1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh pháp luật hợp đồng thương mại Việt Nam và Trung Quốc hàm ý cho sửa đổi Luật Thương mại 2005

16 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 323,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết cho thấy, việc so sánh pháp luật về hợp đồng thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc không chỉ hỗ trợ thúc đẩy hoạt động thương mại của doanh nhân hai nước mà còn góp phần hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành.

Trang 1

SO SÁNH PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG

QUỐC - HÀM Ý CHO SỬA ĐỔI LUẬT THƯƠNG MẠI 2005

ThS NCS Võ Phước Long 1

Tóm tắt: Trong các quốc gia trên thế giới không nhiều quốc gia có nhiều điểm

tương đồng như Việt Nam và Trung Quốc về nhiều mặt của đời sống xã hội như lịch sử, văn hóa, kinh tế và chính trị Với vị trí địa lý thuận lợi và thị trường rộng lớn của hai bên, Việt Nam có kim ngạch thương mại chiếm tỷ trọng rất cao (số liệu 2020: 133,1 tỷ USD)2 với thị trường Trung Quốc và tương ứng với tỷ trọng xuất nhập khẩu giữa hai quốc gia là

số lượng và chất lượng của hợp đồng thương mại giữa doanh nhân hai nước Trung quốc

mở cửa thị trường sớm hơn Việt Nam trong thế kỷ 20 cộng với thị trường khổng lồ của nhiều quốc gia phát triển đã tác động rất lớn vào sự thay đổi tiến bộ của hệ thống pháp luật Trung Hoa, trong đó có pháp luật hợp đồng thương mại Do đó, việc so sánh pháp luật về hợp đồng thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc không chỉ hỗ trợ thúc đẩy hoạt động thương mại của doanh nhân hai nước mà còn góp phần hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành

Từ khóa: hợp đồng, dân sự, thương mại, Trung Quốc, civil code

Abstract Not many countries in the world have many similarities like Vietnam and

China in many aspects of social life such as history, culture, economy and politics With geographical location With favorable conditions and large markets for both sides, Vietnam has a very high proportion of trade turnover (2020: 133.1 billion USD) with the Chinese market and corresponds to the proportion of import and export between the two countries country is the quantity and quality of commercial contracts between businessmen of the two countries China opened its market earlier than Vietnam in the 20th century, plus the huge market of many developed countries has had a great impact on the progressive change of the Chinese legal system, including the law commercial contract Therefore, the comparison of laws on commercial contracts between Vietnam and China not only

1 Khoa Luật, Trường Kinh tế, Luật và Quản lý nhà nước, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM (UEH)

2 Bộ công thương, Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 2020, Nhà xuất bản công thương, năm 2021,Tr 85

Trang 2

supports the promotion of commercial activities of businessmen of the two countries, but also contributes to perfecting the current Vietnamese commercial law

Keywords: contract, civil, commercial, China, civil code

1 Tính khách quan của tiếp nhận pháp luật từ so sánh luật với Trung Quốc

Hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia hình thành và phát triển bởi kết quả nhu cầu nội tại khách quan riêng biệt của quốc gia và quá trình du nhập pháp luật từ bên ngoài Việc tiếp nhận pháp luật từ bên ngoài theo thời gian (lịch sử) như sự lan tỏa của luật La mã hay luật Anh (common law), hoặc tiếp nhận từ nhu cầu phát triển của hoạt động đầu tư, thương mại, công nghệ… trong thế giới toàn cầu hóa hiện nay hay tiếp nhận từ nguồn cung pháp luật từ bên ngoài để bổ khuyết và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia Thông thường, khi tiếp nhận triết lý, quan niệm pháp luật, người ta cần tới một hệ quy chiếu (paradigm) gần gũi với quốc gia có nguồn cung pháp luật, điều này thường xuất hiện qua các kinh nghiệm cá nhân và nền học vấn được đào tạo của các nhà lập pháp Người học ở Hoa Kỳ về sẽ gần gũi với cách tiếp cận của người Mỹ, người học ở Đức, Pháp về sẽ gần gũi với cách tiếp cận từ châu Âu, người học từ Nhật hay Hàn tương tự sẽ có mối quan hệ gắn bó với những giá trị ở quốc gia mà mình được đào tạo Cuối cùng, điều kiện kinh tế,

xã hội, các triết lý và ý thức hệ quyết định đáng kể sự lựa chọn của nhà lập pháp Điều này

lý giải sự tương đồng đáng kinh ngạc giữa pháp luật Trung Hoa và Việt Nam trong trong

30 năm vừa qua, mặc dù từ 1979 đến 2009 mối giao lưu về hợp tác pháp luật giữa hai quốc gia này không hề đáng kể, nếu so với sự hỗ trợ liên tục của Cộng hòa liên bang Đức, Hoa

Kỳ hoặc Nhật Bản3 Trung Quốc, nền kinh tế Trung Quốc và hệ thống luật pháp của CHND Trung Hoa đã bắt đầu được thế giới chú ý trong thời gian gần đây nhiều năm, đặc biệt là sau khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001, một sự kiện lớn đối với nền kinh tế thế giới Với dân số hơn tỷ người và thị trường nội địa vô hạn, Trung Quốc bắt đầu thể hiện sự quyến rũ của mình trên trường toàn cầu của các nước có nền kinh tế thị trường Do đó,

3 Phạm Duy Nghĩa, Nhìn lại lý thuyết và kinh nghiệm tiếp nhận pháp luật, Văn phòng Quốc hội, Thực tiễn và thách

thức trong chuyển hóa pháp luật tại việt nam:chia sẻ kinh nghiệm của liên minh châu âu, Nhà xuất bản hồng đức, Hà Nội 2016, trang 248

Trang 3

không nghi ngờ gì rằng việc nghiên cứu hệ thống pháp luật của CHND Trung Hoa trở nên quan trọng đối với hiểu và đối phó (hợp tác) với đất nước này4

2 Sự thay đổi và phát triển của pháp luật hợp đồng Việt Nam và Trung Quốc

Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc chịu sự ảnh hưởng nặng nề của tư duy kinh tế bao cấp theo mô hình của Liên Xô và Đông Âu trong nhiều thập niên cuối của thế kỷ 20 đặc trưng bởi sự thiếu vằng pháp luật về hợp đồng, giai đoạn này quan hệ hợp đồng chủ yếu được điều chỉnh bằng các văn bản hành pháp góp vào làm cho nền kinh tế của cả hai rơi vào khủng hoảng buộc hai quốc gia phải cải cách hay đổi mới nền kinh tế Trong giai đoạn đầu của đổi mới (Trung Quốc cuối thập niên 70 và Việt Nam giữa thập niên 80 của thế kỷ 20) chuyển từ kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự can thiệp của nhà nước, hai quốc gia đã ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng thương mại nhưng tư duy của nền kinh tế tập trung vẫn chưa thoát khỏi trong các văn bản này ở một số giải đoạn nhất định và sự lột xác đáng kinh ngạc của pháp luật Trung Hoa cuối thế

kỷ 20 đầu thế kỷ 21 Cụ thể:

Đối với Trung Quốc: Luật hợp đồng kinh tế (Economic Contract Law) 1981, luật hợp đồng kinh tế có yếu tố nước ngoài (Economic Contract Involving Foreign Interests)

1985, Luật hợp đồng công nghệ (Technology Contract Law) 1987, Nguyên tắc chung của Luật dân sự (General Principles of Civil Law (民法通则) 1986 là nguồn pháp lý quan trong điều chỉnh quan hệ hợp đồng Với việc ban hành luật dân sự 1986 là cột mốc quan trọng trong việc xây dựng lại luật dân sự sau cách mạng văn hóa…áp dụng mô hình “ pháp luật riêng biệt” (specific statutes on certain contracts) Về bản chất, các luật hợp đồng cụ thể đóng vai trò là luật chuyển tiếp khi Trung Quốc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường,5 bởi khì ban hành các văn bản này đều bị chi phối: (a) quy định không mâu thuẫn với chính sách quốc gia (do Đảng Cộng sản đề ra), (b) nội dung của điều khoản

4 Dr Grace Li, Faculty of Law, University of Technology, Sydney (UTS) ,The PRC Contract Law and Its Unique

Notion of Subrogation, Journal of International Commercial Law and Technology, Vol 4, Issue 1 (2009) pp 12

https://www.cambridge.org/core/books/chinese-contract-law/history-of-chinese-contract-law/1C51F0A338AE38369FC154183B4E6CBA/core-reader#

Trang 4

không gây tranh cãi và (c) áp dụng của điều khoản sẽ không gây ra bất kỳ sự bất ổn xã hội nào6

Đối với Việt Nam: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, Bộ luật dân sự 1995, Luật thương mại 1997 là những văn bản pháp luật quan trong điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong những năm đầu tiên của quá trình chuyển đổi nền kinh tế Tuy nhiên, vì được ban hành trên

cơ sở của Hiến pháp 1992 và trong những năm đầu của quá trình đổi mới, nhiều nội dung của các văn bản này đã dần bộc lộ những bất cập trong quá trình áp dụng, như: tiêu chí xác định hợp đồng dân sự- kinh tế, chú thể của quan hệ hợp đồng, các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, điều kiện có hiệu lực và hợp đồng vô hiệu, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng… Những quy định này một mặt không phù hợp với thông lệ quốc tế, mặt khác đã tác động tiêu cực việc thực hiện quyền tự do hợp đồng, cản trở việc thực hiện hiệu qua các giao dịch thương mại ở Việt Nam

Những thành tựu bước đầu trong quá trình cải cách và với lợi thế thị trường cũng như mở cửa sớm hơn so với Việt Nam gần một thập kỷ, Trung Quốc đã nhận ra sự bất ổn của hệ thống pháp luật hợp đồng như sự can thiệp quá lớn của nhà nước vào quan hệ hợp đồng, các quy định không rõ ràng, đối xử khác biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại, hợp đồng trong nước với hợp đồng nước ngoài7…, đặc biệt việc chuẩn bị cho gia nhập (WTO) nhằm thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh các quan

hệ thương mại trong nước buộc Trung Quốc phải tiến hành cải tổ pháp luật về hợp đồng hiện có bằng một hệ thống pháp luật hợp đồng mới Tại kỳ họp thứ 2 khóa 9 Quốc hội (National People’s Congress (NPC) đã thông qua luật hợp đồng (Chinese Contract Law (CCL) 1999 là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, hạn chế, hội nhập của các quy định trước đây về hợp đồng Luật hợp đồng năm 1999 có hiệu lực ngày 01/10/1999 là văn bản pháp lý trực tiếp và quan trọng nhất điều chỉnh quan hệ hợp đồng với mục tiêu xây dựng nền kinh tế định hướng thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, nó sửa đổi, bãi bỏ các hạn chế của luật hợp đồng trước đây và mở rộng quyền tự do hợp đồng, đồng thời khẳng định luật hợp đồng là luật tư trong hệ thống pháp luật Trung Quốc, và cũng là tiền đề để Trung Quốc tham gia WTO Nhìn chung, kề từ khi bước vào công cuộc đổi mới năm 1978 pháp luật về hợp đồng của của Trung Quốc đã có những thay đổi quan trọng Đồng thời

6 Mo Zhang, Chinese Contract law, Martinus Nijhoff Publishers, 2006, pp 9

7 Zhong Jianhua, Yu Guanghua, China's Uniform Contract Law: Progress and Problems, Pacific Basin Law Journal,

17(1), 1999, pp 1-2

Trang 5

với kinh tế phát triển, luật hợp đồng đã trải qua một quá trình dần dần phát triển từ ba luật hợp đồng cũ trong những năm 1980 đến luật hợp đồng thống nhất vào cuối thế kỷ XX Sự thay đổi của pháp luật hợp đồng đã tiếp thu những kinh nghiệm lập pháp thành công và phản ánh các xu hướng và phát triển quốc tế trong luật hợp đồng Nó thống nhất các quy định thương mại, đảm bảo an ninh thương mại, mở rộng thị trường và nỗ lực để thỏa mãn nhu cầu phát triển của thị trường kinh tế ở mức tối đa

Việt Nam cũng tương tự Trung Quốc, thành tựu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải có sự thay đổi pháp luật về hợp đồng thương mại, các quy định của Bộ luật dân sự 1995 đã bộc lộ các hạn chế như: “Công dân được làm những gì phù hợp với quy định pháp luật"8, có sự phân biệt hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, chưa đề cập đến tài sản hình thành trong tương lai và Luật thương mại 1997 cũng có các hạn chế như: nhiều hoạt động trên thị trường có bản chất thương mại nhưng lại chưa được coi là hoạt động thương mại (như các hoạt động cung ứng dịch vụ), sự không tương thích giữa pháp luật thương mại của Việt Nam và pháp luật thương mại quốc tế, một số nội dung không còn đáp ứng được quá trình vận động của thực tiễn thương mại Vì vậy, Bộ luật dân sự

2005 thay thế cho BLDS 1995, Luật thương mại 2005 thay thế cho LTM 1997 cũng là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, hạn chế, hội nhập của các quy định trước đây về hợp đồng, và cũng là tiền đề để Việt Nam tham gia WTO

Là quốc gia rộng lớn, có bề dày lịch sử nhưng Trung Quốc chưa có “Bộ Luật dân sự” đúng nghĩa so với các quốc gia có truyền thống pháp luật (civil law) lâu đới như Pháp hay Đức, mặc dù Luật hợp đồng 1999 là thành tựu nổi bật của hệ thống láp luật Trung Hoa hiện đại nhưng vẫn chưa đáp ứng được sự phát triển mạnh mẽ (và giấc mơ) của Trung Quốc trong thế kỷ 21 Với quá trình chuẩn bị nghiêm túc và dâu dài ngày 28/5/2020 Quốc hội (13) (National People’s Congress (NPC) đã thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/1/2021

với tên gọi: Civil Code of the People’s Republic of China (“Civil Code”)như là “ Bộ luật

dân sự” đầu tiên kể từ năm 1949 Civil Code bao gồm 7 phần: Các quy tắc chung, Quyền

tài sản, Hợp đồng, Quyền nhân thân, Hôn nhân và Gia đình, Quyền thừa kế và Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, với tổng số 1.260 điều Có 3 điểm mới đáng chú ý trong bộ luật này (1) Civi code được hệ thống hóa một cách chặt chẽ, (2) Civil code được hệ thống hóa theo một trình tự hợp lý- từ quyến đến chế tài, (3) Civi code đề cao quyền con người và

8 BLDS 2005 thì quy định theo hướng "Công dân được làm những gì pháp luật không cấm”

Trang 6

các giá trị nhân văn9 Trong khi luật thực định và thực tiễn là một nguồn cảm hứng đáng

kể cho luật hợp đồng mới, rõ ràng là các nguồn luật so sánh, đóng vai trò vai trò chi phối trong việc xây dựng Luật Hợp đồng 1999 vẫn tiếp tục ảnh hưởng đối với Bộ luật dân sự mới Các nhà lập pháp và học giả tham gia vào việc soạn thảo Bộ luật Dân sự đã chú ý đến những phát triển mới nhất trong luật quốc tế thống nhất, bao gồm cả Bộ quy tắc về Hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) năm 2016, Các nguyên tắc của pháp luật hợp đồng châu

Âu năm 2002 và Dự thảo Khung tham chiếu luật tư Châu Âu năm 2009 Các sửa đổi gần đây về luật hợp đồng của Pháp, Đức, Nhật Bản và Đài Loan, và các các quốc gia khác thường xuyên được tham chiếu trong các cuộc thảo luận và tranh luận trong quá trình soạn thảo10 Việc ban hành Bộ luật dân sự 2020 không những có sự ảnh hưởng to lớn đối với môi trường kinh doanh ở Trung Quốc trong thế kỷ 21 như kỳ vọng của các nhà lập pháp

mà còn được các quốc gia, học giả đánh giá rất cao Bộ luật Dân sự mới của Trung Quốc

là một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của luật tư ở Trung Quốc Nó sẽ trở thành một thành phần quan trọng trong cuộc sống của công dân trong quá trình hiện đại hóa liên tục của hệ thống quản trị và tác động tích cực của việc cung cấp sự chắc chắn và

rõ ràng Một số nhà bình luận đã viết rằng Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 là Bộ luật của thế kỷ 19, và BGB (ĐỨC) Bộ luật của thế kỷ 20, trong khi Bộ luật Dân sự Trung Quốc sẽ

là được coi như Bộ luật của thế kỷ 2111 mặc dù chưa được thực tiễn kiểm chứng Bộ luật dân sự 2020 được ví như “Hiến pháp của xã hội dân sự”12 của hệ thống luật tư Trung Quốc, khi nó có hiệu lực hàng loạt các luật như luật hợp đồng, luật hôn nhân gia đình, luật tài sản… đều hết hiệu lực thi hành Phần pháp luật về hợp đồng được quy định tại quyển 3 gồm 526 điều được chia làm 02 phần Phần 1 bao gồm các quy định chung về hợp đồng gồm 8 chương với nội dung chủ yếu là các quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng Phần 2 quy định chi tiết về 19 loại hợp đồng thông dụng/ điển hình như mua bán, dịch vụ, vận tải…

Tại Việt Nam, Hiến pháp 1992 được ví như phiên bản 1.0 của thời kỳ đổi mới từ bao cấp sang kinh tế thị trường thì Hiến pháp 2013 chính là phiên bản 2.0 của công cuộc

9 LI Shaohua, XIAO Peng, The Civil Code of the People’s Republic of China: Major Features and Contributions to

the World, US-China Law Review, August 2020, Vol 17, No 8, pp 319

10 Bing Ling , The New Contract Law in the Chinese Civil Code, The Chinese Journal of Comparative Law, (2020)

Vol 8 No 3 pp 561

11 Em Prof Dr Jacques H Herbots, The Chinese new Civil Code and the law of contract, PP 715,

https://www.law.kuleuven.be/apps/jura/public/art/57n3/herbots.pdf

12 Hiroshi Matsuo, Professor of Law, Law School, Keio University, Introduction to the Civil Law System,

https://jica-net-library.jica.go.jp/lib2/05PRDM015/pdf/alltxt.pdf

Trang 7

đổi mới với mục tiêu đề cao quyền con người, nhà nước pháp quyền và hội nhập kinh tế quốc tế Bộ luật dân sự 2015 là sự cụ thế hóa tính thần của hiến pháp 2013 với mục tiêu xây dựng BLDS thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan

hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách

nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân

trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN,

ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành13 BLDS năm 2015 được xây dựng trên cơ sở kế thừa, phát huy truyền thống pháp luật dân sự Việt Nam, thành tựu của BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005, đúc rút kinh nghiệm điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự qua 30 năm đất nước đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế, khắc phục những tồn tại, bất cập của các quy định hiện hành Về nội dung, so với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 có nhiều tiếp cận mới, quan trọng, mang tính đột phá cả về nhận thức và tư duy lập pháp trong việc hoàn thiện cơ chế pháp lý điều chỉnh quan hệ dân sự trong đời sống hàng ngày của cá nhân, pháp nhân 14 Là bộ luật quan trọng trong lĩnh vực luật tư điều chỉnh quan hệ hợp đồng và nghĩa vụ với nhiều nội dung tiến bộ và hiện đại, nhưng tại Việt Nam mặc dù không nói ra nhưng các nhà lập pháp vẫn mong muốn tồn tại song song hai lĩnh vực dân sự và thương mại mà bằng chứng khí BLDS có hiệu lực thì luật thương mại 2005 vẫn tiếp tục tồn tại và sửa đổi cho phù hợp với

Hiến pháp 2013 và BLDS 2015 là sự khác biệt rõ ràng giữa Việt Nam và trung Quốc

3 So sánh luật các chế định cơ bản của luật hợp đồng thương mại Việt Nam và Trung Quốc

3.1 Giao kết hợp đồng

Về khái niệm hợp đồng và chủ thể giao kết hợp đồng: Luật thương mại Việt Nam

không quy định hợp đồng thương mại là gì? Nhưng khái niệm hợp đồng được quy định tại Điều 385 BLDS 2015 “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” so với điều 464 Civil code15 là tương tự như nhau, nhưng điều 465 của Civil code còn nhấn mạnh bảo vệ sự bảo vệ của pháp luật đối với quan

13 Bộ tư pháp, Jica, Những điểm mới cơ bản của Bộ luật dân sự năm 2015, Nhà xuất bản lao động, Hà Nội năm 2017,

trang 20

14 Bộ tư pháp, Jica, sđd, tr 27

15 Nguyên văn của điều 464 Civil code “A contract is an agreement on the establishment, modification, or termination

of a civil juristic relationship between persons of the civil law”

Trang 8

hệ hợp đồng và giá trị ràng buộc các bên trừ khi pháp luật có quy định khác, bởi Civil code không phân biệt nghĩa vụ và hợp đồng như pháp luật Việt Nam Các vấn đề chung về hợp đồng và nghĩa vụ đều được quy định trong quyển 3, điều này trái ngược với truyền thống luật dân sự của người Trung Quốc, Civil code chia luật nghĩa vụ thành hai quyển riêng biệt, một quyển hợp đồng và một quyển bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Lạ lùng thay

đó cũng là trường hợp của Common-Law trong đó hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là hai nhánh riêng biệt của luật tư16

Về chủ thể giao kết hợp đồng: Theo quy định của Luật thương mại 2005, chủ thể của hợp đồng thương mại phải là thương nhân (gồm cá nhân và tổ chức) có đăng ký kinh doanh Còn BLDS 2015 xác định chủ thể quan hệ pháp luật dân sự bao gồm cá nhân và pháp nhân với tính chất là chủ thể thường xuyên, chủ yếu,đồng thời xây dựng cơ chế pháp

lý xác định tư cách chủ thể khi Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, cơ quan nhà nước ở địa phương, hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không

có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự17 Civil code không phân biệt quan hệ dân

sự hay thương mại nên không yêu cầu chủ thể phải là thương nhân mới được hoạt động thương mại Về chủ thể của quan hệ hợp đồng, Civil code tương tự BLDS 2015 của Việt Nam

Về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại: Luật thương mại 2005 không

quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại mà dẫn chiếu đến BLDS 2015 gồm 04 điều kiện được quy định tại điều 117 Điều 143 Civil code quy định 03 điều kiện

để hợp đồng có hiệu lực (1) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, (2) Đúng với ý chí của chủ thể, (3) hành vi không trái với quy định của pháp luật và không xâm hại đến trật tự công cộng hoặc đạo đức Nếu các bên của quan hệ hợp đồng vi phạm một trong ba điều kiện nói trên thì hợp đồng bị coi là vô hiệu Civi code không yêu cầu hình thức của hợp đồng là điều kiện bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực như quy định tại khoản 2 điều 117 mặc dù điều 469 của Civil code cũng quy định hình thức của hợp đồng gồm lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể,

nhưng rõ ràng và chi tiết hơn đối với hình thức là dữ liệu điện tử so với luật Việt Nam

16 Em Prof Dr Jacques H Herbots, The Chinese new Civil Code and the law of contract, pp709,

https://www.law.kuleuven.be/apps/jura/public/art/57n3/herbots.pdf

17 Bộ tư pháp, Jica, sđd tr57

Trang 9

Về giao kết hợp đồng: BLDS 2015 quy định “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể

hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng” và các vấn đề liên quan quan đền đề nghị

và chấp nhận đề nghị từ điều 387 đến 397 Civil code cũng quy định tương tự từ Điều 471 đến 489 như có những khác biệt sau: (1) Điều 471 ngoài đề nghị và chấp nhận đề nghị còn

có thể “theo cách khác” như là một quy định mở mà các nhà lập pháp chưa thể lường trước trong kỷ nguyên của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo về cách thức giao kết hợp đồng Quy định này sẽ bảo vệ quyền lợi của các bên khi pháp luật chưa tiên liệu hết các khả năng xảy

ra trong thực tiễn Ví dụ Điều 483 hợp đồng được hình thành vào thời điểm mà một sự

chấp nhận có hiệu lực, trừ khi pháp luật có quy định khác hoặc do các bên thỏa thuận Giả

sử nếu hai bên đã đạt được thỏa thuận bằng miệng về đề nghị và sự chấp nhận, nhưng cũng

đã thỏa thuận rằng sẽ được lập thành văn bản, một hợp đồng sẽ chỉ được xác lập từ thời điểm mỗi bên ký tên, đóng dấu vào hợp đồng Nhưng theo điều 490 của lại quy định

“Trường hợp hợp đồng phải được giao kết bằng văn bản theo quy định của pháp luật hoặc các quy định hành chính hoặc do các bên thỏa thuận và các bên không thực hiện hợp đồng bằng văn bản, nếu một trong các bên đã thực hiện nghĩa vụ chính và bên kia đã chấp nhận thực hiện thì hợp đồng được hình thành tại thời điểm chấp nhận như vậy”

Quy định về đề nghị tại điều 491 là một điểm khác biệt giữa BLDS 2015 và Civil code Cụ thể “Trường hợp thông tin về hàng hóa hoặc dịch vụ được một bên công bố thông qua mạng thông tin, chẳng hạn như internet, tuân theo các điều kiện cho một đề nghị, trừ khi các bên có thoả thuận khác, hợp đồng được hình thành tại thời điểm bên kia chọn sản phẩm hoặc dịch vụ đó và gửi đơn đặt hàng thành công” Quy định này đề cập cụ thể đến việc giao kết hợp đồng điện tử Tức là thông tin về bất kỳ hàng hóa hoặc dịch vụ nào do một bên phát hành thông qua thông tin mạng, chẳng hạn như Internet, đáp ứng các điều kiện của lời đề nghị và bên kia chọn hàng hóa hoặc dịch vụ cho biết và gửi thành công đơn đặt hàng, hợp đồng sẽ được ký kết, trừ khi các bên có thoả thuận khác Quy định này hoàn toàn phù hợp với hoạt động thương mại online hiện nay cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể, đặc biệt là ràng buộc trách nhiệm của bên bán khi công bộ các thông tin hàng hóa trên mạng viễn thông

Về giao kết hợp đồng hành chính (State Procurement Contracts) và tiền hợp đồng (Pre-contracts): Điều 494 quy định về căn bản về hợp đồng hành chính và Điều 495 quy

định về tiền hợp đồng (trong thực tiễn thường có tên: hợp đồng nguyên tắc, biên bản ghi

Trang 10

nhớ hay hứa mua, hứa bán…) trong Civil code là một sự khác biệt so với BLDS 2015 chưa

đề cập đến các loại hợp đồng này Quy định về hợp đồng hành chính trong Civil code thể hiện sự bình đẳng giữa nhà nước và chủ thể khác trong quan hệ dân sự, điều này được minh chứng trong điều 207 “Quyền tài sản của nhà nước, tổ chức và cá nhân và các chủ thể khác được pháp luật bảo vệ bình đẳng và không cá nhân, tổ chức nào được quyền xâm phạm.”18 Quy định này là một đặc điểm quan trọng của bộ luật là nỗ lực hợp pháp hóa luật tư, cho thấy lần đầu tiên trong lịch sử của Nhà nước cộng sản Trung Quốc, lợi ích công và lợi ích

tư được đối xử bình đẳng19

Tiền hợp đồng lần này được Civil code đưa vào như một quy định mới, khẳng định hiệu lực của thỏa thuận sơ bộ, mở rộng phạm vi áp dụng của thỏa thuận sơ bộ, giúp làm rõ mối quan hệ pháp lý giữa các bên Bời vì, trong các hoạt động thương mại như mua sắm thiết bị, hợp tác kinh doanh, đầu tư và mua bán và sáp nhập, các công ty thường tham gia vào các thỏa thuận như ký kết thư ý định, thỏa thuận khung, v.v Trước khi ký các tài liệu tương ứng, trước tiên một công ty nên làm rõ liệu họ sẽ ký một văn bản tham vấn không ràng buộc hay một thỏa thuận sơ bộ hợp lệ, và sau đó tiến hành soạn thảo các điều khoản

cụ thể Với quy định tiền hợp đồng là hợp đồng đã ràng buộc các bên có nghĩa vụ thực hiện nhằm ràng buộc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi thực hiện các loại giao dịch này đồng thời là cơ sở pháp lý vững chắc để giải quyết tranh chấp trong thực tiễn khi các bên vi phạm tiền hợp đồng

3.2 Thực hiện hợp đồng

Về nguyên tắc thực hiện hợp đồng: BLDS năm 2015 không quy định lại nguyên

tắc thực hiện nghĩa vụ (hợp đồng) vì nội dung của nguyên tắc này cũng đã được quy định chung trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự tại Điều 3 của Bộ luật20 Civil code ngoai các nguyên tắc được quy định trong phần chung như BLDS 2015 còn quy định về nguyên tắc thực hiện hợp đồng tại điều 509 như nguyên thực hiện đúng cam kết, nguyên tắc thiện chí và giữ bí mật phù hợp với bản chất và mục đích của hợp đồng Đặc biệt, điều

509 Civil code quy định nguyên tắc các bên phải có nghĩa vụ không gây lãng phí tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường, hoặc làm tổn hại đến hệ sinh thái khi thực hiện hợp

18 Nguyên văn của điều 207 Civil code “The real rights of the State, collectives, private individuals, and the other right holders are equally protected by law and free from infringement by any organization or individual.”

19 Em Prof Dr Jacques H Herbots, pp 707

20 Bộ tư pháp, Jica, sđd tr144

Ngày đăng: 20/12/2021, 09:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w