1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên trường Đại học Tài chính Marketing

7 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 337,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đã lựa chọn được 10 tiêu chí đánh đánh giá thể chất cho sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing; So sánh, đánh giá thực trạng thể chất giữa sinh viên năm thứ nhất và năm thứ 2 với tiêu chuẩn thể chất của người Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để có những giải pháp, biện pháp nâng cao thể chất cho sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing nói riêng và sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng trên cả nước nói riêng.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỂ CHẤT CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING

ThS Hồ Văn Cương, TS Phan Thanh Mỹ, TS Phạm Thanh Giang

Trường Đại học Tài chính – Marketing

TÓM TẮT

Hoàn thiện và phát triển thể chất cho sinh viên là một trong những yêu cầu của mục tiêu phát triển toàn diện trong giáo dục, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn lao động ngày càng cao của xã hội và trong thời kì hội nhập quốc tế Việc tạo ra lực lượng lao động vừa có kiến thức chuyên môn vững vàng, có kỹ năng tay nghề cao, có tư cách đạo đức tốt và đặc biệt là có sức khỏe là yêu cầu cấp thiết góp phần phát triển đất nước Vì vậy, nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển thể chất cho sinh viên cũng là một trong những vấn đề quan trọng trong mục tiêu chung của nền giáo dục đất nước Cho nên, nghiên cứu đã lựa chọn được 10 tiêu chí đánh đánh giá thể chất cho sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing; So sánh, đánh giá thực trạng thể chất giữa sinh viên năm thứ nhất và năm thứ 2 với tiêu chuẩn thể chất của người Việt Nam Đây là cơ sở quan trọng để có những giải pháp, biện pháp nâng cao thể chất cho sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing nói riêng và sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng trên cả nước nói riêng

Từ khóa: Đánh giá thể chất; Thực trạng thể chất sinh viên; Trường Đại học Tài chính –

Marketing

1 PHẦN MỞ ĐẦU

Với sự phát triển của đất nước ta hiện nay về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, thể thao và du lịch… thì yếu tố con người cần được chú trọng, đầu tư đúng mức, cần xây dựng, phát triển con người toàn diện về các mặt trí dục, đức dục và thể dục

Có nghĩa là con người vừa giỏi về trí tuệ, vừa có tư cách phẩm chất đạo đức tốt đồng thời phải có sức khỏe

Đối với TDTT trường học thì GDTC là một trong những phương cách hữu hiệu để tăng cường sức khỏe, hoàn thiện thể chất, rèn luyện nhân cách, và trang bị những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản cần thiết cho mỗi cá nhân trong sinh hoạt, lao động sản xuất, sẵn sang chiến đấu bảo vệ lãnh thổ, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, giàu mạnh một xã hội văn minh có thể sánh vai với các cường quốc năm châu

Do những điều kiện thuận lợi và đặc trưng của ngành giáo dục và đào tạo (giáo dục tập trung, có hệ thống, thời gian dài…) GDTC trong nhà trường các cấp còn giữ

vị trí quan trọng và then chốt trong sự nghiệp phát triển TDTT của cả nước Chính vì vậy công tác GDTC đã được Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm và sớm quyết định đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường các cấp từ 1957 nhằm giáo dục, đào tạo những lớp người phát triển toàn diện Vấn đề này đã được khẳng định trong văn

kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII: “Sự cường tráng về thể lực là nhu cầu của

Trang 2

Giáo dục Đại học ngày nay không những trang bị khối lượng kiến thức đơn thuần mà còn phải có sự quan tâm đúng mức để phát triển thể chất, và nhân cách cho sinh viên Việc vận dụng chương trình GDTC vào chương trình đào tạo chung của nhà trường là một vấn đề quan trọng cần thiết và đòi hỏi tính khoa học Tuy nhiên, hiện nay việc vận dụng chương trình bắt buộc và tự chọn còn nhiều bất cập, lệ thuộc vào đội ngũ giảng viên cùng cơ sở vật chất

Từ những yêu cầu cấp thiết như trên, nghiên cứu bước đầu tiến hành đánh giá thể chất của sinh viên sau khi tham gia học tập GDTC qua mỗi học phần và qua cả chương trình để làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu kế thừa, góp phần vào việc nâng cao chất lượng công tác GDTC cho trường và phát triển thể chất cho sinh viên Mục đích nghiên cứu: Đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên năm thứ I và

năm thứ II tại Trường Đại học Tài chính – Marketing (ĐHTCM) (chỉ có sinh viên năm

thứ I và năm thứ II học GDTC), nhằm góp phần nâng cao chất lượng GDTC cho sinh

viên của trường

Nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp gồm: Phương pháp phân tích và tổng

hợp tài liệu; Phương pháp kiểm tra sư phạm; Phương pháp kiểm tra hình thái, chức năng; Phương pháp toán thống kê

Đối tượng nghiên cứu: Thể chất của nam, nữ sinh viên năm thứ I và năm thứ II

đang theo học tại Trường ĐHTCM

2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1 Lựa chọn tiêu chí đánh giá thể chất cho sinh viên năm thứ I và năm thứ

II Trường ĐHTCM

Cơ sở để lựa chọn tiêu chí là căn cứ vào ý kiến của các chuyên gia, các nhà chuyên môn, các giảng viên GDTC; Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ của vấn đề nghiên cứu, tình hình thực tế của trường, đặc điểm sinh viên; Căn cứ theo tiêu chuẩn đánh

giá “Thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6 đến 20 tuổi” (thời điểm năm 2001) của

Viện Khoa học TDTT Nghiên cứu đã chọn được các tiêu chí đánh giá thể chất cho sinh viên năm thứ I và năm thứ II của Trường ĐHTCM gồm: Chạy 30m xuất phát cao(s); Bật xa tại chỗ (cm); Lực bóp tay (kg); Đứng dẻo gập thân (cm); Nằm ngửa gập bụng 30 giây (lần); Chạy con thoi 4 x 10m (s); Chạy 5 phút tùy sức(m); Chiều cao đứng (cm); Cân nặng (kg); Công năng tim (Hw)

2.2 Thực trạng thể chất của sinh viên năm thứ I và năm thứ II Trường ĐHTCM

2.2.1 Thực trạng thể chất của nam sinh viên năm thứ I và năm thứ II Trường ĐHTCM

Trang 3

Bảng 1: So sánh thể chất giữa nam sinh viên năm thứ I và năm thứ II Trường ĐHTCM (n1,

n2 = 135)

1 Chiều cao đứng (cm) 166.20±5.42 3.26 168.24±6.31 3.75 3.76 <0.05

2 Cân nặng (kg) 58.12±5.49 9.45 59.01±5.65 9.57 1.83 >0.05

3 Công năng tim (Hw) 9.92±0.87 8.77 9.85± 0.93 9.44 0.87 >0.05

4 Lực bóp tay thuận (kg) 44.08±4.34 9.85 44.76±4.01 8.96 1.97 >0.05

5 Nằm ngửa gập bụng

(lần) 18.35±1.8 9.81 20.02±1.99 9.94 9.75 <0.05

6 Chạy 30m XPC(s) 4.70±0.38 8.09 4.41±0.42 9.52 8.02 <0.05

7 Bật xa tại chỗ(cm) 208.52±19.5 9.35 220.45±21.05 9.55 6.58 <0.05

8 Dẻo gập thân(cm) 15.30±1.5 9.8 16.02±1.35 8.43 6.2 <0.05

9 Chạy con thoi 4x10m(s) 12.20±1.08 8.85 11.82±1.1 9.31 4.01 <0.05

10 Chạy tùy sức 5 phút (m) 956.78±98 10.24 1057.82± 102 9.64 11.51 <0.05

Qua bảng 1 cho thấy thể chất của nam sinh viên năm thứ I và năm thứ II cho thấy có sự khác biệt ở 7 tiêu chí là chiều cao đứng, nằm ngửa gập bụng, chạy 30m XPC, bật xa tại chỗ, chạy con thoi 4 x10m, dẻo gập thân và chạy tùy sức 5 phút là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với ttính > tbảng, ở ngưỡng xác suất p < 0.05, cụ thể:

- Về chỉ tiêu chiều cao đứng: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 166.20±5.42cm, còn sinh viên năm thứ II trung bình là 168.24±6.31cm với ttính = 3.76 > tbảng = 2.0, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p < 0.05;

- Về chỉ tiêu cân nặng: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 58.12±5.49kg, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 59.01±5.65kg với ttính = 1.83 < tbảng = 2.0, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p > 0.05;

- Về chỉ tiêu công năng tim: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 9.92±0.87, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 9.85±0.93 với ttính = 0.87 < tbảng = 2.0, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p < 0.05;

- Về chỉ tiêu lực bóp tay thuận: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 44.08± 4.34kg, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 44.76±4.01kg với ttính = 1.97 < tbảng

= 2.0, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p > 0.05;

- Về chỉ tiêu nằm ngửa gập bụng trong 30 giây (s) Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 18.35 ± 1.8 lần, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 20.02±1.99 lần với

ttính = 9.75 > tbảng = 2.0, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất

p < 0.05;

- Về chỉ tiêu chạy 30m xuất phát cao: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 4.70± 0.38s, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 4.41± 0.42 s với ttính = 8.02 >

tbảng = 2.0, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p < 0.05;

- Về chỉ tiêu bật xa tại chỗ: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 208.52±

Trang 4

- Về chỉ tiêu dẻo gập thân: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 15.30 ±1.5cm, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 16.02 ±1.35 cm với ttính = 6.2 > tbảng = 2.0,

sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p < 0.05;

- Về chỉ tiêu chạy con thoi 4x10m: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 12.20± 1.08 s, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 11.82± 1.1 s với ttính = 4.01 > tbảng = 2.0, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p < 0.05;

- Về chỉ tiêu chạy 5 phút tùy sức: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 956.78±98m, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 1057.82±102m với ttính = 11.52 > tbảng = 2.0, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p < 0.05;

cứu có độ phân tán nhỏ

Bảng 2: So sánh mức chênh lệch tương đối giữa các nhóm (nam)

Chỉ tiêu

TBTCVN (1) Năm I (3) Năm II (4)

19 tuổi (1)

20 tuổi

Chiều cao đứng (cm) 164.87 165.14 166.20 -0.80 168.24 -1.84 -1.21 Cân nặng (kg) 53.16 53.16 58.12 -8.53 59.01 -9.91 -1.51 Công năng tim (Hw) 13.2 12.95 9.92 33.06 9.85 31.47 0.71 Lực bóp tay thuận (kg) 44.44 44.57 44.08 0.82 44.76 -0.42 -1.52 Nằm ngửa gập bụng (lần) 20 20 18.35 8.99 20.02 -0.10 -8.34 Chạy 30m xuất phát cao (s) 4.85 4.85 4.70 3.19 4.41 9.98 6.58 Bật xa tại chỗ (cm) 218 220 208.52 4.55 220.45 -0.20 -5.41 Dẻo gập thân (cm) 13 14 15.30 -15.03 16.02 -12.61 -4.49 Chạy con thoi 4x10m (s) 10.59 10.61 12.20 -13.20 11.82 -10.24 3.21 Chạy 5 phút tùy sức (m) 954 942 956.78 -0.29 1057.82 -10.95 -9.55

Kết quả so sánh mức chênh lệch tương đối ở các nhóm cho thấy:

- So sánh mức chênh lệch tương đối giữa nhóm TBTCVN lứa tuổi 19 với sinh viên năm thứ I thì chỉ có 4 chỉ tiêu lực bóp tay thuận, nằm ngửa gập bụng, bật xa tại chỗ và chạy con thoi 4 x10m của nhóm TBTCVN có chỉ số tốt hơn sinh viên năm thứ

I với mức chênh lệch tương đối từ 0.82% - 13.20% Còn tất cả các chỉ tiêu còn lại thì nhóm sinh viên năm thứ I có chỉ số phát triển tốt hơn, với mức chênh lệch tương đối

từ 0.29% - 33.06%

- So sánh mức chênh lệch tương đối giữa nhóm TBTCVN lứa tuổi 19 với sinh viên năm thứ II thì chỉ có 1 chỉ tiêu chạy con thoi 4 x10m của nhóm TBTCVN có chỉ

số tốt hơn sinh viên năm thứ II với mức chênh lệch tương đối là 10.24% Còn tất cả các chỉ tiêu còn lại thì nhóm sinh viên năm thứ II có chỉ số phát triển tốt hơn, với mức chêng lệch tương đối từ 0.20% - 31.47%

- So sánh mức chênh lệch tương đối giữa nhóm sinh viên năm thứ I với nhóm sinh viên năm thứ II thì cho thấy tất các chỉ số thể chất của sinh viên năm thứ II đều phát triển cao hơn sinh viên năm thứ I, mức chênh lệch tương đối thấp nhất là chỉ tiêu

Trang 5

công năng tim (0.71%) và mức chênh lệch cao nhất là chỉ tiêu chạy tùy sức 5 phút (9.55%)

Bảng 3: Thực trạng thể chất của nữ sinh viên năm thứ I và năm thứ II Trường ĐHTCM (n1,

n2 = 350)

1 Chiều cao đứng (cm) 157.14±5.61 3.57 157.35±5.04 3.20 0.78 >0.05

2 Cân nặng (kg) 48.28±3.12 6.46 50.62±3.98 7.86 11 <0.05

3 Công năng tim (Hw) 11.24±0.95 8.45 11.16±1.02 9.14 1.47 >0.05

4 Lực bóp tay thuận (kg) 27.12±2.5 9.22 29.04±2.7 9.30 13.30 <0.05

5 Nằm ngửa gập bụng

(lần) 15.2±1.5 9.87 16.4±1.55 9.45 14.48 >0.05

6 Chạy 30m xuất phát cao

(giây) 6.2±0.51 8.23 5.89±0.45 7.64 12.89 <0.05

7 Bật xa tại chỗ (cm) 163.27±16 9.81 167.02±2.1 9.25 5.09 >0.05

8 Dẻo gập thân (cm) 16.02±2.1 13.11 17.02±2.5 14.69 7.48 <0.05

9 Chạy 4x10m (giây) 12.58±0.97 7.71 12.31±0.81 6.58 6.24 <0.05

10 Chạy tùy sức 5 phút (m) 885±14.29 8.39 897±76.28 8.50 2.94 <0.05

Qua bảng 3 cho thấy thể chất của nữ sinh viên năm thứ I và năm thứ II cho thấy

có sự khác biệt ở 8 tiêu chí là chiều cao đứng, cân nặng, nằm ngửa gập bụng, chạy 30m XPC, bật xa tại chỗ, chạy con thoi 4 x10m, dẻo gập thân và chạy tùy sức 5 phút

là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với ttính > tbảng, ở ngưỡng xác suất p < 0.05, cụ thể:

- Về chỉ tiêu chiều cao đứng: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là

< tbảng = 1.96, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p < 0.05;

- Về chỉ tiêu cân nặng: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 48.28±3.12kg, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 50.62±3.98kg với ttính = 11 > tbảng = 1.96, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p > 0.05;

- Về chỉ tiêu công năng tim: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 11.24±0.95, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 11.16±1.02 với ttính = 1.47 < tbảng = 1.96, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p < 0.05;

- Về chỉ tiêu lực bóp tay thuận: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 27.12±2.5kg, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 29.04±2.7kg với ttính = 13.30 >

tbảng = 1.96, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p > 0.05;

- Về chỉ tiêu nằm ngửa gập bụng trong 30 giây (s) Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 15.2±1.5 lần, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 16.4±1.55 lần với

ttính = 14.48 > tbảng = 1.96, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất

p < 0.05;

- Về chạy 30m xuất phát cao: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 6.2±0.51s,

Trang 6

- Về chỉ tiêu bật xa tại chỗ: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 163.27±16cm, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 167.02±2.1cm với ttính = 5.09 > tbảng = 1.96,

sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p < 0.05;

- Về chỉ tiêu dẻo gập thân: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 16.02±2.1cm, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 17.02±2.5cm với ttính = 7.48 > tbảng = 1.96,

sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p < 0.05;

- Về chỉ tiêu chạy con thoi 4x10m: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 12.58±0.97s, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 12.31±0.81s với ttính = 6.24 <

tbảng = 1.96, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p < 0.05;

- Về chỉ tiêu chạy 5 phút tùy sức: Sinh viên năm thứ I đạt trung bình là 885±14.29m, còn sinh viên năm thứ II đạt trung bình là 897±76.28m với ttính = 2.94 >

tbảng = 1.96, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất p < 0.05;

cứu có độ phân tán nhỏ Chỉ có chỉ tiêu dẻo gập thân là có Cv >10%

Bảng 4: So sánh mức chênh lệch tương đối giữa các nhóm (nữ)

Chỉ tiêu

TBTCVN (1) Năm I (3) Năm II (4)

19 tuổi (1)

20 tuổi

Chiều cao đứng (cm) 153.6 153.88 157.14 -2.25 157.35 -2.21 -0.13 Cân nặng(kg) 45.77 45.77 48.28 -5.20 50.62 -9.58 -4.62 Công năng tim (Hw) 14.04 14.13 11.24 24.91 11.16 26.61 0.72 Lực bóp tay thuận (kg) 19.15 28.83 27.12 -29.39 29.04 -0.72 -6.61 Nằm ngửa gập bụng (lần) 12 12 15.2 -21.31 16.4 -26.83 -7.01 Chạy 30m xuất phát cao (s) 6.19 6.22 6.2 -0.16 5.89 5.60 5.26 Bật xa tại chỗ (cm) 159 157 163.27 -2.62 167.02 -6.00 -2.25 Dẻo gập thân (cm) 13 12 16.02 -18.85 17.02 -29.49 -5.88 Chạy con thoi 4x10m (s) 12.62 12.62 12.58 0.32 12.31 2.52 2.19 Chạy 5 phút tùy sức (m) 729 721 885 -17.63 897 -19.62 -1.34

Kết quả so sánh mức chênh lệch tương đối ở các nhóm cho thấy (bảng 4):

- So sánh mức chênh lệch tương đối giữa nhóm TBTCVN lứa tuổi 19 với sinh viên năm thứ I thì chỉ đa số các chỉ tiêu đều không tốt bằng, mức chênh lệch tương đối từ 0.32 – 29.39% Chỉ có chỉ tiêu chạy 30XPC thì TBTCVN tốt hơn sinh viên năm nhất Trường ĐHTCM, mức chênh lệch tương đối là 0.16

- So sánh mức chênh lệch tương đối giữa nhóm TBTCVN lứa tuổi 20 với sinh viên năm thứ II thì tất cả các chỉ tiêu của nhóm sinh viên năm thứ II đều có chỉ số cao hơn nhóm TBTCVN, mức chênh lệch trung bình đạt từ 0.7229.49%

- So sánh mức chênh lệch tương đối giữa nhóm sinh viên năm thứ I với nhóm sinh viên năm thứ II thì cho thấy tất các chỉ số thể chất của sinh viên năm thứ II đều phát triển cao hơn sinh viên năm thứ I, mức chênh lệch tương đối thấp nhất là chỉ tiêu công năng tim (0.72%) và mức chênh lệch cao nhất là chỉ tiêu dẻo gập thân (5.88%)

Trang 7

3 KẾT LUẬN

Từ kết quả đánh giá và so sánh, nghiên cứu có những kết luận sau:

- Thể chất nam, nữ sinh viên Trường ĐHTCM tương đương tốt hơn thể chất của người Việt Nam cùng độ tuổi (TBTCVN) và có sự phát triển tương đối đồng đều

ở các cá thể nghiên cứu (Cv <10%)

- Nghiên cứu cũng cho thấy các chỉ số thể chất của nhóm sinh viên năm thứ II đều tốt hơn nhóm sinh viên năm thứ I Đều này cũng tương đối phù hợp với qui luật rèn luyện trong thể thao, bởi vì sinh viên năm thứ 2 được học tập GDTC nhiều hơn sinh viên năm thứ I, hơn nữa các em ở lứa tuổi 18, 19 vẫn còn đang phát triển

Từ kết quả đánh giá thực trạng thể chất là cơ sở để xây dựng thang điểm đánh giá riêng cho sinh viên Trường ĐHTCM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Dương Nghiệp Chí (2004), Đo lường thể thao Nxb TDTT, Hà Nội

2 Hoàng Hà (2005), Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực cho sinh viên Trường ĐHKHXH&NV – Đại học Quốc gia TP.HCM, luận văn thạc sĩ giáo dục học

3 Trịnh Trung Hiếu (1997), Lý luận và phương pháp giáo dục TDTT trong nhà trường, Nxb

TDTT Hà Nội

4 Huỳnh Trọng Khải (2000), Nghiên cứu sự phát triển thể chất của học sinh nữ tiểu học (từ

7 đến 11 tuổi) ở TP.HCM, luận án tiến sĩ giáo dục học, Hà Nội

5 Huỳnh Trọng Khải, Lê Quang Anh (2005), “Đánh giá sự phát triển thể lực của sinh viên

Trường Đại học Cần Thơ”, Tạp chí khoa học thể thao, Viện khoa học TDTT số 1/2005

6 Lê Thanh (2004), Giáo trình phương pháp thống kê trong Thể dục thể thao, Nxb TDTT

Hà Nội

Ngày đăng: 20/12/2021, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w