1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ TIỀN LƯƠNG TỐI THIẾU Ở VIỆT NAM VÀ MỨC SỐNG NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP Ở VIỆT NAM TỪ 2010 ĐẾN NAY

26 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 224,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ TIỀN LƯƠNG TỐI THIẾU Ở VIỆT NAM VÀ MỨC SỐNG NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP Ở VIỆT NAM TỪ 2010 ĐẾN NAY thông qua chế độ phụ cấp khu vực đã thể hiện sự phân biệt giữa vùng này so với vùng khác qua các yếu tố Điều kiện khí hậu xấu; Điều kiện sinh hoạt khó khăn, vật giá đắt đỏ có tính chất thường xuyên; Điều kiện công tác xa xôi, hẻo lánh. Căn cứ vào các yếu tố trên chia các địa phương thành 7 khu vực với 7 mức phụ cấp: 40%, 25%, 20%, 15%, 12%, 10%, 6% Những vùng khan hiếm lao động, tập trung những công trình quan trọng sẽ nghiên cứu đặt các khoản phụ cấp tạm thời nhằm khuyến khích người lao động + Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1985 Từ năm 1960 đến năm 1985 : Nhà nước không tiến hành cải cách tiền lương, không công bố mức lương tối thiểu nhưng thực tế đã nhiều lần tăng tiền lương danh nghĩa thông qua các hình thức trợ cấp tạm thời, hình thức tiền thưởng. khuyến khích lương sản phẩm, lương khoán... và điều chỉnh mức phụ cấp khu vực đối với các địa phương. Ngày 1891985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 235HĐBT về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và lực lượng vũ trang. Điều 2 Nghị định 235HĐBT quy định: “Mức lương tối thiểu là 220 đồng một tháng. Mức lương này ứng với mức giả ở những vùng có giá sinh hoạt thấp nhất hiện nay. Khi nào mức giả thay đổi hoặc ở những vùng có giá sinh hoạt cao hơn thì tiền lương được tỉnh thêm phụ cấp chênh lệch giả sinh hoạt. Lương tối thiểu dùng để trả công cho những người làm công việc lao động giản đơn nhất và với điều kiện lao động bình thường.Mức lương tối thiểu là cơ sở để định các mức lương cấp bậc hoặc chức vụ”

Trang 1

ĐỀ BÀI

NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ TIỀN LƯƠNG TỐI THIẾU Ở VIỆT NAM VÀ MỨC SỐNG NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP Ở VIỆT NAM TỪ 2010

ĐẾN NAY

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đấtnước ngày càng có nhiều biến đổi Những đổi thay của đấtnước chính là những bước đi chuyển mình trong thời kỳ hộinhập Sự thay đổi từng bước của Việt Nam tạo điều kiện đểđất nước có thể hội nhập, bắt kịp với xu thế của thế giới Thờibuổi hội nhập chính là điều kiện để Việt Nam có thể phát triển

về mọi mặt như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa Những nămvừa qua, nền kinh tế thị trường đang không ngừng tăngtrưởng rất nhanh Với tốc độ tăng trưởng cao, khiến cho đấtnước ta có những chuyển biến không ngờ Cùng với kinh tế,chính trị, trình độ khoa học, kỹ thuật của Việt Nam cũng đangkhông ngừng phát triển, từng bước theo kịp với những nềnkhoa học hiện đại của thế giới

Nói về tiền lương, đó không chỉ là một yếu tố chính, là mộtphạm trù liên quan Đến kinh tế, mà đó còn là một trongnhững Nền tảng, lại những tố tiên quyết của những chínhsách xã hội liên quan trực tiếp đối với đời sống của nhân dân,của người lao động Đó là yếu tố có tác động rất lớn đến cácchính sách quản lý kinh tế, tài chính, nguồn nhân lực của nhànước Nó kích thích đến nhu cầu, Điểm sản xuất của nhànước Đất nước ta đã trải qua rất nhiều các thời kỳ lịch sử,những chính sách về tiền lương của nước ta đều có những sựthay đổi cho hợp lý Xét đến bối cảnh thế giới và Việt Namhiện nay, việc lạm phát đang có xu hướng tăng cao, nhữngchính sách hay quy định về tiền lương của nhà nước cũng

Trang 3

đang tồn tại khá nhiều bất cập, cuộc sống của những ngườilao động vì thế cũng gặp nhiều những khó khăn và tháchthức Đó chính là những nguyên nhân dẫn đến rất nhiềunhững cuộc đình công trong các doanh nghiệp luôn thậm chí

là những công ty có vốn đầu tư nước ngoài Hàng loạt cáchiện tượng như chảy máu chất xám trong Các công ty, cácdoanh nghiệp hành chính trong khu vực nhà nước Để phùhợp với những chính sách khi gia nhập WTO Đòi hỏi Nên kinh

tế nước ta phải có những sự chuyển biến theo nguyên tắc củathị trường, không có sự phân biệt và chính sách tiền lương,được căn chỉnh sao cho hợp lý phù hợp với nguyên tắc này.Tiền lương tối thiểu cũng chính là một bộ phận vô cùng quantrọng trong việc cấu thành và chế độ tiền lương Nó có một vịtrí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hệ thống chính sáchtiền lương Nó không chỉ được áp dụng đối với lao động giảnđơn mà nó còn là cơ sở, là nền tảng để trả Cho nhân côngtoàn xã hội Việc quy định mức lương tối thiểu có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng không chỉ đối với việc bảo vệ người lao động

mà còn có ý nghĩa lớn đối với việc phát triển kinh tế, ổn địnhquan hệ lao động, ổn định chính trị - xã hội Tuy nhiên, trướcbiến động của tình hình giá cả như hiện nay, mức tiền lươngtối thiểu quy định hiện tại là quá thấp Mặc dù Nhà nước đãđiều chỉnh mức tiền lương tối thiểu hàng năm, song nó vẫnchưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế, chưa thực hiệnđược chức năng bảo đảm cho người lao động ở mức sống tốithiểu Để phù hợp với những điều kiện kinh tế , Chính trị, vănhóa,xã hội trong nước và tình hình chung của thế giới, Đảng

và Nhà nước đã không ngừng thay đổi và ban hành mới các

Trang 4

quy định về tiền lương tối thiểu Có thể nói, tiền lương tốithiểu là một trong những vấn đề quan trọng được các ngành,các cấp, đoàn thể, người lao động và người sử dụng lao độngtrong cả nước quan tâm Việc áp dụng chính sách tiền lươngtối thiểu hợp lý sẽ là những nền tảng, điều kiện thuận lợi cho

sự phát triển của nền kinh tế đất nước, cũng như tiến trình hộinhập

CHƯƠNG I NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ LƯƠNG TỐI THIỂU Ở VIỆT NAM

1, CƠ SỞ LÝ LUẬN

1,1: Khái quát chung về tiền lương tối thiểu

+ Tiền lương tối thiểu : Đó là mức trả công lao động thấp nhấttrả cho những người lao động sao cho cân xứng với trình độlao động giản đơn nhất, tùy thuộc vào cường độ lao động nhẹnhàng nhất xảy ra trong điều kiện lao động thông thường

Trang 5

nhằm đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho người lao động phùhợp với điều kiện kinh tế và xã hội

+ Các dấu hiệu đặc trưng

Mức tiền lương tối thiểu sẽ được xác định tương xứng với trình

độ lao động giản đơn nhất và chưa được qua đào tạo nghề.Cùng với đó nó sẽ được tính tương xứng với môi trường vàđiều kiện lao động bình thường, sẽ không có bất kỳ một tácđộng xấu nào của yếu tố điều kiện lao động Bên cạnh đó nó

sẽ gắn liền với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất, vì vậy nókhông đòi hỏi phải hao nhiều năng lượng của thần kinh cũngnhư cơ bắp Đọc biệt, tiền lương tối thiểu sẽ phải tương ứngvới nhu cầu tiêu dùng ở mức độ tối thiểu cần thiết và mức giá

từ liệu sinh hoạt chủ yếu có vùng Có mức giá trung bình Bắtbuộc tiền lương tối thiểu cũng phải phù hợp với điều kiện kinh

tế xã hội của từng quốc gia, khu vực

Có thể thấy xét về kết cấu tiền lương tối thiểu sẽ không baogồm tiền lương làm thêm giờ hay bất kỳ một khoản phụ cấplàm việc nào vào ban đêm, phụ cấp trách nhiệm hay nhữngchức vụ, khoản tiền ăn giữa các ca và giữa các khoản tiềnlương khác nhau ngoài tiền lương thông thường hàng thángđược doanh nghiệp hay chính phủ quy định Vậy nên, mứctiền lương tối thiểu Chung chính là nền tảng, là căn cứ, là điềukiện để xây dựng các mức tiền lương tối thiểu của bất kỳ mộtvùng hay bất kỳ một ngành nào

1.2: Vai trò, ý nghĩa tiền lương tối thiểu

Trang 6

+ với người lao động: có ý nghĩa vô cùng quan trọng đảm bảo

có tính pháp lý của chính phủ, nhà nước ta đối với nhữngngười lao động trong tất cả các lĩnh vực và ngành nghề,những khu vực có tồn tại quan hệ lao động, góp phần bảođảm cuộc sống tối thiểu cho dù họ phù hợp với khả năng củanền kinh tế Mục đích chính của chính sách tiền lương tốithiểu vẫn là đẹp bảo vệ cho những người lao động, đảm bảorằng người lao động tại sản xuất sức lao động Mỗi một chínhsách tiền lương tối thiểu có vai trò vô cùng tiên quyết trongviệc loại trừ sự bóc lột, áp bức có thể xảy ra đối với nhữngngười lao động trước sức cạnh tranh của thị trường vô cùngkhốc liệt Có thể thấy, khi cung của lao động vượt cầu laođộng nếu không có lưới an toàn là tiền lương tối thiểu do nhànước đã quy định từ ban đầu và đảm bảo thực hiện thì mỗimột người sử dụng lao động có thể lấy đó để áp bức, lợi dụng,bóc lột và gây Sức ép để trả công theo Ý muốn riêng

+ với nền kinh tế: mức tiền lương tối thiểu chính là công cụ đểđiều tiết nhà nước trên bất kỳ một phạm vi nào của xã hội vàtrong từng cơ sở kinh tế Nó góp phần bảo vệ sức mua chocác mức tiền lương trước sức ép của sự gia tăng, của lạm phát

và nhiều yếu tố khía cạnh kinh tế khác

Không chỉ vậy, nó còn góp phần phòng ngừa những sự xungđột trong các vùng, các ngành Đồng thời loại bỏ những sựcạnh tranh không công bằng của thị trường lao động, bảo vệlợi ích của người lao động cũng như đảm bảo được lợi ích củangười sử dụng lao động, khuyến khích đầu tư trong nước vàthu hút đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó tiền lương tối thiểu

Trang 7

xét thúc đẩy phân công lao động quốc tế và trong xu thế toàncầu hóa, thúc đẩy phát triển nền kinh tế đất

+ tiền lương tối thiểu chính là cơ sở đảm bảo có tính pháp lý

vô cùng quan trọng của nhà nước đối với mỗi một người laođộng có tham gia quan hệ lao động trong các khu vực kinh tếcủa đất nước Đó chính là cơ sở để xây dựng ra một hệ thốngtiền lương, bảng lương và chính là căn cứ để các bên thỏathuận tiền lương sao cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện,khả năng, những lợi ích chung của các bên trong việc sử dụngquan hệ lao động

2, LỊCH SỬ LƯƠNG TỐI THIỂU Ở VIỆT NAM

2.1: Khái quát lịch sử tiền lương tối thiểu

Sắc lệnh 133 (T7-1946) Khẳng định mức lương tối thiểu củamỗi một công nhân viên chức các ngạch ( 150 đồng / 1 tháng

và 15kg gạo cho Hà Nội , Hải Phòng và 130 đồng – 13kg gạoCho những tỉnh khác)

Trang 8

T2/1947: lương tối thiểu cũng đạt được nâng lên 180 đồng vàmức lương tối đa được đặt ra là 600 đồng

29/5/1948: chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 188-SL, Lập

ra một chế độ người lao động mới và một tháng lương cơ bảncho các ngạch cũng như những hạn công chức ở Việt Nam.Quy định các ngạch công chức với các mức bất lương và từngloại phụ cấp riêng biệt Đọc biệt không quy định rõ mức tiềnlương tối thiểu làm ở cơ sở để tính toán cho các bậc luật khác.Điều 5 Ở trong sắc lệnh này đã quy định rằng “ nếu lương vàcác khoản phụ cấp kể trên của một công chức dưới 220 đồngmột tháng thì những nhân viên công chức ấy được lĩnh 220đồng” Có thể xem mức tiền một tháng 220 đồng chính làkhoản tiền lương tối thiểu

31/5/1958: thủ tướng Phạm Văn đồng đã quyết định nghị định

số 270-TTG quy định rằng chế độ lương cho từng khu vựchành chính và sự nghiệp Ở mức lương thấp nhất là 27.300đồng Chế độ mới này đã góp phần cải thiện cuộc sống củacông nhân viên chức cũng như những người lao động, khuyếnkhích cho mọi người ra sức tích cực đẩy mạnh sản xuất laođộng

Năm 1960 Nhà nước chưa quy định tiền lương tối thiểu theovùng, tuy nhiên thông qua chế độ phụ cấp khu vực đã thểhiện sự phân biệt giữa vùng này so với vùng khác qua các yếu

tố

- Điều kiện khí hậu xấu;

Trang 9

- Điều kiện sinh hoạt khó khăn, vật giá đắt đỏ có tính chấtthường xuyên;

- Điều kiện công tác xa xôi, hẻo lánh

Căn cứ vào các yếu tố trên chia các địa phương thành 7 khuvực với 7 mức phụ cấp: 40%, 25%, 20%, 15%, 12%, 10%, 6%

Những vùng khan hiếm lao động, tập trung những công trìnhquan trọng sẽ nghiên cứu đặt các khoản phụ cấp tạm thờinhằm khuyến khích người lao động

+ Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1985

Từ năm 1960 đến năm 1985 : Nhà nước không tiến hành cảicách tiền lương, không công bố mức lương tối thiểu nhưngthực tế đã nhiều lần tăng tiền lương danh nghĩa thông quacác hình thức trợ cấp tạm thời, hình thức tiền thưởng khuyếnkhích lương sản phẩm, lương khoán và điều chỉnh mức phụcấp khu vực đối với các địa phương

Ngày 18/9/1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số235/HĐBT về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viênchức và lực lượng vũ trang

Điều 2 Nghị định 235/HĐBT quy định: “Mức lương tối thiểu là

220 đồng một tháng Mức lương này ứng với mức giả ở nhữngvùng có giá sinh hoạt thấp nhất hiện nay Khi nào mức giảthay đổi hoặc ở những vùng có giá sinh hoạt cao hơn thì tiềnlương được tỉnh thêm phụ cấp chênh lệch giả sinh hoạt Lương

Trang 10

tối thiểu dùng để trả công cho những người làm công việc laođộng giản đơn nhất và với điều kiện lao động bình thường.Mứclương tối thiểu là cơ sở để định các mức lương cấp bậc hoặcchức vụ”

+ Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1993

Từ năm 1987, giá cả sinh hoạt ngày càng tăng nhanh làm chotiền lương thực tế giảm sút nhanh chóng, vì vậy đến tháng9/1987, Hội đồng Bộ trưởng đã Quyết định điều chỉnh lại tiềnlương (trong đó có mức lương tối thiểu) tăng lên 13,15 lần đốivới các đơn vị sản xuất kinh doanh (Quyết định số 147/HĐBT);10,68 lần đối với công nhân, viên chức hành chính sự nghiệp,cán bộ xã, phường; 11,51% đối với lực lượng vũ trang Đếntháng 4/1988 thống nhất áp dụng một hệ số 13,15 lần; cáctháng tiếp theo áp dụng chế độ trợ cấp

Ngày 28/12/1988: Quyết định số 202/HĐBT về tiền lương côngnhân, viên chức sản xuất, kinh doanh khu vực quốc doanh vàcông ty hợp doanh và Quyết định số 203/HĐBT về tiền lươngcông nhân, viên chức hành chính, sự nghiệp, lực lượng vũtrang và các đối tượng hưởng chính sách xã hội, nâng mứclương tối thiểu lên 22.500đồng/tháng Như vậy, giai đoạn này,mặc dù Nhà nước đã tách khu vực sản xuất ra khỏi khu vựchành chính sự nghiệp, tuy nhiên mức tiền lương tối thiểu đượcquy định cho hai khu vực trên là như nhau

Ngày 23/5/1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 25-CP quyđịnh tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chứchành chính, sự nghiệp và lực lượng vũ trang và Nghị định số

Trang 11

26-CP quy định tạm thời chế độ tiền lương mới trong doanhnghiệp Cũng giống như năm 1988 là 120.000đồng/tháng.

Sau khi Hiến pháp năm 1992 ra đời:Khoản 3 Điều 3 Nghị định

số 197/CP ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Bộ Luật lao động quy định: “Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội sau khi lấy ý kiến Tổng liênđoàn Lao động Việt Nam, Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu

tư và đại diện của người sử dụng lao động trình Chính phủcông bố hoặc Chính phủ uỷ quyền cho Bộ Lao động - Thươngbình và Xã hội công bố mức lương tối thiểu đối với người laođộng Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài, trong Khu chế xuất, Khu công nghiệp và các cơquan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam"

03/5/1995, công bố mức TLTT “Mức lương tối thiểu hiện nay là

35 USD/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài đóng trên Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; vớicác ngành, nghề đã được thoả thuận mức lương tối thiểu caohơn thì tiếp tục thực hiện mức lương tối thiểu đỏ cho đến khi

có quyết định mới"

+ Giai đoạn từ 4/1993 đến năm 2004

21/01/1997 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/CP vềviệc giải quyết tiền lương và trợ cấp năm 1997 đối với côngchức, viên chức hành chính, sự nghiệp, người nghỉ hưu, nghìmất sức, lực lượng vũ trang; cán bộ xã, phường và một số đốitượng hưởng chính sách xã hội, nâng mức tiền lương tối thiểu

từ lên 144.000đồng/tháng

Trang 12

15/12/1999, Chính phủ tiếp tục điều chỉnh mức tiền lương tốithiếu cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước

từ 144.000đồng/tháng lên 180.000đồng/tháng (Theo Nghịđịnh số 175/1999/NĐ-CP)

15/12/2000: 210.000đồng/tháng, áp dụng cho cả khu vựcdoanh nghiệp và hành chính, sự nghiệp (Nghị định số77/2000/NĐ-CP) Và mức tiền lương tối thiểu210.000đồng/tháng được duy trì cho đến năm 2004

+ Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

Từ năm 2004 đến nay: 5 lần điều chỉnh tiền lương Năm 2004mức tiền lương tối thiểu là 290.000đ/tháng Tiền lương tốithiểu chung từ 01/10/2005 là 350.000đồng/tháng (Nghị định

số 118/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005), 01/10/2006 là450.000đồng/tháng (Nghị định số 94/2006/NĐ-CP ngày07/9/2006), 01/01/2008 là 540.000đồng/tháng (Nghị định số166/NĐ-CP ngày 16/11/2007), 01/05/2009 là 650.000đồngtháng (Nghị định số 33/2009/NĐ-CP ngày 06/4/2009),01/5/2010 là 730.000đồng/tháng (Nghị định số 28/2010/NĐ-

CP ngày 25/3/2010)

Mức tiền lương tối thiểu theo vùng chính thức được pháp luậtquy định từ năm 1995, tuy nhiên chỉ áp dụng đối với người laođộng làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài, cơ quan nước ngoài và tổ chức quốc tế tại Việt Nam.Chỉ đến năm 2007, mức tiền lương tối thiểu theo vùng mớiđược áp dụng cho cả các doanh nghiệp trong nước Mức tiềnlương tối thiểu theo vùng áp dụng cho người lao động làm

Trang 13

việc trong công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác,trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của ViệtNam có thuê mướn lao động năm 2007 là từ 540.000đồngtháng đến 620.000đồng/tháng (quy định cho 3 vùng theoNghị định 167/2007/NĐ-CP ngày 16/11/2007), năm 2008 là từ650.000đồng/ tháng đến 800.000đồng/ tháng (quy định cho 4vùng, theo Nghị định số 111/2008)

Từ ngày 01/01/2020, mức lương tối thiểu vùng tiếp tục tănglên:

+ Vùng I: 4.420.000 đồng/ tháng (Tăng 240,000 đồng so vớinăm 2019);

+ Vùng II: 3.920.000 đồng/tháng (Tăng 210,000 đồng so vớinăm 2019);

+ Vùng III: 3.430.000 đồng/ tháng (Tăng 180,000 đồng so vớinăm 2019);

+ Vùng IV: 3.070.000 đồng/tháng (Tăng 150,000 đồng so vớinăm 2019)

2.2: Đánh giá

+ Nếu tính từ thời điểm cải cách tiền lương năm 1993 đếnnay, mức tiền lương tối thiểu đã tăng từ 120.000đồng/ thánglên 4.420.000đ / tháng về cơ bản đã góp phần cải thiện đờisống cho người lao động Những năm gần đây, mức tiền lươngtối thiểu được điều chỉnh thưởng xuyên (gần như mỗi năm 1lần), điều đó thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến việc

Ngày đăng: 20/12/2021, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1,Bộ Tài chính (2008). Chế độ kế toán doanh nghiệp (quyển 1), Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Khác
2,Bộ Tài chính (2008). Chế độ kế toán doanh nghiệp (quyển 2), Nhà xuất bản Tài Chính, Hà Nội Khác
3,PGS.TS Võ Văn Nhị (2007). Nhà Xuất bản Tài Chính, Tp.HCM Trần Xuân Nam (2010), Nhà xuất bản Thống Kê, Tp.HCM Khác
4. Đỗ Văn Thận – Phân tích tài chính doanh nghiệp – NXB Thống kê – Năm 1999 Khác
5. Tài liệu của Công ty TNHH Vận Tải & TM Nam Long–do phòng kế toán cung cấp Khác
10, Trường Đại Học Kinh Tế Tp.Hồ Chí Minh (2009), Nhà xuất bản lao động, Tp.HCM Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w