Tự thực hiện được áp dụng đối với gói thầu thuộc dự án, dự toán mua sắmtrong trường hợp tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng gói thầu có năng lực kỹ thuật,tài chính và kinh nghiệm đáp ứng
Trang 1Câu 1: Bên mời thầu đánh giá theo Hướng chấp nhận nhân sự Chỉ huy trưởng công trường cho cả 2 gói thầu
Trả lời: Theo hướng dẫn tại các Mẫu hồ sơ mời thầu (HSMT) xây lắp ban
hành kèm Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư, nhà thầu phải đề xuất một số vị trí nhân sự chủ chốt tham gia thực hiện góithầu theo yêu cầu của HSMT Theo đó, nhà thầu phải kê khai những nhân sự chủchốt có năng lực phù hợp, đáp ứng các yêu cầu quy định tại HSMT và có thể sẵnsàng huy động cho gói thầu; không được kê khai những nhân sự đã huy động chogói thầu khác có thời gian làm việc trùng với thời gian thực hiện gói thầu này.Trường hợp kê khai không trung thực thì nhà thầu sẽ bị đánh giá là gian lận
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định việc đánh giá HSDT phải căn cứ vàotiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trong HSMT, căn cứ vào HSDT đãnộp, các tài liệu giải thích, làm rõ HSDT của nhà thầu để bảo đảm lựa chọn đượcnhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu.Đối với các gói thầu trên, việc đánh giá HSDT (trong đó có nội dung nhân sựchỉ huy trưởng công trình) vẫn thực hiện theo tiêu chuẩn đánh giá quy định trongHSMT Trường hợp nhà thầu được xếp hạng thứ nhất trong cả hai gói thầu với đềxuất về nhân sự chủ chốt giống nhau, trong quá trình thương thảo hợp đồng, bênmời thầu cần yêu cầu nhà thầu làm rõ về khả năng huy động nhân sự cùng lúc thựchiện cả hai gói thầu Theo đó:
- Nếu thời gian làm việc của nhân sự chủ chốt cho các gói thầu không trùnglặp, bảo đảm việc huy động đầy đủ nhân sự chủ chốt để thực hiện cả hai gói thầutheo tiến độ thì nhà thầu được đề xuất trúng thầu các gói thầu này;
- Nếu thời gian làm việc của từng nhân sự chủ chốt cho các gói thầu có sựtrùng lặp, dẫn tới không huy động được đầy đủ nhân sự chủ chốt để thực hiện cácgói thầu theo tiến độ thì nhà thầu được lựa chọn trúng thầu một trong hai gói thầu.Nhìn chung, khi tham dự thầu, các nhà thầu thường kê khai các nhân sự đápứng tốt nhất HSMT nhằm được trúng thầu Trong tình huống trên, do 02 gói thầu
có nội dung, quy mô, tính chất giống nhau nên việc đề xuất nhân sự giống nhau là
dễ hiểu và không vi phạm nguyên tắc kê khai nhân sự đã đề cập Tuy nhiên, đối vớimọi gói thầu thì việc đánh giá tính đáp ứng của nhân sự mới chỉ là bước đầu, điềuquan trọng là cần làm rõ khả năng huy động nhân sự đó trong bước thương thảohợp đồng (nếu nhà thầu được xếp hạng thứ nhất) Thêm nữa, để bảo đảm tiến độ,chất lượng gói thầu thì việc giám sát tình hình huy động của các nhân sự chủ chốt
mà nhà thầu đề cập trước đây cũng rất quan trọng
Câu 2:
Theo quy định tại Điều 25 Luật đấu thầu quy định về Tự thực hiện thì
Trang 2Tự thực hiện được áp dụng đối với gói thầu thuộc dự án, dự toán mua sắmtrong trường hợp tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng gói thầu có năng lực kỹ thuật,tài chính và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của gói thầu.
Mặt khác theo Điều 61 của Nghị định 63/2014 Việc áp dụng hình thức tự
thực hiện phải được phê duyệt trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu" trên cơ sở tuânthủ quy định tại Điều 25 của Luật Đấu thầu và đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
1 Có chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động và ngành nghề kinh doanh phùhợp với yêu cầu của gói thầu;
2 Phải chứng minh và thể hiện trong phương án tự thực hiện về khả năng huyđộng nhân sự, máy móc, thiết bị đáp ứng yêu cầu về tiến độ thực hiện gói thầu;
3 Đơn vị được giao thực hiện gói thầu không được chuyển nhượng khốilượng công việc với tổng số tiền từ 10% giá gói thầu trở lên hoặc dưới 10% giá góithầu nhưng trên 50 tỷ đồng
Câu 3: Nhà thầu X tham dự một gói thầu do Ban Quản lý dự án đầu tư xây
dựng huyện A làm bên mời thầu Trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT)của Nhà thầu X, ngày 5/9/2017, Bên mời thầu đã phát hành văn bản yêu cầu Nhàthầu X làm rõ HSDT Văn bản này nêu rõ: “Trong vòng 3 ngày làm việc (từ ngày5/9/2017 đến hết ngày 7/9/2017), Nhà thầu X phải có văn bản gửi Bên mời thầu đểlàm rõ HSDT Nếu sau 3 ngày nêu trên, Nhà thầu X không có công văn phản hồithì HSDT của Nhà thầu X được coi là không đáp ứng yêu cầu của HSMT và bịloại”
Do trong thời hạn 3 ngày làm việc nêu trên Nhà thầu X chưa chuẩn bị kịp nộidung làm rõ HSDT nên chỉ nộp một phần tài liệu làm rõ HSDT, đến ngày thứ 4 nhàthầu này mới nộp đủ tài liệu làm rõ HSDT theo yêu cầu của Bên mời thầu Bênmời thầu đã nhận được văn bản làm rõ HSDT kèm theo các tài liệu cần thiết để làm
rõ HSDT của Nhà thầu X vào ngày 8/9/2017 và thời điểm này vẫn đang trong quátrình đánh giá HSDT của gói thầu đó
Hỏi: Bên mời thầu phải tiếp nhận và xử lý tài liệu làm rõ HSDT của Nhà thầu
X như thế nào để phù hợp quy định của pháp luật về đấu thầu?
Trả lời: Khoản 1, Điều 16 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định, sau khi
mở thầu, nhà thầu có trách nhiệm làm rõ HSDT theo yêu cầu của bên mời thầu.Trường hợp HSDT của nhà thầu thiếu tài liệu chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực
và kinh nghiệm thì bên mời thầu yêu cầu nhà thầu làm rõ, bổ sung tài liệu đểchứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm Đối với các nội dung đề xuất
về kỹ thuật, tài chính nêu trong HSDT của nhà thầu, việc làm rõ phải bảo đảmnguyên tắc không làm thay đổi nội dung cơ bản của HSDT đã nộp, không thay đổigiá dự thầu
Theo hướng dẫn của Trung tâm Hỗ trợ đấu thầu thuộc Cục Quản lý đấu thầu,
Trang 3và nhà thầu có HSDT cần làm rõ Nội dung làm rõ HSDT được bên mời thầu bảoquản như một phần của HSDT Đối với nội dung làm rõ ảnh hưởng trực tiếp đếnviệc đánh giá tư cách hợp lệ, năng lực, kinh nghiệm và yêu cầu kỹ thuật, tài chínhnếu quá thời hạn làm rõ mà nhà thầu không có văn bản làm rõ hoặc có văn bản làm
rõ nhưng không đáp ứng được yêu cầu làm rõ của bên mời thầu thì bên mời thầu sẽđánh giá HSDT của nhà thầu theo HSDT nộp trước thời điểm đóng thầu
Bên mời thầu cần lưu ý quy định về thời gian dành cho nhà thầu làm rõ HSDTphù hợp, tránh tình trạng quy định thời gian làm rõ HSDT quá ngắn, không phùhợp, dẫn đến nhà thầu không thể thu thập, chuẩn bị đủ tài liệu để làm rõ HSDTtheo đúng thời hạn bên mời thầu yêu cầu Trường hợp nhà thầu nộp bổ sung tài liệulàm rõ HSDT sau thời hạn mà bên mời thầu yêu cầu nhưng vẫn đang trong quátrình đánh giá HSDT thì bên mời thầu vẫn phải tiếp nhận, xem xét và đánh giá cáctài liệu do nhà thầu bổ sung, làm rõ để tăng tính cạnh tranh trong đấu thầu
Trường hợp cần thiết, bên mời thầu có thể gửi văn bản yêu cầu nhà thầu cókhả năng trúng thầu đến làm việc trực tiếp với bên mời thầu để làm rõ HSDT Nộidung làm rõ HSDT phải được ghi cụ thể thành biên bản Việc làm rõ HSDT trongtrường hợp này phải bảo đảm tính khách quan, minh bạch
Trong trường hợp nêu trên, Nhà thầu X nộp bổ sung tài liệu làm rõ HSDT sauthời hạn mà Bên mời thầu yêu cầu nhưng vẫn trong quá trình đánh giá HSDT thìBên mời thầu vẫn phải tiếp nhận, xem xét và đánh giá để tăng tính cạnh tranh trongđấu thầu
Câu 4: Một nhà thầu vừa có văn bản gửi Báo Đấu thầu hỏi về việc sau khi xem lại hồ sơ dự thầu (HSDT) đã nộp thì phát hiện ra HSDT của mình thiếu về năng lực và kinh nghiệm theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu (HSMT)
Chẳng hạn như có bằng cấp, chứng chỉ đại học của công nhân nhưng chưa đủnăm (thiếu tháng) theo yêu cầu của HSMT (ngày cấp bằng là 20/8/2014, ngày đóngthầu là 12/7/2017, thiếu hơn 1 tháng so với yêu cầu 3 năm của HSMT nên chưađạt), có hợp đồng tương tự nhưng thiếu giá trị theo yêu cầu của HSMT
Hỏi: Bên mời thầu có được phép đánh giá nhà thầu trên không đạt về năng
lực và kinh nghiệm theo yêu cầu của HSMT hay phải gửi văn bản yêu cầu nhà thầulàm rõ bổ sung về năng lực và kinh nghiệm? Nhà thầu có được phép thay thế bổsung làm rõ hợp đồng tương tự và nhân sự lao động khác không?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 16 khoản 1 và
2) thì sau khi mở thầu, nhà thầu có trách nhiệm làm rõ HSDT theo yêu cầu của bênmời thầu, bổ sung tài liệu để chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm.Đối với các nội dung đề xuất về kỹ thuật, tài chính nêu trong HSDT của nhà thầu,việc làm rõ phải bảo đảm nguyên tắc không làm thay đổi nội dung cơ bản củaHSDT đã nộp, không thay đổi giá dự thầu Trường hợp sau khi đóng thầu, nếu nhàthầu phát hiện HSDT thiếu các tài liệu chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực vàkinh nghiệm thì nhà thầu được phép gửi tài liệu đến bên mời thầu để làm rõ tư cáchhợp lệ, năng lực và kinh nghiệm của mình Bên mời thầu có trách nhiệm tiếp nhận
Trang 4những tài liệu làm rõ của nhà thầu để xem xét, đánh giá; các tài liệu bổ sung, làm
rõ về tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm được coi như một phần của HSDT.Trao đổi với Báo Đấu thầu, chuyên gia về đấu thầu cho rằng, trong quá trìnhđánh giá HSDT, nếu thấy nhà thầu không đạt về năng lực và kinh nghiệm theo yêucầu của HSMT thì bên mời thầu cần gửi văn bản yêu cầu nhà thầu làm rõ về nănglực và kinh nghiệm Nhà thầu được phép bổ sung, thay thế hợp đồng tương tự đểchứng minh năng lực của mình vì điều này không làm thay đổi bản chất của nhàthầu Còn đối với vấn đề nhân sự thì nhà thầu chỉ được phép bổ sung, làm rõ nănglực, kinh nghiệm của nhân sự đã đề xuất chứ không được thay đổi nhân sự thamgia đấu thầu
Về vấn đề nhân sự tham gia đấu thầu có bằng cấp, chứng chỉ đại học nhưngthiếu tháng theo yêu cầu của HSMT (ngày cấp bằng là 20/8/2014, ngày đóng thầu
là 12/7/2017 thiếu hơn 1 tháng so với yêu cầu của 3 năm của HSMT) thì có 2 cáchtính: cách tính tương đối và cách tính tuyệt đối Nếu tính tương đối thì từ năm 2014– 2017 được xem là 3 năm; còn nếu tính tuyệt đối thì 3 năm phải tròn 36 tháng (đốivới trường hợp này thì HSMT cần phải nói rõ là bằng cấp, chứng chỉ của nhân sự
có thời hạn đủ 3 năm kinh nghiệm, tính đến thời điểm đóng thầu)
Câu 5: Luật Đấu thầu (Điểm đ Khoản 1 Điều 22) quy định một trong các trường hợp được áp dụng chỉ định thầu là gói thầu di dời các công trình hạ tầng kỹ thuật do một đơn vị chuyên ngành trực tiếp quản lý để phục vụ công tác giải phóng mặt bằng.
Hỏi: Đối với gói thầu di dời công trình hạ tầng kỹ thuật thì có thể chỉ định
thầu cho đơn vị không trực tiếp quản lý công trình nhưng đáp ứng các điều kiện vềnăng lực, kinh nghiệm được hay không?
Trả lời: Một trong các trường hợp được áp dụng chỉ định thầu quy định tại
Khoản 1 Điều 22 Luật Đấu thầu là gói thầu di dời các công trình hạ tầng kỹ thuật
do một đơn vị chuyên ngành trực tiếp quản lý để phục vụ công tác giải phóng mặtbằng Việc chỉ định thầu trong trường hợp này không cần căn cứ hạn mức chỉ địnhthầu quy định tại Điểm e Khoản này Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 55Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, nhà thầu được xác định để nhận hồ sơ yêu cầu khi
có tư cách hợp lệ theo quy định tại các điểm a, b, c, d, e và h Khoản 1 Điều 5 LuậtĐấu thầu và có đủ năng lực, kinh nghiệm thực hiện gói thầu
Đối với câu hỏi trên, nếu đơn vị chuyên ngành trực tiếp quản lý công trình hạtầng kỹ thuật (gọi tắt là đơn vị chuyên ngành) có đủ năng lực, kinh nghiệm để thựchiện gói thầu di dời công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ giải phóng mặt bằng thìđược phép áp dụng hình thức chỉ định thầu Trong đó, đơn vị chuyên ngành cầnđược hiểu là đơn vị quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, đồng thời được giao quản
lý, lưu giữ các hồ sơ, tài liệu kỹ thuật liên quan đến công trình, từ đó bảo đảm tínhthống nhất khi đấu nối hạ tầng, hạn chế sự gián đoạn trong cung cấp sản phẩm,dịch vụ Trong trường hợp này, việc giao cho các đơn vị khác thực hiện là khôngkhả thi do các đơn vị này không đủ thông tin để thực hiện di dời công trình trên cơ
Trang 5sở bảo đảm tính thống nhất trong đấu nối hạ tầng và sự liên tục trong cung cấp sảnphẩm, dịch vụ có liên quan.
Trường hợp đơn vị chuyên ngành không đủ năng lực, kinh nghiệm, đồng thời
có nhiều doanh nghiệp khác đủ năng lực thực hiện công việc di dời công trình saukhi chủ đầu tư công bố các hồ sơ, tài liệu kỹ thuật thì không áp dụng hình thức chỉđịnh thầu, mà phải áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu khác theo quy định củapháp luật về đấu thầu cho phù hợp
Tóm lại, đối với gói thầu di dời công trình hạ tầng kỹ thuật thì việc chỉ địnhthầu phải đầy đủ hai yếu tố: Thứ nhất, chỉ định thầu cho đơn vị chuyên ngành trựctiếp quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; thứ hai, đơn vị chuyên ngành trực tiếpquản lý công trình hạ tầng kỹ thuật phải đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệmcủa gói thầu
Câu 6: Công ty tư nhân X đang thực hiện dự án đầu tư phát triển kết cấu
hạ tầng theo hình thức EPC.
Hỏi: Trường hợp Nhà nước thuê công ty tư nhân thực hiện thì dự án áp dụng
gói thầu EPC như trên có được coi là dự án PPP không?
Trả lời: Gói thầu EPC là gói thầu hỗn hợp EPC là các chữ viết tắt của cụm từ
tiếng Anh: Engineering - Procurement of goods - Construction Khái niệm nàyđược hiểu là trong cùng một gói thầu, một hợp đồng, nhà thầu được giao thực hiện
cả ba nội dung công việc: tư vấn (ví dụ: khảo sát, thiết kế, giám sát); mua sắmhàng hóa mà cụ thể là vật tư, thiết bị cho dự án; và thi công xây lắp công trình.Trong khi đó, đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) là hình thức đầu tưđược thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhàđầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng,cung cấp các dịch vụ công
Trong các dự án áp dụng gói thầu EPC, nhà thầu thực hiện xây dựng côngtrình, khi hoàn thành, công trình được giao cho Nhà nước quản lý, vận hành và nhàthầu được thanh toán các chi phí và lợi nhuận hợp lý Nhà thầu không chia sẻ cácrủi ro xảy ra trong quá trình quản lý, vận hành dự án với Nhà nước sau khi đã hếtthời gian bảo trì công trình Bên cạnh đó, thời gian thực hiện các dự án này chỉ baogồm thời gian chuẩn bị dự án và xây dựng công trình, ngắn hơn rất nhiều so vớithời hạn thực hiện của một dự án PPP
Về tài chính, việc huy động tài chính cho dự án EPC thường đơn giản hơn sovới một dự án PPP Trong các dự án áp dụng gói thầu EPC, nhà thầu chỉ có tráchnhiệm huy động vốn để đảm bảo việc hoàn thành công trình xây dựng và thườngnhận được ngay khoản thanh toán sau khi chuyển giao công trình Trong khi đó,đối với dự án PPP, nhà đầu tư phải đàm phán với các tổ chức tài chính để có đượcnhững khoản vay dài hạn và được hoàn trả từ nguồn thu của dự án trong suốt thờihạn hợp đồng
Trang 6Vì vậy, trường hợp Nhà nước thuê công ty tư nhân thực hiện dự án đầu tưphát triển kết cấu hạ tầng áp dụng gói thầu EPC thì không được coi là dự án PPP
Câu 7: Nhà máy in tổ chức lựa chọn nhà thầu Gói thầu Cung cấp và lắp đặt máy in chuyên dùng Hồ sơ mời thầu (HSMT) được phát hành từ ngày 16/05/2017; ngày 24/6/2017 sẽ đóng thầu và mở thầu.
Ngày 25/5/2017, một nhà thầu đã gửi fax cho Nhà máy đề nghị cho phépđược chào hai loại máy khác nhau về ý tưởng thiết kế, nhưng đáp ứng được cáctính năng và các yêu cầu kỹ thuật in nêu tại HSMT bằng hai bản chào riêng
Hỏi: Với tình huống như trên thì Nhà máy nên xử lý như thế nào?
Trả lời: Đây là một tình huống liên quan đến phương án thay thế trong hồ sơ
Tuy nhiên, đối với tình huống nêu trên, do thời điểm đóng thầu là ngày24/6/2017, trong khi bên mời thầu nhận được thông báo đề xuất phương án thaythế của nhà thầu vào ngày 25/5/2017 (chưa đến ngày đóng thầu) nên chủ đầu tưhoàn toàn có thể xem xét đề xuất trên của nhà thầu
Nếu chủ đầu tư xét thấy đề xuất của nhà thầu hợp lý, đem lại hiệu quả kinh tếcao cho gói thầu thì cần đề nghị người phê duyệt HSMT xem xét việc sửa đổiHSMT theo hướng cho phép nhà thầu chào phương án thay thế Phương án thaythế chỉ được xem xét trong trường hợp nhà thầu được xếp hạng thứ nhất và đượcmời vào thương thảo, tại bước thương thảo mới xem xét đến phương án thay thế.Trường hợp phương án thay thế được chấp nhận thì bên mời thầu không sửa lỗi,hiệu chỉnh sai lệch như HSMT mà lấy giá chào theo phương án thay thế của nhàthầu chào
Như vậy, trong trường hợp nói trên chủ đầu tư cần khách quan xem xét các đềnghị của nhà thầu, trường hợp cần thiết thì sửa đổi lại nội dung HSMT theo hướngcho phép chào phương án thay thế để đảm bảo hoạt động đấu thầu cạnh tranh, côngbằng và hiệu quả kinh tế
Câu 8: Gói thầu Xây lắp 01 thuộc Dự án X do liên danh Công ty A và Công ty B thi công Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty A đã hoàn thành công việc theo phân công trong thỏa thuận liên danh, Công ty B không hoàn thành phần việc của mình, để ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng Gói
Trang 7Hợp đồng bị chủ đầu tư tuyên bố không hoàn thành và thực hiện chấm dứttrong năm 2015 Hiện tại, chủ đầu tư đang tổ chức lựa chọn nhà thầu Gói thầu xâylắp số 05 cùng thuộc Dự án và Công ty A tham dự thầu với tư cách nhà thầu độclập.
Hỏi: Trong trường hợp này, Công ty A có bị coi là vi phạm tiêu chí “lịch sử
không hoàn thành hợp đồng quy định trong hồ sơ mời thầu (HSMT)” hay không?
Trả lời: Theo hướng dẫn tại các mẫu HSMT xây lắp ban hành kèm Thông tư
số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nội dungđánh giá năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu bao gồm tiêu chí lịch sử không hoànthành hợp đồng Theo đó, trong một số năm (thông thường từ 03 - 05 năm) gầnnăm có thời điểm đóng thầu, nhà thầu phải bảo đảm không có hợp đồng khônghoàn thành
Về vai trò của Công ty A trong liên danh Công ty A - Công ty B, theo quyđịnh của Luật Đấu thầu (Điều 4 Khoản 35), khi tham gia đấu thầu thì tất cả thànhviên liên danh đều là nhà thầu chính Trường hợp nhà thầu trúng thầu thì khi ký kếthợp đồng, các thành viên liên danh là một bên của hợp đồng
Về vấn đề không hoàn thành hợp đồng, khi nhà thầu liên danh A + B đã bịchủ đầu tư kết luận không hoàn thành hợp đồng thì tất cả thành viên liên danh đều
bị coi là vi phạm tiêu chí này khi tham gia đấu thầu gói thầu tiếp theo vì: (i) cácthành viên liên danh đều là nhà thầu chính khi tham gia đấu thầu theo quy định tạiKhoản 35 Điều 4 Luật Đấu thầu, tất cả nhà thầu chính tham gia đấu thầu đều phảichịu trách nhiệm nếu không hoàn thành hợp đồng theo quy định của hợp đồng; (ii)các thành viên liên danh đều phải chịu trách nhiệm chung, trách nhiệm riêng theovăn bản thỏa thuận liên danh nêu tại Khoản 3 Điều 5 Luật Đấu thầu; (iii) văn bảnthỏa thuận liên danh thể hiện sự ràng buộc không thể tách rời của các thành viên đểtham gia đấu thầu và thực hiện hợp đồng, do vậy, việc không hoàn thành hợp đồngcủa nhà thầu liên danh không thể coi là hành vi vi phạm của riêng một thành viênnào đó trong liên danh
Tóm lại, khi một nhà thầu liên danh với nhà thầu khác để tham dự thầu thìmặc dù nhà thầu đó hoàn thành tốt công việc theo phân công trong nội bộ liên danhnhưng cuối cùng vì lý do nào đó, liên danh vẫn bị tuyên bố không hoàn thành hợpđồng thì tất cả các nhà thầu trong liên danh đều bị coi là có hợp đồng không hoànthành, giảm đi cơ hội khi tham dự thầu các gói thầu tiếp theo
Câu 9: Bệnh viện chuyên khoa mắt thành phố X tổ chức lựa chọn nhà thầu một số gói thầu mua sắm vật tư y tế phục vụ công tác khám chữa bệnh trong năm
Trong đó, đối với nội dung hợp đồng tương tự, Bệnh viện nhận thấy nếu quyđịnh nhà thầu phải có 03 hợp đồng và mỗi hợp đồng có giá trị tối thiểu 70% giá trịgói thầu đang xét thì các nhà cung cấp rất khó có thể đáp ứng do vật tư cần muaphục vụ khám chữa bệnh chuyên khoa và số lượng hàng hóa dự kiến mua khá lớn
Trang 8Hỏi: Trong trường hợp này, Bệnh viện có thể quy định trong hồ sơ mời thầu
(HSMT) về việc cộng gộp hợp đồng đã thực hiện của nhà thầu khi xem xét hợpđồng tương tự được hay không?
Trả lời: Kinh nghiệm thực hiện hợp đồng tương tự là một trong những nội
dung cơ bản khi đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) của nhà thầu
Theo hướng dẫn tại Mục 2.1 Chương III các mẫu HSMT hàng hóa ban hànhkèm theo Thông tư số 05/2015/TT-BKHĐT ngày 16/6/2015 của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư, đối với tiêu chí đánh giá kinh nghiệm thực hiện hợp đồng tương tự, nhàthầu phải hoàn thành toàn bộ hoặc phần lớn N hợp đồng tương tự với mỗi hợpđồng có giá trị tối thiểu là V (N x V = X) hoặc số lượng hợp đồng ít hơn hoặc bằng
N, mỗi hợp đồng có giá trị tối thiểu là V và tổng giá trị tất cả các hợp đồng X.Trường hợp trong HSMT yêu cầu nhà thầu đã thực hiện từ hai hợp đồng tương tựtrở lên thì nhà thầu phải đáp ứng tối thiểu một hợp đồng với quy mô, tính chấttương tự gói thầu đang xét Quy mô của các hợp đồng tương tự tiếp theo được xácđịnh bằng cách cộng các hợp đồng có quy mô nhỏ hơn nhưng phải bảo đảm cáchợp đồng đó có tính chất tương tự với các hạng mục cơ bản của gói thầu đang xét.Đối với trường hợp trên, việc quy định về cộng gộp hợp đồng tương tự là phùhợp với hướng dẫn tại các mẫu HSMT nói trên Theo đó, nếu yêu cầu nhà thầuphải có kinh nghiệm thực hiện 03 hợp đồng tương tự với giá trị tối thiểu là V thìtiếp tục quy định rõ nội dung nhà thầu phải đáp ứng tối thiểu một hợp đồng vớitính chất tương tự và giá trị là V Với hợp đồng tương tự thứ hai, thứ ba, quy môcủa các hợp đồng này có thể được xác định trên cơ sở cộng các hợp đồng có quy
mô nhỏ hơn nếu các hợp đồng quy mô nhỏ hơn này vẫn có tính chất tương tự vớihạng mục cơ bản của gói thầu đang xét Như vậy, với quy định này thì các nhà thầuthực hiện nhiều hợp đồng giá trị nhỏ hơn V nhưng có tính chất tương tự với cáchạng mục cơ bản của gói thầu đang xét vẫn có cơ hội đáp ứng yêu cầu của HSMT.Ngoài ra, theo hướng dẫn tại Mẫu HSMT đã nêu, đối với các gói thầu có tínhchất đặc thù hoặc ở các địa phương mà năng lực của nhà thầu trên địa bàn còn hạnchế, có thể yêu cầu giá trị của hợp đồng tương tự trong khoảng 50% đến 70% giátrị của gói thầu đang xét, đồng thời vẫn phải yêu cầu nhà thầu bảo đảm có hợpđồng cung cấp hàng hóa tương tự về chủng loại và tính chất với hàng hóa của góithầu Như vậy, hướng dẫn về giá trị của hợp đồng tương tự tương đối linh hoạt vàkhông phải bất kì gói thầu nào, nơi nào, lúc nào cũng phải là 70% Trong một sốtrường hợp với lý do xác đáng, hợp lý về tính chất gói thầu, nhà cung cấp tiềmnăng, con số khác 70% vẫn có thể được sử dụng
Câu 10: Một bạn đọc có thư gửi Báo Đấu thầu như sau: Ngày 20/3/2017, UBND xã X (Chủ đầu tư) có thông báo mời thầu gói thầu mua sắm tài sản cho UBND Xã theo hình thức chào hàng cạnh tranh
Thời gian cuối nhận hồ sơ đề xuất (HSĐX) là 9 giờ ngày 28/3/2017 Đến thờiđiểm này đã có 4 nhà thầu đến nộp HSĐX nhưng không biết vì lý do gì mà Chủtịch UBND Xã không tiến hành mở thầu theo như lịch đã thông báo Cho đến 14
Trang 9giờ ngày 31/3/2017 (sau 3 ngày), Chủ tịch UBND Xã thông báo cho 4 nhà thầuđến để tiến hành mở thầu
Hỏi: Với cách làm trên, Chủ tịch UBND xã X có vi phạm Luật Đấu thầu
không? Kết quả trúng thầu có được ghi nhận không? 4 nhà thầu có phải là đã códấu hiệu thông thầu không?
Trả lời: Trường hợp bạn đọc hỏi trên đây không nói rõ gói thầu áp dụng chào
hàng cạnh tranh thông thường hay rút gọn Do đó, có 2 khả năng xảy ra như sau:Nếu là chào hàng cạnh tranh thông thường thì áp dụng theo quy định về quytrình chào hàng cạnh tranh thông thường tại Điểm d Khoản 2 Điều 58 Nghị định63/2014/NĐ-CP Cụ thể: “Ngay sau thời điểm đóng thầu, bên mời thầu tiến hành
mở các HSĐX và lập Biên bản mở thầu ”, do vậy bên mời thầu phải tiến hành mởthầu ngay sau khi đóng thầu
Nếu là chào hàng cạnh tranh rút gọn thì theo quy định tại Điểm b Khoản 2Điều 59 Nghị định 63/2014/NĐ-CP Cụ thể: “Ngay sau khi kết thúc thời hạn nộpbáo giá, bên mời thầu lập văn bản tiếp nhận các báo giá được nộp trước thời điểmđóng thầu ”
Bên mời thầu cần rút kinh nghiệm trong việc áp dụng quy định về mở thầunêu trên
Với các thông tin bạn đọc nêu trên đây, chưa có dấu hiệu để kết luận 4 nhàthầu tham dự gói thầu nêu trên thông thầu
Điều 17 Luật Đấu thầu 2013 quy định về các trường hợp hủy thầu gồm: (1)Tất cả hồ sơ dự thầu, HSĐX không đáp ứng được các yêu cầu của hồ sơ mời thầu(HSMT), hồ sơ yêu cầu (HSYC) (2) Thay đổi mục tiêu, phạm vi đầu tư đã ghitrong HSMT, HSYC (3) HSMT, HSYC không tuân thủ quy định của pháp luật vềđấu thầu hoặc quy định khác của pháp luật có liên quan dẫn đến nhà thầu, nhà đầu
tư được lựa chọn không đáp ứng yêu cầu để thực hiện gói thầu, dự án (4) Có bằngchứng về việc đưa, nhận, môi giới hối lộ, thông thầu, gian lận, lợi dụng chức vụ,quyền hạn để can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đấu thầu dẫn đến làm sai lệchkết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Như vậy, theo quy định tại Điều 17 Luật Đấu thầu 2013 thì tình huống bạnđọc hỏi không nằm trong các trường hợp hủy thầu
Câu 11: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 43 Luật Đấu thầu, một trong các điều kiện để nhà thầu được đề nghị trúng thầu là có giá đề nghị trúng thầu (giá dự thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch trừ đi giá trị giảm giá (nếu có) của nhà thầu xếp hạng thứ nhất) không vượt giá gói thầu được phê duyệt
Bệnh viện A tổ chức lựa chọn nhà thầu gói thầu gồm 30 hạng mục hàng hóa là
đồ dùng cho khu hành chính và khu điều trị nội trú thông qua hình thức đấu thầurộng rãi trong nước Nhà thầu B là nhà thầu chào giá thấp nhất trong số 3 nhà thầuđược đánh giá là đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật Tuy nhiên, hồ sơ dự thầu của nhà
Trang 10thầu B có chào 5 trong tổng số 30 hạng mục hàng hóa cao hơn đơn giá của hạngmục đó trong phụ lục tính giá gói thầu đính kèm kế hoạch lựa chọn nhà thầu.
Hỏi: Trong trường hợp này, bệnh viện A có thể lựa chọn nhà thầu B trúng
thầu không hay phải lựa chọn nhà thầu khác chào giá tất cả các hạng mục thấp hơnđơn giá trong phụ lục kế hoạch lựa chọn nhà thầu được duyệt?
Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 43 Luật Đấu thầu, một trong các
điều kiện để nhà thầu được đề nghị trúng thầu là có giá đề nghị trúng thầu (giá dựthầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch trừ đi giá trị giảm giá (nếu có) của nhà thầuxếp hạng thứ nhất) không vượt giá gói thầu được phê duyệt Trường hợp dự toáncủa gói thầu được phê duyệt thấp hơn hoặc cao hơn giá gói thầu được phê duyệt thì
dự toán này sẽ thay thế giá gói thầu để làm cơ sở xét duyệt trúng thầu
Đối với trường hợp của bệnh viện A, nếu nhà thầu B có giá dự thầu sau sửalỗi, hiệu chỉnh sai lệch trừ đi giá trị giảm giá (nếu có) không vượt giá gói thầuđược duyệt thì được coi là đáp ứng yêu cầu xét duyệt trúng thầu ở trên mà khôngphụ thuộc vào việc nhà thầu chào giá một số mặt hàng cao hơn giá của mặt hàng
đó trong phụ lục kế hoạch lựa chọn nhà thầu Có thể hiểu phụ lục này gồm đơn giácho từng mặt hàng, giúp tính toán để hình thành giá gói thầu
Tuy nhiên, việc lựa chọn nhà thầu được thực hiện đối với gói thầu trongkhoản ngân sách là giá gói thầu, nên bệnh viện A chỉ cần so sánh giá chào sau sửalỗi, hiệu chỉnh sai lệch trừ đi giá trị giảm giá (nếu có) của nhà thầu B với giá góithầu, mà không cần quá quan tâm tới các đơn giá từng mặt hàng so với đơn giá dựtrù ban đầu Trong trường hợp này, việc đề nghị cho nhà thầu khác chào giá caohơn trúng thầu chỉ vì đơn giá từng hạng mục không cao hơn đơn giá ước tính trongphụ lục kế hoạch lựa chọn nhà thầu rõ ràng là không hiệu quả và không phù hợpvới quy định của pháp luật về đấu thầu
Câu 12: Bên mời thầu X đang đánh giá hồ sơ dự thầu Gói thầu Xây lắp
có giá gói thầu 4,5 tỷ đồng Trong hồ sơ mời thầu (HSMT) quy định một trong các điều kiện để được tham gia đấu thầu là nhà thầu phải là doanh nghiệp cấp nhỏ, siêu nhỏ theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
Hỏi: Nhà thầu nào sau đây được coi là đáp ứng điều kiện về cấp doanh nghiệp
khi tham gia đấu thầu gói thầu vừa nêu:
- Nhà thầu A có tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng và có số lao động bìnhquân năm không quá 200 người
- Nhà thầu B có tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng nhưng có số lao độngbình quân năm trên 200 người
- Nhà thầu C có tổng nguồn trên 20 tỷ đồng nhưng có số lao động bình quânnăm không quá 200 người
Trả lời: Một trong các nội dung về ưu đãi doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ trong
đấu thầu là đối với gói thầu xây lắp có giá gói thầu không quá 5 tỷ đồng chỉ cho
Trang 11phép nhà thầu là doanh nghiệp cấp nhỏ và siêu nhỏ theo quy định của pháp luật vềdoanh nghiệp tham gia đấu thầu.
Việc xác định cấp doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệpđược thực hiện theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP Theo đó,doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy địnhcủa pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồnvốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối
kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêuchí ưu tiên) Doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng là doanhnghiệp có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc có số lao động từ 10 ngườiđến 200 người
Quay trở lại việc đánh giá điều kiện tham dự thầu của các nhà thầu trên, cả 3nhà thầu A, B, C đều được coi là đáp ứng điều kiện về cấp doanh nghiệp khi tham
dự thầu gói thầu xây lắp có giá 4,5 tỷ đồng Trong đó, nhà thầu A đáp ứng cả tiêuchí về tổng nguồn vốn và số lao động bình quân, nhà thầu B đáp ứng tiêu chí vềtổng nguồn vốn, nhà thầu C đáp ứng tiêu chí về lao động bình quân năm
Trong trường hợp này, cần lưu ý là nhà thầu chỉ cần đáp ứng một trong haitiêu chí tổng nguồn vốn (trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc tổng
số lao động bình quân năm đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ thì được coi là đápứng điều kiện về cấp doanh nghiệp khi tham dự gói thầu xây lắp có giá không quá
5 tỷ đồng
Câu 13: Việc đánh giá HSDT phải tuân thủ theo nguyên tắc đánh giá quy định tại Điều 15 Luật Đấu thầu 2013
Ban Quản lý dự án X tổ chức đấu thầu rộng rãi Gói thầu Thi công công trình
Hồ sơ mời thầu (HSMT) có nêu yêu cầu về thời gian thực hiện hợp đồng là 60ngày Hồ sơ dự thầu (HSDT) của nhà thầu A có giá dự thầu thấp nhất Kết quảđánh giá HSDT cho thấy nhà thầu A đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm.HSDT của nhà thầu A cũng có đề xuất thời gian thực hiện hợp đồng là 60 ngày,đúng theo yêu cầu của HSMT
Tuy nhiên, trong HSDT của nhà thầu A không có phần tính toán diễn giải chitiết về tiến độ thi công Tổ chuyên gia xét thầu đã tự tính toán thời gian thi côngcủa nhà thầu này là 70 ngày, vượt 10 ngày so với quy định của HSMT Từ đó, Tổchuyên gia cho rằng thời gian thực hiện hợp đồng của nhà thầu này không đáp ứngyêu cầu nêu trong HSMT và quyết định loại HSDT của nhà thầu A
Hỏi: Việc làm trên của tổ chuyên gia xét thầu có phù hợp với quy định của
Luật Đấu thầu không?
Trả lời: Việc đánh giá HSDT phải tuân thủ theo nguyên tắc đánh giá quy định
tại Điều 15 Luật Đấu thầu 2013 Theo đó, việc đánh giá HSDT phải căn cứ vào tiêuchuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác nêu trong HSMT Thời gian thực hiệnhợp đồng được đề xuất trong đơn dự thầu và tiêu chuẩn đánh giá về kỹ thuật (nếucó) Do đó, Tổ chuyên gia khi đánh giá thì phải căn cứ vào HSDT của nhà thầu và
Trang 12HSMT để đánh giá, trường hợp không rõ thì yêu cầu nhà thầu giải thích làm rõ trên
cơ sở không làm thay đổi nội dung cơ bản của HSDT đã nộp
Trong trường hợp nêu trên, nhà thầu A đã đề xuất thời gian thực hiện hợpđồng là 60 ngày đúng theo yêu cầu của HSMT thì yêu cầu nhà thầu làm rõ việc thicông trong 60 ngày đó ở những tiêu chí đánh giá kỹ thuật chưa rõ ràng
Việc Tổ chuyên gia tự tính toán thời gian thi công của nhà thầu như trên đểloại nhà thầu là chưa phù hợp với quy định của pháp luật
Câu 14: Hạn mức chỉ định thầu được quy định tại Điều 54 Nghị định 63/2014/NĐ-CP ngày 26/06/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu
Một bạn đọc có thư hỏi Báo Đấu thầu như sau: “Đơn vị tôi đang tiến hành sơnvôi lại khối nhà làm việc với tổng dự toán được duyệt là 670 triệu đồng Theo cácvăn bản hiện hành thì chúng tôi có quyền áp dụng quy trình chỉ định thầu rút gọn
và áp dụng theo Mẫu 06 của Thông tư 11/2015/TT-BKHĐT ngày 27/10/2015 của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi tiết lập hồ sơ yêu cầu chỉ định thầu, chàohàng cạnh tranh Tuy nhiên, khi liên lạc hỏi lại người có trách nhiệm ở Vụ Tàichính của bộ chủ quản (đơn vị sẽ quyết toán dự án) thì được trả lời là phải áp dụngchỉ định thầu thông thường cho an toàn!”
Hỏi: Ý kiến của đơn vị quyết toán nêu trên có đúng không? Trong trường hợp
này, căn cứ pháp lý nào có thể giúp thực hiện được quyết toán với quy trình chỉđịnh thầu rút gọn?
Trả lời: Hạn mức chỉ định thầu được quy định tại Điều 54 Nghị định
63/2014/NĐ-CP ngày 26/06/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một sốđiều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu Theo đó, gói thầu có giá trị trong hạnmức được áp dụng chỉ định thầu theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 22 củaLuật Đấu thầu bao gồm: Không quá 500 triệu đồng đối với gói thầu cung cấp dịch
vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, dịch vụ công; không quá 01 tỷ đồng đối với gói thầumua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp, mua thuốc, vật tư y tế, sản phẩm công; khôngquá 100 triệu đồng đối với gói thầu thuộc dự toán mua sắm thường xuyên
Trường hợp bạn đọc nêu, gói thầu thuộc hạn mức chỉ định thầu thì theo quyđịnh tại Khoản 2 Điều 56 Nghị định 63/2014/NĐ-CP, các gói thầu trong hạn mứcchỉ định thầu theo quy định tại Điều 54 được áp dụng theo quy trình chỉ định thầurút gọn
Quy trình chỉ định thầu rút gọn đối với gói thầu trong hạn mức chỉ định thầuđược quy định tại Khoản 2 Điều 56 Nghị định 63/2014/NĐ-CP Cụ thể, bên mờithầu căn cứ vào mục tiêu, phạm vi công việc, dự toán được duyệt để chuẩn bị vàgửi dự thảo hợp đồng cho nhà thầu được chủ đầu tư xác định có đủ năng lực vàkinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của gói thầu Nội dung dự thảo hợp đồng bao gồmcác yêu cầu về phạm vi, nội dung công việc cần thực hiện, thời gian thực hiện, chấtlượng công việc cần đạt được, giá trị tương ứng và các nội dung cần thiết khác.Trên cơ sở dự thảo hợp đồng, bên mời thầu và nhà thầu được đề nghị chỉ định thầu
Trang 13tiến hành thương thảo, hoàn thiện hợp đồng làm cơ sở để phê duyệt kết quả lựachọn nhà thầu và ký kết hợp đồng Tiếp đó, hai bên tiến hành ký kết hợp đồng.Hợp đồng ký kết giữa các bên phải phù hợp với quyết định phê duyệt kết quả lựachọn nhà thầu, biên bản thương thảo hợp đồng và các tài liệu liên quan khác.
Trường hợp cần thiết, bên mời thầu vẫn có thể áp dụng quy trình chỉ định thầuthông thường đối với các gói thầu nằm trong hạn mức được chỉ định thầu rút gọn
Để thuận tiện trong quá trình thực hiện, khi lập tờ trình Kế hoạch lựa chọnnhà thầu, chủ đầu tư nên ghi rõ hình thức lựa chọn nhà thầu là chỉ định thầu rút gọnhay chỉ định thầu thông thường và nêu rõ lý do để người có thẩm quyền phê duyệt
Câu 15: Bên mời thầu – Ban Quản lý dự án X tổ chức lựa chọn nhà thầu Gói thầu mua sắm thiết bị Y, áp dụng lựa chọn nhà thầu qua mạng Gói thầu mua sắm thiết bị Y có thời điểm đóng thầu, mở thầu nằm trong khoảng thời gian Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia gặp sự cố ngoài khả năng kiểm soát Hỏi: Thời gian đóng, mở thầu và các mốc thời gian liên quan đến hiệu lực của
hồ sơ dự thầu và bảo đảm dự thầu trong trường hợp nêu trên được tính như thếnào?
Trả lời: Việc xử lý kỹ thuật trong trường hợp Hệ thống mạng đấu thầu quốc
gia gặp sự cố ngoài khả năng kiểm soát được quy định tại Điều 16 Thông tư liêntịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 08/9/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư -
Bộ Tài chính quy định chi tiết việc cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu và lựachọn nhà thầu qua mạng (TT07)
Theo đó, Khoản 2 Điều 16 TT07 quy định, trường hợp Hệ thống mạng đấuthầu quốc gia tạm ngừng cung cấp dịch vụ tại thời điểm đóng thầu, mở thầu thìthời điểm đóng thầu, mở thầu mới sẽ được lùi đến sau 3 giờ kể từ thời điểm Hệthống tiếp tục cung cấp dịch vụ theo thông báo của Tổ chức vận hành Hệ thống.Hiện tại, Tổ chức vận hành Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia có trách nhiệmthông báo cho các đơn vị có gói thầu đang đóng thầu, mở thầu biết ngay sau khi Hệthống hoạt động trở lại bình thường qua tổng đài hỗ trợ người dùng 1900 6126.Điều 16 TT07 cũng quy định, nếu thời điểm đóng thầu, mở thầu mới vượt quáthời gian làm việc trong ngày thì thời gian đóng thầu, mở thầu sẽ được gia hạn đến
09 giờ sáng của ngày làm việc tiếp theo
Nếu thời điểm đóng thầu, mở thầu cách sau thời điểm thông báo Hệ thốngmạng đấu thầu quốc gia tiếp tục cung cấp dịch vụ không quá 03 giờ thì thời điểmđóng thầu, mở thầu mới sẽ được kéo dài thêm 03 giờ
Khoản 3 Điều 16 TT07 quy định, trường hợp phải gia hạn thời điểm đóngthầu vì lý do Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia tạm ngừng cung cấp dịch vụ, cácnhà thầu không cần gia hạn thời hạn hiệu lực của hồ sơ dự thầu và bảo đảm dựthầu nếu các thời hạn hiệu lực này đã đáp ứng yêu cầu trong hồ sơ mời thầu
Cau 16: Đơn vị A được UBND tỉnh X giao nhiệm vụ làm đầu mối tổ chức thực hiện mua sắm tập trung trên địa bàn Tỉnh Một gói thầu mua sắm có giá
Trang 14khoảng 8 tỷ đồng được Đơn vị A trình trong kế hoạch mua sắm tập trung, trong đó đề xuất áp dụng hình thức mua sắm trực tiếp cho gói thầu này.
Hỏi: Trường hợp nêu trên có được áp dụng mua sắm tập trung theo hình thức
mua sắm trực tiếp hay không?
Trả lời: Mua sắm tập trung được áp dụng trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ
cần mua sắm đối với số lượng nhiều, chủng loại tương tự ở một hoặc nhiều cơquan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc chủ đầu tư Mục đích của việc mua sắm tậptrung thông qua đơn vị mua sắm tập trung là nhằm giảm chi phí, thời gian, đầu mối
tổ chức đấu thầu, tăng cường tính chuyên nghiệp trong đấu thầu, góp phần tănghiệu quả kinh tế
Khoản 1 Điều 44 Luật Đấu thầu quy định: “Mua sắm tập trung là cách tổ chứcđấu thầu rộng rãi để lựa chọn nhà thầu” Do vậy, trường hợp nêu trên, Đơn vị A đềxuất phương án mua sắm trực tiếp là chưa phù hợp với quy định của pháp luật vềđấu thầu Hay nói cách khác, khi tổ chức lựa chọn nhà thầu theo phương án muasắm tập trung thì hình thức lựa chọn nhà thầu luôn luôn là đấu thầu rộng rãi
Câu 17: Bên mời thầu tổ chức lựa chọn nhà thầu Gói thầu X Trong hồ sơ mời thầu (HSMT) có ghi rõ số lượng vật tư do bên A cung cấp, nhưng nhà thầu vẫn tính đơn giá vật tư và quy thành tiền.
Tổ chuyên gia đấu thầu cho rằng căn cứ vào Điểm a Khoản 2 Điều 17 Nghịđịnh 63/2014/NĐ-CP, bên mời thầu sẽ tự quyết định trừ đi giá trị phần chào thừatheo mức đơn giá tương ứng trong hồ sơ dự thầu (HSDT) của nhà thầu theo quyđịnh về sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch Sau đó, cần tiến hành đánh giá xếp hạng nhàthầu
Tuy nhiên, khi bên mời thầu có văn bản xác nhận sai lệch với nhà thầu về việcvật tư do bên A cung cấp mà nhà thầu vẫn tính đơn giá vật tư và quy thành tiền,nhà thầu trả lời như sau: “Về hiệu chỉnh sai lệch, đề nghị giữ nguyên theo giá đãchào do công ty chúng tôi đã tính toán giảm để tham dự cho gói thầu theo hìnhthức trọn gói” Tiếp đó, bên mời thầu từ chối và loại nhà thầu Với cách giải quyếtnhư vậy, sẽ không có đánh giá xếp hạng nhà thầu này
Hỏi: Trường hợp nêu trên, theo quy định hiện hành, bên mời thầu có cần gửi
văn bản làm rõ với nhà thầu không? Nhà thầu nêu trên có được đưa vào đánh giáxếp hạng không?
Trả lời: Theo quy định tại Mục 14 Chương I - Chỉ dẫn cho nhà thầu của
Thông tư 03/2015/TT-BKHĐT thì nhà thầu phải nộp HSDT cho toàn bộ công việcđược mô tả trong Mục 1.1 Chỉ dẫn cho nhà thầu và ghi đơn giá dự thầu, thành tiềncho tất cả các công việc nêu trong cột “Mô tả công việc mời thầu” tại Bảng tổnghợp giá dự thầu theo quy định tại Mẫu số 05 Chương IV – Biểu mẫu dự thầu
Theo đó, nhà thầu sẽ chỉ được chào cho những phần công việc được mời thầu.Việc nhà thầu chào thừa, thiếu khối lượng, số lượng sẽ được hiệu chỉnh sai lệch
Trang 15thầu không chấp thuận với kết quả sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch theo thông báo củabên mời thầu thì HSDT của nhà thầu đó sẽ bị loại theo quy định tại Khoản 3 Điều
Ban Quản lý dự án X (bên mời thầu) tổ chức lựa chọn nhà thầu gói thầu muasắm hàng hóa, áp dụng đấu thầu điện tử trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia(dưới đây viết tắt là Hệ thống) Bên mời thầu đã phát hành hồ sơ mời thầu (HSMT)
và đang trong giai đoạn đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) Tổ chuyên gia phát hiệnHSMT tải lên Hệ thống thiếu Chương III - Tiêu chuẩn đánh giá HSDT và Chương
V - Phạm vi cung cấp, do đó HSDT của các nhà thầu không đáp ứng đầy đủ yêucầu đặt ra ban đầu và nếu lựa chọn nhà thầu trong trường hợp này sẽ không đápứng yêu cầu để thực hiện gói thầu, ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án
Hỏi: Trong trường hợp này, Bên mời thầu phải xử lý như thế nào để phù hợp
quy định của pháp luật về đấu thầu?
Trả lời: Thông tư số 07/2016/TT-BKHĐT ngày 29/6/2016 của Bộ KH&ĐT
(TT07/2016) có quy định về tính hợp lệ của HSMT, hồ sơ yêu cầu, HSDT, hồ sơ đềxuất mua sắm hàng hóa đối với đấu thầu qua mạng Theo đó, tại Khoản 1 Điều 7 TT07/2016 quy định: “Các thông tin và các file đính kèm của HSMT, hồ sơ yêucầu được coi là có giá trị pháp lý khi được bên mời thầu đăng tải thành công trên
Hệ thống thông qua chứng thư số của bên mời thầu Bên mời thầu chịu trách nhiệm
về tính chính xác giữa nội dung HSMT, hồ sơ yêu cầu đăng tải trên Hệ thống vànội dung HSMT, hồ sơ yêu cầu được chủ đầu tư phê duyệt”
Khoản 1 Điều 10 Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC(TT07/2015) quy định: “Thông tin không hợp lệ trong việc cung cấp, đăng tảithông tin về đấu thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia là thông tin do bênmời thầu tự đăng tải trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia không tuân thủ các quyđịnh của pháp luật về đấu thầu”
Đối với trường hợp nêu trên, gói thầu được tổ chức đấu thầu trên Hệ thốngmạng đấu thầu quốc gia, nhưng HSMT tải lên Hệ thống thiếu Chương III - Tiêuchuẩn đánh giá HSDT và Chương V - Phạm vi cung cấp, theo quy định tại Khoản 1Điều 10 TT07/2015 và Khoản 1 Điều 7 TT07/2016 thì HSMT gói thầu nêu trênđược coi là không hợp lệ, không đủ cơ sở để lựa chọn nhà thầu
Về giải pháp xử lý tình huống nêu trên, theo quy định tại Khoản 3 Điều 17Luật Đấu thầu 2013, hủy thầu được áp dụng trong trường hợp HSMT không tuânthủ quy định của pháp luật về đấu thầu hoặc quy định khác của pháp luật có liênquan dẫn đến nhà thầu, nhà đầu tư được lựa chọn không đáp ứng yêu cầu để thựchiện gói thầu, dự án
Trang 16Còn tại Điều 18 Luật Đấu thầu 2013 quy định: Tổ chức, cá nhân vi phạm quyđịnh pháp luật về đấu thầu dẫn đến hủy thầu theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4Điều 17 luật này phải đền bù chi phí cho các bên liên quan và bị xử lý theo quyđịnh của pháp luật.
Để khắc phục sai sót trong tình huống nêu trên, chủ đầu tư báo cáo người cóthẩm quyền để người có thẩm quyền ban hành quyết định hủy thầu Ngoài việckhắc phục sai sót, chủ đầu tư lưu ý cần nghiêm túc nhắc nhở bên mời thầu rà soát
kỹ trong việc lập HSMT, rà soát trước khi đăng tải HSMT lên Hệ thống cho cácgói thầu tiếp theo
Câu 19: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định 63/2014/NĐ-CP, việc đánh giá HSDT cần tuân thủ theo quy định tại Tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu của HSMT.
Ban Quản lý dự án tỉnh X mời thầu Gói thầu Xây lắp Tại trang 33 của hồ sơmời thầu (HSMT) gói thầu này, mục Chỉ dẫn nhà thầu 20.1 đưa ra quy định: “Sốlượng bản chụp HSDT là 3 bản Trường hợp sửa đổi, thay thế HSDT thì nhà thầuphải nộp các bản chụp hồ sơ sửa đổi, thay thế với số lượng bằng số lượng bản chụpHSDT” Nhưng ở trang 36 của HSMT (mục điều kiện tiên quyết) thì yêu cầu nhàthầu phải nộp 4 bản chụp HSDT 2 trong số 3 nhà thầu tham dự thầu đã nộp 4 bảnchụp HSDT, nhà thầu còn lại chỉ nộp 3 bản chụp HSDT (nhà thầu A)
Hỏi: Liệu nhà thầu A có bị loại vì chỉ nộp 3 bản chụp HSDT? Cách xử lý tình
huống của bên mời thầu như thế nào để đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật
về đấu thầu?
Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định 63/2014/NĐ-CP, việc
đánh giá HSDT cần tuân thủ theo quy định tại Tiêu chuẩn đánh giá HSDT và cácyêu cầu của HSMT
Tại Điểm a Khoản 2 Điều 18 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP và Điểm 1.2 Mục
1 Kiểm tra và đánh giá tính hợp lệ của HSDT thuộc Chương III Tiêu chuẩn đánhgiá HSDT của Thông tư số 03/2015/TT-BKH ngày 6/5/2015 quy định về việc kiểmtra và đánh giá tính hợp lệ của HSDT Theo đó, Tổ chuyên gia sẽ kiểm tra việc cóbản gốc HSDT hay không Việc thiếu số lượng bản chụp HSDT không bị đánh giá
là HSDT không hợp lệ, do đó không loại nhà thầu vì việc nộp không đủ số lượngbản chụp HSDT
Do đó, đối với tình huống nêu trên, các nhà thầu nộp thiếu số lượng HSDTvẫn được tiếp tục đánh giá mà không bị loại vì thiếu số lượng bản chụp HSDT.Mặt khác, theo quy định tại Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, Nghị định số63/2014/NĐ-CP và Thông tư số 03/2015/TT-BKH ngày 06 tháng 5 năm 2015 của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi tiết lập HSMT gói thầu xây lắp thì khôngđược quy định về điều kiện tiên quyết đối với bản chụp HSDT Việc Ban Quản lý
dự án tỉnh X đưa yêu cầu về số lượng bản chụp HSDT vào mục điều kiện tiênquyết trong HSMT là không phù hợp
Trang 17Câu 20: Cách tính điểm ưu đãi đối với hồ sơ dự thầu của nhà thầu thuộc đối tượng ưu đãi khi áp dụng phương pháp kết hợp giữa kỹ thuật và giá như sau
Theo hướng dẫn tại Mục Chỉ dẫn nhà thầu 31.3 Chương II Bảng Dữ liệu đấuthầu thuộc Mẫu Hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hóa áp dụng phương thức 1 giaiđoạn 2 túi hồ sơ ban hành kèm Thông tư số 05/2016/TT-BKHĐT ngày 16/6/2016của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cách tính điểm ưu đãi đối với hồ sơ dự thầu của nhàthầu thuộc đối tượng ưu đãi khi áp dụng phương pháp kết hợp giữa kỹ thuật và giánhư sau:
Điểm ưu đãi = 0,075 x (giá hàng hóa ưu đãi/giá gói thầu) x điểm tổng hợp [1]
Trong đó: Giá hàng hóa ưu đãi là giá dự thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch,
trừ đi giá trị giảm giá của hàng hóa thuộc đối tượng ưu đãi
Trong khi đó, tại Chương III Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu của gói thầunêu trên có quy định cách xác định điểm tổng hợp như sau:
Điểm tổng hợpđang xét= (K x Điểm kỹ thuậtđang xét+ G x Điểm giáđang xét) + ∆ưu đãi [2]
Trong đó: Điểm kỹ thuậtđang xét là số điểm được xác định tại bước đánh giá về
kỹ thuật;
Điểm giáđang xét là số điểm được xác định tại bước đánh giá về giá;
K, G lần lượt là tỷ trọng điểm về kỹ thuật và về giá quy định trong thang điểmtổng hợp;
∆ưu đãi là điểm giá trị được cộng thêm đối với đối tượng được hưởng ưu đãitheo Mục 31.3 của Chỉ dẫn nhà thầu
Hỏi: Vậy, điểm tổng hợp trong công thức [1] và [2] có phải là một hay
không? Nếu có, tổ chuyên gia phải bắt đầu từ công thức nào?
Trả lời: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 24 Khoản 2 Điểm d) quy định
công thức tính điểm tổng hợp đối với phương pháp kết hợp giữa kỹ thuật và giánhư sau:
Điểm tổng hợpđang xét = K x Điểm kỹ thuật đang xét + G x Điểm giá đang xét (*) Trong đó: Điểm kỹ thuật đang xét là số điểm được xác định tại bước đánh giá
về kỹ thuật; điểm giá đang xét là số điểm được xác định tại bước đánh giá về giá
K, G lần lượt là tỷ trọng điểm về kỹ thuật và về giá quy định trong thang điểmtổng hợp; K + G = 100% Tỷ trọng điểm về kỹ thuật (K) và về giá (G) phải đượcxác định cụ thể trong hồ sơ mời thầu
Đối với trường hợp trên, nếu gói thầu áp dụng phương pháp kết hợp giữa kỹthuật và giá thì trước hết cần xác định điểm tổng hợp của nhà thầu theo công thức(*) vừa nêu Trường hợp hàng hóa do nhà thầu chào thuộc đối tượng ưu đãi thìviệc tính điểm ưu đãi cho hàng hóa đó thực hiện theo công thức [1] Sau đó, điểm
Trang 18tổng hợp để làm cơ sở so sánh, xếp hạng nhà thầu được tính theo công thức số [2].Ngoài ra, cũng cần lưu ý là điểm ưu đãi nêu tại công thức [1] là điểm ưu đãi tínhcho một loại hàng hóa cụ thể, ∆ƯĐ nêu tại công thức số [2] là tổng số điểm ưu đãicủa tất cả các loại hàng hóa thuộc đối tượng ưu đãi
Đối với tình huống trên, thoạt nhìn thì có thể có thành viên tổ chuyên gia đấuthầu lúng túng đối với các công thức tính điểm tổng hợp và điểm ưu đãi (công thức[1] và công thức [2]) vì công thức nào cũng bao gồm nội dung điểm tổng hợp,điểm ưu đãi Tuy nhiên, nếu áp dụng đúng nguyên tắc xác định điểm tổng hợp nêutại Điều 24 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP thì sẽ dễ dàng cho ra điểm của từng nhàthầu sau khi đã xét đến yếu tố ưu đãi bằng đúng các công thức nêu trong Mẫu Hồ
sơ mời thầu
Câu 21: Theo hướng dẫn tại các Mẫu hồ sơ mời thầu (HSMT) xây lắp ban hành kèm Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhà thầu phải đề xuất một số vị trí nhân sự chủ chốt tham gia thực hiện gói thầu theo yêu cầu của HSMT
Hỏi: Dự án xây lắp A thuộc ngành nông nghiệp, cần hoàn thành trong năm.
Các hạng mục công việc được thực hiện rải rác trong phạm vi địa lý rộng nên đểbảo đảm việc hoàn thành trong năm, chủ đầu tư đã tiến hành chia dự án làm 2 góithầu Các gói thầu có nội dung, quy mô, tính chất như nhau và thời gian phải hoànthành là giống nhau
Nhà thầu X tham dự cả 02 gói thầu thuộc dự án nêu trên Khi đánh giá hồ sơ
dự thầu (HSDT) của nhà thầu, tổ chuyên gia nhận thấy trong cả 02 HSDT, cácnhân sự chủ chốt mà nhà thầu đề xuất đều giống nhau Tuy nhiên, nếu nhà thầutrúng thầu cả 02 gói thì khó có thể bố trí nhân sự, từ đó không bảo đảm tiến độ dựán
Trong trường hợp này, tổ chuyên gia cần xem xét HSDT của nhà thầu X nhưthế nào?
Trả lời: Theo hướng dẫn tại các Mẫu hồ sơ mời thầu (HSMT) xây lắp ban
hành kèm Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư, nhà thầu phải đề xuất một số vị trí nhân sự chủ chốt tham gia thực hiện góithầu theo yêu cầu của HSMT Theo đó, nhà thầu phải kê khai những nhân sự chủchốt có năng lực phù hợp, đáp ứng các yêu cầu quy định tại HSMT và có thể sẵnsàng huy động cho gói thầu; không được kê khai những nhân sự đã huy động chogói thầu khác có thời gian làm việc trùng với thời gian thực hiện gói thầu này.Trường hợp kê khai không trung thực thì nhà thầu sẽ bị đánh giá là gian lận
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định việc đánh giá HSDT phải căn cứ vàotiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trong HSMT, căn cứ vào HSDT đãnộp, các tài liệu giải thích, làm rõ HSDT của nhà thầu để bảo đảm lựa chọn đượcnhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu.Đối với các gói thầu trên, việc đánh giá HSDT (trong đó có nội dung nhân sựchủ chốt) vẫn thực hiện theo tiêu chuẩn đánh giá quy định trong HSMT Trường
Trang 19hợp nhà thầu được xếp hạng thứ nhất trong cả hai gói thầu với đề xuất về nhân sựchủ chốt giống nhau, trong quá trình thương thảo hợp đồng, bên mời thầu cần yêucầu nhà thầu làm rõ về khả năng huy động nhân sự cùng lúc thực hiện cả hai góithầu Theo đó:
- Nếu thời gian làm việc của từng nhân sự chủ chốt cho các gói thầu khôngtrùng lặp, bảo đảm việc huy động đầy đủ nhân sự chủ chốt để thực hiện cả hai góithầu theo tiến độ thì nhà thầu được đề xuất trúng thầu các gói thầu này;
- Nếu thời gian làm việc của từng nhân sự chủ chốt cho các gói thầu có sựtrùng lặp, dẫn tới không huy động được đầy đủ nhân sự chủ chốt để thực hiện cácgói thầu theo tiến độ thì nhà thầu được lựa chọn trúng thầu một trong hai gói thầu.Nhìn chung, khi tham dự thầu, các nhà thầu thường kê khai các nhân sự đápứng tốt nhất HSMT nhằm được trúng thầu Trong tình huống trên, do 02 gói thầu
có nội dung, quy mô, tính chất giống nhau nên việc đề xuất nhân sự giống nhau là
dễ hiểu và không vi phạm nguyên tắc kê khai nhân sự đã đề cập Tuy nhiên, đối vớimọi gói thầu thì việc đánh giá tính đáp ứng của nhân sự mới chỉ là bước đầu, điềuquan trọng là cần làm rõ khả năng huy động nhân sự đó trong bước thương thảohợp đồng (nếu nhà thầu được xếp hạng thứ nhất) Thêm nữa, để bảo đảm tiến độ,chất lượng gói thầu thì việc giám sát tình hình huy động của các nhân sự chủ chốt
mà nhà thầu đề cập trước đây cũng rất quan trọng
Câu 22: Bạn đọc Hoàng Long gửi đến Báo Đấu thầu câu hỏi tình huống sau đây: Chủ đầu tư có Kế hoạch lựa chọn nhà thầu cho một dự án A, trong
đó có Gói thầu số 1: Cung cấp vật tư thiết bị điện với giá trị khoảng 40 tỷ đồng Chủ đầu tư ký hợp đồng với nhà thầu X là nhà thầu trúng thầu Gói thầu số 1 với giá trị 36 tỷ đồng Nhà thầu X lại ký hợp đồng mua bán thiết bị giá trị 34 tỷ đồng cho đúng Gói thầu số 1 của dự án A với một nhà thầu Y Hỏi: Trường hợp nêu trên có phải là hành vi chuyển nhượng thầu?
Sau đó, nhà thầu X và nhà thầu Y nêu trên lại sử dụng hợp đồng thực hiện Góithầu số 1 của dự án A để làm hợp đồng tương tự khi tham gia dự thầu một gói thầukhác Trong trường hợp này, chủ đầu tư phải đánh giá 2 hợp đồng của 2 nhà thầunày như thế nào?
Trả lời: Trường hợp bạn Hoàng Long nêu trên đây liên quan đến nhà thầu
chính và nhà thầu phụ Do đó, trước hết phải làm rõ khái niệm nhà thầu chính vànhà thầu phụ Theo quy định tại Khoản 35 Điều 4 Luật Đấu thầu 2013, nhà thầuchính là nhà thầu chịu trách nhiệm tham dự thầu, đứng tên dự thầu và trực tiếp ký,thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn
Khoản 36 Điều 4 Luật Đấu thầu 2013 quy định nhà thầu phụ là nhà thầu thamgia thực hiện gói thầu theo hợp đồng được ký với nhà thầu chính Theo câu hỏi củabạn thì nhà thầu X là nhà thầu chính
Hiện nay pháp luật về đấu thầu không quy định một mức tỷ lệ cụ thể về việctham gia thực hiện hợp đồng giữa nhà thầu phụ và nhà thầu chính; tỷ lệ này có thể
Trang 20quy định theo các pháp luật liên quan (nếu có) Trường hợp pháp luật liên quankhông quy định thì sẽ do chủ đầu tư tự quyết định.
Trường hợp khi tham gia dự thầu nhà thầu chính được phép sử dụng nhà thầuphụ theo một tỷ lệ nhất định quy định trong hồ sơ mời thầu thì nhà thầu phụ nàyphải được nêu tên, giá trị thực hiện trong hồ sơ dự thầu Chủ đầu tư phê duyệt kếtquả lựa chọn nhà thầu cho nhà thầu chính X được hiểu là đã chấp thuận nhà thầuphụ thực hiện gói thầu này Ngoài ra, nhà thầu chính X được phép sử dụng nhàthầu phụ khác (gọi là nhà thầu phụ Z) ngoài nhà thầu phụ đã kê khai và phải đượcchủ đầu tư chấp thuận Giá trị phần công việc dành cho nhà thầu phụ Z này phảiđảm bảo không quá 10% (hoặc không quá 50 tỷ đồng) giá trị sau khi trừ phần côngviệc thuộc trách nhiệm của nhà thầu phụ đã kê khai trong hồ sơ dự thầu
Đối chiếu quy định tại Điểm a Khoản 8 Điều 89 của Luật Đấu thầu 2013 vềcác hành vi bị cấm trong đấu thầu, trường hợp nhà thầu chính không kê khai nhàthầu phụ trong hồ sơ dự thầu, sau đó chuyển nhượng cho nhà thầu khác phần côngviệc thuộc gói thầu có giá trị từ 10% trở lên hoặc dưới 10% nhưng trên 50 tỷ đồng(sau khi trừ phần công việc thuộc trách nhiệm của nhà thầu phụ) tính trên giá trịhợp đồng đã ký kết thì bị coi là vi phạm quy định của Luật (hành vi chuyểnnhượng thầu)
Sau khi thực hiện hợp đồng, nhà thầu chính và nhà thầu phụ được kê khainăng lực khi tham gia dự thầu một gói thầu khác tùy và theo yêu cầu của hồ sơ mờithầu mà được đánh giá là đạt hay không đạt
Câu 23: Bên mời thầu tổ chức đấu thầu rộng rãi một gói thầu Trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) của nhà thầu A, Tổ chuyên gia phát hiện, tại hạng mục X có đơn giá dự thầu cao hơn ba lần so với đơn giá dự toán được duyệt.
Hỏi: Đơn giá tại hạng mục X trong HSDT của nhà thầu A có phải hiệu chỉnh
lại theo đơn giá dự toán được duyệt hay không? Nếu qua quá trình đánh giá, nhàthầu A được xếp hạng thứ nhất thì khi mời vào thương thảo hợp đồng có thểthương thảo để giảm giá tại hạng mục X này hay không?
Trả lời: Theo quy định tại Khoản 17 Điều 4 Luật Đấu thầu năm 2013, giá dự
thầu là giá do nhà thầu ghi trong đơn dự thầu, bao gồm toàn bộ các chi phí để thựchiện gói thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu (HSMT) Khi tham gia dự thầu, nhàthầu có quyền chào đơn giá đối với các hạng mục công việc trong gói thầu khácvới giá dự toán Việc tính toán giá dự thầu trong HSDT là do nhà thầu tự quyếtđịnh để đảm bảo cạnh tranh về giá với các nhà thầu khác, đồng thời đảm bảo thựchiện gói thầu hiệu quả, chất lượng theo yêu cầu Trong tình huống này, việc nhàthầu tham gia đấu thầu rộng rãi và được xếp thứ nhất nghĩa là mặc dù có một sốđơn giá cao bất thường nhưng giá dự thầu của nhà thầu vẫn bảo đảm cạnh tranh vềgiá so với các nhà thầu còn lại
Khoản 3 Điều 19 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định nguyên tắc thươngthảo hợp đồng là không tiến hành thương thảo đối với các nội dung mà nhà thầu đã
Trang 21chào đúng yêu cầu của HSMT Việc thương thảo hợp đồng không được làm thayđổi đơn giá dự thầu của nhà thầu sau khi sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch và trừ đi giá trịgiảm giá (nếu có) Do vậy, trường hợp nhà thầu chào hạng mục, công việc đúngtheo yêu cầu của HSMT (mặc dù đơn giá nhà thầu chào cho hạng mục, công việcnày cao bất thường) thì không tiến hành thương thảo về giá đối với nội dung này
Câu 24: Nội dung hiệu lực HSDT và bảo đảm dự thầu được quy định tại Khoản 42 Điều 4 và Khoản 4 Điều 11 Luật Đấu thầu
Hỏi: Theo quy định tại Khoản 4 Điều 11 Luật Đấu thầu, thời gian có hiệu lực
của bảo đảm dự thầu được quy định trong hồ sơ mời thầu (HSMT), hồ sơ yêu cầubằng thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu (HSDT), hồ sơ đề xuất cộng thêm 30ngày Như vậy, trường hợp nhà thầu chào hiệu lực bảo đảm dự thầu bằng hiệu lựcHSDT thì cần được xem xét như thế nào?
Tổ chuyên gia đang đánh giá HSDT một gói thầu thuộc dự án điện lực.HSMT quy định HSDT của nhà thầu phải có hiệu lực tối thiểu 40 ngày kể từ ngày
có thời điểm đóng thầu (ngày 22/12/2016) Bảo đảm dự thầu của nhà thầu phải cóhiệu lực không ít hơn 70 ngày kể từ ngày 22/12/2016
Trong HSDT nhà thầu ghi thời gian có hiệu lực của HSDT là 60 ngày kể từngày có thời điểm đóng thầu Bảo đảm dự thầu đính kèm HSDT của nhà thầu ghithời gian có hiệu lực của bảo đảm dự thầu là 70 ngày kể từ ngày 22/12/2016
Trong trường hợp này, hiệu lực của HSDT và bảo đảm dự thầu có được coi làđáp ứng yêu cầu của HSMT hay không?
Trả lời: Nội dung hiệu lực HSDT và bảo đảm dự thầu được quy định tại
Khoản 42 Điều 4 và Khoản 4 Điều 11 Luật Đấu thầu Theo đó, thời gian có hiệulực của HSDT là số ngày được quy định trong HSMT và được tính kể từ ngày cóthời điểm đóng thầu đến ngày cuối cùng có hiệu lực theo quy định trong HSMT
Từ thời điểm đóng thầu đến hết 24 giờ của ngày đóng thầu được tính là 01 ngày.Thời gian có hiệu lực của bảo đảm dự thầu được quy định trong HSMT bằng thờigian có hiệu lực của HSDT cộng thêm 30 ngày Theo quy định tại Khoản 2 Điều 18Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, trường hợp hiệu lực của HSDT, hiệu lực của bảođảm dự thầu không đáp ứng yêu cầu của HSMT thì HSDT sẽ bị đánh giá là khônghợp lệ
Đối với tình huống trên, khi HSMT quy định thời gian có hiệu lực của HSDTtối thiểu 40 ngày và thời gian có hiệu lực của bảo đảm dự thầu không ít hơn 70ngày kể từ ngày có thời điểm đóng thầu thì việc nhà thầu chào thời gian có hiệu lựccủa HSDT 60 ngày và thời gian hiệu lực của bảo đảm dự thầu 70 ngày kể từ ngày
có thời điểm đóng thầu phải được đánh giá đáp ứng yêu cầu của HSMT về thờigian có hiệu lực của HSDT và bảo đảm dự thầu
Trở lại quy định tại Khoản 4 Điều 11 Luật Đấu thầu, quy định này được hiểu
là áp dụng cho bên mời thầu, chủ đầu tư khi xây dựng HSMT Chẳng hạn, khi đãquy định hiệu lực HSDT là 40 ngày kể từ ngày có thời điểm đóng thầu thì cần quy
Trang 22định hiệu lực của bảo đảm dự thầu là 70 ngày kể từ ngày có thời điểm đóng thầu.Các yêu cầu về hiệu lực nêu trong HSMT sẽ được đem ra đối chiếu khi đánh giáHSDT; theo đó, hiệu lực HSDT, bảo đảm dự thầu được coi là đáp ứng yêu cầu nếukhông ngắn hơn quy định ghi trong HSMT mà không xét đến việc cái này phải dàihơn cái khác 30 ngày
Câu 25: Nếu nhà thầu cung cấp cam kết tín dụng của tổ chức tín dụng hoạt động hợp pháp tại Việt Nam với giá trị đáp ứng yêu cầu của HSMT thì được đánh giá là đạt đối với nội dung này
Hỏi: Sở Y tế tỉnh X đang tổ chức lựa chọn nhà thầu gói thầu mua sắm hàng
hóa thuộc dự án xây dựng một bệnh viện đa khoa huyện Trong tiêu chí yêu cầu vềnguồn lực tài chính cho gói thầu, hồ sơ mời thầu (HSMT) có quy định nhà thầuphải chứng minh khả năng tài chính cho gói thầu với số tiền 5,5 tỷ đồng và mộttrong các cách chứng minh là nộp cam kết tín dụng của ngân hàng, tổ chức tíndụng hợp pháp
Nhà thầu A tham dự thầu gói thầu nêu trên và chứng minh nguồn lực tài chínhcủa mình bằng cam kết tín dụng từ ngân hàng và hạn mức tín dụng đúng bằng sốtiền yêu cầu trong HSMT Tuy nhiên, cam kết tín dụng có ghi nội dung sau: Ngânhàng cam kết cấp tín dụng nếu nhà thầu đáp ứng đầy đủ các điều kiện về cấp tíndụng theo quy định của pháp luật và quy định của ngân hàng
Trong trường hợp này, cam kết tín dụng mà nhà thầu đã nộp có được coi làhợp lệ hay không?
Trả lời: Theo hướng dẫn tại Mục 2.1 Chương III Mẫu HSMT gói thầu mua
sắm hàng hóa một giai đoạn một túi hồ sơ ban hành kèm Thông tư số BKHĐT ngày 16/6/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khi tham dự thầu, nhà thầuphải chứng minh có các tài sản có khả năng thanh khoản cao hoặc có khả năng tiếpcận với tài sản có khả năng thanh khoản cao sẵn có, các khoản tín dụng hoặc cácnguồn tài chính khác (không kể các khoản tạm ứng thanh toán theo hợp đồng) đểđáp ứng yêu cầu về nguồn lực tài chính thực hiện gói thầu theo quy định củaHSMT
05/2015/TT-Theo hướng dẫn tại Mẫu số 15 mẫu HSMT nêu trên, trường hợp trong hồ sơ
dự thầu nhà thầu có nộp kèm theo bản cam kết tín dụng của tổ chức tín dụng hoạtđộng hợp pháp tại Việt Nam, trong đó cam kết sẽ cung cấp tín dụng cho nhà thầu
để thực hiện gói thầu đang xét với hạn mức tối thiểu bằng giá trị yêu cầu quy địnhtại tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng thìnhà thầu được đánh giá là đáp ứng yêu cầu về nguồn lực tài chính cho gói thầu.Đối với trường hợp trên, khi tham dự thầu, nếu nhà thầu cung cấp cam kết tíndụng của tổ chức tín dụng hoạt động hợp pháp tại Việt Nam với giá trị đáp ứng yêucầu của HSMT thì được đánh giá là đạt đối với nội dung này Một thực tế hiểnnhiên là việc thực hiện cam kết tín dụng của ngân hàng cho nhà thầu phải tuân thủtheo quy định của pháp luật về tín dụng, trong đó có sự ràng buộc và điều kiện
Trang 23giữa hai bên Do vậy, trên thực tế thì các ngân hàng sẽ không cấp cam kết tín dụng
vô điều kiện cho nhà thầu nộp cùng với hồ sơ dự thầu
Câu 26: Luật Đấu thầu (Điều 89 Khoản 6 Điểm i) quy định một trong các hành vi bị cấm trong đấu thầu là nêu yêu cầu cụ thể về nhãn hiệu, xuất xứ hàng hoá trong hồ sơ mời thầu đối với gói thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp hoặc gói thầu hỗn hợp khi áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế.
Hỏi: Bên mời thầu là đơn vị X đang thực hiện gói thầu mua sắm hàng hóa
theo hình thức chào hàng cạnh tranh Khi lập hồ sơ yêu cầu, đơn vị X dự kiến quyđịnh rõ xuất xứ, nhãn hiệu và mô tả chi tiết đặc tính kỹ thuật, thiết kế công nghệ,tiêu chuẩn công nghệ của hàng hóa để các nhà thầu làm cơ sở chào giá trong hồ sơ
đề xuất
Việc quy định cụ thể xuất xứ, nhãn hiệu hàng hóa trong hồ sơ yêu cầu chàohàng cạnh tranh có phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu hay không?
Trả lời: Luật Đấu thầu (Điều 89 Khoản 6 Điểm i) quy định một trong các
hành vi bị cấm trong đấu thầu là nêu yêu cầu cụ thể về nhãn hiệu, xuất xứ hàng hoátrong hồ sơ mời thầu đối với gói thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp hoặc gói thầuhỗn hợp khi áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế
Đối với trường hợp của đơn vị X, việc nêu nhãn hiệu hàng hóa khi lập hồ sơyêu cầu chào hàng cạnh tranh không thuộc sự điều chỉnh của quy định nêu trên.Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 11/2015/TT-BKHĐT quy định chitiết lập hồ sơ yêu cầu chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh, đối với gói thầu áp dụnghình thức chào hàng cạnh tranh, khi đưa ra yêu cầu đối với hàng hóa cần quy địnhđặc tính kỹ thuật, tiêu chuẩn sản xuất, tiêu chuẩn chế tạo, công nghệ mang tínhchất trung tính, không đưa ra các đặc tính kỹ thuật, tiêu chuẩn mang tính cá biệthóa mà không phải là đặc tính cơ bản của sản phẩm để chỉ một hoặc một số ít nhàthầu đáp ứng yêu cầu, làm hạn chế sự tham gia của các nhà thầu, gây ra sự cạnhtranh không bình đẳng Trường hợp không thể mô tả được hàng hóa cần mua theođặc tính kỹ thuật, thiết kế công nghệ, tiêu chuẩn công nghệ thì mới được phép nêunhãn hiệu, catalô của một sản phẩm cụ thể để tham khảo, minh họa cho yêu cầu về
kỹ thuật của hàng hóa nhưng phải ghi kèm theo cụm từ “hoặc tương đương” saunhãn hiệu, catalô, đồng thời quy định rõ nội hàm tương đương với hàng hóa đó vềđặc tính kỹ thuật, tính năng sử dụng, tiêu chuẩn công nghệ và các nội dung khác(nếu có) mà không quy định tương đương về xuất xứ
Như vậy, khi bên mời thầu X đã mô tả được hàng hóa cần mua theo đặc tính
kỹ thuật, thiết kế công nghệ, tiêu chuẩn công nghệ thì việc quy định nội dung xuất
xứ, nhãn hiệu trong hồ sơ yêu cầu là không phù hợp với quy định của pháp luậtđấu thầu Ngoài ra, cần lưu ý việc mô tả hàng hóa cần mua phải bảo đảm khôngmang tính cá biệt hóa, làm cho chỉ một hoặc một số ít sản phẩm đáp ứng yêu cầu,làm hạn chế sự tham gia của các nhà thầu khác
Trang 24Câu 27: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, việc đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu
Hỏi: Nhà thầu A tham dự thầu gói thầu của một bên mời thầu (BMT) nhưng
trong đơn dự thầu nhà thầu ghi tên gói thầu từ “Mua sắm, vận chuyển các thiết bịtrạm biến áp 110kV” thành “Mua sắm, vận chuyển thiết bị trạm biến áp 110 KV”.Cũng trong gói thầu này, nhà thầu X liên danh với nhà thầu Y để tham dự thầu góithầu và thống nhất tên gọi của thành viên liên danh trong văn bản thỏa thuận liêndanh là Liên danh Công ty X - Công ty Y Tuy nhiên, đơn dự thầu của nhà thầu liêndanh ghi là Liên danh Công ty Y - Công ty X
Trong trường hợp này, đơn dự thầu của nhà thầu A và nhà thầu liên danhCông ty X - Công ty Y có được đánh giá là hợp lệ hay không?
Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP,
việc đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT vàcác yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu (HSMT), căn cứ vào HSDT đã nộp, các tàiliệu giải thích, làm rõ HSDT của nhà thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có
đủ năng lực và kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu Theo quyđịnh tại Điểm b Khoản 2 Điều 18 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, HSDT hợp lệ phải
có đơn dự thầu được đại diện hợp pháp của nhà thầu ký tên, đóng dấu (nếu có)theo yêu cầu của HSMT; thời gian thực hiện gói thầu nêu trong đơn dự thầu phảiphù hợp với đề xuất về kỹ thuật; giá dự thầu ghi trong đơn dự thầu phải cụ thể, cốđịnh bằng số, bằng chữ và phải phù hợp, logic với tổng giá dự thầu ghi trong biểugiá tổng hợp, không đề xuất các giá dự thầu khác nhau hoặc có kèm theo điều kiệngây bất lợi cho chủ đầu tư, BMT Đối với nhà thầu liên danh, đơn dự thầu phải dođại diện hợp pháp của từng thành viên liên danh ký tên, đóng dấu (nếu có) hoặcthành viên đứng đầu liên danh thay mặt liên danh ký đơn dự thầu theo phân côngtrách nhiệm trong văn bản thỏa thuận liên danh Ngoài ra, việc xác định các saikhác, đặt điều kiện và bỏ sót nội dung (gọi chung là sai sót) cơ bản được hướngdẫn tại Chương I các Mẫu HSMT mua sắm hàng hóa ban hành kèm Thông tư số05/2015/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Đối với tình huống vừa nêu, việc đánh giá HSDT, trong đó bao gồm kiểm tratính hợp lệ của đơn dự thầu, phải căn cứ các quy định nêu trên Đối với đơn dựthầu đã đầy đủ các nội dung nêu tại Điểm b Khoản 2 Điều 18 Nghị định63/2014/NĐ-CP nhưng ghi thiếu 1 chữ “các” trong tên gói thầu, nếu HSDT củanhà thầu vẫn chào đủ số lượng thiết bị trạm biến áp 110 kV theo yêu cầu củaHSMT thì đơn dự thầu vẫn được coi là hợp lệ
Đối với nhà thầu X, trường hợp trong văn bản thỏa thuận liên danh nhà thầughi tên là Liên danh Công ty X - Công ty Y thì HSDT ghi tên nhà thầu là Liên danhCông ty Y - Công ty X vẫn thể hiện được bản chất liên danh của hai nhà thầu thànhviên Do vậy, HSDT của liên danh này vẫn được tiếp tục đánh giá theo các yêu cầucủa HSMT
Trang 25Nhìn chung, trong quá trình lập HSDT, một số nhà thầu sẽ có những sai sótkhông mong muốn, tương tự như các trường hợp nêu trên Tuy nhiên, việc xemxét, đánh giá từng sai sót phải được thực hiện cẩn trọng, không vội lấy đó làm căn
cứ để loại nhà thầu Suy cho cùng, việc tham dự của mỗi nhà thầu đều góp phầnlàm tăng tính cạnh tranh, hiệu quả của gói thầu
Câu 28: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (NĐ63) quy định việc đánh giá HSDT phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trong HSMT để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu.
Hỏi: Bên mời thầu X tổ chức lựa chọn nhà thầu cho một gói thầu và áp dụng
Mẫu hồ sơ mời thầu (HSMT) gói thầu mua sắm hàng hóa ban hành kèm Thông tư
số 05/2015/TT-BKHĐT (TT05) Trong yêu cầu về năng lực tài chính có yêu cầugiá trị tài sản ròng của nhà thầu trong năm gần nhất phải dương
Nhà thầu A tham dự thầu gói thầu này và chào giá thấp nhất theo kết quả ghinhận tại lễ mở thầu Tuy nhiên, khi đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) thì các tài liệuchứng minh năng lực tài chính thể hiện nhà thầu A không đáp ứng yêu cầu về nănglực tài chính nêu trên Trong trường hợp này, bên mời thầu X cần đánh giá HSDTcủa nhà thầu A như thế nào?
Trả lời: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (NĐ63) quy định việc đánh giá HSDT
phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trong HSMT đểbảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm, có giải pháp khả thi
để thực hiện gói thầu Theo quy định tại Khoản 3 Điều 18 NĐ63, nhà thầu có nănglực, kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu được xem xét, đánh giá về kỹ thuật Nội dungnày đồng thời được đưa vào quy định tại Chương I, Chương III các Mẫu HSMTgói thầu mua sắm hàng hóa ban hành kèm TT05
Đối với chỉ tiêu tài chính giá trị tài sản ròng, đó là sự so sánh giữa tổng tài sản
và tổng nợ của doanh nghiệp Khi tổng tài sản ít hơn nợ phải trả thì giá trị tài sảnròng sẽ âm (giá trị tài sản ròng = tổng tài sản – tổng nợ), chỉ tiêu giá trị tài sản ròng
âm phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp là không lành mạnh, từ đó có thểdẫn tới không bảo đảm khả năng tài chính để thực hiện gói thầu
Đối với trường hợp trên, việc đánh giá năng lực tài chính của nhà thầu phảicăn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá đã quy định trong HSMT Khi HSMT quy định nhàthầu phải có giá trị tài sản ròng năm gần nhất dương thì nhà thầu không có giá trịtài sản ròng dương trong năm gần nhất bị coi là không đáp ứng yêu cầu của HSMTđối với nội dung này Các nhà thầu không đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinhnghiệm (bao gồm năng lực tài chính) thì không được xem xét ở bước tiếp theo.Tóm lại, đấu thầu là một cuộc thi minh bạch và bình đẳng, trong đó các nhàthầu đã được thông báo rõ thể lệ trong HSMT Do vậy, trong trường hợp này, bênmời thầu phải tôn trọng quy định do chính mình đưa ra, nghĩa là không được đánhgiá nhà thầu A là đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm vì thấy nhà thầu đóchào giá thấp nhất theo thông tin ghi nhận tại lễ mở thầu
Trang 26Câu 29: Luật Đấu thầu (Điều 4 Khoản 42) quy định thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu là số ngày được quy định trong hồ sơ mời thầu và được tính
kể từ ngày có thời điểm đóng thầu đến ngày cuối cùng có hiệu lực theo quy định trong hồ sơ mời thầu.
Hỏi: Bên mời thầu X tổ chức lựa chọn nhà thầu một gói thầu thuộc phạm vi
điều chỉnh của Luật Đấu thầu Hồ sơ mời thầu quy định hồ sơ dự thầu phải có hiệulực 120 ngày và thời điểm đóng thầu là 9h ngày 07/9/2016 Trong quá trình đánhgiá hồ sơ dự thầu, tổ chuyên gia nhận thấy Nhà thầu A chào thời gian có hiệu lựccủa hồ sơ dự thầu là 120 ngày, từ thời điểm mở thầu là 9h30 ngày 07/9/2015.Trong trường hợp này, việc Nhà thầu A chào thời gian hiệu lực của hồ sơ dự thầu
có được coi đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu hay không?
Trả lời: Luật Đấu thầu (Điều 4 Khoản 42) quy định thời gian có hiệu lực của
hồ sơ dự thầu là số ngày được quy định trong hồ sơ mời thầu và được tính kể từngày có thời điểm đóng thầu đến ngày cuối cùng có hiệu lực theo quy định trong
hồ sơ mời thầu Từ thời điểm đóng thầu đến hết 24 giờ của ngày đóng thầu đượctính là 01 ngày
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 18 Khoản 2 Điểm c) quy định hồ sơ dựthầu hợp lệ phải có hiệu lực đáp ứng yêu cầu theo quy định của hồ sơ mời thầu.Đối với trường hợp trên, nếu hồ sơ mời thầu quy định hồ sơ dự thầu phải cóhiệu lực 120 ngày và thời điểm đóng thầu là 9h ngày 07/9/2016 thì các hồ sơ dựthầu ghi thời gian có hiệu lực là 120 ngày kể từ ngày 07/9/2016 hoặc kể từ 9h ngày07/9/2016 được coi là đáp ứng yêu cầu về thời gian có hiệu lực Trường hợp hồ sơ
dự thầu ghi thời gian có hiệu lực với điểm bắt đầu muộn hơn thời điểm đóng thầu(ví dụ: 9h30 ngày 07/9/2015) bị coi là không đáp ứng yêu cầu về thời gian có hiệulực
Hiện nay, một trong các sai sót thường gặp khi nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dựthầu là ghi sai hiệu lực của hồ sơ dự thầu Vì vậy, để hạn chế các sai sót này, nhàthầu khi chuẩn bị hồ sơ dự thầu, nên đọc kỹ thông tin trong chỉ dẫn nhà thầu vềthời điểm đóng thầu, mở thầu, ngày bắt đầu và số ngày có hiệu lực Ngoài ra, chỉcần ghi ngày bắt đầu có hiệu lực (không cần ghi cụ thể thời điểm, giờ bắt đầu) và
số ngày có hiệu lực thì hồ sơ dự thầu đã được đánh giá đáp ứng yêu cầu về thờigian có hiệu lực, ví dụ: Có thể ghi là 120 ngày kể từ ngày 07/9/2016, không nhấtthiết phải ghi là 120 ngày kể từ 9h00 ngày 07/9/2016
Câu 30: Luật Đấu thầu (Điều 4 Khoản 35) quy định nhà thầu chính là nhà thầu chịu trách nhiệm tham dự thầu, đứng tên dự thầu và trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn Nhà thầu chính có thể là nhà thầu độc lập hoặc thành viên của nhà thầu liên danh.
Hỏi: Công ty A liên danh với Công ty B để tham dự thầu gói thầu do bên mời
thầu X tổ chức và đã được trao hợp đồng vào năm 2015
Trong quá trình tham dự thầu, thành viên liên danh A, B đều tham gia lập hồ
sơ dự thầu và mỗi thành viên ký vào phần kê khai năng lực, kinh nghiệm của mình
Trang 27Trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu, tổ chuyên gia đấu thầu phát hiệnthành viên liên danh B thuộc nhà thầu liên danh A - B đã kê khai không trung thựcnhiều thông tin, làm giả hồ sơ liên quan đến năng lực, kinh nghiệm của mình khitham dự thầu nên đã báo cáo bên mời thầu Trong trường hợp này, bên mời thầu Xcần xử lý vi phạm đối với thành viên liên danh B hay với nhà thầu liên danh A -B?
Trả lời: Luật Đấu thầu (Điều 4 Khoản 35) quy định nhà thầu chính là nhà
thầu chịu trách nhiệm tham dự thầu, đứng tên dự thầu và trực tiếp ký, thực hiệnhợp đồng nếu được lựa chọn Nhà thầu chính có thể là nhà thầu độc lập hoặc thànhviên của nhà thầu liên danh Như vậy, khi tham gia đấu thầu thì tất cả thành viênliên danh đều là nhà thầu chính
Luật Đấu thầu (Điều 89) quy định một trong các hành vi bị cấm trong đấuthầu là trình bày sai một cách cố ý hoặc làm sai lệch thông tin, hồ sơ, tài liệu củamột bên trong đấu thầu nhằm thu được lợi ích tài chính hoặc lợi ích khác hoặcnhằm trốn tránh bất kỳ một nghĩa vụ nào
Đối với trường hợp nêu trên, nhà thầu liên danh sử dụng hồ sơ giả do thànhviên liên danh B cung cấp để làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu thì nhà thầuliên danh này bị coi là vi phạm Điều 89 Luật Đấu thầu Trong trường hợp này, hồ
sơ dự thầu của nhà thầu bị loại và việc xử phạt phải được áp dụng với tất cả cácnhà thầu liên danh, bao gồm Công ty A và Công ty B vì (i) các thành viên liên danhđều là nhà thầu chính khi tham gia đấu thầu và đều phải chịu trách nhiệm nếu viphạm pháp luật về đấu thầu; (ii) văn bản thỏa thuận liên danh thể hiện sự ràng buộckhông thể tách rời của các thành viên để tham gia đấu thầu, do vậy, hành vi viphạm pháp luật đấu thầu của nhà thầu liên danh không thể coi là hành vi vi phạmcủa riêng một thành viên nào đó trong liên danh Do vậy, khi tìm kiếm đối tác đểliên danh tham dự thầu thì các nhà thầu phải có các thông tin chính xác về đối táccủa mình, nhất là về năng lực, kinh nghiệm để tránh các rủi ro đáng tiếc như Công
ty A khi liên danh với Công ty B trong tình huống này
Câu 31: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 18 Khoản 1 và Khoản 3) quy định, HSDT của nhà thầu phải bao gồm các tài liệu chứng minh năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu, đồng thời việc đánh giá HSDT bao gồm bước đánh giá về năng lực và kinh nghiệm.
Hỏi: Nhà máy in C trước đây là đơn vị hạch toán phụ thuộc Tập đoàn B Khi
đó, Tập đoàn B tham gia đấu thầu và nếu trúng thầu thì giao một số gói thầu choNhà máy in C thực hiện Do cơ cấu lại Tập đoàn B, Nhà máy in đã được tách rathành một pháp nhân độc lập, sau đó tiếp tục được điều chuyển nguyên trạng, sápnhập về Nhà thầu A Trong trường hợp này, khi chuẩn bị hồ sơ dự thầu (HSDT)tham gia đấu thầu, Nhà thầu A có được kế thừa năng lực, kinh nghiệm của Nhàmáy in C khi còn trực thuộc Tập đoàn B không?
Trả lời: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 18 Khoản 1 và Khoản 3) quy
định, HSDT của nhà thầu phải bao gồm các tài liệu chứng minh năng lực, kinh
Trang 28nghiệm của nhà thầu, đồng thời việc đánh giá HSDT bao gồm bước đánh giá vềnăng lực và kinh nghiệm.
Liên quan đến việc tách, sáp nhập pháp nhân, có thể tìm hiểu quy định tạiĐiều 89 và Điều 91 Bộ luật Dân sự 2015 Theo đó, sau khi tách, pháp nhân bị tách
và pháp nhân được tách thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của mình phù hợp vớimục đích hoạt động Sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt tồn tại;quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được sáp nhập được chuyển giao chopháp nhân sáp nhập Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp, việc tách, sáp nhập đượcquy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 (Điều 193 và Điều 195)
Đối với trường hợp nêu trên, Nhà máy in C trước đây trực thuộc Tập đoàn B
và đã được Tập đoàn B giao thực hiện một số hợp đồng in mà Tập đoàn trúng thầu
Vì vậy, sau khi tách ra thành pháp nhân độc lập thì Nhà máy in C được hiểu là cókinh nghiệm thực hiện các hợp đồng mà trên thực tế nhà máy này đã thực hiện khicòn trực thuộc Tập đoàn B Tiếp đó, khi Nhà máy được sáp nhập vào Nhà thầu Athì năng lực, kinh nghiệm của Nhà thầu A được hiểu là bao gồm năng lực, kinhnghiệm của Nhà máy in C trước khi được sáp nhập Tóm lại, khi Nhà máy in C cónăng lực, kinh nghiệm thực hiện hợp đồng thì năng lực, kinh nghiệm thực hiện hợpđồng này sẽ được tính vào năng lực, kinh nghiệm của Nhà thầu A sau khi Nhà máy
in C được sáp nhập vào nhà thầu này
Câu 32: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 15 Khoản 1) quy định việc đánh giá HSDT phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu
Hỏi: Công ty X tham dự đấu thầu rộng rãi trong nước gói thầu xây lắp Do sơ
suất, trong hồ sơ dự thầu (HSDT) của Công ty nộp cho bên mời thầu không đóngkèm văn bản xác nhận của cơ quan thuế về việc Công ty đã hoàn thành nghĩa vụthuế đối với Nhà nước Vì vậy, sau khi đóng thầu (9h ngày 25/8/2016), Công tymới gửi văn bản xác nhận của cơ quan thuế (văn bản xác nhận của cơ quan thuế kýngày 26/8/2016) trong đó xác nhận tính đến ngày 25/8/2016, Công ty đã hoànthành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Vậy, Công ty có được dùng văn bản xácnhận của cơ quan thuế sau thời điểm đóng thầu như nêu trên để chứng minh nănglực về tài chính của mình và văn bản xác nhận này có được chấp nhận, đánh giáhay không?
Trả lời: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 15 Khoản 1) quy định việc đánh
giá HSDT phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trong hồ
sơ mời thầu (HSMT), căn cứ vào HSDT đã nộp, các tài liệu giải thích, làm rõHSDT của nhà thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực và kinhnghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 16 Khoản 1 và Khoản 2) quy định saukhi mở thầu, nhà thầu có trách nhiệm làm rõ HSDT theo yêu cầu của bên mời thầu.Trường hợp HSDT của nhà thầu thiếu tài liệu chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực
và kinh nghiệm thì bên mời thầu yêu cầu nhà thầu làm rõ, bổ sung tài liệu đểchứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm Đối với các nội dung đề xuất
Trang 29về kỹ thuật, tài chính nêu trong HSDT của nhà thầu, việc làm rõ phải bảo đảmnguyên tắc không làm thay đổi nội dung cơ bản của HSDT đã nộp, không thay đổigiá dự thầu Trường hợp sau khi đóng thầu, nếu nhà thầu phát hiện HSDT thiếu cáctài liệu chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm thì nhà thầu đượcphép gửi tài liệu đến bên mời thầu để làm rõ về tư cách hợp lệ, năng lực và kinhnghiệm của mình Bên mời thầu có trách nhiệm tiếp nhận những tài liệu làm rõ củanhà thầu để xem xét, đánh giá; các tài liệu bổ sung, làm rõ về tư cách hợp lệ, nănglực và kinh nghiệm được coi như một phần của HSDT.
Đối với trường hợp nêu trên, việc sau thời điểm đóng thầu, nếu nhà thầu pháthiện trong HSDT đã nộp thiếu văn bản xác nhận của cơ quan thuế thì nhà thầuđược phép bổ sung văn bản xác nhận đã hoàn thành nghĩa vụ thuế của cơ quan thuế
để chứng minh năng lực tài chính của mình sau thời điểm đóng thầu Trong trườnghợp này, bên mời thầu phải tiếp nhận văn bản xác nhận của cơ quan thuế để làm cơ
sở đánh giá HSDT của nhà thầu
Trường hợp việc xác nhận của cơ quan thuế diễn ra sau thời điểm đóng thầuthì bên mời thầu, tổ chuyên gia phải xem xét đến các yếu tố về thời điểm lập tờkhai nộp thuế, thời điểm nộp tiền đóng thuế của nhà thầu Nếu thời điểm lập tờkhai nộp thuế, thời điểm nộp tiền đóng thuế của nhà thầu được thực hiện trước thờiđiểm đóng thầu thì văn bản xác nhận việc nộp thuế của cơ quan thuế được coi làhợp lệ để xem xét, đánh giá; ngược lại, nếu là sau thời điểm đóng thầu thì được coi
Hỏi: Trường hợp chấm dứt hợp đồng đối với nhà thầu vi phạm hợp đồng thì
khối lượng công việc còn lại có phải hình thành gói thầu mới để tổ chức lựa chọnnhà thầu hay không? Hình thức lựa chọn nhà thầu nào sẽ được áp dụng?
Trường hợp áp dụng chỉ định thầu thì có bắt buộc phải thuộc hạn mức chỉđịnh thầu hay không và có được phê duyệt dự toán cho phần công việc còn lại chophù hợp để làm cơ sở chỉ định thầu không?
Trả lời: Nghị định 63/2014/NĐ-CP (Điều 117 Khoản 11) quy định về cách
thức xử lý tình huống trường hợp nhà thầu thực hiện gói thầu vi phạm hợp đồng,không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng, làm ảnh hưởng nghiêm trọngđến tiến độ, chất lượng, hiệu quả của gói thầu
Trang 30Theo đó, trường hợp khẳng định việc chậm tiến độ do lỗi của nhà thầu, làmảnh hưởng nghiêm trọng tiến độ, chất lượng, hiệu quả của gói thầu thì chủ đầu tưxem xét, báo cáo người có thẩm quyền quyết định cho phép chấm dứt hợp đồngvới nhà thầu đó Phần công việc còn lại chưa được thực hiện được phép áp dụngchỉ định thầu hoặc các hình thức lựa chọn nhà thầu khác trên cơ sở bảo đảm chấtlượng, tiến độ của gói thầu và do người có thẩm quyền quyết định.
Trường hợp áp dụng hình thức chỉ định thầu thì không cần phải tuân thủ theohạn mức chỉ định thầu quy định tại Điều 54 Nghị định 63/2014/NĐ-CP Trongtrường hợp này, giá trị phần khối lượng công việc chưa thực hiện được giao (chỉđịnh thầu) cho nhà thầu mới thực hiện theo đúng giá trị ghi trong hợp đồng trước
đó trừ đi giá trị của phần khối lượng công việc mà nhà thầu cũ đã thực hiện Nhưvậy, phần khối lượng công việc được chỉ định cho nhà thầu mới không được tínhtoán, cập nhật theo giá thị trường tại thời điểm chấm dứt hợp đồng
Trường hợp không áp dụng hình thức chỉ định thầu thì phần khối lượng côngviệc chưa thực hiện được tách thành gói thầu mới và tổ chức lựa chọn nhà thầutheo quy định Trong trường hợp này, chủ đầu tư phải phê duyệt lại dự toán chophần công việc còn lại trên cơ sở cập nhật các quy định của pháp luật hiện hành.Bên cạnh đó, trường hợp phải chấm dứt hợp đồng với nhà thầu vi phạm đểthay thế nhà thầu mới, trong vòng 05 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành quyếtđịnh chấm dứt hợp đồng với nhà thầu vi phạm, chủ đầu tư phải gửi thông báo đến
Bộ Kế hoạch và Đầu tư để xem xét, đăng tải thông tin nhà thầu vi phạm trên Hệthống mạng đấu thầu quốc gia và Báo Đấu thầu; trong thông báo phải nêu rõ lý donhà thầu vi phạm dẫn tới phải chấm dứt hợp đồng, hình thức lựa chọn nhà thầuthay thế, tên nhà thầu được chỉ định trong trường hợp áp dụng hình thức chỉ địnhthầu
Câu 34: Việc chủ đầu tư, bên mời thầu cùng với nhà thầu tiến hành rà soát lại bảng khối lượng công việc theo thiết kế được duyệt là cần thiết và phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu.
Hỏi: Nhà thầu tham dự gói thầu xây lắp áp dụng loại hợp đồng trọn gói, hồ sơ
dự thầu (HSDT) của nhà thầu tuân thủ và đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ mời thầu(HSMT) Trong quá trình thương thảo hợp đồng, chủ đầu tư, bên mời thầu yêu cầunhà thầu phải rà soát lại khối lượng của gói thầu theo thiết kế được duyệt để xácđịnh những khối lượng thừa hoặc thiếu so với thiết kế
Vậy yêu cầu rà soát nêu trên của chủ đầu tư, bên mời thầu có phù hợp với quyđịnh của pháp luật về đấu thầu hay không? Trường hợp phát hiện khối lượng bịthiếu so với thiết kế thì xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 62 Luật Đấu thầu số
43/2013/QH13, khi áp dụng loại hợp đồng trọn gói, đối với gói thầu xây lắp, trongquá trình thương thảo, hoàn thiện hợp đồng, các bên cần rà soát lại bảng khốilượng công việc theo thiết kế được duyệt; nếu nhà thầu hoặc bên mời thầu pháthiện bảng số lượng, khối lượng công việc chưa chính xác so với thiết kế, bên mời
Trang 31thầu báo cáo chủ đầu tư xem xét, quyết định việc điều chỉnh khối lượng công việc
để bảo đảm phù hợp với thiết kế
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 19 Khoản 3 Điểm b) quy định, trong quátrình đánh giá HSDT và thương thảo hợp đồng, nếu phát hiện khối lượng mời thầunêu trong bảng tiên lượng mời thầu thiếu so với hồ sơ thiết kế thì bên mời thầu yêucầu nhà thầu phải bổ sung khối lượng công việc thiếu đó trên cơ sở đơn giá đãchào; trường hợp trong HSDT chưa có đơn giá thì bên mời thầu báo cáo chủ đầu tưxem xét, quyết định việc áp đơn giá nêu trong dự toán đã phê duyệt đối với khốilượng công việc thiếu so với hồ sơ thiết kế hoặc đơn giá của nhà thầu khác đã vượtqua bước đánh giá về kỹ thuật nếu đơn giá này thấp hơn đơn giá đã phê duyệttrong dự toán gói thầu
Theo đó, việc chủ đầu tư, bên mời thầu cùng với nhà thầu tiến hành rà soát lạibảng khối lượng công việc theo thiết kế được duyệt là cần thiết và phù hợp với quyđịnh của pháp luật về đấu thầu Trường hợp phát hiện khối lượng thiếu so với thiết
kế thì nhà thầu phải thực hiện bổ sung công việc thiếu đó theo quy định tại Điểm bKhoản 3 Điều 19 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP nêu trên Trong trường hợp này,chủ đầu tư phải bổ sung kinh phí đối với phần khối lượng bị tính toán thiếu vàotrong giá đề nghị trúng thầu
Trường hợp dự toán đã lập cho gói thầu tính thiếu khối lượng so với thiết kếthì chủ đầu tư phải phê duyệt lại dự toán
Ngoài ra, chủ đầu tư cần lưu ý, trường hợp sử dụng nhà thầu tư vấn để lập hồ
sơ thiết kế, HSMT thì trong hợp đồng giữa chủ đầu tư, bên mời thầu với nhà thầu
tư vấn phải có quy định về trách nhiệm của các bên trong việc xử lý, đền bù đốivới việc tính toán sai số lượng, khối lượng công việc theo quy định tại Điểm đKhoản 1 Điều 62 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13
Câu 35: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 16 Khoản 1) quy định sau khi
mở thầu, nhà thầu có trách nhiệm làm rõ HSDT theo yêu cầu của bên mời thầu
Hỏi: Trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) gói thầu xây lắp, tổ
chuyên gia nhận thấy bản chụp hợp đồng tương tự được công chứng mà nhà thầuđóng kèm theo HSDT có dấu hiệu bất thường nên tổ chuyên gia đã đề nghị bênmời thầu yêu cầu nhà thầu cung cấp bản gốc để đối chiếu Tuy nhiên, nhà thầukhông cung cấp bản gốc của hợp đồng này với lý do là bản chụp hợp đồng đã đượccông chứng và đề nghị tổ chuyên gia cần căn cứ vào đó để đánh giá và bên mờithầu đã chấp thuận giải thích của nhà thầu Việc nhà thầu làm rõ và bên mời thầuchấp thuận giải thích của nhà thầu như nêu trên có phù hợp với quy định của phápluật về đấu thầu hay không?
Trả lời: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 16 Khoản 1) quy định sau khi
mở thầu, nhà thầu có trách nhiệm làm rõ HSDT theo yêu cầu của bên mời thầu.Trường hợp HSDT của nhà thầu thiếu tài liệu chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực
và kinh nghiệm thì bên mời thầu yêu cầu nhà thầu làm rõ, bổ sung tài liệu để
Trang 32chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm Đối với các nội dung đề xuất
về kỹ thuật, tài chính nêu trong HSDT của nhà thầu, việc làm rõ phải bảo đảmnguyên tắc không làm thay đổi nội dung cơ bản của HSDT đã nộp, không thay đổigiá dự thầu
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 15 Khoản 1) quy định việc đánh giáHSDT phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trongHSMT, căn cứ vào HSDT đã nộp, các tài liệu giải thích, làm rõ HSDT của nhà thầu
để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm, có giải phápkhả thi để thực hiện gói thầu
Theo hướng dẫn tại Mục 17 Chương I của Mẫu HSMT xây lắp ban hành kèmtheo Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, nhà thầu phải chuẩn bị sẵn sàng các tài liệu gốc để phục vụ việc xác minh khi
có yêu cầu của bên mời thầu
Theo đó, việc đánh giá, làm rõ HSDT được thực hiện theo quy định nêu trên.Trong quá trình đánh giá HSDT, trường hợp cần thiết bên mời thầu có thể yêu cầunhà thầu cung cấp các tài liệu gốc để so sánh, xác thực thông tin so với bản chụptài liệu mà nhà thầu đã cung cấp trong HSDT Việc nhà thầu không cung cấp tàiliệu gốc và bên mời thầu chấp thuận đề nghị này của nhà thầu là không phù hợpvới quy định của pháp luật về đấu thầu, có thể dẫn đến vi phạm hành vi bị cấmtrong đấu thầu theo quy định tại Điểm c Khoản 4 Điều 89 Luật Đấu thầu số43/2013/QH13 (nhà thầu cố ý cung cấp thông tin không trung thực trong HSDTlàm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu)
Câu 36: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (Điều 4 Khoản 32 và Điều 65 Khoản 3) quy định hợp đồng là văn bản thỏa thuận giữa chủ đầu tư với nhà thầu được lựa chọn để thực hiện gói thầu.
Hỏi: Trong Hồ sơ dự thầu (HSDT) cũng như hợp đồng đã ký kết, nhà thầu
cam kết sẽ cung cấp hàng hóa xuất xứ tại Singapore, nhưng trong quá trình bàngiao thiết bị, nhà thầu lại đề xuất cung cấp hàng hóa xuất xứ từ Trung Quốc và ViệtNam Nhà thầu giải thích rằng, việc thay đổi xuất xứ hàng hóa là do hãng sản xuấtthiết bị thay đổi chính sách nguồn cung cấp hàng hóa vào thị trường Việt Nam vàhãng bảo đảm chất lượng toàn cầu Chủ đầu tư có được xem xét, chấp thuận đềxuất của nhà thầu về thay đổi xuất xứ hàng hoá như nêu trên hay không?
Trả lời: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (Điều 4 Khoản 32 và Điều 65
Khoản 3) quy định hợp đồng là văn bản thỏa thuận giữa chủ đầu tư với nhà thầuđược lựa chọn để thực hiện gói thầu Hợp đồng được ký kết giữa các bên phải phùhợp với nội dung hồ sơ mời thầu (HSMT), HSDT, kết quả thương thảo hợp đồng,quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu
Đối với tình huống nêu tại câu hỏi này, trước khi xem xét, quyết định chấpnhận hay không đề xuất của nhà thầu, chủ đầu tư cần kiểm tra các thông tin mà nhàthầu cung cấp Trường hợp chính sách nguồn cung cấp hàng hóa vào Việt Nam củanhà sản xuất được thay đổi trước khi nhà thầu nộp HSDT thì đề xuất của nhà thầu
Trang 33như trên là không phù hợp; trong trường hợp này, chủ đầu tư cần xem xét, khôngchấp thuận đề xuất của nhà thầu.
Trường hợp sau khi trúng thầu, nhà sản xuất mới thay đổi chính sách vềnguồn cung cấp hàng hóa và là tình huống khách quan, không lường trước đượccủa nhà thầu khi lập HSDT thì chủ đầu tư có thể xem xét, chấp thuận việc thay đổixuất xứ hàng hóa theo đề nghị của nhà thầu song phải bảo đảm hàng hóa được đềxuất thay thế vẫn đáp ứng tất cả các yêu cầu về mặt kỹ thuật cũng như chất lượngtheo yêu cầu của HSMT Trong trường hợp này, chủ đầu tư và nhà thầu cần thươngthảo về giá hợp đồng và các rủi ro có thể xảy ra do việc cung cấp hàng hóa khôngtheo đúng xuất xứ như cam kết trong HSDT và hợp đồng đã ký giữa hai bên
Câu 37: Đối với trường hợp quy định bảo đảm dự thầu theo hình thức nộp thư bảo lãnh thì thư bảo lãnh phải được đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam ký tên với giá trị và thời hạn hiệu lực, đơn vị thụ hưởng theo yêu cầu của HSMT.
Hỏi: Bên mời thầu X đang tổ chức đấu thầu rộng rãi trong nước một gói thầu
mua sắm hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu Đối với nội dungbảo đảm dự thầu, đơn vị tư vấn xây dựng hồ sơ mời thầu (HSMT) đề xuất quy địnhtrong chỉ dẫn nhà thầu như sau:
“Trường hợp thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu bằng hình thức thư bảolãnh, nhà thầu phải nộp cùng hồ sơ dự thầu (HSDT) bảo lãnh dự thầu do một ngânhàng phát hành với giá trị và thời gian có hiệu lực như quy định tại Bảng dữ liệuđấu thầu Bảo đảm dự thầu phải do một ngân hàng hoạt động hợp pháp tại ViệtNam phát hành…”
Hỏi: Nội dung yêu cầu về bảo đảm dự thầu như trên có phù hợp với quy định
của pháp luật về đấu thầu không?
Trả lời: Điểm d, Khoản 2, Điều 18 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (NĐ63) quy
định HSDT hợp lệ phải có bảo đảm dự thầu với giá trị và thời hạn hiệu lực đáp ứngyêu cầu của HSMT Đối với trường hợp quy định bảo đảm dự thầu theo hình thứcnộp thư bảo lãnh thì thư bảo lãnh phải được đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụnghoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam kýtên với giá trị và thời hạn hiệu lực, đơn vị thụ hưởng theo yêu cầu của HSMT.Như vậy, theo quy định nêu trên của NĐ63 thì bảo lãnh của tổ chức tín dụnghoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam đều
sẽ được xem xét Nội dung này của NĐ63 cũng phù hợp với quy định nêu tạiKhoản 18 và Khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng Cụ thể, Khoản 18 Điều 4Luật Các tổ chức tín dụng quy định: Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng,theo đó, tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng
sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thựchiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ
và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận Còn Khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ
Trang 34chức tín dụng quy định: Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phingân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.
Căn cứ quy định của NĐ63 và Luật Các tổ chức tín dụng, các Mẫu HSMT góithầu xây lắp, mua sắm hàng hóa ban hành kèm theo Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 và Thông tư số 05/2015/TT-BKHĐT ngày 16/6/2016 của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đều đã hướng dẫn hình thức bảo đảm dự thầu quy địnhtrong HSMT có thể là thư bảo lãnh của ngân hàng hoặc của tổ chức tín dụng Nhưvậy, cần hiểu là khi nhà thầu thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu bằng thư bảolãnh thì thư đó có thể do ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng không phải ngân hànghoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng phát hành
Đối với trường hợp nêu trên, việc HSMT quy định nếu nhà thầu thực hiệnbiện pháp bảo đảm dự thầu bằng hình thức thư bảo lãnh thì thư bảo lãnh phải dongân hàng phát hành là quá khắt khe và có thể dẫn tới hạn chế sự tham gia của cácnhà thầu, không phù hợp với quy định nêu tại Khoản 2 Điều 23 NĐ63 cũng nhưcác quy định vừa phân tích ở trên Theo đó, nội dung này cần được sửa lại theohướng dẫn tại Mẫu HSMT tương ứng cho phù hợp
Câu 38: Mục 2.1 Chương II Mẫu HSYC chào hàng cạnh tranh xây lắp ban hành kèm theo Thông tư số 11/2015/TT-BKHĐT (Mẫu số 03) quy định căn cứ quy mô, tính chất của gói thầu mà bên mời thầu có thể tham khảo tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm
Hỏi: Ban Quản lý dự án xây dựng tỉnh A đang tổ chức lựa chọn nhà thầu cho
gói thầu xây lắp theo hình thức chào hàng cạnh tranh Trên địa bàn tỉnh này, có rấtnhiều doanh nghiệp mới thành lập từ 1 năm đến 2 năm Để tạo điều kiện cho cácnhà thầu địa phương tham gia chào hàng, hồ sơ yêu cầu (HSYC) có thể quy địnhtiêu chuẩn đánh giá về năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu trong khoảng thời gian
2 năm trước thời điểm đóng thầu được không, hay nhất thiết phải tuân thủ đúngtheo hướng dẫn của Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tưquy định chi tiết lập mẫu HSMT xây lắp (TT03) là từ 3 năm đến 5 năm?
Trả lời: Mục 2.1 Chương II Mẫu HSYC chào hàng cạnh tranh xây lắp ban
hành kèm theo Thông tư số 11/2015/TT-BKHĐT (Mẫu số 03) quy định căn cứ quy
mô, tính chất của gói thầu mà bên mời thầu có thể tham khảo tiêu chuẩn đánh giá
về năng lực và kinh nghiệm quy định tại Mẫu hồ sơ mời thầu (HSMT) số 01 banhành kèm theo TT03 để quy định cho phù hợp, tránh đưa các điều kiện nhằm hạnchế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầugây ra sự cạnh tranh không bình đẳng
Theo đó, đối với gói thầu xây lắp có giá trị dưới 5 tỷ đồng, áp dụng hình thứcchào hàng cạnh tranh thì chỉ có các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ mới được phéptham gia chào hàng theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 Nghị định số 63/2014/NĐ-
CP (NĐ63) Khi lập HSYC, chủ đầu tư, bên mời căn cứ vào quy mô, tính chất củagói thầu hoặc năng lực của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh để đưa ra tiêu chuẩnđánh giá năng lực và kinh nghiệm cho phù hợp, trường hợp quy định tiêu chuẩnđánh giá về năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu trong khoảng thời gian từ 3 năm
Trang 35đến 5 năm trước thời điểm đóng thầu dẫn đến hạn chế nhà thầu tham dự thầu, làmgiảm tính cạnh tranh của gói thầu thì bên mời thầu có thể quy định tiêu chuẩn đánhgiá về năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu trong khoảng thời gian 2 năm trước thờiđiểm đóng thầu nhằm thu hút nhiều nhà thầu tham dự, tăng tính cạnh tranh của góithầu.
Ngoài ra, trường hợp gói thầu xây lắp có giá dưới 5 tỷ đồng, đã có thiết kếbản vẽ thi công được phê duyệt và là công trình đơn giản mà nhà thầu không cầnnhiều thời gian để chuẩn bị hồ sơ đề xuất (HSĐX)/báo giá thì được phép áp dụnghình thức chào hàng cạnh tranh Trường hợp công trình đòi hỏi nhà thầu phải mấtnhiều thời gian hơn để chuẩn bị HSĐX/báo giá so với thời gian chuẩn bị HSĐX tốithiểu quy định tại Điểm a Khoản 6 Điều 58 NĐ63 thì cần áp dụng hình thức lựachọn nhà thầu khác cho phù hợp
Câu 39: Việc quy định nhà thầu phải có kinh nghiệm thi công gói thầu tương tự trong khoảng thời gian từ 3 năm đến 5 năm gần nhất so với thời điểm tổ chức sơ tuyển nhằm mục đích đánh giá một cách chính xác về kinh nghiệm và năng lực của nhà thầu tại thời điểm sơ tuyển, đồng thời không làm hạn chế sự tham dự của nhà thầu.
Hỏi: Năm 2016, Chủ đầu tư M tiến hành thủ tục sơ tuyển đối với một gói thầu
xây lắp Trong đó, hồ sơ mời sơ tuyển (HSMST) quy định nhà thầu cần liệt kê cáchợp đồng tương tự đã thực hiện và hoàn thành trong các năm 2012, 2013, 2014.Nhà thầu A tham dự thầu gói thầu và có một số hợp đồng ký kết năm 2012nhưng hoàn thành năm 2015 Trong trường hợp này, bên mời thầu có được xem xétcác hợp đồng hoàn thành năm 2015 để tính năng lực, kinh nghiệm của Nhà thầu Ahay không?
Trả lời: Theo hướng dẫn tại Ghi chú số 5 Mục 2.1 Chương III Mẫu hồ sơ mời
thầu (HSMT) xây lắp ban hành kèm Thông tư 03/2015/TT-BKHĐT ngày 6/5/2015của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chủ đầu tư căn cứ vào quy mô, tính chất của gói thầu
và tình hình thực tế của ngành, địa phương mà có thể quy định nhà thầu phải cókinh nghiệm thi công một số gói thầu tương tự trong khoảng thời gian từ 3 nămđến 5 năm
Việc quy định nhà thầu phải có kinh nghiệm thi công gói thầu tương tự trongkhoảng thời gian từ 3 năm đến 5 năm gần nhất so với thời điểm tổ chức sơ tuyểnnhằm mục đích đánh giá một cách chính xác về kinh nghiệm và năng lực của nhàthầu tại thời điểm sơ tuyển, đồng thời không làm hạn chế sự tham dự của nhà thầu.Đối với trường hợp nêu trên, do thời gian bắt đầu tổ chức sơ tuyển là năm
2016 nên việc HSMST quy định chỉ xem xét các hợp đồng tương tự mà nhà thầu
đã hoàn thành trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2014 là chưa phù hợp,làm hạn chế sự tham gia của nhà thầu, làm giảm tính cạnh tranh trong đấu thầu.Theo đó, trường hợp bên mời thầu đã phát hành HSMST nhưng chưa đóng sơtuyển thì phải sửa đổi HSMST bằng cách gửi văn bản sửa đổi tới tất cả các nhà
Trang 36thầu đã nhận HSMST, đồng thời gia hạn thời điểm đóng sơ tuyển (nếu cần thiết)trên cơ sở bảo đảm đủ thời gian để nhà thầu hoàn chỉnh hồ sơ dự sơ tuyển.
Trường hợp đã đóng sơ tuyển thì coi đây là tình huống trong đấu thầu phátsinh ngoài quy định tại Điều 117 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP Theo đó, chủ đầu
tư cần xem xét, quyết định xử lý tình huống theo hướng yêu cầu tất cả các nhà thầutham dự sơ tuyển kê khai các hợp đồng tương tự đã hoàn thành trong khoảng thờigian từ năm 2012 đến trước thời điểm đóng sơ tuyển để xem xét, đánh giá về kinhnghiệm thi công gói thầu tương tự
Câu 40: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (Điểm a Khoản 2 Điều 35 và Điểm b Khoản 1 Điều 62) quy định giá gói thầu được tính đúng, tính đủ toàn
bộ chi phí để thực hiện gói thầu, kể cả chi phí dự phòng, phí, lệ phí và thuế Hỏi: Chúng tôi đang tiến hành lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu (KHLCNT)
cho gói thầu xây lắp áp dụng loại hợp đồng trọn gói, thời gian thực hiện hợp đồng
là 06 tháng Vậy khi lập giá gói thầu trong KHLCNT có cần phải tính toán cả chiphí dự phòng hay không? Trường hợp trong giá gói thầu có bao gồm cả chi phí dựphòng trượt giá, dự phòng phát sinh khối lượng nhưng thực tế khi thực hiện hợpđồng lại không xảy ra trượt giá, phát sinh khối lượng thì xử lý như thế nào và nhàthầu có được thanh toán khoản chi phí dự phòng trượt giá và phát sinh khối lượnghay không?
Trả lời: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (Điểm a Khoản 2 Điều 35 và Điểm
b Khoản 1 Điều 62) quy định giá gói thầu được tính đúng, tính đủ toàn bộ chi phí
để thực hiện gói thầu, kể cả chi phí dự phòng, phí, lệ phí và thuế Khi áp dụng hợpđồng trọn gói, giá gói thầu để làm căn cứ xét duyệt trúng thầu phải bao gồm cả chiphí cho các yếu tố rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, chi phí
dự phòng trượt giá
Như vậy, theo quy định nêu trên thì giá gói thầu trong KHLCNT đối với hợpđồng trọn gói và các loại hợp đồng khác đều phải bao gồm chi phí dự phòng Tuynhiên, chủ đầu tư cần lưu ý, theo hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư số10/2015/TT-BKHĐT ngày 26/10/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đối với các góithầu có thời gian thực hiện hợp đồng ngắn, không phát sinh rủi ro, trượt giá thì khilập giá gói thầu, chi phí dự phòng được tính bằng không Chi phí dự phòng do chủđầu tư xác định theo tính chất từng gói thầu nhưng không được vượt mức tối đa dopháp luật chuyên ngành quy định (chẳng hạn nếu mức dự phòng tối đa theo quyđịnh của pháp luật chuyên ngành là 10% chi phí xây dựng thì tùy theo quy mô, tínhchất của gói thầu để tính toán mức chi phí dự phòng trong khoảng từ 0% đến 10%chi phí xây dựng của gói thầu)
Đối với gói thầu áp dụng loại hợp đồng trọn gói, khi tham dự thầu, nhà thầuphải tính toán và phân bổ chi phí dự phòng vào trong giá dự thầu; không tách riêngphần chi phí dự phòng mà nhà thầu đã phân bổ trong giá dự thầu để xem xét, đánhgiá trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu về tài chính, thương mại (Khoản 3 Điều
5 Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Trang 37Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 62 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13,hợp đồng trọn gói là hợp đồng có giá cố định trong suốt thời gian thực hiện đối vớitoàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng Việc thanh toán đối với hợp đồng trọngói được thực hiện nhiều lần trong quá trình thực hiện hoặc thanh toán một lần khihoàn thành hợp đồng Tổng số tiền mà nhà thầu được thanh toán cho đến khi hoànthành các nghĩa vụ theo hợp đồng bằng đúng giá ghi trong hợp đồng.
Như vậy, việc thanh toán cho nhà thầu thực hiện theo quy định nêu trên màkhông phụ thuộc vào việc có xảy ra trượt giá, phát sinh khối lượng nằm trongphạm vi hợp đồng đã ký hay không
Câu 41: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Khoản 2 Điều 23) quy định trong HSMT không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng.
Hỏi: Bên mời thầu X tổ chức lựa chọn nhà thầu gói thầu xây lắp thuộc phạm
vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 Trong đó, hồ sơ mời thầu(HSMT) quy định nhân sự chủ chốt mà nhà thầu đề xuất trong hồ sơ dự thầu(HSDT) phải là nhân sự thuộc biên chế của nhà thầu, đóng bảo hiểm tại nhà thầu từ
5 năm trở lên
Yêu cầu về nhân sự do Bên mời thầu X đưa ra có phù hợp với quy định củapháp luật về đấu thầu hay không?
Trả lời: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Khoản 2 Điều 23) quy định trong
HSMT không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhàthầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranhkhông bình đẳng
Theo hướng dẫn tại Mục 1 Chương III Mẫu HSMT gói thầu xây lắp ban hànhkèm Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, một trong các nội dung đánh giá về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu lànhân sự chủ chốt; căn cứ quy mô, tính chất của gói thầu và pháp luật về xây dựng
mà bên mời thầu quy định yêu cầu về nhân sự chủ chốt như chỉ huy trưởng côngtrình, chủ nhiệm kỹ thuật thi công, chủ nhiệm thiết kế bản vẽ thi công, đội trưởngthi công, giám sát kỹ thuật, chất lượng… và số năm kinh nghiệm tối thiểu của nhân
Đối với trường hợp trên, việc HSMT quy định nhân sự tham gia gói thầu phải
là nhân sự thuộc biên chế nhà thầu, đóng bảo hiểm tại nhà thầu từ 5 năm trở lên làkhông cần thiết và có thể làm hạn chế sự tham gia của các nhà thầu Theo đó, chỉcần quy định nhà thầu phải kê khai những nhân sự chủ chốt có năng lực đáp ứngcác yêu cầu quy định tại HSMT và có thể sẵn sàng huy động cho gói thầu, mà
Trang 38không bắt buộc nhân sự đó phải được chính nhà thầu đóng bảo hiểm xã hội Việcđóng bảo hiểm xã hội cho người lao động phải tuân thủ theo quy định của phápluật về lao động.
Trong trường hợp này, nếu các nhân sự chủ chốt do nhà thầu đề xuất có nănglực, kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu nêu trong HSMT và sẵn sàng huy động để thamgia thực hiện gói thầu nếu nhà thầu trúng thầu thì được coi là đáp ứng yêu cầu vềnội dung nhân sự chủ chốt Trường hợp cần thiết, bên mời thầu có thể yêu cầu nhàthầu nộp các tài liệu như: hợp đồng lao động giữa nhà thầu với nhân sự chủ chốt,
sổ bảo hiểm xã hội của nhân sự chủ chốt, hợp đồng với công ty cung cấp lao động(trong trường hợp nhà thầu sử dụng nhân sự chủ chốt của công ty cung cấp laođộng)… để làm rõ, chứng minh khả năng huy động nhân sự chủ chốt của nhà thầu
Câu 42: Gói thầu mua sắm hàng hóa có giá trị gói thầu không quá 10 tỷ đồng được coi là gói thầu quy mô nhỏ và phải áp dụng loại hợp đồng trọn gói
mà không được phép áp dụng loại hợp đồng theo đơn giá cố định.
Hỏi: Bệnh viện công lập X cần tổ chức lựa chọn nhà thầu gói thầu mua thuốc
chữa bệnh (số lượng thuốc mời thầu: 1 triệu viên, giá gói thầu: 9 tỷ đồng) Dolượng thuốc thực tế Bệnh viện cần sử dụng phụ thuộc vào tình hình dịch bệnh vànhu cầu khám chữa bệnh trong năm nên Bệnh viện dự kiến áp dụng loại hợp đồngtheo đơn giá cố định
Trong trường hợp này, việc áp dụng loại hợp đồng theo đơn giá cố định cóphù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu không? Trường hợp ký hợp đồngtrọn gói thì có được phép thanh toán theo thực tế số lượng thuốc cần mua haykhông?
Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 62 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13,
hợp đồng trọn gói là hợp đồng có giá cố định trong suốt thời gian thực hiện đối vớitoàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng Việc thanh toán đối với hợp đồng trọngói được thực hiện nhiều lần trong quá trình thực hiện hoặc thanh toán một lần khihoàn thành hợp đồng Tổng số tiền mà nhà thầu được thanh toán cho đến khi hoànthành các nghĩa vụ theo hợp đồng bằng đúng giá ghi trong hợp đồng Đối với góithầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn đơn giản; gói thầu mua sắm hànghóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ phải áp dụng hợp đồng trọn gói
Theo quy định tại Điều 63 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, gói thầu mua sắmhàng hóa có giá trị gói thầu không quá 10 tỷ đồng được coi là gói thầu quy mô nhỏ.Như vậy, gói thầu mua thuốc của Bệnh viện có giá gói thầu 9 tỷ đồng đượccoi là gói thầu mua sắm hàng hóa quy mô nhỏ Theo đó, gói thầu này phải áp dụngloại hợp đồng trọn gói theo quy định nêu trên mà không được phép áp dụng loạihợp đồng theo đơn giá cố định
Tính chất trọn gói ở đây được hiểu là áp dụng đối với toàn bộ số lượng thuốcnêu trong hợp đồng, điều đó có nghĩa là khi tham dự thầu, nhà thầu phải chào giátrọn gói cho việc cung cấp 1 triệu viên thuốc theo đúng yêu cầu của HSMT.Trường hợp nhà thầu được công nhận trúng thầu với giá trúng thầu và giá hợp
Trang 39đồng là “A” đồng thì nhà thầu sẽ được thanh toán đúng giá trị “A” đồng nếu cungcấp cho bệnh viện 1 triệu viên thuốc theo đúng quy định trong HSMT và hợp đồng.Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của gói thầu cung cấp thuốc, số lượng thuốc
sử dụng trong năm phụ thuộc vào tình hình dịch bệnh và nhu cầu khám chữa bệnhcủa người dân nên thông thường số lượng thuốc sử dụng thực tế khác so với sốlượng thuốc ghi trong hợp đồng Do đó, trong trường hợp này, để bảo đảm việcmua thuốc được tiết kiệm, hiệu quả, trong HSMT và hợp đồng cần quy định rõ loạihợp đồng là trọn gói ứng với số lượng thuốc trúng thầu (1 triệu viên, giá hợp đồng:
“A” đồng); trường hợp số lượng thuốc sử dụng thực tế khác so với số lượng ghitrong hợp đồng (tăng hoặc giảm) thì giá trị thanh toán sẽ căn cứ theo số lượng sửdụng thực tế và đơn giá trúng thầu của một viên thuốc
Như vậy, với cách quy định về mua thuốc trong HSMT và trong hợp đồng đốivới trường hợp áp dụng loại hợp đồng trọn gói như nêu trên sẽ bảo đảm vừa tuânthủ quy định của pháp luật về đấu thầu vừa tiết kiệm, hiệu quả trong việc mua sắmthuốc Ngoài ra, việc HSMT có quy định rõ ràng về cách thanh toán cho nhà thầutrong trường hợp số lượng thuốc dùng thực tế khác so với số lượng mời thầu sẽgiúp cho các nhà thầu chủ động xây dựng và tính toán phương án chào thầu phùhợp
Câu 43: Tiết kiệm chi phí trong đấu thầu là chủ trương đúng đắn, cần thiết và phù hợp với mục tiêu của công tác đấu thầu là cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quả kinh tế, song phải bảo đảm không trái với quy định của pháp luật về đấu thầu
Hỏi: Dự toán gói thầu được lập tuân thủ đúng theo quy định về quản lý chi
phí đầu tư xây dựng công trình Tuy nhiên, khi phê duyệt dự toán, chủ đầu tư đãquyết định giảm trừ 5% giá trị dự toán với lý do để bảo đảm cạnh tranh và tiếtkiệm kinh phí trong đầu tư xây dựng các công trình sử dụng vốn ngân sách nhànước
Việc chủ đầu tư phê duyệt dự toán gói thầu như trên có phù hợp với quy địnhcủa pháp luật đấu thầu hiện hành hay không?
Trả lời: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (Điều 35 Khoản 2) quy định giá gói
thầu được xác định trên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc dự toán (nếu có) đối với dựán; dự toán mua sắm đối với mua sắm thường xuyên Giá gói thầu được tính đúng,tính đủ toàn bộ chi phí để thực hiện gói thầu, kể cả chi phí dự phòng, phí, lệ phí vàthuế Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 117 Khoản 2) quy định trường hợp dựtoán được phê duyệt của gói thầu cao hơn hoặc thấp hơn giá gói thầu ghi trong kếhoạch lựa chọn nhà thầu đã duyệt thì dự toán đó sẽ thay thế giá gói thầu trong kếhoạch lựa chọn nhà thầu
Như vậy, theo quy định nêu trên, thì dự toán gói thầu phải được tính đúng,tính đủ toàn bộ chi phí để thực hiện gói thầu, kể cả chi phí dự phòng, phí, lệ phí vàthuế Do đó, việc giảm trừ 5% giá trị dự toán sau khi đã được tính đúng, tính đủ làchưa phù hợp với quy định nêu trên
Trang 40Tiết kiệm chi phí trong đấu thầu là chủ trương đúng đắn, cần thiết và phù hợpvới mục tiêu của công tác đấu thầu là cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quảkinh tế, song phải bảo đảm không trái với quy định của pháp luật về đấu thầu Đểđạt được mục tiêu tiết kiệm chi phí trong đấu thầu thì quan trọng là phải xem xét,kiểm soát ngay từ bước lập thiết kế, dự toán gói thầu Nếu dự toán được lập chínhxác, đầy đủ, sát với thiết kế, phù hợp với giá cả thị trường thì cũng sẽ giúp tiếtkiệm được chi phí mà vẫn bảo đảm tính khả thi trong việc thực hiện gói thầu.Ngoài ra, quan trọng là phải tạo được môi trường đấu thầu rộng rãi, cạnh tranh,bình đẳng giữa các nhà thầu, từ đó sẽ lựa chọn được nhà thầu đáp ứng yêu cầu vớigiá cạnh tranh.
Câu 44: Chỉ những gói thầu mua sắm hàng hóa có quy mô nhỏ mới được phép áp dụng phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ; khi tổ chức đấu thầu gói thầu mua sắm hàng hóa có giá gói thầu trên 10 tỷ đồng (không phải là gói thầu quy mô nhỏ) phải áp dụng phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ theo quy định tại Điều 29 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13.
Hỏi: Đối với gói thầu mua sắm hàng hóa thông thường, đơn giản, không yêu
cầu kỹ thuật cao nhưng có số lượng lớn và có giá gói thầu trên 10 tỷ đồng, chủ đầu
tư có thể áp dụng phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ để nhằm mụcđích tiết kiệm thời gian trong đấu thầu và tăng cường áp dụng đấu thầu qua mạngđược không?
Trả lời: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (Điều 28 Khoản 1 Điểm a) quy định
phương thức lựa chọn nhà thầu một giai đoạn một túi hồ sơ áp dụng cho đấu thầurộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hoá có quy mô nhỏ Góithầu mua sắm hàng hoá quy mô nhỏ là gói thầu có giá không quá 10 tỷ đồng (Nghịđịnh số 63/2014/NĐ-CP Điều 63)
Theo đó, chỉ những gói thầu mua sắm hàng hóa có quy mô nhỏ mới đượcphép áp dụng phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ; khi tổ chức đấu thầu góithầu mua sắm hàng hóa có giá gói thầu trên 10 tỷ đồng (không phải là gói thầu quy
mô nhỏ) phải áp dụng phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ theo quy định tạiĐiều 29 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13
Như vậy, trường hợp chủ đầu tư áp dụng phương thức một giai đoạn một túi
hồ sơ để lựa chọn nhà thầu cho gói thầu mua sắm hàng hoá có giá lớn hơn 10 tỷđồng là chưa phù hợp với quy định nêu trên Trong trường hợp này, chủ đầu tưphải áp dụng phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ
Liên quan đến đấu thầu qua mạng, hiện nay việc áp dụng cách thức này đangđược thực hiện từng bước theo lộ trình Theo đó, trường hợp gói thầu thuộc diệnphải áp dụng phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ thì chưa thực hiện đấu thầuqua mạng Tuy nhiên, khuyến khích các chủ đầu tư, bên mời thầu đăng tải HSMTtrên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia để tạo điều kiện cho các nhà thầu dễ dàngtiếp cận HSMT, nhằm tăng tính minh bạch, cạnh tranh trong đấu thầu