1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án giáo dục trẻ em của gia đình công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông hồng hiện nay

191 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá chung các công trình tổng quan, những vấn đề đặt ra luận án tiếp Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA GIA ĐÌNH CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NG

Trang 1

NGUYỄN THỊ NHAN

GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA GIA ĐÌNH CÔNG NHÂN

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

NGUYỄN THỊ NHAN

GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA GIA ĐÌNH CÔNG NHÂN

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực,

có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Nguyễn Thị Nhan

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

1.2 Đánh giá chung các công trình tổng quan, những vấn đề đặt ra luận án tiếp

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁO

DỤC TRẺ EM CỦA GIA ĐÌNH CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

2.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu về giáo dục trẻ em của gia đình công nhân trong

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông Hồng 31 2.2 Những yếu tố tác động đến giáo dục trẻ em của gia đình công nhân trong

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông Hồng 51

Chương 3: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA GIA ĐÌNH CÔNG NHÂN

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÙNG

ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY 64 3.1 Thực trạng giáo dục trẻ em của gia đình công nhân trong các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay 64 3.2 Những vấn đề đặt ra trong giáo dục trẻ em của gia đình công nhân trong

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông Hồng

Chương 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY VAI

TRÒ GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA GIA ĐÌNH CÔNG NHÂN TRONG CÁC

DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÙNG ĐỒNG BẰNG

4.1 Giải pháp chủ yếu phát huy vai trò giáo dục trẻ em của gia đình công

nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng

4.2 Kiến nghị nhằm phát huy vai trò giáo dục trẻ em của gia đình công

nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng

Trang 5

BHXH Bảo hiểm xã hội

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

DN FDI Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ĐBSH Đồng bằng sông Hồng

GĐCN Gia đình công nhân

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

Trang 6

Trang

Bảng 3.1: Nhận thức của bố mẹ trong gia đình công nhân các doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông Hồng về giáo dục đạo

Bảng 3.2: Lối sống của ông bà ảnh hưởng đến nhân cách của trẻ em

trong gia đình công nhân các doanh nghiệp có vốn đầu tư

Bảng 3.3: Đánh giá mức độ bố, mẹ trong gia đình công nhân các

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng

sông Hồng thực hiện hướng dẫn trẻ em làm bài tập ở nhà 77 Bảng 3.4: Nhận thức của bố mẹ trong gia đình công nhân các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông

Hồng về vai trò của gia đình trong giáo dục học tập văn

Bảng 3.5: Mức độ trẻ em trong gia đình công nhân các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông Hồng trao

đổi với ông bà hoặc bố mẹ về vấn đề giới tính (sự thay đổi của cơ

thể, vấn đề tình bạn, tình yêu, tình dục ) 89 Bảng 3.6: Nhận thức của bố mẹ trong gia đình công nhân các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông

Hồng về vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ em 91

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trẻ em là tương lai của đất nước, chính vì vậy Đảng và Nhà nước Việt Nam rất quan tâm tới công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việc giáo dục trẻ em là một việc làm thường xuyên và cần thiết để phát triển một thế hệ công dân tương lai có chất lượng cao, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Trong các chủ thể giáo dục trẻ em, gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên,

có ảnh hưởng lâu dài, toàn diện tới trẻ em, thậm chí trong suốt cuộc đời Giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội chỉ phát huy được vai trò khi lấy giáo dục gia đình làm nền tảng

Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) ở nước ta, những năm qua đã và đang tác động mạnh mẽ, làm thay đổi cơ cấu các loại hình gia đình Số lượng gia đình công nhân (GĐCN) ngày càng phát triển, đồng nghĩa với tỷ lệ trẻ em trong các GĐCN cũng ngày càng tăng Do vậy, quan tâm giáo dục trẻ em trong các GĐCN là công việc cần thiết, vì đây chính là thế hệ tương lai có xuất thân trực tiếp từ giai cấp công nhân - cơ sở

xã hội quan trọng nhất của Đảng, sẽ có những đóng góp quan trọng cho phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có diện tích tự nhiên hơn 21.000 km2 Với vị trí thuận lợi ĐBSH đang đứng đầu cả nước về thu hút nguồn vốn đầu

tư nước ngoài, tạo đà cho phát triển kinh tế và tốc độ CNH, HĐH Các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp, dịch vụ ra đời và phát triển mạnh hơn

so với đa số các vùng còn lại trong cả nước [46, tr.27] Bên cạnh những thành tựu tăng trưởng kinh tế do nguồn vốn đầu tư nước ngoài và phát triển CNH, HĐH mang lại, ĐBSH cũng đang đứng trước nhiều vấn đề xã hội bức xúc, trong đó có vấn đề giáo dục trẻ em của GĐCN, nhất là GĐCN trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DN FDI)

Trang 8

Theo đánh giá của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, hầu hết GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH hiện nay chưa được hỗ trợ về nhà ở, mức thu nhập thấp, khó khăn trong trang trải sinh hoạt gia đình và đầu tư cho chăm sóc, giáo dục trẻ em Kết quả thống kê năm 2018: có 20% công nhân trong các DN FDI vùng ĐBSH nhận lương không đủ sống, 31% phải chi tiêu tằn tiện, 41% vừa đủ trang trải và chỉ 8% có tích lũy [87] Ngoài ra, do phải làm theo ca và tăng ca thường xuyên, hầu hết bố mẹ trong GĐCN các DN FDI rất khó khăn, hạn chế trong bố trí thời gian tham gia các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, tham gia các tổ chức đoàn thể, tiếp cận những thông tin chính trị

- xã hội, nhất là thời gian cho giáo dục, chăm sóc con cái

Với những khó khăn trên, một bộ phận trẻ em của GĐCN trong các

DN FDI vùng ĐBSH, khi đến tuổi đi học phải gửi về quê nhờ ông bà (nội, ngoại), người thân nuôi dưỡng Do đó, việc giáo dục, chăm sóc con, hầu như

“gửi gắm” cho ông bà và thầy cô giáo ở quê Một bộ phận trẻ em khác được ở cùng bố mẹ, nhưng do tính chất công việc của người công nhân (thiếu thời gian, kiến thức, phương pháp giáo dục con cái…), việc giáo dục con cái hầu như cũng phó mặc cho nhà trường và xã hội

Phần lớn GĐCN ở vùng ĐBSH là gia đình trẻ, con cái của họ chủ yếu đang ở độ tuổi từ mẫu giáo đến trung học cơ sở, do vậy rất cần có sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhất là của bố mẹ để hình thành nhân cách gốc cho trẻ Tuy nhiên, với những điều kiện đặc thù của GĐCN trong các DN FDI đã

và đang ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển, trưởng thành của trẻ em về thể lực, trí tuệ, nhân cách…

Tốc độ CNH, HĐH vùng ĐBSH diễn ra ngày càng nhanh chóng, vấn

đề giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH, rất cần được quan tâm nghiên cứu, tìm giải pháp khắc phục nhằm phát huy vai trò của gia đình trong giáo dục trẻ em, góp phần xây dựng thế hệ con người Việt Nam trong tương lai có nhân cách, đạo đức và trí tuệ, tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Trang 9

Trước yêu cầu đặt ra như trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Giáo dục trẻ em của gia đình công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay” làm luận án tiến sỹ chuyên ngành Chủ

nghĩa xã hội khoa học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích làm rõ cơ sở lý luận, yếu tố tác động đến việc giáo dục trẻ em, thực trạng giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH, luận án đề xuất các giải pháp chủ yếu, kiến nghị phát huy vai trò giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Làm rõ cơ sở lý luận và những yếu tố tác động đến giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH

Phân tích thực trạng giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH và những vấn đề đặt ra hiện nay

Đề xuất một số giải pháp chủ yếu và kiến nghị nhằm phát huy vai trò giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH đáp ứng yêu cầu

sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng: Luận án nghiên cứu giáo dục trẻ em của GĐCN trong

các DN FDI vùng ĐBSH

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI gồm nhiều

nội dung, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung vào 3 nội

dung: giáo dục đạo đức; giáo dục văn hóa và giáo dục giới tính

Trang 10

Về không gian:

Gia đình công nhân trong các DN FDI vùng ĐBSH rất đa dạng, luận

án lựa chọn nghiên cứu loại hình GĐCN gồm cả vợ và chồng đang làm việc trong các DN FDI

Luận án tập trung nghiên cứu trẻ em từ 6 tuổi đến dưới 16 tuổi (độ tuổi bắt đầu đi học tiểu học đến hết trung học cơ sở) trong GĐCN các DN FDI vùng ĐBSH

Địa bàn nghiên cứu: ĐBSH gồm 11 tỉnh và thành phố, tuy nhiên luận

án chỉ tập trung nghiên cứu GĐCN ở một số tỉnh có quá trình CNH, HĐH diễn ra với tốc độ cao, thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài và số lượng lớn công nhân làm việc:

(1) Thành phố Hà Nội

(2) Thành phố Hải Phòng

(3) Tỉnh Bắc Ninh

(4) Tỉnh Hà Nam

Về thời gian: Luận án nghiên cứu giáo dục trẻ em của GĐCN trong

các DN FDI vùng ĐBSH từ năm 2006 đến nay (từ khi có Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/08/2006 về Quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ) Trong đó số liệu sử dụng tập trung chủ yếu từ năm 2016 đến nay, khi bắt đầu triển khai Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp vùng ĐBSH đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035 của Bộ Công thương

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về giáo dục trẻ em, vai trò giáo dục của gia đình, GĐCN, CNH, HĐH, phát triển các KCN, phát triển các doanh nghiệp ngoài nhà nước

Trang 11

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử, chú trọng các phương pháp cụ thể: phân tích, so sánh, tổng hợp, điều tra

xã hội học Trong đó phương pháp điều tra xã hội học được triển khai:

Hình thức điều tra:

Bằng bảng hỏi: 270 phiếu đối với đối tượng trẻ em từ 6 tuổi đến dưới 16 tuổi, và 400 phiếu với đối tượng bố, mẹ trong GĐCN các DN FDI vùng ĐBSH

Phỏng vấn sâu 8 cán bộ Công đoàn cơ sở của các DN FDI vùng ĐBSH

Địa bàn và thời gian tiến hành điều tra:

Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) SamSung Display Việt Nam, KCN Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; thời gian thực hiện từ ngày 23 đến 25/ 11/ 2016

Công ty TNHH vật liệu nam châm Shin - Etsu Việt Nam, KCN Đình

Vũ, thành phố Hải Phòng; thời gian thực hiện từ ngày 3 đến 5/12/2016

Công ty TNHH Alpha Industries Việt Nam, KCN Thăng Long, thành phố Hà Nội; thời gian thực hiện từ ngày 15 đến 17/12/2016

Công ty TNHH Hashimoto Cloth Việt Nam, KCN Đồng Văn 2, tỉnh Hà Nam; thời gian thực hiện từ ngày 20 đến 23/12/2016

Tổng số đối tượng tham gia điều tra là 678 người Sau khi thu thập được thông tin, tác giả tiến hành tổng hợp, phân tích số liệu [phụ lục 5,7]

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Bước đầu góp phần làm rõ thực trạng giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH hiện nay trên các chiều cạnh tích cực, hạn chế, đồng thời chỉ ra nguyên nhân thực trạng và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết

Góp phần đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH, qua đó kiến nghị những biện pháp phát huy vai trò giáo dục trẻ em của GĐCN nói chung, GĐCN trong các DN FDI nói riêng đáp ứng yêu cầu phát triển đất

nước hiện nay

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án góp phần cung cấp một số căn cứ lý luận và thực tiễn trong xây dựng, thực hiện chính sách của các cấp, ngành về công nhân, GĐCN trong các DN FDI, về giáo dục trẻ em của GĐCN

Luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy các môn học liên quan đến gia đình, công nhân, giáo dục trẻ em trong các KCN

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương (8 tiết)

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1.1 Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về gia đình, giáo dục trẻ em của gia đình

Gia đình luôn là đối tượng nghiên cứu hấp dẫn, có sức thu hút mạnh mẽ

không chỉ trong giới nghiên cứu khoa học xã hội mà cả các cơ quan, tổ chức có liên quan Rất nhiều cá nhân, tập thể đã có các công trình khác nhau nghiên cứu

về gia đình nói chung và chức năng giáo dục trẻ em của gia đình nói riêng

Cuốn sách Khôi phục mối quan hệ gia đình của C McGraw Phillip do

Đông Hương dịch [70], đã phân tích tâm lý người vợ, người chồng để có những cái nhìn mới về niềm tin, giá trị của mối quan hệ vợ chồng Theo tác giả, trong mối quan hệ vợ chồng, vấn đề hiểu lầm hoặc sự thiếu hòa hợp trong tính cách của mỗi người thường xuyên xảy ra, với những mức độ khác nhau Để cho các mối quan hệ gia đình được bền lâu thì những vấn đề này phải được khắc phục triệt để Tác giả căn cứ vào góc nhìn tâm lí của người vợ và người chồng để đưa ra cách giải quyết những vấn đề này

Cuốn sách Xã hội học gia đình của Martine Segalen do Phan Ngọc Hà

dịch, đã đưa ra những nghiên cứu xã hội học về gia đình [69] Cuốn sách nghiên cứu về những biến đổi trong quan hệ thân tộc (quan hệ dòng dõi, quan

hệ thông gia, vấn đề của sự kế tục ); những biến đổi của gia đình (kết hôn, li hôn, vấn đề huyết thống ); các chức năng của gia đình (xã hội học nhà trường, lao động, chổ ở); nhà nước gia đình (chính sách khuyến khích sinh đẻ, chính sách công, chính sách xã hội )

Castellan với cuốn sách Gia đình do Nguyễn Thu Hồng - Ngô Dư dịch

từ tiếng Pháp [16] Nội dung cuốn sách bàn về nguồn gốc của gia đình và phân chia các kiểu gia đình dựa trên các các thời kì lịch sử Cuốn sách cũng

Trang 14

đưa ra những phân tích về vai trò, mối liên hệ giữa các thành viên và chức năng cơ bản của gia đình

Cuốn sách Tương lai của gia đình của L Jones Charles, Lorne

Tepperman, J Wilson Susannah đã phân tích sự biến đổi của gia đình đương đại và gia đình trong tương lai [117] Theo tác giả, gia đình dựa trên cơ sở hôn nhân và nhiều mối liên hệ gia tộc giữa các thế hệ, cũng như giữa các đại biểu của các dòng họ chi nhánh phụ theo tuyến dòng họ và quan hệ thân gia Để đánh giá sự biến đổi của gia đình đương đại, tác giả đã khảo sát ý kiến của những người phụ nữ hiện đại về hôn nhân, về nữ quyền, bình đẳng giới và những xu hướng biến đổi của gia đình

Cuốn sách Khi cha mẹ chia tay của Gerard Poussin, đã mô tả việc ly

hôn của các cặp vợ chồng sẽ ảnh hưởng ra sao tới con của họ [78] Hiện tượng ly hôn ngày càng có xu hướng gia tăng, nó không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của vợ, chồng mà còn ảnh hưởng lớn đến con cái Cha mẹ ly hôn gây ra những tổn thương về tinh thần, cản trở sự phát triển tâm lý bình thường

ở trẻ Tác giả đã kết hợp các nghiên cứu lý thuyết với quan sát thực nghiệm,

tư vấn tâm lý để đưa ra những phương pháp trị liệu tâm lý cho trẻ trong gia đình có bố mẹ ly hôn

Giáo dục gia đình đối với trẻ em luôn nhận được sự quan tâm của toàn

xã hội, có nhiều công trình nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau như:

Trên khía cạnh giáo dục học Ma-ca-ren-cô đã dành nhiều tâm huyết

nghiên cứu và bày tỏ quan điểm trong cuốn sách Nói chuyện về giáo dục gia đình [68] Ông cho rằng giáo dục con trẻ là việc làm lý thú, mang lại niềm vui,

hạnh phúc cho gia đình, nó không khó khăn ghê gớm như nhiều người lầm tưởng Các bậc cha mẹ phải có tình yêu, trách nhiệm và kiến thức Giáo dục gia đình chỉ đạt hiệu quả tốt, khi bố mẹ tiến hành hoạt động giáo dục ngay từ giai đoạn trẻ nhỏ

Tác phẩm Dạy con yêu lao động của tác giả Pê-sec-ni-cô-va, có tư tưởng

cơ bản là giáo dục gia đình thông qua lao động [77] Giáo dục con cái yêu lao động phải được bắt đầu từ nhỏ Các câu chuyện mà tác giả tổng hợp trong sách

Trang 15

là một kho tàng kiến thức, kinh nghiệm giáo dục trẻ em mà các bậc cha mẹ và các nhà sư phạm ngày nay vẫn tiếp tục khai thác

Tác giả Doãn Kiến Lợi đã viết cuốn sách Người mẹ tốt hơn người thầy tốt [66] Nội dung cuốn sách đề cao nền tảng giáo dục từ gia đình, nhấn mạnh

vai trò to lớn của người mẹ trong việc giáo dục trẻ em Theo tác giả những phẩm chất và năng lực giáo dục của người mẹ sẽ quyết định phần lớn sự hình thành nhân cách, sự thành công trong công việc và cuộc sống của đứa trẻ trong tương lai Với hai chủ đề “giáo dục phẩm chất đạo đức” và “rèn luyện thói quen học tập”, tác giả đưa ra một số nguyên tắc giáo dục trẻ trong gia đình như: giáo dục trẻ bằng sự gương mẫu của bố, mẹ; luôn nhận thấy mặt tích cực của trẻ; không tiếc lời khen; hướng dẫn trẻ sửa sai một cách chân thành và tế nhị

Child education in the family: proven through practice (Giáo dục trẻ em trong gia đình: được chứng minh qua thực tiễn) của tác giả N.C Drupxkaia

[121] Bài viết đánh giá cao việc bố mẹ cần được trang bị những kiến thức thực tiễn và học hỏi kinh nghiệm khi thực hiện giáo dục con cái Kết quả khảo sát

mà tác giả bài viết tiến hành cho thấy, tỉ lệ giáo dục con cái trong gia đình đạt hiệu quả cao tỉ lệ thuận với việc bố mẹ quan tâm, đầu tư cho hoạt động tự học

và bổ sung kiến thức thực tiễn về giáo dục trẻ em của bản thân Kết luận bài viết, tác giả khẳng định: muốn thực hiện được tốt việc giáo dục trẻ em trong gia đình, bố mẹ cần phải học tập thường xuyên để có đủ năng lực giáo dục trẻ

Hai nhà giáo dục học Ph.D Tina Payne Bryson và J.Siegel Danil đã viết

cuốn sách The whole - brain child (Phương pháp tiếp cận trẻ em toàn bộ não)

[125] Các tác giả đã đánh giá những hành vi “phá phách” ở trẻ trong từng giai đoạn phát triển Nguyên nhân sâu xa của những hành vi phá phách là do bộ não của đứa trẻ liên tục thay đổi, bố mẹ không đảm bảo duy trì trạng thái cảm xúc tích cực cho con Các tác giả đề xuất “mười hai chiến lược cách mạng” để bố

mẹ giáo dục cho trẻ thực hiện hành vi chuẩn mực và phát triển trí thông minh cảm xúc dựa trên khoa học thần kinh, trong đó nhấn mạnh bố mẹ cần thực hiện giáo dục trẻ trên cơ sở khuyến khích trẻ suy nghĩ và lắng nghe hơn là phản ứng,

Trang 16

gia tăng yếu tố vui vẻ cho gia đình, và giúp trẻ em nhận ra quan điểm của người khác để khuyến khích sự đồng cảm

Sự gắn bó giữa bố mẹ với con cái có vai trò quan trọng trong việc cân bằng mối quan hệ trong gia đình và giáo dục con hiệu quả là quan điểm của các tác giả: Julia Knoke, Julia Burau and Bernd Roehrle viết trong cuốn sách

Attachment styles, loneliness, quality, and stability of marital relationship (cách thức kèm kẹp, sự cô đơn, chất lượng và sự ổn định của mối quan hệ gia đình) [123] Hình thức gắn bó giữa bố mẹ với con cái được mô tả có hai loại:

an toàn hoặc không an toàn Trong đó, sự gắn bó không an toàn giữa bố mẹ với con cái được biểu hiện qua sự né tránh bày tỏ cảm xúc; lảng tránh sự thân mật

và phụ thuộc, giữ cảm nhận tiêu cực về đối phương Điều này tạo ra khoảng cách giữa bố mẹ với trẻ, bố mẹ không thực hiện được các hoạt động giáo dục trẻ, trẻ dễ bị tổn thương, sa ngã vào tệ nạn xã hội và bị gia đình bỏ mặc

Trong cuốn sách Ứng xử giữa cha mẹ và con cái tuổi mới lớn, H.G

Ginott đã đưa ra các tình huống thực tế, giúp các bậc phụ huynh hiểu và nắm bắt sự thay đổi tâm lý của con cái tuổi mới lớn, để có cách ứng xử phù hợp, giúp con cái dần dần hoàn thiện nhân cách [79] Những xung đột, va chạm giữa bố mẹ với con cái, khiến bố mẹ phiền lòng, đau đầu xảy ra ở mọi gia đình, và bố mẹ cần có cách ứng xử khôn khéo, phù hợp với từng độ tuổi phát triển và các hoàn cảnh cụ thể Cách ứng xử của bố mẹ chính là chìa khóa quyết định việc hình thành nhân cách của trẻ

Sự liên kết giữa mẹ và con gái rất sâu đậm và bền vững Người mẹ có vai trò đặc biệt trong việc chăm sóc và giáo dục con gái hình thành nhân cách

Đó là quan điểm của J Ford và A Fort thể hiện trong cuốn sách Giữa mẹ và con gái [115] Theo tác giả, mẹ và con gái luôn gần gũi với nhau theo một cách

thức nào đó, nhưng khi những cô con gái ngày càng lớn lên, những thay đổi về tâm lý và hành động vượt dần khỏi sự kiểm soát của mẹ Khi đó mọi hành vi cáu giận hay quát mắng chỉ làm cho mối quan hệ giữa hai mẹ con trở lên căng thẳng, các bà mẹ cần lắng nghe, quan sát và suy xét mọi việc một cách rõ ràng, đặc biệt là chia sẻ cùng con những cảm xúc của bản thân

Trang 17

Thứ hai, GĐCN và giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI

Theo Harold Meyerson với bài viết Workers also deserve to benefit from their labor productivity too (Công nhân cũng xứng đáng hưởng lợi ích từ năng suất lao động của họ) [122] Dựa trên thực tế nước Mỹ hiện đại, tác giả đánh

giá mức tăng lương, thu nhập của người công nhân không xứng đáng với năng suất lao động mà họ tạo ra, đời sống của một bộ phận GĐCN này không đảm bảo ở mức trung bình của xã hội Số liệu chứng minh trong giai đoạn từ năm

1979 đến năm 2011, năng suất tăng 75% nhưng tiền lương trung bình của công nhân tăng 5% Trong khi đó, tiền lương của giới CEO (thuật ngữ chỉ các nhà quản lý tại doanh nghiệp như tổng giám đốc, giám đốc) lại tăng rất nhanh (93,7%) Dự luật Hollen yêu cầu, mức lương của công nhân sẽ được tăng tương xướng với mức năng suất họ tạo ra, từ đó sẽ nâng cao mức sống của bản thân công nhân và gia đình họ Tuy nhiên, các tác giả dự kiến dự luật này đưa ra sẽ gặp phải những phản ứng từ giới CEO, phố Wall, cũng là thử thách lớn đối với ứng viên tổng thống đảng Dân chủ năm 2016

Daniel S.Hamermesh, Daiji Kawaguchi, Jungmin Lee là tác giả của bài

viết Does labour legislation benefit Workers? Well - being after an hours reducation (Người công nhân đang làm việc quá vất vả? Họ sẽ cảm thấy tốt hơn nếu cân bằng được số lượng giờ lao động) [119] Qua kiểm tra thực tế thời

gian, cường độ làm việc, sự hài lòng về cuộc sống của người công nhân tại Hàn Quốc và Nhật Bản trong một giai đoạn theo phương pháp nghiên cứu mặt cắt ngang, bài viết khẳng định, công nhân đang làm việc quá vất vả, áp lực công việc khiến họ tự triệt tiêu những sở thích cá nhân, bị căng thẳng thần kinh trong thời gian dài Họ không còn thời gian để dành cho bản thân và các hoạt động cá nhân như: xem phim, tụ tập bạn bè và hẹn hò với người yêu…nhiều công nhân không thể kết hôn, hoặc không dám kết hôn và sinh con Nhóm tác giả đề xuất, việc luật hóa để giảm giờ làm của công nhân sẽ mang lại sự hài lòng và nhiều lợi ích Công nhân có cơ hội hưởng thụ đời sống vật chất và tinh thần, có cơ hội tìm kiếm bạn đời; các mối quan hệ vợ - chồng, cha mẹ - con cái sẽ tích cực

hơn; có thời gian để chăm sóc, giáo dục con đạt hiệu quả hơn

Trang 18

N.Driffeld và K.Taylor đã trình bày kết quả nghiên cứu của mình trong

bài viết FDI and the labour market: a review of the evidence anh police implicatins (FDI và thị trường lao động: đánh giá các bằng chứng và gợi ý chính sách) [120] Qua nghiên cứu tình hình thu hút và sử dụng vốn đầu tư

nước ngoài ở Anh cho thấy, có sự bất bình đẳng về tiền lương, chênh lệch về mức sống của lao động có tay nghề cao và lao động không có trình độ chuyên môn tại các DN FDI Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này: (1) nhu cầu về công nhân lành nghề trong một ngành công nghiệp hoặc khu vực ngày càng tăng do sự gia nhập của doanh nghiệp đa quốc gia tăng, dẫn đến sự chênh lệch

về tiền lương giữa các khu vực và ngành công nghiệp; (2) sự phát triển của công nghệ xảy ra từ nước ngoài tác động tới doanh nghiệp trong nước, là kết quả của những tác động lan tỏa, nhu cầu về công nhân lành nghề tăng lên ở các công ty trong nước, tiếp tục tạo thêm sự bất bình đẳng tiền lương Sự bất bình đẳng về tiền lương dẫn đến sự phân hóa trong mức sống của bản thân người công nhân, cũng như gia đình họ Những công nhân không có trình độ tay nghề có mức thu nhập thấp và đời sống gia đình họ gặp khó khăn, cản trở việc thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình như: chức năng sinh sản, chức năng giáo dục trẻ em

Behzad Azahoushang với bài viết The effects of FDI on Chinas economic development; case of Volkswagen in China (Ảnh hưởng của FDI đối với phát triển kinh tế của Trung Quốc; Trường hợp Volkswagen ở Trung Quốc)

[118] Bài viết khái quát tình hình thu hút nguồn vốn FDI vào phát triển kinh tế

- xã hội của Trung Quốc, đánh giá mức sống của công nhân tại các DN FDI, lấy điển hình nghiên cứu là doanh nghiệp ô tô Volkswagen Nghiên cứu chỉ ra

sự mất cân đối về mức sống của các GĐCN thuộc 3 nhóm: công nhân lành nghề, công nhân bán chuyên và công nhân không có tay nghề Đa phần GĐCN bán chuyên hoặc không có tay nghề đời sống rất khó khăn do thu nhập thấp, không có nhà ở ổn định, các chính sách xã hội hạn chế, không có điều kiện (thời gian và tài chính) để chăm sóc, giáo dục trẻ em Còn GĐCN lành nghề thì

Trang 19

có mức sống cao hơn, có điều kiện thực hiện tốt hơn các chức năng cơ bản của gia đình, trong đó có chức năng giáo dục trẻ em

Nguyễn Từ Phương là tác giả của bài viết Reforming labour relations in Vietnam (Cải cách quan hệ lao động ở Việt Nam) [124] Bài viết đánh giá cao

việc thành lập Ủy ban Quan hệ lao động của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, điều này phản ánh một quá trình liên tục của cải cách pháp luật và quy định giải quyết tranh chấp lao động chủ yếu dưới dạng các cuộc đình công của người lao động ở Việt Nam Bài viết cho thấy sự thay đổi tích cực trong quan

hệ lao động ở Việt Nam thời gian gần đây, nhờ sự can thiệp của Nhà nước

Qua những công trình nghiên cứu trên của các tác giả nước ngoài đã cho thấy hậu quả của sự bất bình đẳng về thu nhập, công nhân có thu nhập quá thấp, không theo kịp tốc độ tăng giá của thị trường tiêu dùng, lại không

có hỗ trợ về nhà ở, phương tiện đi lại, từ đó khiến công nhân tự triệt tiêu đi một số nhu cầu của bản thân, trong đó có cả việc kết hôn, sinh con, làm giảm hiệu quả thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình như chăm sóc, giáo dục con Nhiều trường hợp GĐCN trong các DN FDI không có điều kiện về tài chính và thời gian để đầu tư cho giáo dục con, việc giáo dục trẻ đang bị “lới lỏng”, để giải quyết được cần sự điều tiết, can thiệp của Nhà nước, cơ quan chức năng liên quan và các tổ chức chính trị xã hội

1.1.2 Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về gia đình, giáo dục của gia đình đối với trẻ em

Gia đình và giáo dục của gia đình đối với trẻ em là chủ đề được các nhà

nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm, số lượng các công trình nghiên cứu

về các chủ đề này lớn và trong điều kiện của luận án, tác giả đề cập một số công trình tiêu biểu

Nguyễn Hữu Minh với bài viết Gia đình Việt Nam sau 30 năm đổi mới

[72] Sau gần 30 năm đổi mới, cùng với những chuyển biến tích cực về kinh tế

- xã hội, đời sống gia đình Việt Nam cũng có nhiều thay đổi, đặt ra những vấn

đề mới cần quan tâm, cụ thể: công tác quản lý nhà nước về gia đình mới được

Trang 20

thực hiện chính thức và còn gặp nhiều khó khăn; đội ngũ cán bộ có kỹ năng và kinh nghiệm chuyên trách về công tác gia đình ở cấp cơ sở còn thiếu; cơ chế phối hợp triển khai thực hiện chính sách gia đình chưa đồng bộ; các nguồn dữ liệu về gia đình đến nay mới bắt đầu tập hợp và xây dựng; kinh phí cho việc triển khai thực hiện nhiều chính sách còn thiếu; mối quan hệ giới trong gia đình chưa thực sự bình đẳng; bạo lực gia đình còn nghiêm trọng trong đó nổi bật nhất là bạo lực của người chồng đối với vợ; sự bảo lưu xu hướng ưa thích con trai hơn con gái; việc thiếu vắng sự chăm sóc, giáo dục của các bậc cha mẹ đối với con cái; xu hướng già hóa dân cư đang diễn ra nhanh

Kết hợp giá trị trong xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay của Hà

Thùy Dương, Nguyễn Tiến Như [30] Kết hợp giữa truyền thống và hiện đại là một nguyên tắc trong giải quyết các công việc, trong đó có vấn đề xây dựng gia đình Tuy nhiên, những xung đột thế hệ bắt nguồn từ xung đột hệ giá trị giữa truyền thống và hiện đại thời gian qua cho thấy, cần phải có những định hướng

cụ thể để tạo ra sự hài hòa, cân bằng giữa các giá trị, từ đó thúc đẩy xây dựng gia đình hạnh phúc, văn minh Một số phương hướng kết hợp giá trị trong xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay gồm: phải hiện đại hóa các giá trị truyền thống; phải truyền thống hóa các giá trị tiên tiến, hiện đại; kết hợp giữa xây và chống, xóa bỏ những điểm tiêu cực của gia đình truyền thống gắn liền với việc tuyên truyền, hình thành các giá trị tiên tiến của gia đình

Văn hóa gia đình Việt Nam trong thời đại hiện nay là đề tài cấp Bộ do

Trần Đức Ngôn làm chủ nhiệm [74] Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiều gia đình Việt Nam hiện nay vừa giữ được những nét đẹp của gia đình truyền thống vừa tiếp thu những giá trị tiên tiến của gia đình thời đại mới Gia đình vẫn là một thiết chế không thể thay thế trong việc giáo dục con cái về lối sống, cách đối nhân xử thế, đạo làm người Cùng với những giá trị truyền thống tốt đẹp, nhiều giá trị tiến bộ cũng đã thâm nhập vào các gia đình Việt Nam Mối quan

hệ giữa các thành viên trong gia đình đã dân chủ, bình đẳng hơn, con cái được quyền tự do quyết định nhiều việc lớn liên quan đến cuộc đời mình như lựa chọn nghề nghiệp, lựa chọn bạn đời tư tưởng trọng nam khinh nữ cũng được

Trang 21

cải thiện, số người cho rằng nhất định phải có con trai đã giảm, người vợ đã có tiếng nói trong việc quyết định các vấn đề lớn của gia đình

Cuốn sách Giáo dục gia đình giúp con người thành đạt của Nguyễn Văn Huân [48] Tác giả khẳng định: Giáo dục gia đình là cơ sở tạo nên sự thành đạt

của con người Gia đình là nơi sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục nền tảng ban đầu cho mỗi cá nhân Điểm thuận lợi của giáo dục gia đình so với các hình thức giáo dục khác là giáo dục chủ yếu bằng tình yêu thương giữa các thành viên dành cho nhau, đặc biệt là của bố mẹ dành cho con cái Quá trình giáo dục trong gia đình được diễn ra thường xuyên, không có giới hạn về thời gian, không gian, đa dạng về hình thức giáo dục, tác động đến con người qua nhiều chiều cạnh và cung bậc cảm xúc, từ đó hình thành nên nhân cách của mỗi con người Với những ưu điểm đó, không một thiết chế hay tổ chức nào có thể thay thế vai trò của giáo dục gia đình đối với mỗi con người

Cách thức cha mẹ quan hệ với con và hành vi lệch chuẩn của trẻ của tác

giả Lưu Song Hà, đã chỉ ra vai trò to lớn của trẻ em đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội [35] Công trình đã đưa ra đánh giá của tác giả về hành vi lệch chuẩn của trẻ trong quan hệ ứng xử, các yếu tố tác động đến việc hình thành hành vi ở trẻ, trong đó, nhấn mạnh hành vi ứng xử của cha mẹ Cách thức cha

mẹ quan hệ với con giữ vai trò quyết định trong hình thành hành vi ở trẻ Để trẻ hình thành được hành vi chuẩn thì bản thân bố mẹ phải mẫu mực trong thực hiện hành vi

Cuốn sách Giáo dục giá trị cho trẻ em trong gia đình của Trương Thị

Khánh Hà (chủ biên) [37] Nhóm tác giả khẳng định, giáo dục giá trị cho trẻ em trong gia đình là việc làm cần thiết, giúp trẻ hoàn thiện nhân cách Hiện nay việc giáo dục giá trị cho trẻ em trong gia đình còn nhiều hạn chế như: cha mẹ vẫn còn sử dụng phương pháp giáo dục độc đoán, gia trưởng; nhiều cha mẹ còn lúng túng khi thực hiện giáo dục trẻ hay buông lỏng trách nhiệm giáo dục của gia đình… Một bộ phận cha mẹ không kiểm soát được quá trình hình thành giá trị của con cái Từ thực tế đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu

Trang 22

quả giáo dục giá trị cho trẻ em trong gia đình trên từng phương diện: xã hội, nhà trường, gia đình, cá nhân

Đề tài cấp Nhà nước: Vai trò của gia đình trong sự hình thành phát triển nhân cách con người Việt Nam của Trung tâm nghiên cứu về gia đình và

phụ nữ do Lê Thi chủ nhiệm [93] Kết quả nghiên cứu cho thấy, gia đình vừa

là nơi đáp ứng nhu cầu riêng tư vừa thực hiện chức năng phát triển nòi giống,

là trường học đầu tiên hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người.Quá trình hình thành nhân cách của mỗi người là khác nhau, ngay cả với anh em ruột trong nhà, bởi giáo dục gia đình có tính cá thể hóa rất cao.Vì vậy, các bậc cha mẹ cần nhận thức đúng trách nhiệm của mình, có phương pháp giáo dục con phù hợp từng độ tuổi và tâm lý của từng trẻ, để mang lại hiệu quả giáo dục cao nhất

Tác giả Trần Thị Minh Ngọc với bài viết Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thanh, thiếu niên đăng trên tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông

[73] Theo tác giả, số lượng trẻ vị thành niên vi phạm đạo đức và pháp luật ngày càng gia tăng, nguyên nhân chính là do gia đình đã buông lỏng công tác giáo dục và quản lý con cái Để nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ em thì việc nâng cao ý thức trách nhiệm và bổn phận của gia đình trong việc giáo dục trẻ vị thành niên giữ vai trò quan trọng

Trong bài viết Giáo dục trẻ vị thành niên trong gia đình Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Hảo, tác giả đã trình bày quan điểm về giáo dục trẻ vị

thành niên trong gia đình [41] Tâm lý của trẻ vị thành niên muốn duy trì một khoảng cách nhất định với bố mẹ và người thân, giai đoạn này trẻ không thích

bố mẹ, người thân xâm nhập vào thế giới tiêng tư và biết những điều thầm kín của chúng Trẻ thường né tránh tiếp xúc, trao đổi với bố mẹ, ưu giao lưu, tâm

sự với bạn bè Lứa tuổi này sự phát triển thể chất và tâm lý rất nhạy cảm, bởi vậy, để hình thành nhân cách tốt cho trẻ giáo dục gia đình đóng vai trò rất quan trọng, nó quyết định đến cuộc sống tương lai của trẻ Gia đình cần quan tâm đến sự thay đổi của trẻ để định hướng, điều chỉnh diễn biến tâm lý, cân nhắc những yêu cầu từ trẻ và chỉ đáp ứng những đòi hỏi chính đáng, luôn cởi mở

Trang 23

trao đổi với trẻ như một người bạn, cung cấp thông tin và hướng trẻ tự đưa ra những quyết định tích cực

Tác giả Nguyễn Hạnh với bài viết Giáo dục giới tính cho con, đăng trên Báo Nhân dân [42] Theo tác giả, qua trao đổi về vấn đề giáo dục giới tính với

nhiều gia đình Việt Nam vẫn xem đây là chủ đề “tế nhị”, ít được đề cập trong cuộc sống hàng ngày Tình trạng thiếu kiến thức về giới tính dẫn đến những hành vi sai và để lại hậu quả như nạo phá thai, nhiễm các bệnh lây lan qua đường tình dục đang có xu hướng gia tăng trong giới trẻ Vì vậy, việc bố mẹ giáo dục giới tính cho con là việc làm cần thiết, cần được thực hiện sớm, nên bắt đầu giáo dục giới tính cho trẻ em từ khi trẻ em được 3 tuổi, và chú trọng thực hiện giáo dục các nội dung liên quan đến sức khỏe sinh sản khi trẻ em ở

tư cho giáo dục trẻ Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chất lượng giáo dục tri thức cho trẻ em của phần lớn gia đình Việt Nam còn bất cập, do nhận thức của chủ thể giáo dục còn hạn chế, điều kiện kinh tế gia đình chưa đảm bảo cho các hoạt động giáo dục trẻ (kinh tế gia đình eo hẹp, thiếu thời gian ) Gia đình thực hiện “3 đủ” (đủ sách vở, đủ ăn, đủ mặc), “1 có” (gia đình có chỗ học hợp lý cho con em) là rất cần thiết, giúp nâng cao hiệu quả giáo dục tri thức cho trẻ em trong gia đình

Nghiêm Sĩ Liêm với đề tài nghiên cứu Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay, đã cung cấp cho người đọc những cái

nhìn tổng quát nhất về thực trạng giáo dục trẻ em của gia đình Việt Nam hiện nay [59] Gia đình có vai trò quan trọng, có tính chất quyết định trong việc giáo dục nền tảng ban đầu cho thế hệ trẻ Hiện nay, trong điều kiện phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước khởi sắc, đời sống vật chất và tinh thần các gia đình được

Trang 24

nâng cao, việc giáo dục trẻ em có nhiều thuận lợi Nhiều gia đình đã nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, sắn sàng đầu tư vật chất, tinh thân, thời gian cho giáo dục con cái Bên cạnh đó, giáo dục gia đình cũng có những biến chuyển tiêu cực do tác động xấu bởi môi trường xã hội, mặt trái của kinh tế thị trường và quá trình, mở cửa, hội nhập

Các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định chức năng giáo dục trẻ

em của gia đình là vấn đề mà nhân loại luôn quan tâm và để chống suy thoái đạo đức thì giáo dục trẻ em là việc làm cần thiết trong mọi thời đại Xã hội chỉ phát triển tốt khi công tác giáo dục trẻ em được thực hiện tốt Ngoài ra, các công trình trên còn đưa ra những đánh giá về thực trạng giáo dục trẻ em của gia đình trên nhiều phương diện, đồng thời, có đề xuất những giải pháp cụ thể cho vấn đề nghiên cứu

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về GĐCN và giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI

Gia đình công nhân là loại hình gia đình đang có xu hướng ngày càng

gia tăng nhanh do quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu sâu về GĐCN Việt Nam chưa có, mà chủ yếu là những nghiên cứu

về một vấn đề cụ thể, có liên quan đến GĐCN như: đời sống công nhân, vấn đề chăm sóc con của nữ công nhân, vấn đề lợi ích kinh tế của công nhân khi làm việc trong các doanh nghiệp, Các công trình nghiên cứu là đề tài khoa học, luận án, sách còn hạn chế, hầu hết là những bài viết đưa tin tức với hình thức là bài báo

Đề tài Các giải pháp nâng cao chất lượng đời sống hôn nhân, gia đình của công nhân tại các khu công nghiệp hiện nay của Ban Nữ công, Tổng Liên

đoàn Lao động Việt Nam [5] Trên cơ sở khảo sát và đánh giá thực trạng đời sống hôn nhân, gia đình của công nhân tại các KCN trên phạm vi 9 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hòa, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Cần Thơ), nhóm tác giả đã đưa ra một số đánh giá như: Thứ nhất, đa số công nhân Việt Nam gặp khó khăn trong tìm kiến bạn đời; Thứ

2, đa số công nhân Việt Nam, nhất là công nhân trong các DN FDI phải tăng ca

Trang 25

thường xuyên, vượt mức quy định của Luật Lao động; Thứ 3, đa phần công nhân có thu nhập thấp nên đời sống vật chất và tinh thần rất khó khăn; Thứ 4, GĐCN không có đủ điều kiện để chăm sóc, giáo dục con cái nên nhiều trường hợp trẻ phải gửi về quê sống cùng ông bà, người thân

Trần Thu Phương với đề tài: Nhà trẻ mẫu giáo cho con công nhân lao động tại các KCN hiện nay [4] Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù nhà trẻ

mẫu giáo cho con công nhân lao động tại các KCN đã được các tỉnh, thành phố

có KCN đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện thu hút các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia đầu tư, phát triển nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu gửi trẻ ngày một tăng nhanh Công nhân chủ yếu phải gửi con ở các nhà trẻ tư hoặc nhóm trẻ, cơ sở mầm non tư thục, nơi điều kiện và không gian hạn chế, người trông trẻ ít được đào tạo bài bản dẫn đến hạn chế về kiến thức và kĩ năng, hậu quả một số trẻ em bị bạo hành, ăn uống không đảm bảo dưỡng chất Nhiều công nhân không yên tâm gửi con ở các nhà trẻ tư nhân, đã phải gửi con về quê nhờ người thân chăm sóc, làm cách xa tình mẫu tử và ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ

Lê Thị Thanh Hà với bài viết Giải pháp giải quyết những vấn đề bức xúc, cấp bách của công nhân lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện nay [38] Theo tác giả, đời sống vật chất, tinh thần (về nhà ở tại các KCN,

khu chế xuất (KCX); tiền lương và thu nhập; bảo hiểm xã hội (BHXH); trường học cho trẻ em; y tế; nơi sinh hoạt văn hóa, ) của công nhân lao động trong các KCN, KCX hiện nay chưa tương xứng với những thành quả của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và những đóng góp của giai cấp công nhân Đây

là những vấn đề bức xúc cấp bách của giai cấp công nhân, cần được Đảng, nhà nước, doanh nghiệp quan tâm, có hướng giải quyết kịp thời

Bảo vệ quyền lợi cho công nhân Việt Nam trong các DN FDI của

Nguyễn Tuấn Vũ, đăng trên báo Sài Gòn [107] Hầu hết các DN FDI chưa thật

sự quan tâm đến quyền lợi của công nhân lao động Các DN FDI thường trả lương cho người lao động gần bằng mức lương tối thiểu, có thêm các khoản tiền hỗ trợ nhưng sẵn sàng cắt giảm khi tình hình kinh doanh khó khăn Một số

Trang 26

doanh nghiệp trốn hoặc nợ đọng bảo hiểm của công nhân Rất ít doanh nghiệp

có chính sách hỗ trợ cho công nhân về nhà ở, phương tiện đi làm Tại một số

DN FDI, công nhân bị buộc phải tăng ca vượt mức quy định của Luật Lao động Do vậy, công nhân và gia đình họ gặp nhiều khó khăn trong tổ chức đời sống gia đình, cũng như chăm sóc và giáo dục con cái Để bảo vệ quyền lợi cho công nhân trong các DN FDI, công đoàn cơ sở phải phát huy tốt vai trò của mình trong thương lượng và kí thỏa ước lao động tập thể

Quỳnh Anh: Không để gia đình công nhân không có tết [1] cho thấy

đời sống của GĐCN tại các KCN, KCX hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn, nhiều gia đình không có khả năng lo được một cái tết đầy đủ, không thể

về quê xum vầy cùng người thân Một số chính quyền địa phương, các cấp Công đoàn và doanh nghiệp đã hỗ trợ GĐCN đón tết, như: tặng quà cho GĐCN khó khăn, tặng vé xe cho công nhân về quê ăn tết…Sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền địa phương, các cấp Công đoàn và doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng, hỗ trợ GĐCN khắc phục những khó khăn do thu nhập thấp,

để họ có được “tết sum họp”

Nhà báo Đỗ Đông đã phản ánh khó khăn của người công nhân khi không

được đáp ứng nhu cầu về nhà ở trong bài viết Mới chỉ có khoảng 20% công nhân được đáp ứng nhu cầu về nhà ở giá rẻ đăng trên Tạp chí Mặt trận [33]

Theo ước tính, hiện nay Việt Nam có khoảng gần 2 triệu công nhân đang làm việc sinh sống tại gần 200 KCN trên cả nước, nên nhu cầu nhà ở cho công nhân đang rất lớn Đối với những công nhân mới đi làm, thì không có khả năng thanh toán cũng như việc tiếp cận nhà ở thương mại Hiện nay nhà ở của công nhân ở nhiều nơi mang tính tự phát 80% công nhân ở khu nhà trọ do người dân

tự xây dựng để cho thuê Về cơ bản, những ngôi nhà này không có hạ tầng, đường xá thô sơ, hệ thống cấp thoát nước, điện không đảm bảo; bên cạnh đó có những vấn đề như y tế, thương mại, giáo dục, khu vui chơi… lại càng thiếu thốn Cho nên, công nhân nhiều nơi đang sống trong điều kiện không đảm bảo

cả về môi trường sinh hoạt vật chất và tinh thần, cho đến điều kiện chăm sóc và giáo dục con cái…

Trang 27

Nguyễn Thị Thi với bài viết Công nhân trong các DN FDI không có ngày nghỉ cố định [95] Đa phần công nhân trong các DN FDI phải thường

xuyên tăng ca vượt quá mức quy định của Luật Lao động, khiến họ không có ngày nghỉ cố định Khi không có ngày nghỉ cố định, họ không thể chủ động trong sắp xếp công việc gia đình Thời gian chăm sóc và giáo dục con cái bị hạn chế Làm việc nhiều, không có ngày nghỉ cố định, công nhân dễ nảy sinh tâm lý chán nản, bức xúc, dẫn đến khiếu nại và tranh chấp lao động tại các doanh nghiệp

Tác giả Nguyễn Thị Minh Loan với bài viết Một số giải pháp bảo vệ lợi ích kinh tế của người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội [64] Bài viết phân tích

tình hình vi phạm Luật lao động đang diễn ra phổ biến tại các DN FDI Nhiều doanh nghiệp nợ đọng BHXH, không kí thỏa ước lao động tập thể và thực hiện

an toàn lao động cho công nhân, tiền lương chỉ sấp sỉ bằng so với mức quy định của nhà nước, sa thải công nhân tự do Công nhân trong các doanh nghiệp này gặp khó khăn và không thể ổn định cuộc sống và kéo theo những hệ lụy

khác, trong đó có vấn đề tệ nạn xã hội và giáo dục con cái bị buông lỏng

Những khó khăn của nữ công nhân trong các DN FDI khi hướng dẫn con học tập của Hồng Vân [106] đã khảo sát thực tiễn các gia đình công nhân

tại các KCN ở Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên, nhận định các nữ công nhân trong các DN FDI hiện nay đang gặp nhiều khó khăn trong hướng dẫn con học ở nhà Đa số nữ công nhân được hỏi cho rằng bản thân thiếu kiến thức, kinh nghiệm và thời gian giáo dục con cái Để khắc phục những khó khăn trên, các nữ công nhân cần phải nâng cao trình độ học vấn và hiểu biết để không bị lỗi thời, lạc hậu, sắp xếp công việc hợp lý dành thời gian cho hướng dẫn con học ở nhà

Thứ ba, các công trình nghiên cứu về GĐCN và giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH

Cho đến nay, nghiên cứu trực tiếp về GĐCN, nhất là giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH hầu như chưa có hoặc có chỉ bàn một vài nội dung nhỏ ở phạm vi một tỉnh hoặc một số tỉnh ở vùng ĐBSH như:

Trang 28

Lê Hoa với bài viết: Hà Nội: Biểu dương 68 gia đình công nhân, lao động tiêu biểu năm 2016 [51] Đây là một hoạt động có tính thiết thực cao, thể

hiện sự quan tâm của chính quyền thành phố Hà Nội đối với những GĐCN tích cực lao động sản xuất, xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc Đồng thời hoạt động này cũng giúp nâng cao nhận thức về trách nhiệm thực hiện “Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam”; khuyến khích việc đầu tư, chăm lo học tập cho con công nhân, tạo động lực cho công nhân hăng say sản xuất, công tác, xây dựng gia đình và nuôi dạy con của địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức chính trị - xã hội có liên quan

Bài viết Tổng liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Giang trao tặng quà cho con GĐCN có hoàn cảnh khó khăn dịp năm học mới của Nguyễn Thị Huyền [52],

cho thấy Tổng liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Giang rất quan tâm đến vấn đề đời sống của GĐCN nói chung và vấn đề giáo dục trẻ em của GĐCN nói riêng Tổng liên đoàn Lao động tỉnh đã trao tặng trực tiếp 150 chiếc cặp sách, cặp phao cho con công nhân làm việc tại các DN trên địa bàn các KCN tỉnh Đồng thời, mỗi cháu được tặng một suất quà trị giá từ 300 đến 500 nghìn đồng Toàn

bộ kinh phí trao quà giá trị hơn 270 triệu đồng do Quỹ Bảo trợ trẻ em Công đoàn Việt Nam vận động các đơn vị: Ngân hàng cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam; chi nhánh ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Bắc giang; công ty Bảo Việt Bắc Giang và Hội khuyến học tỉnh ủng hộ Qua đó cho thấy, các tổ chức xã hội ở tỉnh Bắc giang bước đầu đã quan tâm và có những hoạt động thiết thực nhằm hỗ trợ GĐCN, tạo điều kiện tốt cho con công nhân được học tập đầy đủ

Bài viết Gia đình công nhân nuôi 2 con chỉ còn 400.000 đồng/tháng tiền tích lũy (Nghiên cứu tại các KCN trên địa bàn Hà Nội) của Nguyễn Tuyền

đăng trên Báo Dân trí [100] Bài viết đưa ra kết quả khảo sát của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam với 816 hộ gia đình 4 người, có 2 vợ chồng là công nhân và 2 người ăn theo Trung bình gia đình này chi tiêu hết 9 triệu đồng/tháng, trong khi đó thu nhập bình quân của người lao động nhóm này là 4,7 triệu đồng/tháng Như vậy, số tiền tích lũy của gia đình chỉ còn khoảng

Trang 29

400.000 đồng/tháng Chi phí cho trẻ em đi học Trung học cơ sở và trung học phổ thông ở Hà Nội rất cao (học phí: 80 nghìn đồng/tháng; quản lý bán trú:150 nghìn đồng/tháng; ăn trưa: 26 bữa x 26.000 đồng; học bán trú buổi chiều: 40.000 đồng x 26 buổi; quỹ lớp, hội phụ huynh 100 nghìn đồng/tháng), ít nhất

2 triệu đồng/tháng Hầu hết các khoản thu nhập của vợ chồng công nhân phải trang trải cho cuộc sống hàng ngày, chủ yếu là phục vụ đời sống vật chất, mà chưa có điều kiện chăm lo về đời sống tinh thần và tạo điều kiện học tập tốt nhất cho con cái Nếu không có các khoản làm thêm ngoài giờ, hỗ trợ từ gia đình gốc, các cơ quan tổ chức thì đời sống GĐCN gặp nhiều khó khăn, không thể tích lũy và tạo điều kiện học tập tốt cho con

Khánh An với bài viết Công ty TNHH Regrina Mircle International Việt Nam động viên GĐCN gặp khó khăn [2] Nội dung bài viết cho thấy, công ty

TNHH Regrina Mircle International Việt Nam là một trong những DN FDI điển hình ở Hải Phòng quan tâm đến đời sống của GĐCN, đặc biệt là những GĐCN có hoàn cảnh khó khăn bằng những việc làm cụ thể ý nghĩa Trong 6 tháng đầu năm 2018, công ty này đã trao 12 phần quà trị giá từ 5 đến 10 triệu đồng cho các GĐCN có hoàn cảnh đặc biệt (GĐCN có con bị dị tật bẩn sinh; công nhân bị mắc bệnh hiểm nghèo; hỗ trợ gia đình của công nhân bị mất do tai nạn giao thông )

Nguyễn Mạnh Thắng với đề tài luận án Sự gắn kết trong gia đình công nhân khu công nghiệp hiện nay (nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Bắc Thăng Long Hà Nội) [91] Tác giả đã đánh giá về sự liên kết trong GĐCN

KCN Bắc Thăng Long Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự gắn kết trong GĐCN tại KCN thiếu bền chặt và biến đổi về các chức năng gia đình Sự gắn kết giữa bố mẹ với con cái thông qua giáo dục cũng còn nhiều hạn chế Đa số

bố mẹ thiếu thời gian dành cho việc giáo dục con, một bộ phận lớn trẻ được gửi

về quê nhờ ông bà chăm sóc, giáo dục và phương tiện chính giúp bố mẹ quan tâm, giáo dục trẻ khi ở xa là qua các phương tiện truyền thông

Nỗi niềm của nữ công nhân các khu công nghiệp Hà Nội: làm gì để nuôi dạy con của Nguyễn Minh Tuyết [101] Bài viết đã chỉ ra những khó khăn, lo

Trang 30

lắng của nữ công nhân các KCN Hà Nội về vấn đề chăm sóc, giáo dục con cái Nhiều nữ công nhân tham gia phỏng vấn cho biết bản thân rất lo lắng về tương lai của con cái Vì chi phí sinh hoạt và các loại chi phí cho dịch vụ chăm sóc, giáo dục trẻ ở Hà Nội quá cao, trong khi thu nhập quá thấp nên họ không có khả năng chi trả chi phí sinh hoạt và dịch vụ chăm sóc, giáo dục trẻ em Rất nhiều trường hợp phải gửi con về quê nhờ ông bà chăm sóc, giáo dục Họ lo lắng ông bà đã lớn tuổi, việc chăm sóc, giáo dục cháu không quán xuyến được Một số khác bố mẹ có con ở cùng lại lo lắng bản thân không có thời gian ở bên cạnh con để thường xuyên quan tâm, chăm sóc giáo dục, hơn nữa kiến thức của bản thân không có, khó có thể dạy kèm con tại nhà

1.2 ĐÁNH GIÁ CHUNG CÁC CÔNG TRÌNH TỔNG QUAN, NHỮNG VẤN

ĐỀ ĐẶT RA LUẬN ÁN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Đánh giá chung các công trình tổng quan

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về gia đình, giáo dục của gia đình đối với trẻ em

(1) Gia đình có vai trò quan trọng trong giáo dục trẻ em, đặt cơ sở quyết định cho sự hình thành nền tảng nhân cách ở độ tuổi niên thiếu, thúc đẩy sự phát triển, hoàn thiện ở tuổi thanh niên, củng cố, giữ gìn nhân cách ở tuổi trưởng thành và khi về già Vì thế, giáo dục gia đình cho trẻ em có vai trò vô cùng quan trọng với việc phát triển nguồn nhân lực xã hội, giáo dục gia đình cho trẻ em là việc làm mang tính chất thường xuyên, lâu dài và có hệ thống chặt chẽ

(2) Việc giáo dục trẻ em trong các gia đình hiện được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có những phương pháp giáo dục trẻ em chưa phù hợp và ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả giáo dục trẻ em như: Phương pháp giáo dục độc đoán, gia trưởng, chủ thể giáo dục chưa “gương mẫu” Hiệu quả giáo dục trẻ em trong gia đình chỉ đạt được khi các chủ thể giáo dục, nhất là bố mẹ nâng cao ý thức trách nhiệm và bổn phận của gia đình

(3) Nội dung giáo dục cho trẻ em trong các gia đình rất phong phú (giáo

dục tri thức, giáo dục đạo đức, giáo dục giới tính…), để đảm bảo hiệu quả giáo

Trang 31

dục gia đình cần tiến hành giáo dục thường xuyên, chọn lọc nội dung gắn liền với phương pháp giáo dục phù hợp và sự phát triển tâm sinh lý của trẻ ở từng

độ tuổi

(4) Vấn đề giáo dục tri thức cho trẻ em trong các gia đình Việt Nam hiện nay còn tồn tại nhiều hạn chế do cả nguyên nhân khách quan (chương trình giáo dục còn nặng nề) và chủ quan (thiếu điều kiện vật chất, mức đầu tư và hỗ trợ trẻ học tập chưa phù hợp ) Vì vậy, để nâng cao hiệu quả giáo dục tri thức cho trẻ em thì việc khắc phục những nguyên nhân trên rất cần thiết

(5) Giáo dục trẻ em là một việc làm thường xuyên, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan đến các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội

Vì thế, việc giáo dục trẻ em đòi hỏi sự chung tay, kết hợp chặt chẽ của nhiều lực lượng xã hội, đặc biệt là sự phối hợp của gia đình - nhà trường - xã hội

(6) Hiện nay vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ em đã được các gia đình ngày càng quan tâm và chú ý đầu tư giáo dục Đây là việc làm cần thiết, cần được tiến hành sớm và đặc biệt quan tâm ở độ tuổi vị thành niên.Tuy nhiên, việc thực hiện giáo dục giới tính cho trẻ em trong các gia đình vẫn còn nhiều hạn chế do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan Đồng thời một số bài viết đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính cho trẻ em, tập trung vào các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức, trang bị thêm kiến thức về giới tính cho các chủ thể giáo dục mà chưa chú ý đúng mức tới đối tượng được giáo dục là trẻ em

(7) Vấn đề trẻ em hư, không nghe lời của bố mẹ và người thân trong gia đình được các nhà nghiên cứu quan tâm Đa số các nghiên cứu đều chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hành vi đó ở trẻ do trẻ đang ở độ tuổi có sự thay đổi thường xuyên về mặt tâm sinh lý và trẻ thiếu sự quan tâm đúng mức của bố mẹ hoặc bố mẹ dùng sai phương pháp giáo dục trẻ như thường xuyên la mắng, áp đặt trẻ Để khắc phục tình trạng trên bố mẹ cần nêu cao trách nhiệm, đầu tư thời gian quan tâm giáo dục con cái, học hỏi những phương pháp giáo dục tiến

bộ, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của trẻ

Trang 32

(8) Các công trình tổng quan cũng đã chỉ ra hiện nay bên cạnh những thành tựu đã đạt được, vấn đề giáo dục trẻ em trong gia đình còn nhiều hạn chế

do những nguyên nhân khách quan (mặt trái của cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế ) và chủ quan (gia đình buông lỏng quản lý, thiếu hiểu biết về nội dung, phương pháp giáo dục, ); số lượng trẻ em sa ngã vào tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật ngày càng có xu hướng gia tăng Các công trình đã đề xuất giải pháp nhằm phát huy vai trò của gia đình trong giáo dục trẻ em

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về gia đình công nhân và giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI

(1) Do hậu quả của việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang phát triển các KCN, những người trẻ tuổi ở nông thôn di cư đến các KCN, KCX để tìm kiếm việc làm, họ lập gia đình và sống tập trung tại các KCN, KCX, do vậy ít nhận được hỗ trợ từ gia đình gốc Đồng thời, do mới thoát ly từ nông nghiệp, bản thân họ không có trình độ chuyên môn nên không xin được việc, hoặc công việc không ổn định, thu nhập thấp, không được doanh nghiệp đóng BHXH, nguy cơ thất nghiệp và bần cùng hóa cao Điều đó dẫn tới đời sống của những

GĐCN này gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn

(2) Quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế đã giúp Việt Nam thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài và số lượng DN FDI ngày càng tăng lên DN FDI đã có đóng góp không nhỏ trong sự phát triển của kinh tế đất nước Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, các DN FDI bộc lộ nhiều vấn đề nổi cộm liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân đang bị xâm hại (trả lương thấp, tăng ca vượt quá mức quy định của Luật Lao động,…) và những cuộc đình công đã diễn ra Theo đó, đa phần đời sống của các GĐCN trong các DN FDI đang gặp nhiều khó khăn, thiếu những điều kiện cần thiết để chăm sóc, giáo dục con cái

(3) Các công trình nghiên cứu đã phản ánh sự chênh lệch về thu nhập của công nhân đã qua đào tạo và công nhân chưa qua đào tạo Đối với các DN FDI, quá trình sản xuất của họ đòi hỏi người lao động phải bộc lộ hết khả năng làm việc của bản thân, do đó, nhìn chung những người lao động đã qua đào tạo

Trang 33

sẽ có năng suất lao động cao hơn, đem lại doanh thu sản phẩm biên lớn hơn cho doanh nghiệp Vì thế, đối với lao động có trình độ cao, phải đào tạo tốn kém, DN FDI sẵn sàng trả mức lương cao hơn ở từng mức lao động đã sử dụng Từ chênh lệch về mức thu nhập của công nhân đã qua đào tạo và công nhân chưa qua đào tạo, dẫn đến mức sống của GĐCN trong các DN FDI này cũng có sự phân hóa Những GĐCN đã qua đào tạo có mức sống, cũng như điều kiện về tài chính để đầu tư cho các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ tốt hơn những GĐCN chưa qua đào tạo

(4) Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu

trong sinh hoạt của GĐCN trong các DN FDI, cũng như chăm sóc và giáo dục con cái như: nhà ở, nhà trẻ, khu vui chơi công cộng…còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế Đa số các GĐCN phải gửi con ở những cơ sở trông trẻ tư nhân với điều kiện vệ sinh và chăm sóc trẻ không đảm bảo, một số gia đình gửi con về quê nhờ người thân chăm sóc, số khác thì nghỉ làm ở nhà chăm sóc con

(5) Với tính chất công việc của người công nhân là làm việc theo ca và thường xuyên tăng ca nên nhiều GĐCN gặp khó khăn trong bố trí thời gian để chăm sóc và giáo dục con

(6) Đa số GĐCN hiện nay có thu nhập thấp, phần lớn dùng để chi trả cho các yêu cầu cơ bản của đời sống vật chất, ít có tích lũy Gia đình công nhân rất hạn chế tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí cũng như đầu tư tài chính cho con cái có điều kiện vật chất phục vụ tốt việc học tập

Thứ ba, các công trình nghiên cứu về GĐCN và giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH

(1) Một số địa phương và DN FDI đã quan tâm, chăm lo đời sống của GĐCN, cũng như tạo điều kiện cho trẻ em trong GĐCN có điều kiện học tập tốt hơn Tuy nhiên, những hoạt động cụ thể của các địa phương và DN FDI chủ yếu tập trung vào những hoàn cảnh đặc biệt, điển hình khó khăn chứ chưa hỗ trợ được toàn bộ các GĐCN Các hoạt động này mới chỉ mang tính chất bề nổi, chưa có chiều sâu trong nâng cao chất lượng đời sống GĐCN, cũng như tạo điều kiện cho trẻ em trong các gia đình đó được học tập tốt hơn

Trang 34

(2) Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng mức chi phí đời sống sinh hoạt, chăm sóc và giáo dục trẻ em cao, trong khi thu nhập của GĐCN thấp Nhiều GĐCN nhất là GĐCN là người nhập cư, đang tạm trú trên địa bàn không có khả năng tài chính để chi trả Do vậy, họ thường phải chọn cho con những dịch vụ có chi phí thấp, chất lượng không đảm bảo hoặc gửi trẻ về quê nhờ ông bà, người thân chăm sóc

(3) Hiện nay sự gắn kết giữa các thành viên trong GĐCN (vợ - chồng, bố

mẹ - con cái) khá “lỏng lẻo” do thời gian làm việc nhiều, lao động vất vả, cự nhọc, và chưa thỏa mãn về thu nhập, nhà ở, nhà trẻ, mẫu giáo cho trẻ em Tình trạng bố mẹ phải sống xa con cái hoặc phó mặc việc chăm sóc, giáo dục con cái cho ông bà, thầy cô giáo khá phổ biến

(4) Vấn đề chăm sóc, giáo dục trẻ em trong các GĐCN hiện nay đang thiếu hụt những kiến thức khá trầm trọng, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm từ người thân, bạn bè Tình trạng trẻ em trong các GĐCN thiếu sự quan tâm từ gia đình, bị xúc phạm, xâm hại, trừng phạt, bạo lực hiện vẫn ở mức cao

Bên cạnh đó, cũng còn một số vấn đề mà các công trình trên chưa đề cập nghiên cứu: Đặc điểm của GĐCN và xu hướng phát triển; Vấn đề CNH, HĐH đang tác động như thế nào đến GĐCN trong việc thực hiện các chức năng, đặc biệt là chức năng giáo dục trẻ em; Những thành tựu và hạn chế trong thực hiện hiện chức năng giáo dục trẻ em của GĐCN hiện nay, nhất là trong các DN FDI

Đây chính là khoảng trống, gợi ra những hướng nghiên cứu cho tác giả luận án

1.2.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu

Xem xét tổng thể các đề tài khoa học các cấp, sách, báo, tạp chí nghiên cứu thấy rằng: gia đình và giáo dục của gia đình đối với trẻ em đã được các tác giả đề cập ở nhiều góc độ, nhiều cách tiếp cận như: triết học, giáo dục học, xã hội học, đạo đức học, văn học Nhiều tác giả đã phân tích ở từng khía cạnh của giáo dục trẻ em trong gia đình Tuy nhiên, những vấn đề về giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vẫn còn là một khoảng trống cần được quan tâm

bổ sung nghiên cứu Cụ thể:

Trang 35

Cần nghiên cứu và làm rõ đặc điểm của GĐCN trong các DN FDI so với các loại hình gia đình khác (gia đình nông dân, gia đình trí thức ), cũng như vị trí, vai trò của GĐCN trong các DN FDI thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH, và xu

hướng vận động của loại hình gia đình này

Nghiên cứu thực trạng giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI, những vấn đề đặt ra.Từ đó đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu

quả giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu về gia đình, trẻ em và giáo dục trẻ em của gia đình, những vấn đề đặt ra ở trên đã giúp tác giả định hướng nghiên cứu

và xác định những nội dung trọng tâm cần nghiên cứu của luận án Đó là:

Thứ nhất, luận án nghiên cứu một số vấn đề lý luận và những yếu tố tác

động đến giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH Trong đó phân tích, làm rõ quan niệm về gia đình, GĐCN, đặc điểm của GĐCN trong các DN FDI; trẻ em, đặc điểm trẻ em trong GĐCN các DN FDI; nội dung, phương pháp, chủ thể giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI; những yếu tố ảnh hưởng đến chức năng giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH

Thứ hai, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của các công trình có liên

quan đã được công bố, kết hợp việc khảo sát thực tiễn các GĐCN trong các DN FDI, việc giáo dục trẻ em của các gia đình này tại 4 tỉnh điển hình khu vực ĐBSH, đề tài tiến hành phân tích, đánh giá làm sáng tỏ thực trạng giáo dục trẻ

em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH Từ đó, tác giả chỉ ra nguyên nhân của thực trạng và những vấn đề đặt ra

Thứ ba, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu và các kiến nghị

nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH Các giải pháp luận án đề xuất nhằm khắc phục những hạn chế và phát huy những mặt tích cực trong việc giáo dục trẻ em của GĐCN về nội dung, phương pháp, chủ thể giáo dục Đồng thời, luận án đề xuất các kiến nghị đối với các cấp, các ngành, các tổ chức có tác động trực tiếp đến việc thực hiện

Trang 36

chức năng giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI như: Đảng, nhà nước, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, các sở, ban, ngành, doanh nghiệp của các tỉnh vùng ĐBSH

Kết luận chương 1

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài ở các nội dung: gia đình, giáo dục trẻ em của gia đình; GĐCN và giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI Các công trình tổng quan đã cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn về trẻ em, gia đình, giáo dục trẻ em trong gia đình ở nhiều góc độ khác nhau, đồng thời xác định những nội dung mới cần bổ sung nghiên cứu, cụ thể: Làm rõ đặc điểm của GĐCN trong các DN FDI so với các loại hình gia đình khác (gia đình nông dân, gia đình trí thức ), cũng như vị trí, vai trò của GĐCN trong các DN FDI thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH, và xu hướng vận động của loại hình gia đình này; Nghiên cứu thực trạng giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI, những vấn đề đặt ra Đồng thời, luận án cũng xác định có 3 nội dung nghiên cứu trọng tâm: Thứ nhất, nghiên cứu một số vấn đề lý luận và những yếu tố tác động đến giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH Thứ hai, tiến hành phân tích, đánh giá làm sáng tỏ thực trạng giáo dục trẻ em của GĐCN trong các

DN FDI vùng ĐBSH Thứ ba, đề xuất một số giải pháp chủ yếu và các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ em của GĐCN trong các DN FDI vùng ĐBSH

Trang 37

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG

ĐẾN GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA GIA ĐÌNH CÔNG NHÂN

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA GIA ĐÌNH CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

2.1.1 Gia đình công nhân và giáo dục trẻ em của gia đình công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

2.1.1.1 Quan niệm về gia đình công nhân và đặc điểm của gia đình công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Gia đình là tổ chức xã hội đầu tiên đối với đời sống của mỗi cá nhân, là

tế bào hợp thành đời sống xã hội Không có gia đình để tái sản xuất ra bản thân con người, ra sức lao động thì xã hội không thể tồn tại và phát triển

Theo C.Mác “hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra những người khác sinh sôi, nảy nở - Đó là quan hệ giữa chồng

và vợ, cha mẹ con cái Đó là gia đình” [15, tr.60] Đồng thời, “Gia đình là sản vật của một chế độ xã hội nhất định, hình thức đó sẽ phản ánh trạng thái phát triển của chế độ xã hội đó” [15, tr.98] Các hình thức gia đình trong lịch sử luôn gắn với phương thức sản xuất và chế độ xã hội nhất định Sự vận động và biến đổi của gia đình phụ thuộc vào sự vận động và biến đổi của xã hội

Ở nước ta, có nhiều cách tiếp cận về khái niệm gia đình, tựu chung lại gia đình được hiểu là: một trong những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa - xã hội đặc thù được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên [8, tr.246]

Trên cơ sở các cách tiếp cận trên, tác giả quan niệm: Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt được hình thành và phát triển trên cơ sở

Trang 38

các mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng, đồng thời có sự gắn kết

về kinh tế - vật chất, qua đó nảy sinh những nghĩa vụ và quyền lợi giữa các thành viên

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và tác động của quá trình CNH, HĐH, gia đình Việt Nam đã có sự biến đổi nhanh chóng về mọi mặt như: quy

mô, cơ cấu và loại hình gia đình Số lượng công nhân Việt Nam có xu hướng tăng nhanh theo quy mô nền kinh tế Hiện nay, cả nước có tới 316 KCN và 16 khu kinh tế đã được thành lập, thu hút khoảng 2,8 triệu lao động [138] Trong quá trình làm việc và sinh sống, một bộ phận công nhân đã gặp gỡ nhau và kết hôn, bổ sung làm gia tăng loại hình GĐCN Vì vậy, cùng với công nhân,

số lượng GĐCN cũng gia tăng rất nhanh và thường sống tập trung tại các KCN, KCX

Đứng trên khía cạnh xã hội học, tác giả Nguyễn Mạnh Thắng đã quan niệm: GĐCN là một nhóm xã hội có hai người trở lên, được gắn kết với nhau

do hôn nhân, huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc giữa vợ chồng, cha

mẹ và con cái, vợ chồng với ông bà sống chung cùng nhau hoặc không sống cùng nhau [91, tr.43]

Theo chúng tôi, gia đình công nhân là một loại hình của gia đình Việt

Nam hiện nay, trong đó cả hai vợ chồng đều là công nhân Phương thức lao động của gia đình gắn liền với lao động công nghiệp và máy móc, đại diện cho phương thức sản xuất hiện đại, sản phẩm tạo ra chủ yếu là sản phẩm vật chất Thu nhập và mức sống của gia đình phần lớn phụ thuộc vào việc làm và tiền lương do doanh nghiệp chi trả

Trong luận án do điều kiện về thời gian, tác giả chỉ nghiên cứu giáo dục trẻ em của GĐCN ở loại hình GĐCN gồm cả hai vợ chồng là công nhân, đang sinh sống tại các KCN vùng ĐBSH

Gia đình công nhân mang đầy đủ những đặc điểm và chức năng của gia đình nói chung Đồng thời, đây là loại hình gia đình đang chịu những tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Gia đình công nhân có những đặc điểm cơ bản:

Trang 39

Quy mô của GĐCN thường nhỏ, đa số là gia đình hạt nhân, chỉ có hai thế hệ cha mẹ - con và mỗi GĐCN thường có từ một đến hai con Do điều kiện khó khăn về kinh tế, nhà ở, điều kiện chăm sóc, quy định của luật pháp, số GĐCN có từ 3 con trở lên không nhiều

Gia đình công nhân được hình thành từ sự kết hôn giữa nam và nữ công nhân đang làm việc tại các KCN hoặc KCX, sau khi kết hôn, họ thường rất ít sống cùng cha mẹ, hai bên nội ngoại, chủ yếu sống gần nơi làm việc trong các khu tập thể, xóm trọ gần các KCN, KCX Điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần của GĐCN còn nhiều khó khăn

Điều kiện chăm sóc gia đình và giáo dục con cái của GĐCN có những đặc thù riêng Mối quan hệ giao tiếp, sự quan tâm chia sẻ giữa cha mẹ với con cái rất hạn chế; những sinh hoạt chung của gia đình không được thực hiện thường xuyên; nhiều GĐCN con cái phải sống xa bố mẹ, nhất là các GĐCN có

bố mẹ không phải người địa phương

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư

nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại [82, tr.9] Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm: Các doanh nghiệp

có thể 100% vốn nước ngoài, hoặc có thể liên kết, liên doanh với doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp tư nhân của nước ta (theo tỷ lệ vốn nhất định được quy định trong Luật Doanh nghiệp) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta, bởi thông qua hình thức này, nhà nước có thể tranh thủ được các nguồn lực lớn từ bên ngoài về vốn, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, tạo việc làm, phát triển giai cấp công nhân và tăng nhanh nền kinh tế quốc dân Từ khi mở cửa, hội nhập loại hình DN FDI đã xuất hiện ở nước ta và ngày nay có xu

hướng gia tăng Đây cũng chính là cơ sở ra đời, phát triển loại hình GĐCN trong các DN FDI ở nhiều vùng trên cả nước

Do đặc điểm hình thành, tính chất lao động, GĐCN trong các DN FDI

ngoài các đặc điểm của GĐCN nói chung, còn có một số đặc điểm riêng sau:

Trang 40

Địa bàn và hình thức cư trú của hầu hết GĐCN trong các DN FDI đều còn hạn chế về điều kiện sinh hoạt, an ninh, trật tự, an sinh xã hội Đa số

GĐCN trong các DN FDI cư trú tập trung tại các KCN, KCX Họ không có chỗ ở ổn định, do không được doanh nghiệp hỗ trợ nhà ở, phải thuê nhà trọ, chỗ ở tạm bợ của tư nhân trong điều kiện chật hẹp, vệ sinh môi trường không đảm bảo ảnh hưởng đến sức khoẻ, đời sống, tái sản xuất sức lao động và đối mặt với nhiều nguy cơ như tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội không đảm bảo dễ nảy sinh tệ nạn xã hội; thiếu chỗ vui chơi, giải trí… [17, tr.5] Hầu hết công nhân chỉ “tạm trú” nên gặp khó khăn khi tham gia các chính sách an sinh

xã hội (nhiều trẻ em không được tiêm chủng miễn phí, không được học trường công lập ) và các hoạt động văn hóa của địa phương Đây cũng là khó khăn không nhỏ để GĐCN trong các DN FDI ổn định đời sống, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Phần lớn GĐCN trong các DN FDI có mức sống thấp, thiếu ổn định

Theo viện Khoa học Lao động và Xã hội, hiện nay có ba tiêu chí đánh giá về mức sống của một cá nhân hoặc một gia đình là: việc làm và thu nhập; mức chi tiêu; nhà ở, điện nước, phương tiện vệ sinh và đồ dùng bền lâu [113] Đối chiếu

những tiêu chí này vào thực tế cuộc sống của GĐCN hiện nay cho thấy:

Tiêu chí việc làm và thu nhập: Phần lớn công nhân trong các DN FDI là

lao động phổ thông, trực tiếp sản xuất tại các xưởng sản xuất và có mức thu nhập thấp So với doanh nghiệp tư nhân, công nhân trong các DN FDI có thu nhập bình quân cao hơn nhưng lại thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp nhà nước [129] Đa số công nhân trong các DN FDI có việc làm và thu nhập không

ổn định, nguy cơ mất việc cao Bởi vì, tính chất công việc của đa số công nhân trong các DN FDI là giản đơn, không tốn thời gian đào tạo, công nhân có thể thạo việc ngay sau vài lần hướng dẫn; một bộ phận DN FDI thuộc nhóm các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ thường chỉ kí hợp đồng ngắn hạn hoặc trốn

kí hợp đồng với người lao động, nên có thể tự do dễ dàng sa thải người lao động khi hợp đồng kết thúc, khi muốn thu nhỏ quy mô sản xuất hoặc để trốn tăng lương, tăng mức đóng bảo hiểm cho công nhân

Ngày đăng: 20/12/2021, 12:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quỳnh Anh (2016), “Không để gia đình công nhân không có tết”, Báo người lao động, (số 6509), tr.7-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không để gia đình công nhân không có tết”, "Báo người lao động
Tác giả: Quỳnh Anh
Năm: 2016
2. Khánh An (2018), “Công ty trách nhiệm hữu hạn Regrina Mircle International Việt Nam động viên gia đình công nhân gặp khó khăn”, Báo Hải Phòng, số ra ngày 20/3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty trách nhiệm hữu hạn Regrina Mircle International Việt Nam động viên gia đình công nhân gặp khó khăn”, "Báo Hải Phòng
Tác giả: Khánh An
Năm: 2018
3. Ban nữ công, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam (2014), Chăm sóc con công nhân lao động trong độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo tại các khu công nghiệp - Thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc con công nhân lao động trong độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo tại các khu công nghiệp - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Ban nữ công, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam
Năm: 2014
4. Ban Nữ công, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (2014), Nhà trẻ mẫu giáo cho con công nhân lao động tại các khu công nghiệp hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà trẻ mẫu giáo cho con công nhân lao động tại các khu công nghiệp hiện nay
Tác giả: Ban Nữ công, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam
Năm: 2014
5. Ban Nữ công, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam (2016), Các giải pháp nâng cao chất lượng đời sống hôn nhân, gia đình của công nhân tại các khu công nghiệp hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nâng cao chất lượng đời sống hôn nhân, gia đình của công nhân tại các khu công nghiệp hiện nay
Tác giả: Ban Nữ công, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam
Năm: 2016
6. Ban Tuyên giáo (2014), Thực trạng nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của công nhân các khu công nghiệp hiện nay, Đề tài cấp Bộ của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của công nhân các khu công nghiệp hiện nay
Tác giả: Ban Tuyên giáo
Năm: 2014
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, NXB chính trị quốc gia Hà Nội, tr.246 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
9. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010), Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực các tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng giai đoạn 2010 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực các tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng giai đoạn 2010 - 2020
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2010
10. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2014
11. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục thống kê (2015), Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011 - 2015, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011 - 2015
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục thống kê
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2015
12. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2017), “Báo cáo về tình hình xây dựng và phát triển nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp”, Hội thảo Công bố kết quả nghiên cứu cải thiện môi trường sống cho công nhân các khu công nghiệp tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình xây dựng và phát triển nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp”," Hội thảo Công bố kết quả nghiên cứu cải thiện môi trường sống cho công nhân các khu công nghiệp tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2017
13. Bộ Công thương (2016), Số 3892/QĐ-BCT, Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2025, tầm nhìn đến 2035, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số 3892/QĐ-BCT, Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2025, tầm nhìn đến 2035
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2016
14. Trần Đình Bích (2017), “Tác động của công nghiệp hóa đối với nông dân Việt Nam (nghiên cứu khu vực đồng bằng sông Hồng)”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, (2 - 111), tr.17-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của công nghiệp hóa đối với nông dân Việt Nam (nghiên cứu khu vực đồng bằng sông Hồng)”, "Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Bích
Năm: 2017
15. C. Mác và Ph. Ănghen toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.60-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác và Ph. Ănghen toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
17. Cục Đầu tư Nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2017), Báo cáo tình hình thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông Hồng quý I năm 2017, [Tài liệu chưa xuất bản] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông Hồng quý I năm 2017
Tác giả: Cục Đầu tư Nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2017
18. Xuân Cường, Hoàng Tuyết (2016), “Bảo vệ công nhân trên 35 tuổi khỏi nguy cơ thất nghiệp”, Báo Tin tức, (131/3400) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ công nhân trên 35 tuổi khỏi nguy cơ thất nghiệp”, "Báo Tin tức
Tác giả: Xuân Cường, Hoàng Tuyết
Năm: 2016
19. Bùi Văn Cường (2018), “Công nhân bày tỏ nhiều bức xúc trong buổi đối thoại với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc”, Báo Nhân dân, tr.2-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhân bày tỏ nhiều bức xúc trong buổi đối thoại với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc”," Báo Nhân dân
Tác giả: Bùi Văn Cường
Năm: 2018
20. Nguyễn Minh Chí (2015), “Bố mẹ giáo dục con bằng cách hiểu tâm lý con”, Báo Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh, (18), tr.3-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bố mẹ giáo dục con bằng cách hiểu tâm lý con”, "Báo Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Minh Chí
Năm: 2015
21. Nguyễn Chính (2017), “Phát triển nguồn nhân lực là khâu đột phá chiến lược”, Báo Lao động thủ đô, (115), tr.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực là khâu đột phá chiến lược”, "Báo Lao động thủ đô
Tác giả: Nguyễn Chính
Năm: 2017
22. Nguyễn Văn Dần (2014), "Khủng hoảng kinh tế toàn cầu những khuyến nghị nhằm thu hút FDI của Việt Nam", Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán, (2/127), tr.63-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng kinh tế toàn cầu những khuyến nghị nhằm thu hút FDI của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Dần
Năm: 2014

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Nhận thức của bố mẹ trong gia đình công nhân các doanh  nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông Hồng về giáo dục - Luận án giáo dục trẻ em của gia đình công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông hồng hiện nay
Bảng 3.1 Nhận thức của bố mẹ trong gia đình công nhân các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông Hồng về giáo dục (Trang 73)
Bảng 3.2: Lối sống của ông bà ảnh hưởng đến nhân cách - Luận án giáo dục trẻ em của gia đình công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông hồng hiện nay
Bảng 3.2 Lối sống của ông bà ảnh hưởng đến nhân cách (Trang 74)
Bảng 3.3: Đánh giá mức độ bố, mẹ trong gia đình công nhân - Luận án giáo dục trẻ em của gia đình công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông hồng hiện nay
Bảng 3.3 Đánh giá mức độ bố, mẹ trong gia đình công nhân (Trang 83)
Bảng 3.5: Mức độ trẻ em trong gia đình công nhân các doanh nghiệp có  vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông Hồng trao đổi với ông bà hoặc bố mẹ - Luận án giáo dục trẻ em của gia đình công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông hồng hiện nay
Bảng 3.5 Mức độ trẻ em trong gia đình công nhân các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông Hồng trao đổi với ông bà hoặc bố mẹ (Trang 95)
Bảng 3.6: Nhận thức của bố mẹ trong gia đình công nhân - Luận án giáo dục trẻ em của gia đình công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông hồng hiện nay
Bảng 3.6 Nhận thức của bố mẹ trong gia đình công nhân (Trang 97)
Biểu đồ 3.2: Hình thức xử lý khi trẻ làm sai của bố mẹ/ ông bà trong gia  đình công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng  bằng sông Hồng - Luận án giáo dục trẻ em của gia đình công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông hồng hiện nay
i ểu đồ 3.2: Hình thức xử lý khi trẻ làm sai của bố mẹ/ ông bà trong gia đình công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông Hồng (Trang 172)
3  Hình  thức  xử  lý  khi  trẻ - Luận án giáo dục trẻ em của gia đình công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vùng đồng bằng sông hồng hiện nay
3 Hình thức xử lý khi trẻ (Trang 186)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w