khiến thông điệp của bạn được nhận thấy trong một thị trường đông đúc thì DSVH là công cụ cho phép bạn cung cấp cho khách hàng điều gì đó đặc biệt, điều gì đó mà các nhà marketing thường gọi là một đề xuất bán hàng độc đáo Khả năng để phân tách các sản phẩm của bạn ra khỏi nhóm sản phẩm khác trong thị trường đó là điều đặc biệt quan trọng trong giai đoạn kinh tế khó khăn, khi mà ngưỡng lợi nhuận là thấp nhất, điều đó cho phép bạn cạnh tranh trên sức mạnh sản phẩm của bạn thay vì phải thâm nhập vào một “cuộc chạy đua dưới đáy” bằng sự cắt giảm giá cả” Hay “Du lịch bền vững nghĩa là “bảo vệ và duy trì nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa của thế giới mà vẫn đảm bảo du lịch phát huy được tiềm năng của nó như một công cụ giảm bớt tình trạng nghèo đói” “Rõ ràng du lịch bền vững rất phù hợp với DLDSVH” “Du lịch bền vững cũng là một công cụ cho

sự thay đổi tích cực như xây dựng ấn tượng văn hóa và cộng đồng vì môi trường mà

thu hút cả khách du lịch lẫn cư dân bản địa” Ngoài ra, một số các lợi ích khác (lợi

ích mềm) như xây dựng niềm tự hào trong cộng đồng, khiến cư dân tham gia vào các tổ chức tình nguyện và các hoạt động cộng đồng Điều này mang lại lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần của người dân, mở rộng các nhận thức về tính bền vững, dẫn đến làm giảm tác động môi trường

Monica Rowland, Menendez versus Mickey: A Study of heritage tourism in Florida (2006) nói “du lịch di sản hứa hẹn nhiều lợi ích nhưng cũng sở hữu nhiều

nguy hiểm Du lịch di sản đóng góp rất lớn cho phong trào bảo tồn lịch sử và cung cấp cho hàng triệu người kết nối hữu hình với lịch sử của chính họ Nhưng thông qua lịch sử du lịch di sản đã trở thành một mặt hàng tiêu dùng, và do đó, thường

được đúc thành hình thức hấp dẫn nhất trước khi được bán cho công chúng du lịch.”

PLC, Cultural Heritage Tourism (2014) nói rằng “DLDSVH cung cấp một cơ

hội cho mọi người để được trải nghiệm về văn hóa của họ một cách sâu sắc, cho dù bằng hình thức thăm viếng các điểm du lịch, các địa điểm văn hóa hay lịch sử hoặc

bằng cách tham gia vào các hoạt động văn hóa”

Các nghiên cứu cho thấy vai trò của DLDSVH là rất to lớn không chỉ riêng đối với ngành du lịch nói chung, mà nó có vai trò ở nhiều góc độ khác nhau như vai trò đối với cộng đồng, với quốc gia, hay vai trò là một công cụ phát triển kinh tế của

Trang 37

địa phương/ quốc gia nào đó DLDSVH mang lại rất nhiều các lợi ích khác nhau, vô hình và hữu hình và nó ngày càng trở nên quan trọng trong xu hướng phát triển kinh

tế bền vững Với các tác động của nó, DLDSVH đang dần trở thành công cụ của rất nhiều các mục đích khác nhau như kết nối cộng đồng, nâng cao niềm tự hào dân tộc, mở rộng kiến thức về việc bảo tồn các DSVH và chắc chắn là công cụ để phát

triển kinh tế của bất cứ nơi nào có di sản

Raymond A Rosenfeld, Cultural and Heritage Tourism (2008) nói rằng “Du

lịch di sản và văn hóa đã trở thành nguồn thu lớn cho nhiều cộng đồng và vùng miền trên toàn cầu Nó không chỉ tạo công ăn việc làm, mà còn có tiềm năng mang lại doanh thu cần thiết từ bên ngoài cộng đồng địa phương và kích thích nền kinh tế

địa phương vượt ra khỏi năng lực của người dân địa phương đó”

1.2.4 Về các yếu tố thành công của hoạt động du lịch di sản văn hóa

Destination BC Corp., (2014: 54) Cultural and Heritage Tourism Develoment

nói “Một khi đã phát triển được các trải nghiệm DLDSVH, bước tiếp theo để đảm bảo nó tiếp tục được thành công đó chính là việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng

và cải thiện các sản phẩm khi cần thiết Sự đảm bảo thành công liên tục yêu cầu sự

theo dõi và đánh giá theo chu kỳ của quy trình chương trình Đánh giá chương trình

đo lường mức độ sự hài lòng của khách du lịch và hiệu quả của việc cung cấp các sản phẩm có thể được sử dụng như một công cụ để đánh giá các sáng kiến

marketing, theo dõi liệu nó có đang thay đổi”

Jascha M Zeitlin; Steven W Burr (2011) nghiên cứu A Heritage Tourism Overview nhắc lại bốn bước và 5 nguyên tắc đảm bảo thành công cho ngành du lịch

Di sản của NTHP (The National Trust for Historic Preservation) Bốn bước đó là:

(1) Đánh giá tiềm năng của vùng về cả phương diện thu hút du khách lẫn sự hỗ trợ

khách du lịch và cung cấp dịch vụ liên quan theo yêu cầu của khách du lịch (như sự hiện diện của các di tích lịch sử, văn hóa, tự nhiên, các sự kiện, chỗ ở, thực phẩm, các loại dịch vụ khác, có đủ cơ sở hạ tầng, sự hiện diện của các tổ chức của vùng/ địa phương có vai trò trong việc phát triển du lịch di sản hay cả phương diện tiếp thị

cho vùng/ địa phương (2) Lập kế hoạch và tổ chức để thu hút cộng đồng và các

doanh nghiệp tham gia du lịch di sản là điều rất quan trọng Đặc biệt là các cá nhân tham gia trong ngành du lịch, ngân hàng, các doanh nghiệp đang làm hoặc có khả

Trang 38

năng hỗ trợ về du lịch (thực phẩm, chỗ ở…) Chính quyền địa phương hay các tổ chức ở cấp cao hơn như tiểu bang, liên bang, quốc gia đều đóng vai trò hỗ trợ quan trọng cho du lịch di sản Một kế hoạch tài chính tốt là điều rất cần thiết để tạo ra

tiềm năng những người ủng hộ tài chính hay các đối tác tham gia vào dự án (3) Chuẩn bị, bảo tồn và quản lý, một kế hoạch dài hạn là điều thiết yếu cho (4) Marketing cho sự thành công, một kế hoạch chi tiết cũng rất quan trọng để

marketing thành công về cộng đồng, địa phương tới khác du lịch di sản Để gia tăng nhận thức của cộng đồng, điều cần thiết là kết nối và phát triển mối quan hệ với báo chí hay tạo nên ý thức cộng đồng của vùng như là một điểm đến du lịch di sản Năm nguyên tắc như sau: Hợp tác; Tìm kiếm sự phù hợp; Kiến tạo các chương trình và khu di tích trở nên sống động; Tập trung vào chất lượng và tính chân thực của di sản; Bảo tồn và bảo vệ

Kaitlin Brooke Mcshea (2010) nghiên cứu Critical Success Factors for cultural heritage tourism operation đã đưa ra một danh sách gồm tám yếu tố đóng vai trò quan trọng đối với các hoạt động DLDSVH đó là: (1) Đánh giá tiềm năng DLDSVH: tiến hành kiểm kê tất cả các tài nguyên về di sản và con người, khám phá

và đánh giá những gì sẽ khiến cho khách du lịch đến tham quan; (2) Thiết lập các Nội dung và mục tiêu rõ ràng: xác định các kỳ vọng, nội dung, mục tiêu của cộng

đồng thông qua các cuộc thảo luận và cuộc họp công khai, xác định các mục tiêu và

nội dung phải thực hiện để bắt đầu một quy trình lập kế hoạch chiến lược; (3) Lập

Kế hoạch chiến lược: là giai đoạn quan trọng của quá trình phát triển DLDSVH, Kế

hoạch chiến lược phải bao gồm cả chiến lược ngắn hạn và dài hạn và phải đáp ứng được các nhu cầu của người dân và khách du lịch trong khi phải bảo tồn tính toàn vẹn của khu di tích hay địa điểm có di tích về cả tính lịch sử lẫn văn hóa và cả sự

nhạy cảm đối với môi trường tự nhiên; (4) Quản lý và bảo tồn Tài nguyên Di sản:

Lập kế hoạch quản lý cho các di tích lịch sử và các điểm tham quan thiên nhiên để bảo tồn tài nguyên di sản cho các thế hệ tương lai mà không cần phải có quá nhiều

sự giám sát và bỏ qua các cách tiếp cận kinh doanh, thuyết minh về các tài nguyên

di sản cần phải được bao gồm trong quản lý di sản; (5) Các bước chuẩn bị cho du lịch: bất cứ một khu di tích, cộng đồng hay một vùng đều phải chuẩn bị cho hoạt

động du lịch với tất cả các cấp khác nhau bao gồm phát triển hệ thống khách sạn,

Trang 39

dịch vụ ẩm thực, tiện ích đầy đủ, cơ sở hạ tầng, dịch vụ công cộng như cảnh sát, an toàn cháy nổ hay sự bảo vệ ở các khu vực của tài nguyên di sản Quá trình này

thường được thực hiện và hoàn thiện theo từng giai đoạn (6) Bảo tồn sự thật (tính xác thực): Trong suốt quá trình lập kế hoạch từ ban đầu cho đến phát triển

DLDSVH, cần phải nỗ lực để duy trì tính xác thực hay cái gọi là “ý thức về di sản” Yếu tố này sẽ tạo nên sự độc nhất của di sản và sẽ khiến cho khách du lịch hướng tới Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính xác thực và các kinh nghiệm giải trí sẽ khiến cho các chương trình DLDSVH thành công Tính xác thực có thể tồn tại về mặt vật

thể cũng có thể thông qua các thuyết minh hay diễn giải; (7) Marketing hiệu quả: áp

dụng một chiến lược marketing hiệu quả là điều cần thiết trong việc thu hút và cạnh tranh đối với khách du lịch Có nhiều cách để thực hiện điều này và ví dụ như những điều này đã được thảo luận trong phần nghiên cứu điển hình SCNHC và

chương 5 của công trình nghiên cứu này; (8) Tạo dựng các quan hệ đối tác và các gói sản phẩm: đối với sự thành công trong dài hạn và nguồn lực về tài chính thì việc

thiết lập và tạo dựng các quan hệ đối tác là rất cần thiết Việc phát triển các loại hình khác nhau của các “sản phẩm du lịch” hay là các trải nghiệm cũng rất quan trọng, cùng với việc đóng gói tất cả các sản phẩm theo một cách như vậy để tối đa hóa tiềm năng kinh tế Đây là một công trình nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao đối với việc thiết lập một kế hoạch cho DLDSVH Việt Nam

Michael Hughes và Jack Carlsen, The business of cultural heritage tourism: critical success factors khám phá các yếu tố thành công quan trọng (Critical

Success Factors - CSFs) cần thiết cho các hoạt động DLDSVH và cách chúng liên

hệ với trọng tâm thương mại là gì Nghiên cứu cho thấy sự không hài hòa giữa việc bảo tồn tính xác thực và vấn đề kinh doanh (thương mại) được nhìn nhận như một yếu tố sẽ làm xóa mòn đi tính xác thực, có khả năng làm giảm đi chất lượng và sự thành công cuối cùng của sản phẩm du lịch Các nhà điều hành và và quản lý ở các

tổ chức DLDSVH ở Úc đã được phỏng vấn về việc đạt được các CSFs Nghiên cứu

đã đưa ra 9 yếu tố kinh doanh thành công của DLDSVH dựa trên các nghiên cứu đã công bố trước đây Và 6 trong 9 các yếu tố đã được xác định từ các tài liệu, phản

hồi phỏng vấn, phần lớn là các định hướng bao gồm: Các nội dung thích hợp và khái niệm rõ ràng về DLDSVH, Kế hoạch tài chính, Kế hoạch Marketing, Nghiên

Trang 40

cứu thị trường, Quản trị nguồn nhân lực, Kế hoạch kinh doanh Nghiên cứu này

không chỉ làm rõ về du lịch sản văn hóa về mặt cơ sở lý luận mà còn đưa ra các minh chứng thực tiễn cho các hoạt động du lịch sản văn hóa ở nước Úc

Raymond A Rosenfeld, Cultural and Heritage Tourism (2008) cho rằng có rất

nhiều điều kiện và nguồn lực cần thiết để thành công Tuy nhiên tác giả làm nổi bật

một số điều kiện thiết yếu là: (1) Các chương trình và địa điểm DSVH phải là thật

Mỗi cộng đồng cần phải nhận ra rằng DLDSVH là một liên doanh cạnh tranh Khách du lịch có nhiều lựa chọn và có thể chọn lọc Điểm chính là bản chất thực sự của chương trình và điểm di sản – sự liên kết của nó tới các sự kiện/ thời kỳ lịch sử, con người và văn hóa Cần phải kể lại câu chuyện để thu hút khách du lịch, cho họ cảm giác thích thú, cảm kích và hiểu biết Các khu vực di sản cần phải được phát

triển và khôi phục (2) Khu vực dành cho khách du lịch với các thông tin về khách sạn, nhà hàng, dịch vụ vận chuyển cũng như các điểm tham quan chính dành cho các cá nhân và gia đình cần rõ ràng, cụ thể (3) Điều phối các bên liên quan: du lịch, phát triển kinh tế, kế hoạch, phát triển hạ tầng (4) Marketing: phát triển sản phẩm, hỗ trợ đặt mục tiêu tới khách hàng, xác định và phát triển thị trường thích hợp Chương trình DLDSVH phải được phát triển và triển khai thực hiện với một kế

hoạch tiếp thị tinh vi Nỗ lực này phải dựa trên các nghiên cứu về sự quan tâm của những khách hàng tiềm năng và các liên kết với các cơ hội phát triển của địa phương Mỗi một cộng đồng cần phải phát triển một thương hiệu riêng của mình và

“bán” nó trên các trang web, quảng cáo, hay các công cụ marketing khác (5) Phát triển các cơ sở hạ tầng thiết yếu: khách sạn, giao thông, năng lực của chính quyền

và các tiện nghi Thành công cuối cùng là thu hút được nhiều khách du lịch tới cộng

đồng, khiến họ ở lại lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn Điều này có nghĩa là tất cả mọi chuyến đi của khách du lịch đều phải thú vị do vậy, sự kích thích phát triển về các dịch vụ hay thuận lợi trong việc đi lại đều vô cùng cần thiết Và danh tiếng của cộng

Các nghiên cứu đều đưa ra những yếu tố ảnh hưởng hay tạo nên sự thành công của DLDSVH và những đặc trưng khác nhau ở các vùng miền khác nhau Tuy nhiên, tựu trung lại có những đặc điểm chính là nền tảng của sự thành công là đánh giá tiềm năng về khách du lịch (nhu cầu của thị trường), tiềm năng về nguồn tài

Ngày đăng: 20/12/2021, 14:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Christopher Holloway, Claire Humphreys, Rob Davidson. (2009). The business of tourism. London: Pearson Education Limited Sách, tạp chí
Tiêu đề: The business of tourism
Tác giả: Christopher Holloway, Claire Humphreys, Rob Davidson
Năm: 2009
2. Stephen J. Skripak, Ron Poff . (2016). Fundamentals of Business. Blacksburg, Virginia: Virginia Tech Libraries Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fundamentals of Business
Tác giả: Stephen J. Skripak, Ron Poff
Năm: 2016
3. Abdulla Al Mamun, Soumen Mitra. (2012). A Methodology for Assessing Tourism Potential: Case Study Murshidabad District, West Bengal, India.International Journal of Scientific and Research Publications, Vol.2 (9), 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Scientific and Research Publications
Tác giả: Abdulla Al Mamun, Soumen Mitra
Năm: 2012
4. Acropolis Museum. (2018, 6 20). Acropolis Museum - A highlights report (June 2017 - May 2018) . Retrieved 8 29, 2019, from https://issuu.com/theacropolismuseum/docs/_cropolis_report_web_en Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acropolis Museum - A highlights report (June 2017 - May 2018)
5. Al-Azzam, A. F. (2015). The Impact of Service Quality Dimensions on Customer Satisfaction: A Field Study of Arab Bank in Irbid City, Jordan.European Journal of Business and Management , 45-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Journal of Business and Management
Tác giả: Al-Azzam, A. F
Năm: 2015
6. Anh, K. (2017, 6 29). tapchicongsan.org.vn. Retrieved 22 4, 2019, from http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=45620&print=true Sách, tạp chí
Tiêu đề: tapchicongsan.org.vn
8. ATM. (2019). Arabian Travel Market is the global meeting place for the travel trade. Retrieved from https://arabiantravelmarket.wtm.com/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arabian Travel Market is the global meeting place for the travel trade
Tác giả: ATM
Năm: 2019
9. Australia Government. (2004). Knowledge Intensive Service Activities in the Tourism Industry in Australia. Retrieved 2019, from https://www.oecd.org/:https://www.oecd.org/sti/inno/34609098.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge Intensive Service Activities in the Tourism Industry in Australia
Tác giả: Australia Government
Năm: 2004
10. Australian Heritage Commission. (2001). Successful tourism at heritage places: a guide to tourism operators, heritage managers and communities.Canberra: Australian Heritage Commission and CRC for Sustainable Tourism Sách, tạp chí
Tiêu đề: Successful tourism at heritage places: a guide to tourism operators, heritage managers and communities
Tác giả: Australian Heritage Commission
Năm: 2001
11. B. King, A. Pizam, A. Milman. (1993). Social impacts of tourism: Host perceptions. Annals of Tourism Research, Vol.20 (4) , 650-665 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Annals of Tourism Research, Vol.20 (4)
Tác giả: B. King, A. Pizam, A. Milman
Năm: 1993
12. Báo Quảng Nam. (2018, 12). Gần 5 triệu lượt khách đến Hội An năm 2018. Retrieved 12 2019, from http://baoquangnam.vn/:http://baoquangnam.vn/chinh-tri/gan-5-trieu-luot-khach-den-hoi-an-nam-2018-4348.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gần 5 triệu lượt khách đến Hội An năm 2018
13. Báo Thanh Hóa. (2021, 11 20). Khai thác và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch. Retrieved from https://baothanhhoa.vn/:https://baothanhhoa.vn/van-hoa-giai-tri/khai-thac-va-phat-huy-gia-tri-di-san-gan-voi-phat-trien-du-lich/148320.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch
14. BC Campus. (2014). Introduction to tourism and hospitality in BC. Retrieved from https://opentextbc.ca/: https://opentextbc.ca/introtourism/chapter/chapter-7-travel-services/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction to tourism and hospitality in BC
Tác giả: BC Campus
Năm: 2014
15. BCcampus Open Education. (2014). Chapter 7. Travel Services. Retrieved 12 2019, from https://opentextbc.ca/:https://opentextbc.ca/introtourism/chapter/chapter-7-travel-services/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chapter 7. Travel Services
Tác giả: BCcampus Open Education
Năm: 2014
16. Beyrouty K. E., Tessler A. (2013). The EconomicImpact of the UK Heritage Tourism Economy. Oxford, UK: Oxford Economics Sách, tạp chí
Tiêu đề: The EconomicImpact of the UK Heritage Tourism Economy
Tác giả: Beyrouty K. E., Tessler A
Năm: 2013
18. Bộ Giao thông vận tải. (2013, 5 24). Retrieved 8 2016, from http://mt.gov.vn/vn/tin-tuc/20001/bao-cao-dieu-chinh-chien-luoc-phat-trien-gtvt-den-nam-2020--tam-nhin-den-nam-2030.aspx Link
60. FiraNews. (2018). Retrieved 2019, from IBTM world, leader in business tourism : http://firanews.firabarcelona.com/en/articles-by-sectors/tourism-and-leisure/ibtm-world-leader-in-business-tourism/ Link
94. ILO. (2017). Retrieved 5 20, 2019, from Rapid market assessment of responsible tourism in Vietnam 2017:https://www.mesopartner.com/fileadmin/media_center/Other_Publications/Rapid_Market_Assessment_Vietnam_2017_01.pdf Link
120. Luật Di sản Văn hóa. (2002, 1 1). Retrieved 8 25, 2019, from https://ich.unesco.org/doc/src/00021-VI.pdf Link
152. Resolution of Politburo of CPV. (2017, 1). Retrieved 5 14, 2019, from https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-quyet-so-08-NQ-TW-phat-trien-du-lich-tro-thanh-nganh-kinh-te-mui-nhon-2017-338542.aspx Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w