Internet băng rộng với công nghệ ADSL sử dụng cáp đồng đã tạo nên bước tiến bùng nổ trong việc truyền tải dữ liệu.. Tuy nhiên, công nghệ ADSL đang đứng trước nguy cơ phải nhường vị trí “
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời gian thực tập tại Công ty điện thoại Hà Nội 3, em đã học được khá nhiều kinh nghiệm thực tế đó là môi trưởng làm việc nghiêm túc, nhanh nhẹn , khả năng phản ứng linh hoạt trong công việc Thực tập giúp chúng em có được một cái nhìn thực tế vế những kiến thức mình đã học được ở nhà trường, tiếp cận gần hơn với công việc mà mình sẽ làm sau này Em chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Thu Hiên, các thầy cô trong khoa và các anh chị cô chú trong Công ty điện thoại Hà Nội 3, đặc biệt là anh Nguyễn Trung Hải đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ chúng em rất nhiều trong giai đoạn thực tập, cũng như tài liệu báo cáo thực tập và đã tận tình chỉ bảo chúng em hoàn thành bài báo cáo này Mặc dù đã cố gắng hết sức song không thể tránh khỏi những sai lầm thiếu sót mong thầy cô và các anh chị cô chú trong công ty thông cảm và góp ý cho e hoàn thành tốt bài báo cáo này
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 21 tháng 7 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Thái Thị Mỹ Hạnh
Trang 2TÓM TẮT NỘI DUNG
Thông tin liên lạc đã ra đời từ lâu và hiện nay là ngành không thể thiếu ở bất cứ quốc gia nào Nó là yếu tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đồng thời góp phần nâng cao đời sống xã hội của con người, để có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội Ngày nay các dịch vụ thông tin thoại, thông tin số liệu, truyền dẫn hình ảnh và thông tin di động ngày càng phát triển đa dạng và phong phú Các mạng thông tin đã được nâng cấp cả về tính năng cũng như công nghệ
Internet băng rộng với công nghệ ADSL (sử dụng cáp đồng) đã tạo nên bước tiến bùng nổ trong việc truyền tải dữ liệu Với khả năng kết nối, truyền tải dữ liệu gấp hàng chục đến hàng trăm lần modem quay số, ADSL đã biến Internet trở nên gần gũi, bình dân với bất kỳ quốc gia nào
Tuy nhiên, công nghệ ADSL đang đứng trước nguy cơ phải nhường vị trí “thống trị” bấy lâu này cho một loại công nghệ truyền dẫn mới hơn, đó là công nghệ truyền dẫn cáp quang (thông qua kiến trúc mạng sử dụng cáp quang để kết nối viễn thông có tên FTTx (Fiber To The x) Hiện nay mạng FTTx đang đóng vai trò lớn do tiềm năng cung cấp băng thông cho khách hang lớn hơn so với cáp đồng, đáp ứng nhu cầu truyền thoại, dữ liệu và video trên nền IP Trong đó, mạng quang thụ động PON (Passive Optical Network) là một giải pháp triển vọng đầy hứa hẹn trong mạng truy nhập để làm giảm bớt hiện tượng tắc nghẽn trong qúa trình cung cấp băng thông cho các dịch
vụ mà đòi hỏi băng thông lớn Mạng PON là mạng điểm đến đa điểm mà không có các thành phần tích cực trong tuyến truyền dẫn từ nguồn đến đích, cơ bản thì nó bao gồm sợi quang và các thiết bị thụ động Điều này làm tiết kiệm chi phí bảo dưỡng, phân phối thiết bị, cấp nguồn và tận dụng được kiến trúc mạng quang
Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Giới thiệu về Công ty điện thoại Hà Nội 3
Chương 2: Mạng truy nhập băng rộng
Chương 3: GPON
Trang 3NHẬN XÉT
(Của giảng viên hướng dẫn)
Trang 4
MỤC LỤC
CHƯƠNG I : GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY ĐIỆN THOẠI HÀ
NỘI 3 1
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY ĐIỆN THOẠI HÀ NỘI 3 1
1.2 CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ CÔNG TY CUNG CẤP 2
1.3 NỘI QUY AN TOÀN LAO ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM 2
CHƯƠNG 2: MẠNG TRUY NHẬP BĂNG RỘNG 4
2.1 TÌM HIỂU VỀ MẠNG TRUY NHẬP BĂNG RỘNG ADSL 4
2.1.1 Giới thiệu chung 4
2.1.2 Sơ đồ kết nối 5
2.1.3 Các thành phần thiết bị MegaVNN từ phía Nhà cung cấp dịch vụ (ISP): 5
2.1.4 IP DSLAM 6
2.2 TÌM HIỂU VỀ MẠNG TRUY NHẬP QUANG FTTX 7
2.2.1 Sự cần thiết của mạng cáp quang truy nhập 7
2.2.2 Phân loại 7
2.2.3 Các công nghệ mạng truy nhập quang 9
CHƯƠNG 3: MẠNG GPON 12
3.1 KIẾN TRÚC MẠNG GPON 12
3.2 CÁC YÊU CẦU VỀ DỊCH VỤ CỦA GPON 12
3.3 HIỆU NĂNG QUANG 13
3.4 CHUYỂN MẠCH BẢO VỆ TRONG GPON 13
3.5 AN NINH TRONG HỆ THỐNG GPON 15
3.6 NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC PHÂN PHỐI MẠNG CÁP QUANG FTTx - GPON 15
Trang 53.6.1 Các sở cứ tổ chức mạng phân phối cáp quang (ODN) 15
3.6.2 Nguyên tắc phối cáp 16
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Sơ đồ kết nối từ nhà kết nối tới khách hàng 5
Hình 2.2: Công nghệ truy nhập quang chủ động 9
Hình 2.3: Công nghệ truy nhập quang thụ động 10
Hình 2.4: Cấu trúc mạng truy nhập cáp quang thụ động 10
Hình 2.5: Các cấu trúc mạng truy nhập cáp quang FTTx 11
Hình 3.1 Kiến trúc mạng GPON tổng quát và các đặc tính 12
Hình 3.2 Chuyển mạch bảo vệ 1+1 14
Hình 3.3 Chuyển mạch bảo vệ 1:N 14
Trang 7CHƯƠNG I : GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY ĐIỆN THOẠI
HÀ NỘI 3
Công ty điện thoại Hà Nội 3 là một bộ phận trực thuộc Viễn thông Hà Nội
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY ĐIỆN THOẠI HÀ NỘI 3
Ngày 6/12/2007, Hội đồng Quản trị Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
đã có quyết định số 625/QĐ-TCCB/HĐQT về việc chính thức thành lập Viễn thông
Hà Nội
Theo đó, Viễn thông Hà Nội là doanh nghiệp được chia tách từ Bưu điện TP Hà Nội (cũ) Sau hơn nửa thế kỷ thành lập và phát triển, kể từ ngày 1/1/2008 Bưu điện TP
Hà Nội (cũ) đã chính thức được chia tách thành 2 pháp nhân mới, đó là Bưu điện TP
Hà Nội (mới) và Viễn thông Hà Nội Đây là kết quả của tiến trình đổi mới tổ chức tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam theo chủ trương của Nhà nước về việc tổ chức mô hình Tập đoàn và chia tách bưu chính viễn thông, nhằm tạo điều kiện cho kinh doanh bưu chính, viễn thông cùng phát triển, kịp thời thích ứng với môi trường cạnh tranh, hội nhập
Ngày 30/9/2008, tại Hà Nội, đã diễn ra Lễ ký biên bản bàn giao thực hiện phương
án tổ chức sản xuất kinh doanh Bưu chính viễn thông trên địa bàn TP Hà Nội Đây là
lễ ký biên bản bàn giao giữa Bưu điện, Viễn thông các tỉnh Hà Tây (cũ), Vĩnh Phúc, và Hòa Bình với Bưu điện, Viễn thông Hà Nội để thực hiện phương án tổ chức SXKD Bưu chính Viễn thông trên địa bàn TP Hà Nội mở rộng sau sáp nhập
Sau khi sáp nhập, toàn bộ Viễn thông Hà Tây cộng thêm bộ máy sản xuất của Viễn thông Hòa Bình tại 04 xã của huyện Lương Sơn được tổ chức thành Công ty Điện thoại Hà Nội 3, trở thành đơn vị kinh tế trực thuộc Viễn thông Hà Nội Công ty Điện thoại Hà Nội 3 sẽ được cơ cấu tổ chức thống nhất theo mô hình tổ chức sản xuất của
02 Công ty Điện thoại Hà Nội 1 và 2 trực thuộc Viễn thông Hà Nội Với mô hình cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, khoa học, năng động và hiệu quả,cán bộ quản lí và kĩ thuật có trình độ chuyên môn cao, đội ngũ công nhân kĩ thuật lành nghề, giàu kinh nghiệm, có
uy tín lâu năm
Trang 81.2 CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ CÔNG TY CUNG CẤP
Các dịch vụ hiện nay của Công ty điện thoại Hà Nội 3
Dịch vụ điện thoại cố định sử dụng cáp đồng (PSTN) và điện thoại cố định không dây Gphone
Dịch vụ internet tốc độ cao ADSL Mega VNN
Dịch vụ internet trên đường truyền quang FTTH
Dịch vụ truyền số liệu trên cáp quang: Metronet, VPN,…
Dịch vụ truyền số liệu trên cáp dồng Mega One
Dịch vụ Vinaphone
1.3 NỘI QUY AN TOÀN LAO ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM
1 Cả hai phía người sử dụng lao động và người lao động đều phải tuân thủ các quy định, nội quy, biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động có liên quan đến công việc, nhiệm vụ của mình
2 Tất cả người lao động đều phải bảo đảm an toàn thiết bị máy móc, công cụ lao động, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động
3 Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ
cá nhân trong lao động bảo đảm an toàn lao động vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động
4 Người lao động phải sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được cấp, nếu làm mất hoặc hư hỏng thì phải bồi thường
5 Người lao động phải báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp gây độc hại hoặc sự cố nguy hiểm, tham gia cấp cứu và khắc phục hậu quả tai nạn lao động khi có lệnh của người sử dụng lao động
6 Trường hợp nơi làm việc, thiết bị, máy móc có nguy cơ tai nạn gây mắc
bệnh nghề nghiệp, trưởng đơn vị phải thực hiện nghiêm những biện pháp an toàn, vệ sinh lao động Trên các phiếu công tác phải có câu nhắc nhở an toàn lao động in đậm nét và phát tận tay người lao động Nếu kiểm tra thấy không bảo đảm cho người lao
Trang 9động, trưởng đơn vị phải ra lệnh ngừng hoạt động cho tới khi nguy cơ gây mất an toàn lao động được khắc phục
7 Người lao động cần tuân thủ chặt chẽ quy trình an toàn về điện khi thực hiện xử
lý tại các công trình ngoại vi
Trang 10CHƯƠNG 2: MẠNG TRUY NHẬP BĂNG RỘNG
Internet băng rộng với công nghệ ADSL (sử dụng cáp đồng) đã tạo nên bước tiến bùng nổ trong việc truyền tải dữ liệu Với khả năng kết nối, truyền tải dữ liệu gấp hàng chục đến hàng trăm lần modem quay số, ADSL đã biến Internet trở nên gần gũi, bình dân với bất kỳ quốc gia nào
Tuy nhiên, công nghệ ADSL đang đứng trước nguy cơ phải nhường vị trí “thống trị” bấy lâu này cho một loại công nghệ truyền dẫn mới hơn, đó là công nghệ truyền dẫn cáp quang (thông qua kiến trúc mạng sử dụng cáp quang để kết nối viễn thông có tên FTTx (Fiber To The x)
2.1 TÌM HIỂU VỀ MẠNG TRUY NHẬP BĂNG RỘNG ADSL
2.1.1 Giới thiệu chung
Dịch vụ internet băng rộng ADSL (Mega VNN) ra đời năm 2006 đã phát triển mạnh và gần như thay thế hoàn toàn internet dialup trước kia xDSL là công nghệ cho phép chuyển các đường điện thoại truyền thống thành các đường tốc độ cao truyền dữ liệu, thông tin giải trí… xDSL là công nghệ truyền thông băng rộn mới có khả năng cho phép truy nhập tốc độ cao sử dụng đường điện thoại truyền thống xDSL phụ thuộc vào các tham số truyền dẫn như khoảng cách cáp từ nhà thuê bao tới tổng đài, đường kính cáp đồng, cấu hình đấu nối cáp ADSL chính là một nhánh của công nghệ xDSL ADSL cung cấp một băng thông không đối xứng trên một đôi dây Thuật ngữ không đối xứng ở đây để chỉ sự không cân bằng trong dòng dữ liệu tải xuống (download) và tải lên (upload) Dòng dữ liệu tải xuống có băng thông lớn hơn băng thông dòng dữ liệu tải lên ADSL ra đời vào năm 1989 trong phòng thí nghiệm ADSL1 cung cấp 1,5 Mbps cho đường dữ liệu tải xuống và 16 kbps cho đường đường
dữ tải lên, hỗ trợ chuẩn MPEG-1 ADSL2 có thể cung cấp băng thông tới 3 Mbps cho đường xuống và 16 kbps cho đường lên, hỗ trợ 2 dòng MPEG-1 ADSL 3 có thể cung cấp 6 Mbps cho đường xuống và ít nhất 64 kbps cho đường lên, hỗ trợ chuẩn MPEG-
2 Dịch vụ ADSL mà chúng ta hay sử dụng hiện nay theo lý thuyết có thể cung cấp cung cấp 8 Mbps cho đường xuống và 2 Mbps cho đường lên
Trang 11Đặc điểm chung của ADSL:
Có thể truyền đồng thời dữ liệu và thoại trên cùng đôi dây
Cung cấp dịch vụ luôn bật không cần quay số
Sử dụng công nghệ số
Sử dụng các sơ đồ mã hóa đường truyền đạt hiệu suất cao
Chia đường truyền làm 3 băng tần : băng thấp dành cho thoại, 2 băng tần cao dành cho
dữ liệu
2.1.2 Sơ đồ kết nối
Hình 2.1: Sơ đồ kết nối từ nhà kết nối tới khách hàng
2.1.3 Các thành phần thiết bị MegaVNN từ phía Nhà cung cấp dịch vụ (ISP):
Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu xem các thiết bị cần có phía Nhà cung cấp dịch vụ (ISP) Như hình vẽ đã nêu ở trên, phạm vi ISP gồm có ba thành phần quan trọng :
DSLAM - DSL Access Multiplexer
BRAS - Broadband Access Server
Trang 12 Splitter - Bộ tách tín hiệu
a) DSLAM (Digital Subscriber Line Access Multiplexer, Bộ ghép kênh truy nhập
đường dây thuê bao số tập trung) : là một bộ ghép kênh có nhiệm vụ đảm bảo các dịch
vụ DSL (như ADSL, VDSL ) trên đôi dây đồng điện thoại
Chức năng: Thường được đặt gần với nút chuyển mạch (HOST hoặc tổng đài vệ tinh)
DSLAM là thiết bị đặt ở phía tổng đài, là điểm cuối của kết nối ADSL (mạch vòng) DSLAM có cấu trúc gồm khối giao tiếp phía xa (Remote terminal) và khối giao tiếp phía tổng đài (Center office)
Một thiết bị DSLAM có thể tập hợp nhiều kết nối thuê bao ADSL - có thể nhiều tới hàng trăm thuê bao - và tụ lại trên một kết nối cáp quang Sợi cáp quang này thường được nối tới thiết bị gọi là BRAS - Broadband Access Server, nhưng nó cũng
có thể không nối trực tiếp tới BRAS vì BRAS có thể được đặt tại bất cứ đâu
Sử dụng 2 loại DSLAM cho mạng truy nhập ADSL là ATM DSLAM và IP DSLAM
kết nối về trung tâm từ các DSLAM-HUB Các giao thức truyền thông được đóng gói
để truyền dữ liệu thông qua kết nối ADSL, vì vậy mục đích của BRAS là mở gói để hoàn trả lại các giao thức đó trước khi đi vào Internet Nó cũng đảm bảo cho kết nối của bạn tới ISP được chính xác giống như khi bạn sử dụng modem quay số hoặc ISDN
ADSL không chỉ rõ các giao thức được sử dụng để tạo thành kết nối tới Internet Phương pháp mà PC và Modem sử dụng bắt buộc phải giống như BRAS sử dụng để cho kết nối thực hiện được
Thông thường ADSL sử dụng hai giao thức chính là :
PPPoE – Point-to-Point Protocol over Ethernet Protocol
PPPoA – Point-to-Point Protocol over ATM
c) Splitter : Là bộ lọc có chức năng tách riêng tín hiệu thoại và dữ liệu tại đầu
nhà cung cấp dịch vụ Thông thường Spliter có thể được tích hợp cùng với DSLAM
2.1.4 IP DSLAM
Trang 13IP card thuê bao kết nối từ nguồn truyền qua sợi quang ( có 2 sợi ) đến Switch của IP Trên swich này có 24 cổng.Từ các cổng này nối đến BRAS.Thông tin được đóng thành gói để truyền
Mỗi IP có 2 Rack và 48 card:
+1card có 64 cổng
2.2 TÌM HIỂU VỀ MẠNG TRUY NHẬP QUANG FTTX
2.2.1 Sự cần thiết của mạng cáp quang truy nhập
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ băng rộng, đòi hỏi có hệ thống mạng với băng thông rộng và độ tin cậy cao ngày càng trở nên cấp thiết Mạng truy nhập băng rộng dựa trên hệ thống truy nhập xDSL với khoảng cách tới khách hàng như hiện nay đang lộ rõ những hạn chế nhất định về mặt băng thông cũng như khả năng cung cấp các dịch vụ mới như truy nhập Internet tốc độ cao (HSI), IPTV/Triple Play, truyền hình có độ phân giải cao (HDTV), Game-online, đấu nối truyền dẫn cho các trạm BTS 2G/3G,…Vì vậy, việc triển khai mạng truy nhập cáp quang là xu hướng tất yếu đối với mạng truy nhập băng rộng của VNPT Hà Nội trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai
Trong giai đoạn đầu, mạng cáp quang truy nhập triển khai tại các khu vực tập trung nhiều khách hàng, bao gồm:
- Các khu công nghiệp, khu văn phòng, khu công nghệ cao
- Trung tâm hội nghị, hội chợ, khu thương mại
- Các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, bệnh viện
- Các trung tâm thể thao, sân vận động
- Các khu đô thị mới, toà nhà cao tầng có mật độ thuê bao tập trung
Giai đoạn tiếp theo sẽ triển khai tới tất cả các khu dân cư và từng bước thay thế dần mạng truy nhập ADSL trên địa bàn Hà Nội
2.2.2 Phân loại
a) Phân loại theo chiều dài cáp quang
Như trong định nghĩa ta có các loại FTTH, FTTB, FTTU, FTTE… Điểm khác nhau của các loại hình này là do chiều dài cáp quang từ thiết bị đầu cuối của ISP (OLT) đến