Trên cơ sở đánh giá những hạn chế, tồn tại trong quy định của Luật Thương mại năm 2005 về chế tài trong thương mại, những điểm còn chưa thống nhất với Bộ luật Dân sự năm 2015 (“BLDS năm 2015”), bài viết tập trung là ba chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm, bài viết sẽ đề xuất những biện pháp nhằm hoàn thiện và phát huy hiệu quả quy định này trong bối cảnh hội nhập.
Trang 1HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG, PHẠT VI PHẠM VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI THEO LUẬT THƯƠNG
MẠI NĂM 2005 TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
ThS Nguyễn Tấn Hoàng Hải 1
Nguyễn Thị Hải Hậu 2
Tóm tắt: Luật Thương mại năm 2005 (“LTM năm 2005”) đã có nhiều cải cách, bổ
sung so với quy định của Luật Thương mại năm 1997 về chế tài trong thương mại Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế phát triển hội nhập, các hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại cũng biến đổi đa dạng và phức tạp, đòi hỏi các quy định về chế tài trong thương mại phải tiếp tục được hoàn thiện nhằm bảo vệ tốt nhất cho các thương nhân; tổ chức, cá nhân hoạt động có liên quan đến thương mại trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và để tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Do đó, trên cơ sở đánh giá những hạn chế, tồn tại trong quy định của LTM năm
2005 về chế tài trong thương mại, những điểm còn chưa thống nhất với Bộ luật Dân sự
năm 2015 (“BLDS năm 2015”) mà tập trung là ba chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng,
phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm, bài viết sẽ đề xuất những biện pháp nhằm hoàn thiện và phát huy hiệu quả quy định này trong bối cảnh hội nhập
Từ khóa: chế tài trong thương mại, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, buộc thực hiện
đúng hợp đồng, luật thương mại năm 2005
Abstract:
The 2005 Commercial Law has had breakthrough reforms in commercial remedies compared to the 1997 Commercial Law However, in the context of an integrated developing economy, violations in the trade sector also have diverse and complex
1 Khoa luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
2 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
Trang 2transformations, requiring regulations on trading sanctions must proceed with the purpose improving the best protection for traders; other organizations and individuals are conducting commerce-related activities of internal and external Vietnam's territory to be compatible with international treaties in which Vietnam is a contracting party
Therefore, the foundation of assessing the limitations and existing in the provisions
of the 2005 Commercial Law on commercial remedies, the points are not unified with the
2015 Civil Code focusing on three commercial remedies: Specific performance of contracts; Fines for breaches; Forcible payment of damages and cases of exemption from liability for breaching acts; the article will propose numerous solutions in order to promote the efficient of these regulations in the context of integration
Keywords: commercial remedies, Fines for breaches, Forcible payment of damages,
Specific performance of contracts, The 2005 Commercial Law
1 Đặt vấn đề
Chế tài trong Luật Thương mại có thể được hiểu một cách chung nhất là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu theo thỏa thuận của các bên hoặc
do luật ấn định; theo đó, LTM năm 2005 cho phép một bên trong hợp đồng thương mại áp dụng các biện pháp pháp lý đối với bên kia nhằm yêu cầu bên này chịu trách nhiệm pháp
lý cho hành vi vi phạm hợp đồng của mình3 So với các quy định về chế tài trong Luật Thương mại năm 1997 - văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên của nước Việt Nam thống
nhất quy định có hệ thống về hoạt động thương mại trên lãnh thổ nước ta thì quy định về
chế tài trong thương mại của LTM năm 2005 đã có nhiều thay đổi Theo đó, LTM năm
2005 bổ sung thêm hai loại chế tài là tạm ngừng thực hiện hợp đồng và đình chỉ thực hiện hợp đồng4; các chế tài như tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng chỉ áp dụng đối với vi phạm cơ bản; cho phép các bên được thỏa thuận
áp dụng các biện pháp khác có bản chất chế tài không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc
tế (nội dung mà Luật Thương mại năm 1997 chưa ghi nhận); hay những thay đổi về tiểu
3 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về thương mại, hàng hóa và dịch vụ,
Nxb Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, tr 434
4 Xem Điều 222 Luật Thương mại năm 1997 về “Các chế tài trong thương mại”, bao gồm: 1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng; 2 Phạt vi phạm; 3 Bồi thường thiệt hại; 4 Huỷ hợp đồng
Trang 3tiết và câu chữ cũng góp phần tạo thuận lợi hơn cho việc áp dụng các chế tài trong thương mại,
Tuy nhiên, sự ra đời của BLDS năm 2015 đã làm xuất hiện tình trạng quy định về chế tài trong thương mại của luật chuyên ngành (LTM năm 2005) có những điểm chưa thống nhất (thậm chí là “mâu thuẫn”) so với luật chung (BLDS năm 2015) Đặc biệt là nội dung về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm và các chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, gây lúng túng và bất lợi cho các chủ thể tham gia hoạt động thương mại trong quá trình áp dụng Hơn nữa, thực tế 15 năm thi hành LTM năm 2005 cho thấy những quy định trên có những điểm còn hạn chế, chưa
rõ ràng hoặc có những nội dung chưa tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên, đòi hỏi LTM năm 2005 phải tiếp tục được điều chỉnh nhằm phát huy được hiệu quả nhất chức năng phòng ngừa, khắc phục và xử lý vi phạm của chế tài này trong hoạt động thương mại
2 Đánh giá và kiến nghị hoàn thiện quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm; chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng; phạt vi phạm và bồi thường thiệt hai
2.1 Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm
Điều 294 LTM năm 2005 ghi nhận bên vi phạm được miễn trách nhiệm khi xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận5; đồng thời cũng quy định một số điều kiện khác mà bên vi phạm đương nhiên được miễn trách nhiệm bất kể các bên có ghi nhận trong hợp đồng hay không Tuy nhiên, các trường hợp miễn trách nhiệm này đã bộc
lộ một số hạn chế về khả năng áp dụng trên thực tiễn hoặc chưa tương thích với pháp luật quốc tế Cụ thể như sau:
Thứ nhất, LTM năm 2005 trước hết thể hiện tinh thần đề cao tự do hợp đồng khi
công nhận bên vi phạm được miễn trách nhiệm khi xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm
mà các bên đã thỏa thuận, với điều kiện mang tính nguyên tắc là những thỏa thuận này không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Tuy nhiên, cũng có khả năng
sẽ xảy ra trường hợp một trong các bên lợi dụng điều khoản này để cố ý gây thiệt hại cho
5 Xem điểm a khoản 1 Điều 294 LTM năm 2005
Trang 4bên kia nhằm trục lợi cho mình, bởi lẽ khi xảy ra một trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận thì bên vi phạm sẽ được giải thoát trách nhiệm bất kể vi phạm đó là cố ý hay vô ý
Về vấn đề này, Công ước của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980
(“CISG”) không trực tiếp điều chỉnh thỏa thuận của các bên về loại trừ hay hạn chế trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, Điều 40 và khoản 2 Điều 43 Công ước này quy định thỏa thuận của các bên về việc người bán không phải chịu trách nhiệm do chất lượng của hàng hóa không phù hợp với hợp đồng nếu người mua không tuân thủ thời hạn thông báo, do các bên thỏa thuận hay do Công ước quy định, sẽ không có giá trị pháp lý nếu sự không phù hợp của hàng hóa với điều kiện của hợp đồng liên quan đến các yếu tố mà người bán đã biết hay buộc phải biết nhưng không thông báo cho người mua6 Do đó, cần bổ sung
để làm rõ hơn quy định điều kiện để công nhận thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm giữa các bên tham gia hợp đồng bằng những nguyên tắc như “thỏa thuận miễn trừ này chỉ có giá trị pháp lý nếu như bên vi phạm chứng minh được rằng mình không cố ý trong việc dẫn đến hành vi vi phạm đó”7 nhằm hạn chế khả năng một bên lợi dụng căn cứ loại trừ trách nhiệm
do các bên thỏa thuận trong hợp đồng để trục lợi
Thứ hai, LTM năm 2005 quy định bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm
khi hành vi vi phạm đó do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được tại thời điểm giao kết hợp đồng tại điểm d khoản 1 Điều 294; cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền bao gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân từ cấp tỉnh đến cấp xã Theo nhóm tác giả, quy định này có các hạn chế sau đây:
Vì LTM năm 2005 không quy định minh thị nên có thể hiểu quyết định của cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi chung là “quyết định”) trong trường hợp
miễn trách nhiệm này bao gồm cả quyết định hợp pháp và quyết định bất hợp pháp Tuy nhiên, nếu
6 Trần Thị Huệ và Nguyễn Văn Cừ (2019), “Các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, so chiếu với pháp luật của một số quốc gia thuộc liên minh châu Âu”, Kỷ yếu Hội
thảo quốc tế “Trách nhiệm dân sự và hợp đồng: kinh nghiệm của Việt Nam và liên minh châu Âu”, tr.113
7 Vũ Thị Hương và Hoàng Tuấn Anh (2019), “Miễn trừ trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, Kỷ
yếu Hội thảo quốc tế “Trách nhiệm dân sự và hợp đồng: kinh nghiệm của Việt Nam và liên minh châu Âu”, tr.125
Trang 5trong tình huống một bên vi phạm hợp đồng do đã thực hiện một quyết định bất hợp pháp,
mà tính bất hợp pháp này nằm trong khả năng nhận biết được của bên vi phạm (do tính bất hợp pháp rõ ràng đến mức bất kỳ ai có hiểu biết bình thường đều có thể nhận biết được), thì bên vi phạm có được phép viện dẫn căn cứ miễn trách nhiệm này không? Theo đó, quyết định của cơ quan nhà nước là căn cứ miễn trách nhiệm phải làm phát sinh nghĩa vụ của bên
vi phạm phải thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nhất định và việc tuân thủ nghĩa vụ đó là nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm hợp đồng8 Việc tuân thủ một quyết định dẫn tới vi phạm hợp đồng trong khi có thể nhận biết được sự bất hợp pháp của quyết định đó, quan điểm của nhóm tác giả cho rằng bên vi phạm hợp đồng không có quyền được viện dẫn căn cứ miễn trách nhiệm trong trường hợp này Tuy nhiên, đối với quy định hiện nay của LTM năm 2005, rất khó để đánh giá được trong tình huống như vậy thì bên vi phạm hợp đồng có được miễn trách nhiệm hay không
Mặt khác, căn cứ miễn trách nhiệm này yêu cầu quyết định mà một bên thực hiện phải là quyết định mà “các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng”; đây cũng là một nội dung gặp khó khăn trong việc xác định Theo đó, “không thể biết được”
có thể là tại thời điểm ký kết hợp đồng chưa có quyết định và không thể biết được sắp tới
sẽ có quyết định; hoặc quyết định đã có nhưng vì lý do nào đó mà các bên không thể biết được quyết định này Lý do này có thể là do công tác phổ biến thông tin của quyết định đến người dân hoặc trình độ tiếp nhận thông tin của người dân; bởi lẽ, khả năng để “biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng” đối với một địa phương phát triển, phương tiện thông tin thuận lợi khác với một địa phương mà phương tiện thông tin và trình độ tiếp nhận còn lạc hậu Hoặc “việc không thể biết” này vì lý do lỗi của các bên như do không theo dõi, không cập nhật thông tin để biết về quyết định dẫn tới việc vẫn giao kết hợp đồng thì khi một trong hai bên vi phạm hợp đồng, bên đó có được viện dẫn căn cứ miễn trách nhiệm này không?
Hơn nữa, chủ thể “không thể biết được tại thời điểm giao kết hợp đồng” là “các bên”- bao gồm cả bên vi phạm hợp đồng và bên bị vi phạm hợp đồng; nhóm tác giả cho rằng “không thể biết” này chỉ nên được đặt ra với bên bị vi phạm; theo đó, bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong trường hợp “hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà bên vi phạm đó không
8 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Tlđd (01), tr.451
Trang 6thể biết được tại thời điểm giao kết hợp đồng” Bởi lẽ, việc bên bị vi phạm hợp đồng có biết hoặc không thể biết về quyết định cũng không có ý nghĩa với việc áp dụng trường hợp miễn trách nhiệm này Nếu xảy ra tình huống bên bị vi phạm biết hoặc phải biết về các quyết định đó tại thời điểm giao kết hợp đồng nhưng đã không đề cập cho bên kia biết và vẫn giao kết hợp đồng dẫn tới bên kia vi phạm hợp đồng thì có căn cứ để áp dụng điểm c khoản 1 Điều 294 LTM năm 2005: bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong trường hợp “hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia” mà không phải là quy định tại điểm d khoản 1 Điều 294 đã nêu trên
Ngoài ra, hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết vào thời điểm giao kết hợp đồng về bản chất có thể xem là một trường hợp miễn trách nhiệm vì lý do bất khả kháng khi đáp
ứng các điều kiện: yếu tố khách quan; không lường trước được; không thể khắc phục được
mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép9 Việc LTM năm 2005 ghi nhận đây là một trường hợp miễn trách nhiệm độc lập nhằm tạo sự thuận lợi cho các bên áp dụng trực tiếp khi gặp phải thay vì phải thông qua một bước chứng minh sự kiện bất khả kháng, cũng như khuyến khích các bên nghiêm túc tuân thủ quyết định của cơ quan quản lý nhà nước trước tiên Tuy nhiên, việc quy định không thật sự rõ ràng như đã trình bày ở trên có thể khiến cho việc áp dụng trường hợp miễn trách nhiệm này trở nên không khó khăn trên thực tế; và các bên lại quay về căn cứ về sự kiện bất khả kháng để chứng minh
Thứ ba, về nghĩa vụ thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm; khoản 2
Điều 295 LTM năm 2005 quy định: “khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại”; theo đó, nội dung
này được hiểu là nếu không thông báo kịp thời thì bên gặp trường hợp miễn trách nhiệm
sẽ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do việc không thông báo kịp thời gây ra cho bên kia
Tuy nhiên, LTM năm 2005 diễn đạt “nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại” rất dễ gây hiểu lầm rằng nếu bên
9 Xem khoản 1 Điều 156 BLDS năm 2015
Trang 7vi phạm không thông báo hoặc không thông báo kịp thời cho bên kia thì sẽ phải bồi thường thiệt hại hợp đồng (có thể xem là mất quyền viện dẫn căn cứ miễn trách nhiệm)
Mặt khác, việc dựa vào căn cứ nào để xác định là đã “thông báo ngay” hoặc “thông báo không kịp thời” vẫn là nội dung chưa rõ ràng trong quy định nói trên của LTM năm
2005 Về các vấn đề này, nhóm tác cho rằng có thể tham khảo quy định của CISG tại khoản
4 Điều 79:“Bên nào không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải báo cáo cho bên kia biết
về trở ngại và ảnh hưởng của nó đối với khả năng thực hiện nghĩa vụ Nếu thông báo không tới tay bên kia trong một thời hạn hợp lý từ khi bên không thực hiện nghĩa vụ đã biết hay đáng lẽ phải biết về trở ngại đó thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do việc bên kia không nhận được thông báo”; theo đó, CISG đưa ra căn cứ “thời hạn hợp lý từ khi
bên không thực hiện nghĩa vụ đã biết hay đáng lẽ phải biết” để xác định bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng có vi phạm nghĩa vụ thông báo hay không CISG không giải thích như thế nào là “thời hạn hợp lý” nhưng hiện nay theo pháp luật Việt Nam “thời hạn hợp lý” có thể hiểu là khoảng thời gian được hình thành theo thói quen đã được xác lập giữa các bên hoặc là khoảng thời gian mà trong điều kiện bình thường, các bên trong hợp đồng thương mại, hoặc chủ thể khác có quyền, lợi ích liên quan có thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ của mình10
Do đó, đối với nghĩa vụ thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm, nhóm
tác giả cho rằng có thể được sửa đổi như sau: “1 Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia trong một thời hạn hợp lý về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra; 2 Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên
vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết trong một thời hạn hợp lý; Nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo trong một thời hạn không hợp lý thì phải bồi thường những thiệt hại do việc bên kia không nhận được thông báo”
2.2 Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Điều 297 LTM năm 2005 quy định bên bị vi phạm hợp đồng có thể áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thông qua hai cách thức là yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng (cách thức thứ nhất) hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực
10 Xem khoản 7 Điều 3 Nghị định 22/2021/NĐ-CP quy định thi hành BLDS về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ
Trang 8hiện và bên vi phạm phải chịu các chi phí phát sinh (cách thức thứ hai) Xem xét quy định tại khoản 2, 3 Điều 297 LTM năm 2005, đối với loại hợp đồng mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ thì bên bị vi phạm trước hết phải yêu cầu bên vi phạm hợp đồng thực hiện đúng hợp đồng, và chỉ khi bên vi phạm không thực hiện yêu cầu đó thì mới được dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện11 Tuy nhiên, cách thức thứ hai còn một số hạn chế như sau:
Một là, khoản 3 Điều 297 LTM năm 2005 liệt kê một số cách thức khác để hợp
đồng được thực hiện như mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hóa, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải hoàn trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng
hóa, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí hợp lý phải chăng đã “vô tình
giới hạn các tình huống có khả năng phát sinh mà các nhà làm luật tại thời điểm soạn thảo không lường trước được”12; do đó nhóm tác giả cho rằng LTM năm 2005 ngoài các biện pháp phổ biến nêu trên thì nên bổ sung việc công nhận “các biện pháp khác do các bên thỏa thuận để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu các chi phí phát sinh”, giúp pháp luật “bắt nhịp” tốt hơn với bối cảnh xã hội phát triển và hội nhập
Hai là, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng chỉ được thực hiện thông qua hai cách
thức đã nêu trên mà không minh thị việc bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu Tòa
án hoặc Trọng tài (trong trường hợp có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài) buộc bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hay không Bởi lẽ, trên thực tế rất có khả năng xảy ra tình huống các bên giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là vật đặc định và không thể thực hiện biện pháp dùng hàng hóa khác để thay thế khi bên bán không thực hiện nghĩa
vụ giao hàng Bên bán cố tình không giao hàng cho bên mua và sẵn sàng chịu các chế tài khác13 để được thanh lý hợp đồng vì xuất hiện một bên thứ ba đã trả một số tiền cao gấp nhiều lần cho vật đặc định đó Như vậy, nếu bên bị vi phạm không có quyền yêu cầu Tòa
án hay Trọng tài buộc bên vi phạm thực hiện hợp đồng thì quyền lợi hợp pháp của bên bị
11 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Tlđd (01), tr 456
12 Nguyễn Thị Lan Hương và Ngô Nguyễn Thảo Vy (2017), “Quyền buộc thực hiện hợp đồng theo quy định của Công
ước Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - một số đề xuất cho Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp
lý số 07 (110), tr 56
13 Xem khoản 2 Điều 299 LTM năm 2005: “Trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng
hợp đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình”
Trang 9vi phạm sẽ không được bảo vệ và có thể dẫn tới tình trạng bên vi phạm hợp đồng lợi dụng nhằm trì hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
Đối với vấn đề này, BLDS năm 2015 quy định biện pháp “Buộc thực hiện nghĩa vụ” cho phép bên có quyền khi đã yêu cầu thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ vẫn không thực hiện thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế buộc bên kia phải thực hiện nghĩa vụ dân sự14 Do đó, quan điểm của nhóm tác giả cho rằng để tương thích với quy định của BLDS năm 2015 và tạo điều kiện bảo vệ quyền lợi của bên
bị vi phạm hợp đồng thuận lợi hơn trong việc áp dụng chế tài này, LTM năm 2005 nên quy định minh thị việc cho phép bên bị vi phạm được quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài buộc bên kia thực hiện đúng hợp đồng
Tiếp theo, về quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các loại chế tài khác, LTM năm 2005 quy định trong thời hạn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền áp dụng chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại nhưng không được áp dụng các chế tài khác là tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ hợp hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng trừ trường hợp có thỏa thuận khác15; có thể hiểu là trong trường hợp các bên có thỏa thuận thì bên bị vi phạm có quyền được áp dụng chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng trong thời gian đang áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Điều này là không khả thi bởi vì các bên không thể thỏa thuận đồng thời áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng (không làm thay đổi hiệu lực hợp đồng) và chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng (làm chấm dứt hiệu lực hợp đồng kể từ thời điểm hợp đồng bị đình chỉ) hay chế tài hủy bỏ hợp đồng (làm hợp đồng không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết), vì chức năng của các chế tài này là trái ngược nhau16
Mặt khác, quy định tại khoản 1 Điều 299 nêu trên cũng có điểm mâu thuẫn với quy định tại khoản 3 Điều 51 LTM năm 2005, cụ thể điều khoản này cho phép bên mua nếu có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục được sự không phù hợp đó Theo
đó, việc khắc phục sự không phù hợp của hàng hóa này có thể xảy ra trong hai trường hợp:
14 Xem Điều 11 BLDS năm 2005 về “Các phương thức bảo vệ quyền dân sự”
15 Xem khoản 1 Điều 299 LTM năm 2005
16 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Tlđd (01), tr.460
Trang 10(1) tại khoản 1 Điều 41 LTM năm 200517 (bên bán được chủ động khắc phục) và (2) khi
bên mua áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và yêu cầu bên bán phải khắc phục
hàng hóa không phù hợp Do đó, nếu là trường hợp (2) thì có thể thấy rằng LTM năm 2005
cho phép bên mua được thực hiện chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng (ở đây là tạm ngừng nghĩa vụ thanh toán) trong thời gian đang thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng (yêu cầu bên bán khắc phục sự không phù hợp của hàng hóa)
Về vấn đề này, nhóm tác giả đồng ý với quan điểm bên bị vi phạm phải được áp dụng đồng thời chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng và buộc thực hiện đúng hợp đồng nếu đủ điều kiện áp dụng ngay cả khi không thỏa thuận việc áp dụng đồng thời hai chế tài này với bên vi phạm Bởi vì “quyền tạm ngừng thực hiện hợp đồng không mâu thuẫn với quyền buộc thực hiện hợp đồng, mà còn thúc đẩy bên vi phạm nghiêm túc thực hiện đúng nghĩa vụ để được hưởng lợi ích kỳ vọng theo hợp đồng và giảm thiểu khả năng bị tổn thất đối với bên không vi phạm” và chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng “cho phép các bên
có quyền được tạm ngừng thực hiện hợp đồng hơn là tiếp tục thực hiện và tự đưa mình vào tình thế không nhận được những kỳ vọng từ hợp đồng được giao kết”18 (khác với hậu quả pháp lý của các chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng, chế tài hủy bỏ hợp đồng) Do đó, từ những quan điểm nêu trên, nhóm tác giả cho rằng, LTM năm 2005 nên sửa đổi khoản 1
Điều 299 theo hướng “Trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên
bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm và tạm ngừng thực hiện hợp đồng nhưng không được áp dụng các chế tài khác”
Ngoài ra, một vấn đề mà nhóm tác giả cho rằng là sự thiếu sót trong quá trình soạn thảo là phải chăng nhà làm luật đã vô tình “quên” không đề cập tới nội dung “trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này” đối với Điều 297 về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong khi vẫn đề cập trong quy định về các chế tài khác? Bởi lẽ không có khả năng chế tài này được áp dụng mà không loại trừ các trường hợp miễn trách nhiệm; do đó, nếu LTM năm 2005 đã thống nhất quy định “trừ các trường hợp miễn
17 Xem khoản 1 Điều 41 LTM năm 2005: “1 Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu hợp đồng chỉ quy định thời
hạn giao hàng và không xác định thời điểm giao hàng cụ thể mà bên bán giao hàng trước khi hết thời hạn giao hàng
và giao thiếu hàng hoặc giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì bên bán vẫn có thể giao phần hàng còn thiếu hoặc thay thế hàng hoá cho phù hợp với hợp đồng hoặc khắc phục sự không phù hợp của hàng hoá trong thời hạn còn lại”
18 Nguyễn Thị Lan Hương và Ngô Nguyễn Thảo Vy (2017), Tlđd (10), tr.54 và tr.56