MỤC LỤC Trang Lời nói đầu 1 Chương I. Tranh chấp kinh tế và thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế của toà án nhân dân. 2 I. Tranh chấp kinh tế và sự ra đời của toà kinh tế trong hệ thống toà án nhân dân. 2 1. Khái niệm tranh chấp kinh tế. 2 2. Sự cần thiết phải thành lập toà kinh tế. 2 II. Tổ chức và thẩm quyền của toà án nhân dân trong việc giải quyết các vụ án kinh tế. 5 1. Về tổ chức. 5 2. Về thẩm quyền. 7 Chương II. Thủ tục giải quyết các vụ án kin tế tại toà án nhân dân. 13 I. Một số vấn đề cơ bản trong giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường toà án. 13 II. Những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế tại toà án nhân dân. 13 1. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự. 17 2. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật. 19 3. Nguyên tắc xét xử công khai (trừ trường hợp cần giữ bí mật Nhà nước hoặc giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ). 20 4. Nguyên tắc toà án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ. 5. Nguyên tắc hoà giải. 21 6. Nguyên tắc giải quyết các vụ án kinh tế nhanh chóng, kịp thời. 21 III. Trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế . 22 1. Những quy định về khởi kiện và thụ lý vụ án kinh tế. 23 2. Chuẩn bị xét xử. 26 3. Phiên toà sơ thẩm . 28 4. Thủ tục phóc thẩm . 32 5. Thủ tục xem lại các bản án và quyết định đã có hiệu lực. 35 Chương III. Thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án. 40 I. Thực tiễn hoạt động của toà án nhân dân trong giai đoạn hiện nay về giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam . 40 II. Những ưu điểm và nhược điểm trong hoạt động của hệ thống toà kinh tế thuộc toà án nhân dân qua thực tiễn xét xử các vụ tranh chấp kinh tế. 41 1. Những ưu điểm . 41 2. Những điểm còn tồn tại. 41 3. Những vấn đề bất cập, vướng mặc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật . 42 Vấn đề 1: Về chủ thể của hợp đồng kinh tế . 42 Vấn đề 2: Hình thức văn bản hợp đồng kinh tế . 42 Vấn đề 3: Thời hiệu khởi kiện . 42 Vấn đề 4: Về áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời . 43 Vấn đề 5: Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế của toà kinh tế . 43 Vấn đề 6: Về tổ chức và thẩm quyền của các toà kinh tế. 44 Vấn đề 7: Về thẩm phán, hội thẩm. 45 Vấn đề 8: Về xây dựng pháp luật. 46 KẾT LUẬN. 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 52
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Tranh chấp kinh tế là một loại quan hệ phát sinh trong quá trình vận động của nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt động dưới sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vì thế trong quá trình xây dựng và phát triển đã xảy ra không Ýt những tranh chấp hợp đồng kinh tế giữa các đơn
vị với nhau, yêu cầu đặt ra là phải có một phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế mới phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế thị trường Bởi lẽ, việc giải quyết kịp thời đúng pháp luật sẽ có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của nền kinh tế
Sù ra đời của toà kinh tế đánh dấu một phương thức mới trong giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta: Phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta: phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án Xuất phát từ yêu cầu khách quan đổi mới phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế trong nền kinh tế nước ta, lý giải những vấn đề đang đặt ra đối với việc hoàn thiện
tổ chức hoạt động của các toà kinh tế ở nước ta trong khuôn khổ đường lối chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nước Việc nghiên cứu nhằm tiến tới hoàn thiện phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Toà án
ở Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết Luận văn này nhằm mục đích làm rõ hơn những vấn đề liên quan đến chức năng, thẩm quyền, tình hình hoạt động của toà án kinh tế hiện nay, làm rõ những điểm bất cập của pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động giải quyết tranh chấp kinh tế của toà án kinh tế trong hệ thống toà án nhân dân Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, giúp cho toà kinh tế hoạt động ngày càng có hiệu quả hơn trên thực tế
Đây là đề tài mà em vô cùng tâm đắc, tuy nhiên trong phạm vi luận văn tốt nghiệp chắc chắn còn nhiều thiếu sót Em mong nhận được sự góp ý của các thầy cô
Trang 2CHƯƠNG I.
TRANH CHẤP KINH TẾ VÀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP KINH TẾ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN.
I Tranh chấp kinh tế và sự ra đời của toà án kinh tế trong hệ thống toà án nhân dân.
1 Khái niệm tranh chấp kinh tế.
Tranh chấp kinh tế là những tranh chấp phát sinh từ những quan hệ pháp luật kinh tế, hay nói cách khác là các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật kinh tế, mà nội dung của nó chính là những quyền và nghĩa vụ kinh tế Các bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ những quyền và nghĩa vụ đó Tuy nhiên trên thực tế, không phải lúc nào các chủ thể cũng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình Do đó các tranh chấp về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ kinh tế "tranh chấp kinh tế" khó có thể tránh khỏi
để bảo vệ quyền và lợi Ých hợp pháp của các bên có tranh chấp cũng như tạo điều kiện hoạt động đồng bộ cho toàn bộ nền kinh tế, các tranh chấp đó cần được giải quyết một cách kịp thời, đúng đắn Trong khoa học pháp lý trước đây, trong cơ chế kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, khái niệm pháp luật kinh tế đã được định nghĩa khá thống nhất dễ được chấp nhận Ngày nay xung quanh khái niệm này đang có nhiều tranh luận sôi nổi để có thể đi đến thống nhất
2 Sự cần thiết phải thành lập toà kinh tế.
a Sù ra đời của toà án kinh tế.
Trong một khoảng thời gian dài trước đây, cả trong lý luận và thực tiễn, nói đến tranh chấp kinh tế thường chỉ được thừa nhận thuần tuý là tranh chấp
về vi phạm hợp đồng kinh tế Vì vậy nhà nước ta đã tổ chức giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế bằng hai phương thức khác nhau
Trang 3Từ 1950 đến 1960 các tranh chấp về hợp đồng kinh tế được giải quyết tại toà án nhân dân, tức là được giải quyết theo trình tự tư pháp Quy định này được ghi nhận trong nghị định 735 - TTg ngày 10 - 4 - 1956 ban hành điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh tế.
Từ năm 1960 đến nay (cụ thể là từ nghị định số 20 - TTg ngày 14 - 1 - 1960), các tranh chấp hợp đồng kinh tế do trọng tài kinh tế, với tư cách là một
cơ quan trong bộ máy hành chính Nhà nước giải quyết Định chế hoạt động kinh tế, với tư cách là một cơ quan của chính phủ, được ra đời cùng với sự phát triển của chế độ hợp đồng kinh tế Do đó nét đặc thù của hoạt động trọng tài kinh tế thể hiện ở chỗ hoạt động giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế cũng chính là phương tiện để đạt được mục đích là trực tiếp tham gia việc điều hành tổ chức quan hệ kinh tế
Cơ chế kinh tế mới phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đổi mới cải cách kinh tế, sự bình đẳng và cùng có lợi giữa các thành phần kinh tế trong hợp tác và cạnh tranh Yêu cầu đặt ra là Nhà nước không được can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế mà bằng các chính sách lớn mà pháp luật tạo lập một môi trường pháp lý lành mạnh Một hành lang vững chắc trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa các doanh nghiệp được thực hiện trên nguyên tắc tự do bình đẳng và cùng có lợi trên khuôn khổ pháp luật của nhà nước
Cơ chế kinh tế mới có sự tồn tại của trọng tài kinh tế, với tư cách là một
cơ quan quản lý như cũ không còn phù hợp với thực thiễn cuộc sống bởi lý do sau:
Thứ nhất: về mặt lý luận khoa học quản lý việc thành lập hay xoá bỏ một
cơ quan nhà nước không phải do ý chí chủ quan của một ai đó quyết định Khoa học quản lý khẳng định đối tượng quản lý quy định hình thức tổ chức và
Trang 4nội dung hoạt động của chủ thể quản lý Điều đó đặt ra yêu cầu bức xúc là phải đổi mới tổ chức và phương thức của trọng tài kinh tế nhà nước.
Thứ hai: sự tồn tại của trọng tài kinh tế được thể hiện thông qua các hình thức hoạt động như thanh tra hợp đồng kinh tế quan hệ kinh doanh giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi
Thứ ba: Trọng tài kinh tế có chức năng xét xử các tranh chấp kinh tế nhanh, thuận lợi có trách nhiệm bảo đảm các bí mật trong kinh doanh cũng như uy tín của các bên trên thương trường nhằm đạt hiệu quả cao
Cùng với sự ra đời của toà kinh tế pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 quy định toà kinh tế có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế Các tranh cháp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân, các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu trái phiếu
Tóm lại: trong điều kiện kinh tế thị trường với cơ chế giải quyết tranh chấp như cũ không còn đáp ứng được yêu cầu của tình hình hiện nay
b) Toà kinh tế trong hệ thống toà án nhân dân.
giải quyết tranh chấp kinh tế là một yêu cầu khách quan Song mô hình
tổ chức toà kinh tế như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh của nước ta hiện nay Nhiều nhà nghiên cứu chính trị luật gia đã để tâm nghiên cứu tìm ra phương án tối ưu nhất góp phần hoàn thiện và đổi mới các cơ quan tài phán kinh tế và cải cách tư pháp nói chung Có ý kiến cho rằng xây dựng toà kinh
tế độc lập với hệ thống toà án nhân dân theo mô hình này sẽ có một số thuận lợi như đảm bảo tính độc lập khách quan trong hiện đại xét xử
Toà kinh tế nằm trong hệ thống toà án nhân dân với vai trò như toà hình
sự, toà dân sự, toà kinh tế, toà lao động mô hình này có ưu điểm là thống nhất
cơ quan xét xử có cơ sở vật chất để hoàn thiện toà kinh tế
Trang 5Hiện nay, toà kinh tế đã chính thức thành lập và đi vào hoạt động theo đường lối xây dựng toà kinh tế là một toà chuyên trách riêng và được ghi nhận trong luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật tổ chức toà án nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 28-12-1993 và có hiệu lực từ ngày 1-7-1994 Cùng với việc thành lập toà kinh tế, uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16-3-1994 và có hiệu lực ngày 17-4-1994 Đây là cơ sở pháp lý quá trình tạo sự đồng bộ cho hoạt động giải quyết mọi tranh chấp kinh tế trong đời sống
Tiếp đó ở trung ương toà kinh tế thuộc toà án nhân dân tối cao ở cấp tỉnh
và cấp huyện cũng thành lập toà kinh tế việc lùa chọn mô hình kinh tế là một toà chuyên trách trong hệ thống toà án nhân dân Về cơ cấu tổ chức của hệ thống toà án nhân dân nước ta luôn đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm gọn nhẹ và
có hiệu quả trong tổ chức bộ máy nhà nước
II.Tổ chức và thẩm quyền của toà án nhân dân trong việc giải quyết các vụ án kinh tế
1 Về tổ chức.
Để đạt được nhiện vụ giải quyết các vụ án kinh tế theo quy định của pháp luật Trong ngành toà án Việt Nam một hệ thống tổ chức mới tương ứng cũng được thành lập Mục đích của sự hình thành hệ thống toà án nhân dân trong việc giải quyết các vụ án kinh tế phát sinh trong chế độ mới
a Đối với việc bổ sung thêm nhiệm vụ quyền hạn
theo quy định tại điểm 1 điều 1 luật sửa đổi bổ sung một số điều về luật
tổ chức toà án nhân dân trong đó Hội đồng thẩm phán có nhiệm vụ và quyền hạn như: Giám đốc tái thẩm những vụ án và quy định đã có hiệu lực pháp luật
Điều 78,85 khoản 4 pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế của toà án nhân dân tối cao Như vậy, nhiệm vụ thẩm quyền của hội đồng thẩm
Trang 6phán toà án nhân dân tối cao đã được xác định theo quy định của luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật tổ chức toà án nhân dân tối cao và pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
Đối với toà án nhân dân quận, huyện, thị xã thành phố trực thuộc tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp kinh tế có giá trị tranh chấp dưới 50 triệu trừ trường hợp có nhân tố nước ngoài(khoản 1 điều 13 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế )
Ngoài ra còn có các toà quân sự cấp quân khu và toà án quân sự cấp khu vực Như vậy về cơ bản sau khi tổ chức thành lập toà kinh tế trong toà án nhân dân năm 1992, với thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế của toà án nhân dân cấp huyện được quy định trong pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án kinh tế năm 1994 thì ta thấy rằng toà án nhân dân cấp huyện như một khâu của hệ thống toà án trong việc giải quyết các vụ án nói chung
b Về việc thành lập toà chuyên trách.
Theo quy định tại điều 4 điểm 1 luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật tổ chức toà án nhân dân thì khoản 2 điều 17 luật tổ chức toà án được bổ sung như sau:
Cơ cấu tổ chức của toà án nhân dân tối cao gồm :
- Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao
- Uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân tối cao
- Toà quân sự trung ương, toà hình sự toà dân sự, toà kinh tế và các toà phóc thẩm toà án nhân dân tối cao
Theo điểm 2 điều 1 luật sửa đổibổ sung một số điều của luật tổ chức toà
án nhân dân thì khoản 1 điều 27 luật tổ chức toà án nhân dân được bổ sung như sau:
Trang 7Cơ cấu tổ chức của toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm:
- Uỷ ban thẩm phán
- Toà hình sự, dân sự kinh tế
Xét về mặt tổ chức của toà án trong việc giải quyết các vụ án kinh tế nói riêng về nhiệm vụ thẩm quyền gồm:
- Toà án nhân dân cấp huyện
- Toà kinh tế, toà án nhân dân cấp tỉnh
- Toà phóc thẩm toà nhân dân tối cao
- Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao
- Các tranh chấp liên quan tới việc mua bán trái phiếu
Theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật tổ chức toà án nhân dân
và luật phá sản doanh nghiệp thẩm quyền của toà kinh tế bao gồm:
- Xét xử những vụ án kinh tế
- Giải quyết các vụ án phá sản doanh nghiệp
ngoài ra toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ việc khác theo quy định của pháp luật
Trang 8a Thẩm quyền giải quyết các vụ án theo cấp xét xử.
Với tư cách là bộ phận của toà án nhân dân hoạt động của mình toà kinh tế có những nhiệm vụ, quyền hạn của toà án Việt Nam trong việc giải quyết các vụ án kinh tế Toà án kinh tế bao gồm:
* Toà án nhân dân cấp huyện:
Điều 32 luật sửa đổi, bổ sung của luật tổ chức toà án nhân dân, khoản 1 điều 13 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định:
Tại các toà án nhân dân cấp huyện không có tổ chức toà kinh tế, nhưng toà án này vẫn được giao thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ tranh chấp hợp đồng kinh tế có giá trị tranh chấp nhỏ, tình tiết đơn giản dưới 50 triệu đồng và không có yếu tố nước ngoài Các tranh chấp về chứng khoán, cạnh tranh, quảng cáo có giá trị tranh chấp hơn 50 triệu vẫn không thuộc thẩm quyền sơ thẩm của toà án nhân dân cấp huyện Toà án nhân dân cấp huyện giải quyết theo trình tự sơ thẩm nếu có kháng cáo kháng nghị, phóc thẩm thì toà kinh tế, toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo trình tự phóc thẩm theo quy định tại khoản 3 điều 30 luật sửa đổi tổ chức toà án nhân dân 1992
Nếu có kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án
có hiệu lực pháp luật thì việc xét xử giám đốc thẩm tái thẩm do uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cấp tỉnh thực hiện
Nếu có kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm của toà kinh tế toà án nhân dân tối cao thì việc xét xử tái thẩm giám độc thẩm do uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân tối cao thực hiện (theo quy định tại khoản 3 điều 85) pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
Nếu có kháng nghị trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm đối với quyết định giám đốc thẩm của uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân tối cao thì hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao xét xử (theo quy định tại khoản 1 điều 21 luật tổ chức toà án nước ngoài)
Trang 9(sơ đồ minh hoạ số 1 phần mục lục)
* Toà án nhân dân cấp Tỉnh.
Theo quy định của luật sửa đổi bổ sung luật tổ chức toà án nhân dân tại khoản 2 điều 13 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định:
Thẩm quyền của toà án kinh tế toà án nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ương Sơ thẩm những vụ án kinh tế theo quy định tại điều 12 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế trừ những tranh chấp kinh tế mà giá trị tranh chấp dưới 50 triệu đồng và không có yếu tố nước ngoài
Như vậy về phân cấp thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp tỉnh thì
có một hệ thống toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết tranh chấp theo trình tự
sơ thẩm
Nếu có kháng cáo kháng nghị phóc thẩm thì toà án nhân dân tối cao sẽ giải quyết theo trình tự phóc thẩm (theo quy định tại khoản 2 điều 24 luật tổ chức toà án nhân dân tối cao)
Nếu có kháng cáo kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm tái thẩm đối với bản án sơ thẩm của toàkinh tế toà án nhân dân cấp tỉnh đã có hiệu lực pháp luật được ghi nhận tại khoản 3 điều 23 luật tổ chức toà án nhân dân.Toà án nhân dân cấp tỉnh sơ thẩm những vụ án kinh tế tại điều 12 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
- Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh
- Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty
- Các tranh chấp liên quan đến cổ phiếu trái phiếu
- Các tranh chấp khác theo quy định của pháp luật
Nếu có kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án phóc thẩm của toà phóc thẩm toà án nhân dân tối cao thì do uỷ ban thẩm phán
Trang 10toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định tại điều
2 khoản 3 luật tổ chức toà án nhân dân
Nếu có kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm đối với quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân tối cao sẽ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những vụ án và bản án mà quyết định
đã có hiệu lực pháp luật theo điều 21 khoản 1 luật tổ chức toà án nhân dân.(Xem sơ đồ minh hoạ số 2 phần phụ lục)
b Thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế theo lãnh thổ và những trường hợp nguyên đơn được lùa chọn toà án.
Việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ nhằm xác định toà án nào sẽ giải quyết vụ án kinh tế
Điều 14 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994 quy định:
- Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế là toà án nơi bị đơn có trụ sở hoặc nơi cư trú
- Trong trường hợp vụ án có liên quan đến bất động sản thì toà án nơi có bất động sản giải quyết
Theo quy định điều 184 mục 1 Bộ luật dân sự thì bất động sảnlà những tài sản không di dời được bao gồm: đất đai, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, công trình xây dựng và các tài sản khác theo quy định của pháp luật Như vậy nguyên tắc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ của toà án trong tố tụng kinh tế Vì đó theo quy định điều 14 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế cho ta thấy rằng đối với toà án kinh tế không phải đơn kiện nào cũng được toà án thụ lý giải quyết, mà đơn kiện chỉ được thụ lý khi nó được chuyển đến toà án nơi có thẩm quyền giải quyết
* Trường hợp nguyên đơn được lùa chọn toà án.
Trang 11Để tạo điều kiện thuận lợi giúp cho nguyên đơn có thể thực hiện được quyền khởi kiện dễ dàng, trong pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế tại điều
15 quy định một số trường hợp nguyên đơn được lùa chọn toà án để giải quyết tranh chấp kinh tế Nguyên đơn có quyền lùa chọn trong các trường hợp sau:
- Nếu không biết rõ trụ sở hoặc nơi cư trú của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu toà án nơi có tài sản, nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú cuối cùng của
bị đơn giải quyết vụ án
- Nếu vụ án phát sinh từ hoạt động của chi nhánh doanh nghiệp thì nguyên đơn có thể yêu cầu toà án nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi có chi nhánh đó giải quyết
- Nếu vụ án phát sinh do có vi phạm hợp đồng kinh tế thì nguyên đơn có thể yêu cầu toà án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết vụ án
- Nếu các bị đơn có trụ sở hoặc nơi cư trú khác nhau thì nguyên đơn có thể có yêu cầu toà án nơi có trụ sở hoặc bất động sản ở nơi cư trú của bị đơn giải quyết vụ án
- Nếu vụ án không liên quan đến bất động sản thì nguyên đơn có thể yêu cầu toà án nơi có bất động sản của bị đơn để giải quyết vụ án
- Nếu vụ án liên quan đến bất động sản ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu toà án ở một trong các nơi đó giải quyết vụ án
c Thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài.
Các quy định của pháp lệnh trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế
có nhân tố nước ngoài điều 87 pháp lệnh giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án những tranh chấp kinh tế trong đó có một bên chủ thổ là pháp nhân, cá nhân nước ngoài với một bên là pháp nhân cá nhân Việt Nam có đăng ký kinh doanh Trừ trường hợp điều ước quốc tế mà cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Trang 12Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.Vì vậy, tất cả những tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài kể trên do toà kinh tế toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm (trừ những tranh chấp hợp đồng kinh tế mà giá trị tranh chấp không quá 50 triệu và không có nhân tố nước ngoài thì mới thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện giải quyết ) Như vậy các tranh chấp kinh tế có nhân tố nước ngoài được toà án cấp tỉnh thụ lý và giải quyết sơ thẩm Vì thế ta có mô hình hệ thống tổ chức được xác định như sau:
- Toà kinh tế, toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết các tranh chấp kinh tế theo trình tự sơ thẩm
- Nếu có kháng nghị, kháng cáo phóc thẩm thì toà phóc thẩm toà án nhân dân tối cao giải quyết theo trình tự phóc thẩm theo quy định tại khoản 2 điều
24 luật tổ chức toà án nhân dân
- Nếu có kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án
sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của toà kinh tế toà án nhân dân cấp tỉnh thì
do toà kinh tế toà án nhân dân tối cao xét xử theo quy định tại điều 23 khoản
3 luật tổ chức toà án nhân dân
- Nếu có kháng nghị trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án phóc thẩm của toà kinh tế toà án nhân dân tối cao thì do uỷ ban thẩm phán toà
án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định tại điều 22 khoản 3 luật tổ chức toà án nhân dân
- Nếu có kháng nghị trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm đối với quy định giám đốc thẩm, tái thẩm thì uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân tối cao thì do hội đồng thảm phán toà án nhân dân tối cao xét xử theo quy định tại khoản 1 điều 21 luật tổ chức toà án nhân dân
(Xem sơ đồ minh hoạ số 3 phần phụ lục)
Trang 13Tóm lại: khi nghiên cứu về tổ chức cũng như thẩm quyền của toà án kinh
tế được quy định trong văn bản pháp luật hiện hành là tương đối phù hợp với tình hình thực tiễn của hoạt động tư pháp ở nước ta Xuất phát từ thực tế đó toà án kinh tế nhân danh quyền lực nhà nước đã xem xét, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ được trật tự công cộng và giữ ổn định các quan hệ kinh tế trong xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước
Trang 14Chương II Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế tại toà án
nhân dân
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH
TẾ BẰNG CON ĐƯỜNG TOÀ ÁN.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các đơn vị kinh tế nảy sinh các quan hệ kinh tế mà nội dung và mục đích của nó chính là quyền và nghĩa
vụ kinh tế của các bên Tuy nhiên trên thực tế không phải lúc nào các chủ thể cùng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình do đó các tranh chấp
về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ kinh tế tranh chấp kinh tế là điều khó có thể tránh khỏi Để bảo vệ quyền và lợi Ých hợp pháp giữa các bên có tranh chấp và tạo điều kiện cho hoạt động đồng bộ nền kinh tế, có các tranh chấp kinh tế đó được giải quyết một cách nhanh chóng kịp thời bằng con đường toà án
Như vậy, khi tranh chấp kinh tế xảy ra để đảm bảo nguyên tắc trong kinh doanh, pháp luật cho phép các bên thương lượng với nhau đi đến thống nhất Trong trường hợp mà các bên không tự thoả thuận được với nhau thì tranh chấp kinh tế sẽ được giải quyết theo một thủ tục nhất định trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền là toà kinh tế Với tư cách là một chế định của Luật kinh
tế, tố tụng kinh tế được hiểu là các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế giữa toà kinh tế với các bên tham gia tố tụng kinh tế
Quan hệ pháp luật tố tụng kinh tế có một loại dấu hiệu riêng của nó đó là:
- Chóng phát sinh trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh tế tại toà kinh tế
Trang 15Mét trong các chủ thể bắt buộc của quan hệ tè tụng kinh tế là cơ quan toà án kinh tế.
Các chủ thể khác của quan hệ tè tụng kinh tế phải là các nhà kinh doanh
Căn cứ pháp lý làm phát sinh các vụ khiếu nại ở cơ quan toà kinh tế đồng thời làm phát sinh quan hệ tè tụng kinh tế và các tranh chấp về quyền
và nghĩa vụ giữa các nhà kinh doanh
Mục đích của việc giải quyết các tranh chấp kinh tế ở cơ quan toà án kinh tế nhằm mang lại quyền và lợi Ých hợp pháp của các bên khi tham gia tố tụng kinh tế
Các văn bản pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường toà án hiện nay bao gồm:
- Luật tổ chức toà án nhân dân năm 1992 được sửa đổi bổ sung một số điều của luật tổ chức toà án nhân dân 2 –12-1993
- Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 6-3-94 từ ngày
1-7-1994 toà án nhân dân được giao thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật tổ chức toà án nhân dân ngày 2-12-1993 và thành lập toà án kinh tế trong toà án nhân dân như vậy ở nước ta
có sự phân biệt giữa toà kinh tế và toà dân sự trong việc giải quyết các tranh chấp về tài sản toà kinh tế được tổ chức ở toà án nhân dân tối cao và toà án nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ương
(xem sơ đồ minh hoạ số 4 phần phụ lục)
Qua việc tham khảo kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới cho thấy có rất
Ýt nước có văn bản pháp luật riêng biệt về thủ tục tố tụng kinh tế, vì phân lớn các nước không có phân biệt giữa toà dân sự và toà kinh tế Một số nước có toà thương mại thì cũng áp dụng thủ tục tố tụng dân sự khi giải quyết tranh chấp kinh tế như: cộng hoà Pháp, cộng hoà liên bang Đức Vì vậy trong quá
Trang 16trình nghiên cứu về tổ chức toà kinh tế và tố tụng kinh tế có không Ýt ý kiến cho rằng không cần thiết phải ban hành một văn bản pháp luật riêng về tố tụng kinh tế mà chỉ nên áp dụng pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 29-11-1989 trong việc giải quyết các vụ án kinh tế.
Thực tế ở nước ta cho thấy cần phải quy định thủ tục tố tụng kinh tế riêng chứ không nên áp dụng thủ tục tố tụng dân sự khi giải quyết các vụ án kinh tế vì các lÝ do sau:
Thứ nhất: pháp lệnh giải quyết các vụ án dân sụ có một số quy định không phù hợp với yêu cầu giải quyết tranh chấp kinh tế Trong đó về hội đồng xét xử, thời hiệu thời hạn xét xử quá dài Vì vậy, nên áp dụng các thủ tục tố tụng mà công cuộc đổi mới nền kinh tế đặt ra Mặt khác việc sửa đổi pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự chưa được đặt ra do đó pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế là các văn bản cho thời kỳ cải cách tư pháp thời kỳ chuyển giao giai đoạn để tiến tới hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp
Thứ hai: Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 4 đã quyết định giao cho toà án nhân dân thẩm quyền xét xử các vụ án kinh tế và thông qua luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật tổ chức toà án nhân dân Trong đó quyết định việc thành lập các toà chuyên trách trong toà án nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ương và toà án nhân dân tối cao xét để thực hiện, các tranh chấp kinh tế được toà kinh tế trong toà án nhân dân xét xử Về mặt tính chất thì đây là các quan hệ tài sản, nhưng so với quan hệ dân sự thì nó mang tính đặc thù riêng
Đặc điểm của hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường là năng động linh hoạt, việc giải quyết tranh chấp kinh tế cần phải nhanh chóng đơn giản đúng pháp luật Trọng tài kinh tế nhà nước trước đây đã được thay thế bằng toà kinh tế trong toà án nhân dân, vừa phù hợp với cơ chế thị trường mới ,vừa đáp ứng được đòi hỏi bức xúc của quan hệ kinh tế thị trường, cũng là yêu cầu
Trang 17đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Cùng với việc uỷ ban thường
vụ Quốc hội đã thông qua pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sù, kinh
tế có thể coi đây là các văn bản trong thời kỳ cải cách tư pháp, thời kỳ chuyển giao giai đoạn để tiến tới hoàn thiện tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp
II.Những nguuyên tắc cơ bản trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế tại toà án nhân dân.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn hoạt động của toà kinh tế trong thời gian qua, trong bối cảnh công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta đã và đang đi vào chiều rộng, việc hoàn thiện và bổ sung các quy định về tố tụng kinh tế cần phải được xác định trong chủ trương chung về cải cách tư pháp tạo điều kiện cho toà kinh tế tiến hành tố tụng một cách nhanh chóng đồng thời bảo đảm cho các đương sự có điều kiện thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ Trên
cơ sở đó ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, những biểu hiện tiêu cực trong quá trình giải quyết thì hoạt động của toà kinh tế phải dùa trên nguyên tắc của tố tụng kinh tế Nguyên tắc của thủ tục tố tụng kinh tế là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo chi phối toàn bộ hệ thống chế định pháp luật trong pháp lệnh tố tụng giải quyết các vụ án kinh tế làm kim chỉ nam định hướng xuyên suốt cho toàn bộ quá trình hoạt động, giải quyết tranh chấp kinh
tế của toà kinh tế
Tất cả các hành vi vi phạm pháp luật đều được xem xét và xử lý theo quá trình tố tụng như: khởi kiện, ra quyết định, ra bản án… đều phải thực hiện trên cơ sở quán triệt các nguyên tắc đã đề ra Bất cứ hành vi vi phạm nào đến nguyên tắc tè tụng kinh tế đều được coi là bất hợp pháp và phải được loại bỏ
do đó khi nghiên cứu pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế trong hoạt động tè tụng kinh tế cũng như các hoạt động tè tụng khác nhằm giải quyết tranh chấp kinh tế thì toà kinh tế đều phải tuân theo nguyên tắc chung về tố tụng được quy định trong hiến pháp và luật tổ chức toà án nhân dân Toà án
Trang 18xét xử công khai, xét xử tập thể và quyết định theo đa số, toà án đảm bảo cho đương sự được dùng tiếng nói chữ viết của dân téc mình trước toà Tuy nhiên
ở đây toà án vẫn là người có thẩm quyền cuối cùng trong việc giải quyết đưa
ra vụ án ra xét xử công khai hoặc xử kín Vì vậy, một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng kinh tế có một vài nguyên tắc được xem xét từ góc độ riêng đó là:
1 Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự.
Nguyên tắc này được ghi nhận tại điều 1,2 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16-03-1994 Đây là nguyên tắc cơ bản của tố tụng kinh
tế nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh, tù do hợp đồng theo pháp luật( được ghi nhận trong hién pháp năm 1992), khi công dân được tự do kinh doanh, tù do hợp đồng theo pháp luật Do đó khi tranh chấp kinh tế họ cũng phải được quyền tự do định đoạt việc giải quyết tranh chấp kinh tế đó Nhà nước không can thiệp vào hoạt động kinh doanh đúng pháp luật, khi xảy ra tranh chấp toà án chỉ tham gia giải quyết nếu các đương sự yêu cầu Việc yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp là quyền của các chủ thể kinh doanh Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội không có quyền khởi kiện khởi tố các tranh chấp kinh tế Quyền tự định đoạt của đương sự được thể hiên ở những quyền sau:
- Quyền khởi kiện hoặc không khởi kiện
- Quyền tự hoà giải trước toà
- Quyền thay đổi nội dung vụ kiện
- Quyền đề xuất, bổ sung chứng cứ
- Quyền rót đơn kiện trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng.Trong toàn bộ các quyền kể trên thì quyền khởi kiện hoặc không khởi kiện là quan trọng nhất Bởi vì toà án chỉ giải quyết trên cơ sở có đơn kiện của các bên (nếu sự việc không được các bên thoả thuận trước là phải giải quyết theo thủ tục trọng tài) và chỉ đưa ra phán quyết nếu các bên không thể hoà
Trang 19giải, thương lượng với nhau Ngoài ra đương sự cũng có quyền thay đổi, bổ sung phạm vi nội dung yêu cầu toà án giải quyết, đề xuất, bổ sung chứng cứ,
có quyền hoà giải ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình tố tụng toà kinh tế.Mặc dù vậy, kinh doanh vẫn là một công việc có tính chất riêng tư, các tranh chấp kinh tế phát sinh trong quan hệ kinh doanh phải do chính các nhà doanh nghiệp tự quyết định Trong nền kinh tế thị trường, các bên tham gia vào quan hệ kinh tế nhằm mục đích là làm sao kiếm được nhiều lợi nhuận cao nhất trên cơ sở phát huy mối quan hệ kinh doanh tốt đối với các bạn hàng,
mở rộng thị trường và tạo uy tín lớn Do đó khi phát sinh tranh chấp xảy ra việc đưa ra toà án giải quyết phải được các bên cân nhắc kỹ lưỡng Bởi vì khi công khai các tranh chấp kinh tế ra trước toà thì đồng nghĩa với việc làm giảm
uy tín của họ trên thương trường Mặt khác sẽ kéo hàng loạt các hậu quả đó
đã không Ýt doanh nghiệp thương gia sẵn sàng hy sinh một số quyền lợi của mình để lấy lại bạn hàng và lợi nhuận
Trong pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp vụ án dân sự có quy định một số trường hợp Viện kiểm soát, tổ chức xã hội được quyền khởi tố vì lợi Ých chung Đó là những trường hợp:
- Vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc bảo
vệ quyền lợi người lao động, kết hôn trái pháp luật xác định cha mẹ cho con chưa thành niên ngoài giá thó
- Xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi người chưa thành niên hoặc người
có nhược điểm về thể chất và tinh thần
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế không quy định quyền khởi kiện của tổ chức xã hội, quyền khởi tố của Viện kiểm soát vì lợi Ých chung Bởi vì tranh chấp kinh tế khởi kiện hoặc không khởi kiện là do doanh nghiệp Ngoài ra vi phạm trong tranh chấp kinh tế chủ yếu liên quan đế tài sản
có giá trị lớn mà Ýt liên quan đến các vấn đề nhân thân của doanh nghiệp
Trang 20Nguyên tắc tự định đoạt trong tố tụng toà án kinh tế có phạm vi rộng hơn Trong khi việc rút đơn kiện của đương sự trong tố tụng dân sự không làm ảnh hưởng tới quyết định cuối cùng của toà án thì tố tụng toà án kinh tế lại cho phép đương sự tự quyết định tất cả Lý giải được sự khác biệt này ta thấy các tổ chức kinh tế chủ yếu liên quan đến vấn đề tài sản yếu tố hoàn toàn mang tính chất cá nhân, trong khi tranh chấp dân sự liên quan tới các yếu tố
về nhân thân Do đó điều tất yếu là quyền tự định đoạt trong tố tụng toà án kinh tế phải rộng hơn
2 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Quyền bình đẳng trước pháp luật là một quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong điều 52 của hiến pháp 1992 Quyền này được cụ thể hoá trong nhiều văn bản pháp luật trong đó có Bộ luật tố tụng hình sự và pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Việc cụ thể hoá quyền bình đẳng trước pháp luật trong tố tụng kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ,vì nó còn thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
Khi các doanh nghiệp, người kinh doanh tham gia tố tụng kinh tế thì không có sự phân biệt đó là doanh nghiệp nhà nước, công ty, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, người kinh doanh nhỏ các bên đều có quyền và nghĩa
vụ theo quy định của pháp luật tố tụng
Sự bình đẳng này là sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ không chỉ đơn thuần trong phạm vi hợp pháp giữa các chủ thể tranh chấp mà phải hiểu trong phạm vi rộng là giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế với nhau không một cá nhân, một cơ sở sản xuất kinh doanh nào có đặc quyền đặc lợi trước toà án Họ đều ở vị trí bình đẳng về tố tụng, họ đều phải tuân theo pháp luật và nếu có hoặc vi phạm thì xã hội bị sử lý theo pháp luật
Nguyên tắc bình đẳng trong tố tụng kinh tế đảm bảo cho việc xét xử của toà kinh tế được công bằng, đúng pháp luật nhằm khuyến khích các thành
Trang 21mạnh dạn đầu tư vào hoạt động sản xuất ,kinh doanh Vì vậy, nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát triển và hoàn thiện nền kinh tế thị trường ở nước ta mà thời kỳ bao cấp trước đây chưa bao giê có.
Trang 223 Nguyên tắc xét xử công khai(trừ trường hợp cần giữ bí mật nhà nước hoặc giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ).
Xuất phát từ nguyên tắc hiến định đối với hoạt động của toà án là xét xử công khai ghi nhận tại điều 131 hiến pháp 1992 xét xư công khai là nguyên tắc của toà hình sự, dân sự, vì việc xét xử của toà án Ngoài mục đích bảo vệ quyền và lợi Ých hợp pháp của đương sự nó còn có ý nghĩa giáo dục việc tuân theo pháp luật
Điều 7 pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế quy định: Trừ trường hợp cần thiết để giữ bí mật nhà nước hoặc đương sự theo yêu cầu của họ, còn xét
xử công khai là nguyên tắc của toà án
Bí mật của đương sự ở đây được hiểu là bí mật kinh doanh như phát minh, sáng chế, bí quyết về kinh doanh… có liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của người kinh doanh Nếu các bí quyết đó bị tiết lé có thể làm doanh nghiệp gặp khó khăn trong kinh doanh hoặc có thể bị phá sản Vì vậy,
họ yêu cầu toà án xét xử kín Đây là một nguyên tắc thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt của tố tụng kinh tế, phù hợp với nhu cầu và tâm lý của các bên đương sự
Tuy nhiên, ở đây toà án vẫn là người có thẩm quyền cuối cùng trong việc quyết định đưa ra vụ án xét xử công khai hoặc xét xử kín
4 Nguyên tắc toà án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ.
Khi giải quyết các vụ án kinh tế, toà án chủ yếu căn cứ vào các chứng cứ
mà đương sự đưa ra, các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình Trong trường hợp quyền lợi bị vi phạm
mà đương sự không yêu cầu toà án giải quyết thì toà án không có trách nhiệm giải quyết
Trang 23Toà án sẽ tiến hành theo các bên trình bày và xác minh các chứng cứ Toà án không tiến hành xét hỏi như tố tụng hình sự Các bên có quyền và nghĩa vụ trình bày những gì mà họ cho là cần thiết, toà án không bắt buộc phải thu thập thêm chứng cứ trừ khi thấy cần thiết để làm rõ thêm yêu cầu của các bên để giải quyết vụ án được chính xác.
5 Nguyên tắc hoà giải.
Nguyên tắc này là một nguyên tắc xuất phát từ quyền tự định đoạt của các đương sự Vì họ có quyền tự định đoạt mọi vấn đề có liên quan đến việc bảo vệ lợi Ých hợp pháp của mình từ việc yêu cầu toà án xét xử đến việc quyết định nội dung yêu cầu toà án giải quyết Do đó hơn ai hết họ phải được quyền tự quyết định thương lượng, hoà giải với nhau để cùng tìm một biện pháp giải quyết Hoà giải là việc các bên tự thương lượng giải quyết với nhau
về tranh chấp mà không cần có phán quyết của toà án Nguyên tắc này còn xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án kinh tế Tuy nhiên, khi đã yêu cầu cơ quan toà án can thiệp rồi, các đương sự vẫn có thể tiến hành hoà giải với sự hướng dẫn, công nhận của toà án Chỉ khi hoà giải không thành công toà án mới đưa vụ án ra xét xử và ngay cả trong phiên toà, thẩm phán cũng cố gắng
để hai bên đạt được sự hoà giải với nhau
Với nội dung này, nguyên tắc hoà giải trong tố tụng kinh tế rông hơn nguyên tắc hoà giải trong dân sự Sở dĩ có hiện tượng này là do quyền tự định đoạt của đương sự nên kéo theo nguyên tắc hoà giải cũng được áp dụng rộng hơn nhằm mục đích làm giảm đi những mâu thuẫn căng thẳng, giảm phí tổn thời gian trong quá trình tè tụng giữa các bên tranh chấp
6 Nguyên tắc giải quyết các vụ án kinh tế nhanh chóng kịp thời
Xuất phát từ nhu cầu của kinh doanh không thể kéo dài trong môi trơường kinh tế năng động, thời gian đối với các nhà kinh doanh có ý nghĩa sống còn và nói chung các nhà kinh doanh hầu hết là những người có trình độ
Trang 24nhà kinh doanh cần ở các cơ quan giải quyết tranh chấp không những giải quyết phải đúng pháp luật, thấu tình đạt lý mà còn phải đảm bảo nhanh chónh kịp thời và dứt điểm tránh dây dưa kéo dài và gây lãng phí thời gian tiền của
Do đó pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế được quy định đơn giản hơn là pháp lệnh giải quyết các vụ án dân sự cũng chính là quá trình giải quyết nhanh chóng các vụ án kinh tế Toà án không cần giai đoạn điều tra thu thập xác minh chứng cứ, hạn chế thấp nhất việc quay vòng vụ án đã xét xử nhiều lần việc giải quyết nhanh chóng còn thể hiện trong các quy định khác như: rút ngắn các thời hiệu thời hạn, hạn chế việc giao vụ án bị kháng cáo, kháng nghị để xem xét lại
Như vậy, với quy như trên thì nguyên tắc toà án xét xử nhanh chóng, kịp thời các vụ án kinh tế là một nguyên tắc tiến bộ nếu được toà án quán triệt sâu sắc trong hoạt động xét xử thì nó sẽ góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ quyền lợi của các nhà kinh doanh, hạn chế những hậu quả không tốt có thể xảy ra với họ
Tóm lại: qua sự phân tích 6 nguyên tắc của tố tụng kinh tế trên ta có thể nhận thấy rằng đó chính là những nguyên tắc rất cơ bản nhằm chi phối và xuyên suốt toàn bộ quá trình hoạt động tè tụng của toà kinh tế từ cấp trung ương, đến địa phương cho hoạt động xét xử được thống nhất và có hiệu quả trong điều kiện kinh tế xã hội của nước ta hiện nay
III TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH TẾ.
Quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế trước toà án gọi là tố tụng kinh tế
Tố tụng kinh tế là tất cả các hình thức và thủ tục được pháp luật quy định về việc giải quyết các tranh chấp kinh tế trước toà
Về trình tự giải quyết các vụ án kinh tế chính là các bước các khâu pháp luật quy định cho các đương sự và cơ quan toà án phải thực hiện như: khởi kiện, điều tra xác minh tài liệu chứng cứ tiến hành hoà giải tại phiên toà, mở phiên toà sơ thẩm nếu các bên đồng ý với bản án đó thì bước sang giai đoạn
Trang 25thi hành án, nếu còn kháng cáo kháng nghị bản án sơ thẩm thì phải tiến hành các thủ tục để xét xử phóc thẩm.
Khi vụ án kinh tế đã có hiệu lực mà các bên vẫn chưa thoả mãn thì có quyền khiếu nại đề nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Trong trường hợp phát hiện ra những tình tiết mới có thể làm thay đổi nội dung vụ án thì những người có thẩm quyền có thể kháng nghị để xét xử theo thủ tục tái thẩm để đảm bảo các nguyên tắc khách quan công bằng trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh tế
Trên đây điểm qua các giai đoạn hoạt động tè tụng của toà án nhằm giải quyết các vụ án kinh tế, tranh chấp kinh tế phát sinh tại toà kinh tế được Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 và có hiệu lực pháp luật 17-4-1994
1.Những quy định về khởi kiện và thụ lý vụ án kinh tế.
a.Quyền khởi kiện vụ án kinh tế.
Khi quyền và lợi Ých hợp pháp của người kinh doanh có tranh chấp hay
bị vi phạm, người kinh doanh có quyền yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi Ých hợp pháp do pháp luật quy định Theo quy định tại điều 1 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 16-3-1994: cá nhân, pháp nhân do pháp luật quy định có quyền khởi kiện vụ án kinh tế để yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lựi Ých hợp pháp của mình Như vậy, quyền khởi kiện một vụ án kinh tế là quyền của cá nhân hoặc pháp nhân có đủ tư cách của một chủ thể kinh doanh
và có quyền và lợi Ých hợp pháp bị tranh chấp hoặc bị xâm phạm
Quyền khởi kiện vụ án kinh tế là quyền tố tụng của các nhà kinh doanh
họ yêu cầu toà kinh tế bảo vệ quyền và lợi Ých hợp pháp trong kinh doanh Khi có vụ án kinh tế phát sinh thì không thể thiếu điều kiện khởi kiện của cá nhân hay pháp nhân với tư cách là chủ thể của quyền khởi kiện được quy định trong pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
Trang 26Đối với cá nhân: phải là người đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực pháp luật năng lực hành vi và phải có quyền lợi lợi Ých kinh tế bị xâm phạm.Đối với tổ chức: khởi kiện với tư cách là đương sự thì tổ chức đó phải
có tư cách pháp nhân và phải có quyền lợi bị xâm phạm Người đại diện hợp pháp của đương sự có thể thay mặt họ thực hiện quyền khởi kiện vụ án kinh tế
ra trước toà án kinh tế
Người đại diện hợp pháp của đương sự bao gồm đại diện cho pháp luật
và đại diện do uỷ quyền
-Đại diện theo pháp luật: đối với pháp nhân như doanh nghiệp nhà nước công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thì đại diện là giám đốc doanh nghiệp, giám đốc công ty
- Đối với doanh nghiệp tư nhân người đại diện là chủ sở hữu doanh nghiệp đó
-Đối với cá nhân có kinh doanh thì đại diện là người đứng tên đăng ký kinh doanh
-Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì người đại diện cho doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là người chỉ định trong điều lệ của doanh nghiệp(khoản 2 điều 22 nghị định 18/CP).-Đại diện theo uỷ quyền là người được đươgn sự uỷ quyền thay mặt cho
họ trong tố tụng kinh tế, việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản và người được uỷ quyền chỉ được thực hiện trong phạm vi uỷ quyền
Các chủ thể có quyền khởi kiện với nội dung tại điều 12 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đó là:
-Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có thể đăng ký kinh doanh
Trang 27-Cỏc tranh chấp giữa cụng ty với cỏc thành viờn của cụng ty giữa cỏc thành viờn của cụng ty với nhau liờn quan đến việc thành lập hoạt động và giải thể cụng ty.
-Cỏc tranh chấp liờn quan đến việc mua bỏn cổ phiếu, trỏi phiếu
-Cỏc tranh chấp kinh tế khỏc theo quy định của phỏp luật
Người khởi kiện chỉ được khởi kiện đối với những vụ ỏn kinh tế mà trước đú toà kinh tế chưa giải quyết bằng một quy định bản ỏn cú hiệu lực phỏp luật
Người khởi kiện phải làm đơn yờu cầu toà ỏn giải quyết vụ ỏn kinh tế trong thời hạn 6 thỏng kể từ ngày phỏt sinh tranh chấp
Người khởi kiện vụ ỏn kinh tế phai khởi kiện bằng một đơn khởi kiện nộp tại toà ỏn và đề nghị toà ỏn bảo vệ lợi ích hợp phỏp của mỡnh đang bị vị phạm Nội dung của đơn khởi kiện gồm: Nội dung của đơn khởi kiện gồm:
-Ngày, thỏng , năm viết đơn
-Toà ỏn được yờu cầu giải quyết vụ ỏn
-Tờn nguyờn đơn, bị đơn
-Túm tắt nội dung tranh chấp trị giỏ tranh chấp
-Quỏ trỡnh thương lượng của 2 bờn
-Yờu cầu đề nghị toà ỏn xột xử giải quyết
Đơn kiện phải cú chữ ký của nguyờn đơn hoặc người đại diện của nguyờn đơn, kốm theo đơn kiện phải cú tài liệu chứng minh cho cỏc yờu cầu của nguyờn đơn
b.Thụ lý vụ ỏn kinh tế:
Trang 28Là việc thẩm phán chấp nhận đơn của người khởi kiện và ghi vào sổ thụ lý của toà án.
Điều 33 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định Nếu toà
án xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình thì thông báo ngay cho nguyên đơn biết Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày được thông báo nguyên đơn phải nép tiền tạm ứng vụ án vào ngày nguyên đơn xuất trình chứng từ về việc nép tạm ứng án phí
Như vậy, toà án thụ lý vụ án kinh tế kể từ ngày nguyên đơn nép tiền tạm ứng án phí Mọi trường hợp khởi kiện vụ án kinh tế nguyên đơn đều phải nép tạm ứng án phí điều đó còn tuỳ thuộc vào loại vụ án và mức độ lỗi của nguyên đơn và bị đơn trong vụ án do toà giải quyết Do đó trước khi thô lý vụ
án toà án phải kiểm tra xem có đủ điều kiện để thụ lý vụ án hay không, nếu xét thấy không đủ điều kiện toà án phải trả lại đơn kiện
Toà án trả lại đơn kiện trong những trường hợp sau:
- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện
- Thời hạn khởi kiện đã hết
- Sù việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quy định đã có hiệu lực pháp luật của toà án hoặc của cơ quan có thẩm quyền khác
-Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án
-Sự việc không được các bên thoả thuận trước là phải giải quyết theo thủ tục trọng tài
2 Chuẩn bị xét xử:
Sau khi thô lý vụ án, toà kinh tế phải tiến hành chuẩn bị xét xử việc chuẩn bị xét xử có ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên toà sau này
Thời hạn chuẩn bị xét xử là 40 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án Đối với các
vụ án phức tạp thời hạn này có thể được kéo dài nhưng không quá 60
Trang 29ngày.Trong quá trình chuẩn bị xét xử toà án kinh tế phải tiến hành những công việc sau:
* Quy định về thời hạn:
Toà án phải thông báo cho bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan biết nội dung đơn kiện trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ lý
vụ án Những người được thông báo có nghĩa vụ phải gửi cho toà án ý kiến của mình bằng văn bản về đơn kiện và các tài liệu khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được thông báo Trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn không quá 20 ngày
Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà có quyết định:
- Đưa vụ án ra xét xử
- Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án
- Đình chỉ việc giải quyết vụ án
Sau khi quyết định đưa vụ án ra xét xử toà án phải gửi hồ sơ vụ án cho viện kiểm soát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn 5 ngày
*Toà án tiến hành xác minh và thu thập chứng cứ
Trong tố tụng kinh tế, mặc dù nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương
sự, toà án khồn có nghĩa vụ chứng minh Tuy nhiên để đảm bảo xét xử vụ án chính xác và khách quan đúng pháp luật Toà án có thể thực hiện quyền chững minh thu thập chứng cứ của mình bằng cách tiến hành xác minh và thu thập chứng cứ
Điều 36 pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế ngày 16/3/1994 quy định: trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nếu xét thấy cần thiết, toà án có thể tiến hành hoặc uỷ thác cho toà án khác tiến hành xác minh thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết vụ án