Các khu công nghiệp mọc lên nhiều, ngoài việc thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho những người đang trong độ tuổi lao động thì dường như nó cũng phản
Trang 1MỤC LỤC
I Lý do chọn đề tài: 2
II Mục đích của đề tài: 3
III Khái niệm: 3
1 Phúc lợi xã hội: 3
a Khái niệm: 3
b Vai trò của phúc lợi xã hội: 5
c Mô hình phúc lợi xã hội tại nước ta qua các thời kì: 5
2 Khu công nghiệp: 6
a Khái niệm: 6
b Vai trò: 7
3 Quan hệ lao động: 7
a Khái niệm: 7
b Các chủ thể cấu thành lên một quan hệ lao động: 7
c Các loại quan hệ lao động: 8
4 Xung đột: 8
a Khái niệm: 8
b Nguyên nhân: 9
c Nhân tố cấu thành xung đột: 9
d Các loại xung đột trong khu công nghiệp: 9
IV Thực trạng phúc lợi xã hội doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay: 10
1 Phúc lợi bắt buộc: 10
2 Phúc lợi tự nguyện: 11
V Thực trạng đình công trong cả nước nói chung và phía Nam nói riêng: 11
VI Một số đề nghị cho giải pháp đình công trong khu công nghiệp phía Nam dựa vào phúc lợi xã hội doanh nghiệp thông qua khung phân tích kế hoạch hành động của vấn đề đình công (ngừng việc tập thể): 13
VII Kết luận: 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 2I Lý do chọn đề tài:
Trong công cuộc đổi mới đất nước, xã hội ngày càng ổn định và phát triển, nền kinh tế tiến lên theo hướng hội nhập quốc tế Để đáp ứng được nhu cầu này, chính phủ
đã ra quyết định thành lập rất nhiều khu công nghiệp trên cả nước
Các khu công nghiệp mọc lên nhiều, ngoài việc thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho những người đang trong độ tuổi lao động thì dường như nó cũng phản ánh sự mâu thuẫn, tranh chấp và xung đột giữa công nhân và nhà quản lý doanh nghiệp ngày càng nhiều
Dù thu hút một nguồn nhân lực từ khắp mọi nơi đổ về, nhưng hiện nay khu công nghiệp tại nước ta còn có nhiều hạn chế, đa số các khu công nghiệp chưa có điều kiện tạo ra sự an tâm cho người lao động về nhà ở, khu vui chơi giải trí hay các trường mẫu giáo dành cho con em công nhân… để nâng cao năng suất lao động Thậm chí, một số nhà quản lý doanh nghiệp trong khu công nghiệp còn chưa đảm bảo cho người lao động được hưởng quyền và lợi ích xứng đáng với công sức của họ Chính những điều trên đã và đang làm cho mối quan hệ lao động giữa công nhân và nhà quản lý doanh nghiệp trở nên mâu thuẫn Khi mâu thuẫn này đỉnh điểm sẽ trở thành xung đột Xung đột trong quan hệ lao động giữa công nhân và nhà quản lý doanh nghiệp thông thường xoay quanh xung đột về lợi ích, mà lợi ích thì dù người lao động hay người sử dụng lao động đều mong muốn được đảm bảo một cách tốt nhất vì lợi ích là động lực để con người lao động và phát triển
Nhà nước ta dù ở thời kì nào, cũng có những khoản ngân sách phù hợp cho phúc lợi xã hội, nhằm góp phần giảm bớt những vấn đề của xã hội mà xung đột giữa người lao động và người sử dụng lao động cũng nằm trong số đó Những chính sách phúc lợi
xã hội được ra đời nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho mọi đối tượng trong xã hội, ở lãnh vực lao động thì đối tượng được nhắm đến là người lao động và người sử dụng lao động Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, nước ta đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế, những chính sách phúc lợi xã hội doanh nghiệp đã giải quyết được một phần nào đó xung đột này nhưng đâu đây vẫn còn tồn tại mặt hạn chế nên chưa thể hài hoà được lợi ích của hai nhóm đối tượng trên Đặc biệt, trong các khu công nghiệp ở miền Nam, xung đột lợi ích này xảy ra nhiều và quy mô lớn hơn hết so với cả nước
Học viên nhìn nhận đây là một vấn đề quan trọng, nhà nước cần phải quan tâm
và giải quyết sao cho hạn chế đến mức thấp nhất xung đột lợi ích này nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp và nền kinh tế phát triển, từ đó mà cá nhân con người cũng phát triển Tất cả điều này được thực hiện thông những chính sách phúc lợi xã hội Đây chính là lý do học viên chọn đề tài này
Trang 3II Mục đích của đề tài:
- Làm rõ các khái niệm phúc lợi xã hội, khu công nghiệp, quan hệ lao động và xung đột
- Đánh giá thực trạng về phúc lợi xã hội doanh nghiệp hiện nay và mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động trong các khu công nghiệp phía Nam hiện nay
- Kiến nghị về những hạn chế cho phúc lợi xã hội doanh nghiệp hiện nay
III Khái niệm:
1 Phúc lợi xã hội:
a Khái niệm:
Theo tác giả Bùi Thế Cường thì phúc lợi xã hội có thể xem như là một hệ thống hay một thiết chế, mà chức năng xã hội của nó là đảm bảo những nhu cầu xã hội thiết yếu của các tầng lớp dân cư theo những điều kiện của cấu trúc xã hội Các nhu cầu xã hội cơ bản này liên quan đến nhu cầu về lương thực thực phẩm, việc làm và phát triển nghề nghiệp, thu nhập, nhà ở, chăm sóc sức khoẻ và học tập Với chức năng như vậy, phúc lợi xã hội có vai trò to lớn trong việc khắc phục khác biệt xã hội, tăng cường liên kết xã hội và đảm bảo ổn định xã hội
Theo tài liệu của tác giả Trần Hữu Quang thì phúc lợi xã hội là hệ thống các định chế, các chính sách và các hoạt động nhằm bảo đảm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất của người dân, với mục tiêu là làm sao cho mọi người dân có được một cuộc sống đàng hoàng, tử tế, xứng đáng với phẩm giá con người Hệ thống này bao gồm các lĩnh vực như: giáo dục, y tế, nhà ở, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các chính sách trợ giúp xã hội (hỗ trợ những tầng lớp nghèo, khó khăn…), và các chính sách cứu trợ xã hội (cứu trợ thiên tai, dịch bệnh…)
Theo Phó giáo sư – Tiến sĩ Mạc Văn Tiến thì thuật ngữ phúc lợi xã hội được dịch từ tiếng Anh là Social welfare Phúc lợi xã hội chung nhất được hiểu là một hệ thống các chính sách, các chương trình và các dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của xã hội hoặc các nhóm xã hội khác nhau về đời sống, kinh tế, văn hoá, tinh thần, giáo dục và chăm sóc sức khoẻ…Ông cho rằng các chính sách và giải pháp phúc lợi xã hội tập trung vào nhóm người yếu thế, nhóm người thiệt thòi trong xã hội nhiều hơn nhằm hướng tới sự công bằng xã hội
Dưới giác độ kinh tế học phúc lợi, phúc lợi xã hội là những biện pháp của nhà nước và xã hội nhằm khắc phục những “thất bại”, khiếm khuyết của thị trường Bản chất của phúc lợi xã hội là làm giảm thiểu sự bất công bằng trong xã hội, đảm bảo cho các thành viên trong xã hội đều có thể thụ hưởng những cái “chung” của xã hội
Trong kinh tế học phúc lợi, một vấn đề thường được đưa ra bàn luận trong phúc lợi xã hội là mối quan hệ giữa hiệu quả và công bằng Liệu có thể đánh đổi, “hy sinh” hiệu quả (kinh tế, xã hội ) để có đạt được công bằng xã hội hay không? hoặc đánh đổi thì ở giới hạn nào có lợi nhất, vừa đạt được hiệu quả, vừa đảm bảo được công bằng Trong nền kinh tế thị trường, với việc tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp phải tính đến hiệu quả kinh tế với việc giảm thiểu các chi phí, trong đó có các chi phí cho phúc lợi xã hội Ngược lại, Chính phủ muốn xã hội ổn định, phải có các giải pháp,
Trang 4chính sách để giảm bớt sự bất công trong xã hội Hai mục tiêu này dường như là mâu thuẫn khó dung hoà Tuy nhiên, trên thực tế, kinh tế học phúc lợi đã chỉ ra rằng xã hội
sẽ phát triển bền vững nếu như dung hoà được hiệu quả và công bằng
Kinh tế học phúc lợi xã hội chỉ ra rằng, trong phúc lợi xã hội vai trò của Chính phủ là rất lớn và chỉ có Chính phủ mới có thể điều chỉnh được những khiếm khuyết, những thất bại của thị trường
Đối với các nhà hoạch định chính sách phúc lợi xã hội là làm sao tiếp cận đến
sự cân bằng hai yếu tố hiệu quả và công bằng, cái gì có thể đánh đổi được và cái gì là không thể để đạt được cả hai yếu tố này Như vậy, về bản chất, phúc lợi xã hội không phải là sự cho không mà đó là chính sách và các giải pháp của Chính phủ, với nguồn lực còn hạn chế, phải đảm bảo đem lại lợi ích cho số đông, nhưng không vì thế mà làm tổn hại đến lợi ích của số ít; đồng thời phải tiệm cận được hai yếu tố hiệu quả và công bằng
b Vai trò của phúc lợi xã hội:
- Phúc lợi xã hội góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động
- Phúc lợi xã hội trong đó có bảo hiểm xã hội góp phần làm tăng thêm mối quan
hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước, cho họ thấy rõ được trách nhiệm của từng đối tượng tham gia đóng góp Đồng thời, góp phần ổn định nền kinh tế xã hội Nhà nước đóng vai trò điều hành hoạt động quỹ bảo hiểm xã hội, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho mội đối tượng thụ hưởng Người lao động và người sử dụng lao động đều đóng góp vào quỹ này, chỉ khác là người sử dụng lao động đóng góp cho người lao động được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội
- Phúc lợi xã hội góp phần giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và kẻ nghèo, đảm bảo sự công bằng xã hội vì phúc lợi xã hội phân phối theo hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp, những người yếu thế trong xã hội
c Mô hình phúc lợi xã hội tại nước ta qua các thời kì:
Nước ta đã trải qua ba kiểu mô hình phúc lợi xã hội như sau:
Phúc lợi xã hội
truyền thống
hàng
làng xã, các hiệp hội tổ chức tôn giáo, …)
đình và gia đình mở rộng đóng vai trò đầu tiên, nhưng dòng họ và các thiết chế cộng đồng có vai trò rất quan trọng
khổ luật pháp và ácc điều chỉnh đối với phúc lợi xã hội làng xã
Phúc lợi xã hội
dựa trên nền
Bảo đảm xã hội toàn dân thông qua việc gắn người
Trang 5kinh tế kế
hoạch hoá xã
hội chủ nghĩa
(từ cuối những
năm 1950 ở
miền Bắc và từ
cuối những
năm 1970 trên
cả nước đến
cuối những
năm 1980)
nước
dân vào hệ thống phúc lợi
xã hội khu vực nhà nước, tập thể
cho người lao động trong khu vực nhà nước và một
hệ thống bảo đảm xã hội cho khu vực tập thể, đặc biệt ở nông thôn
Phúc lợi xã hội
dựa trên nền
kinh tế thị
trường định
hướng xã hội
chủ nghĩa (từ
cuối những
năm 1980 đến
nay)
vị cơ quan nhà nước và không nhà nước
nòng cốt, đồng thời thu hút
và phát huy sự tham gia của mọi thành phần, lĩnh vực vào phúc lợi xã hội
trò của khu vực tư nhân
nước địa phương
đình
bảo hiểm xã hội cho toàn dân, cho mọi khu vực xã hội
và hành chính cho các tổ chức bảo hiểm xã hội nhà nước
(Nguồn: Bui The Cuong, Truong Si Anh, Daniel Goodkind, John Knodel and Jed Friedman Vietnamese Elderly Amidst Transformations in Social Welfare Policy PSC Reports 1999)
Thực tế phúc lợi xã hội ở nước ta đã trải qua ba mô hình phúc lợi xã hội ở trên Đây có thể là một quá trình tất yếu, mô hình sau không thay thế hoàn toàn mô hình trước mà giữ lại một số đặc điểm của mô hình cũ Điều này dẫn đến sự kết hợp, pha trộn của cả ba mô hình phúc lợi xã hội trong giai đoạn hiện nay
Trang 62 Khu công nghiệp:
a Khái niệm:
Khu công nghiệp là khu vực dành cho sự phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nhằm bảo đảm sự hài hoà và cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội
và môi trường
Khu công nghiệp còn là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp, thực hiện các nhiệm vụ cho sản xuất công nghiệp, quy hoạch có ranh giới theo một địa lý nhất định
Khu công nghiệp phải do chính phủ ra quyết định thành lập mới là khu công công nghiệp hợp pháp
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch đầu tư 6/2017 thì nước ta hiện nay có 325 khu công nghiệp với tổng diện tích tự nhiên hơn 94ha Đồng thời giai đoạn từ 2015 – 2020, hình thành hệ thống các khu công nghiệp chủ đạo có vai trò dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc gia và hình thành các khu công nghiệp hợp lý để tạo điều kiện phát triển công nghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại những địa phương có tỷ trọng công nghiệp tương đối cao trong GDP
b Vai trò:
- Khu công nghiệp đã tạo nên giá trị gia tăng cao về giá trị sản xuất công nghiệp, đóng góp lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Khu công nghiệp là nhân tố quan trọng nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế
- Khu công nghiệp đã góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của người lao động
- Khu công nghiệp góp phần tăng thu ngân sách cho những địa phương mà nó được thành lập
- Sự phát triển của khu công nghiệp thúc đẩy sự phát triển của các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp
- Sự phát triển khu công nghiệp đã đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa; tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng trong cùng một địa phương nói riêng và cả nước nói chung; góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái
3 Quan hệ lao động:
a Khái niệm:
Theo Bộ luật Lao động của nước ta năm 2012, “quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động
và người sử dụng lao động” Ngoài ra, quan hê lao động còn được hiểu là mối quan hệ giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau Quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan
hệ lao động tập thể được thể hiện bằng các hợp đồng lao động cá nhân và thoả ước lao động tập thể
b Các chủ thể cấu thành lên một quan hệ lao động:
Trang 7Có 3 nhóm chủ thể cấu thành quan hệ lao động: những người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước
Trong mối quan hệ này, người lao động và người sử dụng lao động thương lượng với nhau để đạt tới mục tiêu của mỗi bên, còn Nhà nước thiết lập hệ thống luật pháp và áp dụng các biện pháp để hai chủ thể trên phải tôn trọng luật Trong quá trình thực hiện các quy định pháp luật của Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động có thể phát hiện những điểm bất hợp lý hoặc không còn phù hợp, phản hồi lại để Nhà nước xem xét và kịp thời điều chỉnh
- Người lao động: là những người tham gia vào một thỏa thuận mà theo đó họ phải thực hiện một công việc nhất định, được cung cấp các phương tiện vật chất cần thiết để làm và được nhận một số tiền nhất định
- Người sử dụng lao động: người sử dụng lao động là người sở hữu vốn, là người chủ hợp đồng Ngoài ra, người sử dụng lao động còn là những người có quyền tuyển dụng, sa thải lao động hay họ là những người làm cho người khác phải làm việc Vì vậy, trong Bộ l uật Lao động của một số nước, tất cả những người làm công tác quản lý từ tổng giám đốc đến đốc công) đều được gọi là người sử dụng lao động
- Nhà nước: ban đầu, quan hệ lao động chỉ mới diễn ra giữa người sử dụng lao động
và người lao động Trong quan hệ đó, người lao động luôn là người yếu thế, chịu nhiều thiệt thòi, thậm chí là áp bức bóc lột Khi xã hội ổn định và phát triển, để bảo đảm cho sự phát triển đó, nhà nước tham gia vào với những can thiệp ban đầu là quy định các mức lương tối thiểu, thời gian làm việc tối đa trong ngày, tuần…, mối quan hệ ba bên dần dần được hình thành
Nhà nước có hai chức năng chủ yếu là:
luật cụ thể về quyền và nghĩa vụ của hai bên, các quy định về thủ tục, trình tự giải quyết các tranh chấp, xung đột
c Các loại quan hệ lao động:
- Quan hệ lao động cá nhân: là quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao động, cá nhân người lao động có thể đưa ra quyết định riêng của mình trong quan
hệ với người sử dụng lao động, mối quan hệ này được xác lập bởi hợp đồng lao động, đây là hình thức pháp lý xác định quan hệ giữa người có sức lao động và người muốn thuê lao động Hợp đồng lao động cá nhân phải nằm trong khuôn khổ các quy định pháp luật về lao động của mỗi quốc gia Có hai loại hợp đồng lao động: xác định thời hạn và không xác định thời hạn
- Quan hệ lao động tập thể: là quan hệ giữa một tập thể người lao động và người sử dụng lao động Bất cứ quyết định nào cũng tác động đến mọi thành viên của tập thể Đây là biểu hiện cần phân biệt giữa quan hệ lao động tập thể khác với một tập hợp của các quan hệ lao động cá nhân nên điều kiện tiên quyết của quan hệ lao động tập thể là người lao động phải có một thiết chế để đại diện cho mình, để tiến hành thương lượng và ký kết hợp đồng lao động hay các thoả ước lao động
Trang 8Thương lượng là một phương tiện hữu hiệu để điều chỉnh hay giải quyết các mâu thuẫn phát sinh Công đoàn chính là tổ chức đại diện cho tập thể người lao động đứng ra thương lượng với người sử dụng lao động nhằm đi đến một thoả ước lao động mà trong đó có sự đồng tình của cả hai bên
4 Xung đột:
a Khái niệm:
Xung đột là sự va chạm, sự xô xát, chống đối giữa những khuynh hướng đối lập, không tương hợp nhau trong ý thức của một cá nhân, trong sự tương tác liên cá nhân của các cá thể hay các nhóm người về nhu cầu, giá trị hay lợi ích; gắn liền với những trải nghiệm cảm xúc tiêu cực, gay gắt
Trong bất cứ điều kiện nào mà không có sự nhất trí giữa các cá nhân, nhóm, tổ chức thì xung đột có thể được thể hiện trong các quan điểm hoặc hành vi
Xung đột thường tăng lên do sự cạnh tranh để tiếp cận hoặc kiểm soát các cơ hội, các nguồn lực khan hiếm
b Nguyên nhân:
Theo K.Mark thì nguyên nhân dẫn đến xung đột bắt nguồn từ “mẫu thuẫn về lợi ích do sự phân phối không bình đẳng giữa các nguồn lực trong xã hội”
Còn theo Max Weber thì “những người bị loại/không đạt được về quyền lực, của cải và uy tín đã chọn lựa xung đột như một giải pháp”
Các trường phái thiên về chủ nghĩa duy vật biện chứng đều thừa nhận mẫu thuẫn lợi ích là nguyên nhân sâu xa và trực tiếp của xung đột Mẫu thuẫn dẫn đến xung đột có hai dạng chính, mẫu thuẫn về lợi ích và mâu thuẫn về giá trị hay quan điểm
Mâu thuẫn phát triển vì nhiều nguyên nhân và nhiều dạng khác nhau Nó xuất hiện từ những nhu cầu, tâm thế và niềm tin khác nhau của mỗi cá nhân Nếu giải quyết tốt, các mâu thuẫn có thể giúp cho quan hệ được củng cố Trái lại, khi mâu thuẫn không được giải quyết dẫn đến xung đột có thể gây nên những chấn thương về tâm lý, làm bùng nên ngọn lửa thù địch và gây nên sự phẫn uất, chia ly Mâu thuẫn vừa có khả năng tạo ra sự xây dựng cũng như phá vỡ quan hệ
Các nhà nghiên cứu về xung đột cho rằng nguyên nhân dẫn đến xung đột là do:
- Xung đột quyền lợi: đó là những đối thủ trong cuộc đấu tranh giành các nguồn lực khan hiếm, quyền lực, địa vị…
- Xung đột giá trị, quan điểm: là sự không đồng thuận về tính ưu tiên trong trật tự thứ hạng các giá trị Xuất hiện khi hai hay các bên khác nhau có sự đối lập trong việc nhìn nhận, đánh giá và xử lý đối với những giá trị nào đó
Không có mâu thuẫn thì không có xung đột nhưng không phải mâu thuẫn nào cũng có thể biến thành xung đột cũng như không phải mâu thuẫn nào cũng phải và được giải quyết bằng xung đột Để có thể dẫn đến xung đột, mâu thuẫn phải được tích
tụ, dồn nén đủ mức độ cần thiết
c Nhân tố cấu thành xung đột:
Theo Stulberg thì có năm nhân tố cấu thành xung đột:
Trang 9- Nhận thức: con người thường nhận thức về xung đột theo hướng tiêu cực, do đó phản ứng tiêu cực với xung đột khi nó phát sinh Khi cố gắng loại trừ những yếu tố gây ra xung đột với quan điểm này, ta vô tình kích thích xung đột
- Vấn đề: bất kì ai cũng có thể bị cuốn vào xung đột, bao gồm những người trực tiếp đến quyền lợi, những người chịu ảnh hưởng gián tiếp, những người thamm gia giải quyết
- Quá trình: giải quyết xung đột có cần một qúa trình (cần phải có thời gian) và quy trình thích hợp
- Nguyên tắc: xác định các bước tiến hành, việc ưu tiên xử lý với mỗi xung đột cũng quan trọng, xác định cần dựa trên cơ sở hiệu quả, mức độ và các bên tham gia, công bằng và độ phức tạp…
- Hoàn cảnh thực tiễn: quyền lực, lợi ích cá nhân và các tình huống nhất định là các nguyên nhân trực tiếp đưa đến cách giải quyết xung đột mỗi bên
d Các loại xung đột trong khu công nghiệp:
- Xung đột cá nhân: Một cá nhân có thể bị mâu thuẫn vì họ gặp phải sự bất ổn trong các vai trò của họ mà cùng lúc họ phải đảm nhận Cá nhân này có thể là người lao động hay người sử dụng lao động Ngoài ra xung đột cá nhân còn là
sự tranh chấp giữa cá nhân người lao động và gnuowif sử dụng lao động phát sinh trong quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật vào từng quan hệ lao động cụ thể, đặc biệt là quyền và lợi ích của họ
- Xung đột nhóm: nguyên nhân thông thường nhất là xung đột giữa các nhóm trong doanh nghiệp mà nguồn lực khan hiếm, cần phải có thêm nguồn lực và nhu cầu này mở ra xung đột Sự độc lập giữa các nhiệm vụ cũng tạo ra xung đột
và thêm vào đó, các mục tiêu tương tự có sự tiềm ẩn với việc tạo ra xung đột Khi các mục tiêu không được chia một cách tương hỗ cho nhau thì xung đột có thể xảy ra Nó là sự tranh chấp giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động, phát sinh trong việc thực hiện các điều khoản đã thoả thuận hoặc trong việc thiết lập các quyền và nghĩa vụ của hai bên Tranh chấp tập thể này
có hai dạng về quyền và về lợi ích
IV Thực trạng phúc lợi xã hội doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay:
Theo Giáo sư – Tiến sĩ Bùi Thế Cường thì phúc lợi xã hội trong doanh nghiệp
đã được chú trọng từ thời kì kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nó là một bộ phận hợp thành hữu cơ của hệ thống phúc lợi xã hội do Nhà nước chỉ đạo chặt chẽ Có những điều khoản luật và hướng dẫn rõ ràng về cơ sở và chế độ phúc lợi cho người lao động Phúc lợi tốt cho công nhân viên trong công ty trở thành một tiêu chí quan trọng để công luận đánh giá về mặt chất lượng cơ quan và ban lãnh đạo doanh nghiệp
Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa thì phúc lợi xã hội trong doanh nghiệp lại càng quan trọng hơn nữa
Nhìn chung, các doanh nghiệp nhà nước thực hiện đầy đủ hầu hết những chính sách phúc lợi xã hội cho người lao động vì họ phải tuân thủ quy định của nhà nước, bên cạnh đó cũng do tác động của các định chế xã hội, phúc lợi sẵn có của doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đang
Trang 10từng bước phát triển hệ thống phúc lợi của doanh nghiệp và thực hiện đúng với chính sách ấy Tuy nhiên, cũng có một số doanh nghiệp vừa và nhỏ bỏ qua chế độ phúc lợi với người lao động vì họ cho rằng đây là gánh nặng của doanh nghiệp, làm tăng chi phí sản xuất, giảm mức đầu tư… mà họ quên đi những ý nghĩa mà phúc lợi xã hội đem lại rất nhiều, như: tăng uy tín của doanh nghiệp; doanh nghiệp cũng phát triển bền vững hơn khi thực hiện tốt các chế độ phúc lợi cho người lao động vì khi được hưởng những chế độ này, đời sống vật chất, tinh thần của họ được nâng cao, họ sẽ có thêm thời gian và làm việc hết năng suất, góp phần đưa doanh nghiệp đi lên
Các phúc lợi doanh nghiệp mà người lao động được hưởng hiện nay bao gồm 2 loại:
1 Phúc lợi bắt buộc:
Là các khoản phúc lợi tối thiểu mà doanh nghiệp phải đưa ra theo yêu cầu của pháp luật, bao gồm:
- Bảo hiểm xã hội: có 5 chế độ: tự cấp ốm đau, tai nạn lao động/bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí, tử tuất
- Bảo hiểm y tế
- Trợ cấp thất nghiệp
2 Phúc lợi tự nguyện:
Là các khoản phúc lợi do doanh nghiệp đó đưa ra, tuỳ thuộc vào khả năng kinh
tế và sự quan tâm của người lãnh đạo doanh nghiệp đó Bao gồm các loại sau:
- Các loại bảo hiểm: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm mất khả năng lao động…
- Các phúc lợi bảo đảm: bảo hiểm thu nhập khi người lao động mất việc vì lý do
từ phía doanh nghiệp, bảo đảm hưu trí
- Tiền trả cho những thời gian không làm việc: nghỉ phép, nghỉ giữa giờ, giải lao,
du lịch
- Phúc lợi do lịch làm việc linh hoạt: quy định tổng số giờ làm việc trong một ngày/ một tuần, xoay ca, chia sẻ công việc giữa những người lao động với nhau
- Các loại dịch vụ cho người lao động:
phiếu của công ty, hỗ trợ tài chính cho người lao động khấu trừ dần vào lương
cao trình độ, tay nghề cho người lao động