1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CHUYỆN NGƯỜI CON gái NAM XƯƠNG

42 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 125,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giá trị nội dung của tác phẩm : Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo 2.Giá trị nhân đạo: - Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam thông qua nhânvật Vũ Nương -Xót xa

Trang 1

CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG

Nguyễn Dữ

I Tác giả

- Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), quê ở Hải Dương.

- Nguyễn Dữ sống vào nửa đầu TK XVI , là thời kỳ triều đình nhà Lê đã bắtđầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến, Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực,gây ra những cuộc nội chiến kéo dài

- Lúc nhỏ Nguyễn Dữ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tưởnglấy văn chương nối nghiệp nhà Sau khi đậu Hương tiến (tức Cử nhân), ông làmquan với nhà Mạc, rồi về với nhà Lê làm Tri huyện Thanh Tuyền (nay là BìnhXuyên, Vĩnh Phú); nhưng mới được một năm, vì bất mãn với thời cuộc, lấy cớ nuôi

mẹ, xin về ở núi rừng Thanh Hóa Từ đó trải mấy năm dư, chân không bước đến thị thành.[4] rồi mất tại Thanh Hóa Đó là cách phản kháng của nhiều trí thức tâm huyếtđương thời

Nguyễn Dữ là ẩn sĩ tiêu biểu cho khí tiết 1 nhà Nho giữ lối sống thanh cao Tuynhiên, qua các tác phẩm, có thể thấy ông vẫn quan tâm, lo lắng đến cuộc đời, đấtnước và nhân dân

“Truyền kì mạn lục” (ghi chép tản mạn những điều kì lạ vẫn được lưu

truyền), gồm 20 truyện viết bằng chữ Hán, ra đời vào nửa đầu thế kỉ 16 Tập truyện khai thác từ các truyện dân gian và các truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam từ các thời Lí, Trần, Hồ, Lê sơ Truyện viết theo thể loại tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện (trừ truyện 19 Kim hoa thi thoại ký) đều có lời bình của tác giả hoặc của một người có cùng quan điểm của tác giả Tác phẩm được Hà Thiện Hán, người cùng thời, viết lời Tựa, Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính, Nguyễn Thế

Trang 2

Nghi, dịch ra chữ Nôm; và đã được Tiến sĩ Vũ Khâm Lân (1702-?), đánh giá là một

"thiên cổ kỳ bút"

Qua sách Truyền kỳ mạn lục, có thể biết phần nào về tác giả Bởi trong 20truyện, truyện nào cũng thể hiện một quan điểm chính trị, một thái độ nhân sinh,một ý tưởng đạo đức của Nguyễn Dữ Đó là những mong muốn của ông về một xãhội mọi người được sống yên bình trong nền đức trị, trong sự công bằng, trong tìnhcảm yêu thương nhân ái giữa con người với con người

+Nội dung các tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, lấy xưa đểnói nay, lấy ảo để nói thực, lấy âm để nói dương nhằm phơi bày, vạch trần và phêphán hiện thực xã hội

+Nhân vật chính trong các truyện thường là:

Những người trí thức có tâm huyết, bất mãn với thời cuộc, không chịu tróimình vào vòng danh lợi chật hẹp

Những người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp nhưng số phận bất hạnh, đau khổ

 Truyền kì mạn lục: được đánh giá là 1 tuyệt tác của thể truyền kì, đượcKhâm Lân (thế kỉ XVIII) khen là “Thiên cổ kì bút”, “áng văn hay của bậc đại gia”.Tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài và được đánh giá cao trong sốcác tác phẩm truyền kì ở các nước đồng văn (cùng văn hóa, thường là VN, TQ, HànQuốc, Nhật)

Đọc “Truyền kì mạn lục” nếu bóc tách cái vỏ sẽ thấy cái lõi hiện thực:

- Bộ mặt giai cấp thống trị:

+ Đời sống trụy lạc của vua chúa

+ Tham quan ô lại

- Đời sống nhân dân:

- Nạn lưu manh cướp bóc

- Đạo đức đồi phong bại tục

 khi phê phán tố cáo hiện thực, Nguyễn Dưc chủ yếu đứng trên lập trường đạođức

Khi phản ánh số phận con người, N.Dữ lại đứng trên lập trường nhân văn,trân trọng vẻ đẹp và ngợi ca những khát vọng chân chính của con người

Thành tựu nghệ thuật của “TKML” nổi bật trên 3 phương diện:

- Xây dựng tình tiết, kết cấu câu chuyện

- Xây dựng nhân vật

Trang 3

- Kết hợp yếu tố hiện thực và kì ảo trong bút pháp nghệ thuật.

II Tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”

1 Xuất xứ: “Chuyện người con gái Nam Xương là truyện thứ 16 nằm trong

số 20 truyện nằm trong tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ “ Truyền kỡ mạn lục Truyện có nguồn gốc từ một truyện cổ dân gian trong kho tàng cổ tích Việt Nam Vợ chàng Trương

Vũ Thanh: “Chính “CNCGNX” cùng với nhiều thiên truyện ngắn khác của

N.Dữ đã manh nha cho thể loại truyện ngắn thế sự hiện đại sau này.”

Đặng Anh Đào: “Thác là thể phách, còn là tinh anh” – làn nước nhất thời có

thể nhấn chìm thể phách Vũ Nương xuống tận đáy ghềnh nước âm u nhưng rồi khói hương lại nâng cao tinh anh Nương tử lên tót vời ánh dương ngưỡng vọng.”

2 Thể loại: Truyện Truyền kì ( ghi chép tản mạn những chuyện kì lạ vẫn

được lưu truyền) Viết bằng chữ Hán

Thể loại truyền kỳ là 1 thể văn xuôi thời trung đại phản ánh hiện thực quanhững yếu tố kì lạ, hoang đường Trong truyện truyền kì, thế giới con người và thếgiới cõi âm có sự tương giao Người đọc có thể thấy đằng sau thế giới phi hiện thựcchính là cõi của hiện thực và những quan niệm, thái độ của tác giả

3 Chủ đề: Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ

Nương, “Chuyện người con gái Nam Xương” thể hiện niềm thương cảm đối với sốphận oan nghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ VN dướichế độ phong kiến

4 Tóm tắt: Vũ Thị Thiết ( Vũ Nương) là người phụ nữ nhan sắc, đức hạnh.

Chồng nàng là Trương Sinh đi lính sau khi cưới ít lâu Nàng ở nhà, một mình vừanuôi con nhỏ vừa chăm sóc mẹ chồng đau ốm rồi làm ma chu đáo khi bà mất.Trương Sinh trở về, nghe lời con, nghi vợ thất tiết nên đánh đuổi đi Vũ Nương uất

ức gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn, được thần rùa Linh Phi và các tiên

nữ cứu Sau đó Trương Sinh mới biết vợ bị oan, ít lâu sau, Vũ Nương gặp PhanLang, người cùng làng chết đuối được Linh Phi cứu Khi Lang trở về, Vũ Nươngnhờ gửi chiếc hoa vàng nhắn chàng Trương lập đàn giải oan cho nàng Trương Sinhnghe theo, Vũ Nương ẩn hiện giữa dòng, nói vọng vào bờ lời tạ từ rồi biến mất

5 Bố cục: 3 đoạn

- Đoạn 1: của mình: Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự

xa cách vì chiến tranh và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa cách

- Đoạn 2: qua rồi: Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương.

Trang 4

- Đoạn 3: Còn lại: Cuộc gặp gỡ giữa Vũ Nương và Phan Lang trong động Linh

Phi, Vũ Nương được giải oan

III Giá trị nội dung của tác phẩm : ( Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo

2.Giá trị nhân đạo:

- Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam thông qua nhânvật Vũ Nương

-Xót xa thương cảm, bênh vực cho những người phụ nữ chịu nhiều bất hạnh, oan trái trong xã hội xưa

-Đứng về phía người phụ nữ lên án tố cáo xã hội phong kiến, chiến tranh

phong kiến, thói gia trưởng đã chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ

Gv cần liên hệ với các tác phẩm cùng đề tài người phụ nữ trong xã hội phong kiến (Truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm )và cả người phụ nữ sau năm 1945.

B PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1 Nhân vật Vũ Nương: Người phụ nữ hoàn mỹ nhưng mang số phận bi kịch.

a VẺ ĐẸP CỦA VŨ NƯƠNG

Giới thiệu khái quát: tính thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp

* Vẻ đẹp của Vũ Nương trong mối quan hệ với chồng:

- Khi chồng ở nhà: khuôn phép, không để vợ chồng bất hòa, dù cho Trương Sinh “vốn tính hay ghen”

- Khi dặn dò chồng:

+ Không mong vinh hiển, chỉ mong chồng bình an: “Chàng đi chuyến này,

thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ mongngày về mang theo được 2 chữ bình yên, thế là đủ rồi”  Vũ Nương là người vợ đức

Trang 5

hạnh, đặt hạnh phúc gia đình lên đầu, không ham hư danh quyền quý, chỉ khát khao hạnh phúc gia đình, mơ ước sự bình yên.

+ Cảm thông nỗi vất vả của chồng: “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì…”  lời nói còn thể hiện nàng là người con gái có học hành,

hiểu biết

+ Bộc lộ lo lắng nhớ nhung: “nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét,

gửingười ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng” 

nỗi nhớ chồng đã trào dâng ngay cả khi chàng còn trước mặt  tình yêu chồng thiết tha

- Khi chồng ở chiến trường: thủy chung một lòng với chồng, “ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”, “tô son điểm phấn tưởng đã nguôi lòng”…

- Trong chi tiết VN chỉ chiếc bóng trên tường là cha Đản đã cho thấy: nỗi nhớ chồng thường trực, da diết trong lòng VN Nàng đồng nhất mình và chồng, tình cảm

vợ chồng gắn bó như hình với bóng ko tách rời

- Ngay cả khi ở dưới thủy cung, sống nơi hoa lệ, nghe Phan Lang nhắc đến

“tiên nhân” , nàng còn rơi nước mắt  VN vẫn nặng lòng với cuộc đời, với chồng con nơi trần thế

- Tuy Trương Sinh chính là nguyên nhân gián tiếp cho bi kịch cay đắng của

đời nàng, VN vẫn không 1 câu oán trách, ko 1 lời hờn giận Nàng còn bộc bạch lời cảm tạ “Đa tạ tình chàng”VN còn là người phụ nữ vị tha cao

thượng.

Vũ Nương là người vợ thủy chung, không màng vinh hiển

*Vẻ đẹp của Vũ Nương trong mối quan hệ với mẹ chồng:

- Khi chồng đi vắng, nàng hiếu thuận với mẹ chồng,thay chồng chăm sóc mẹ

- Mẹ chồng ốm, nàng thuốc thang, lễ bái, nói lời ngọt ngon khuyên lơn

+ Thuốc thang: tìm cách chữa cho mẹ theo khoa học

+ Lựa lời khuyên lơn: Động viên về tinh thần, tình cảm cho mẹ

+ Lễ bái thần phật: Người con dâu biết lễ bái thần phật cho mẹ chính là bởi những tình cảm thật tâm nhất, chân thành nhất, coi mẹ chồng như đấng sinh thành ra chính mình

- Khi mẹ chồng mất, nàng hết lòng thương xót lo ma chay chu toàn như với cha

mẹ đẻ  VN đã làm tròn cả vai trò trụ cột gia đình, điều mà trước đây trong văn học Việt Nam chưa từng có

- Dẫn chứng: lời của người mẹ chồng ghi ơn nàng trước khi mất (liên hệ mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu truyền thống)  tính khách quan, chân thực

Trang 6

Vũ Nương là người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng, thay chồng gánh vác việc lớn trong gia đình

*VẺ đẹp Vũ Nương trong mối quan hệ với con:

- Vũ Nương chăm lo nuôi dạy con thơ Ba năm đầu đời của đứa trẻ là những năm người mẹ chịu nhiều vất vả cực nhọc nhất Vậy mà những năm tháng ấy, Vũ Nương đã 1 mình gánh vác, vượt qua

- Thương con, những đêm chơi đùa cùng con, nàng chỉ cái bóng trên tường để

dỗ dành con cho vơi đi khắc khoải nhớ chồng và mong muốn cho con mình được sống trong cảnh đoàn viên, đủ đầy

Vũ Nương là người mẹ hết lòng yêu thương con

- Được các tiên nữ cứu, nàng sống dưới thuỷ cung và được đối xử tình nghĩa.Nàng hết sức cảm kích ơn cứu mạng của Linh Phi và các tiên nữ cung nước Nhưngnàng vẫn không nguôi nỗi nhớ cuộc sống trần thế - cuộc sống nghiệt ngã đã đẩynàng đến cái chết Vũ Nương vẫn là người vợ yêu chồng, người mẹ thương con, vẫnnặng lòng nhung nhớ quê hương, mộ phần cha mẹ, đồng thời vẫn khao khát được trảlại danh dự Bởi vậy mà nàng đã hiện về khi Trương Sinh lập đàn giải oan Thế

nhưng “ cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ”, Vũ Nương

không quay về trần gian nữa

Ngay cả sau khi tự vẫn, nàng vẫn thể hiện là người tình nghĩa, có trước có sau, đau đáu không nguôi về gia đình.

B BI KỊCH CỦA VŨ NƯƠNG

- Cuộc hôn nhân mang màu sắc mua bán Trương Sinh “xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về” (GV liên hệ những bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến với tâm lí gả bán)

- Trong chính những ngày tháng tưởng như hạnh phúc nhất của đời nàng trước khi Trương Sinh đi lính, VN cũng đã phải sống hết sức giữ gìn khuôn khép để vợ chồng

ko từng phải thất hòa Với người chồng “vốn tính hay ghen”, điều ấy thật chẳng dễ dàng

- Khi Trương Sinh trở về, những tưởng những nhọc nhằn của nàng sẽ được đền đáp, những tưởng cuộc sống ấm êm đủ đầy sẽ là sự bù đắp cho nàng Nhưng không, bi kịch khủng khiếp hơn tất cả lại sắp bắt đầu

Bi kịch đến 1 cách kì lạ mà logic

- Khi bị chồng nghi ngờ, sỉ nhục, đánh đập, đuổi đi: nàng phân trần, đau đớn thất vọng, hành động quyết liệt để bảo vệ phẩm giá

3 lời thoại:

Trang 7

+ Lời 1: Phân trần, nói đến thân phận, tình nghĩa vợ chồng, khẳng định lòng chung thủy, cầu xin chồng đừng nghi oan hết lòng tìm cách hàn gắn hạnh phúc gia

đình.

+ Lời 2: Đau đớn, thất vọng, hạnh phúc,tất cả khao khát cả đời tan vỡ, tình yêu không còn, nỗi đau khổ chờ chồng đến thành hóa đá trước đây cũng không còn có thể làm lại được nữa Vũ Nương không có quyền được bảo vệ mình khiến hạnh phúc gia đình tan vỡ

+ Lời 3: Thất vọng đến cùng cực, cuộc hôn nhân không thể nào hàn gắn nổi Mượn dòng nước sông quê hương để giãi tấm lòng trong sạch

Tắm gội chay sạch khấn: hành động quyết liệt, bảo toàn danh dự, có tuyệt vọng cay đắng nhưng có sự chỉ đạo của lí trí, không phải hành động bộc phát như trong truyện cổ tích

2 lời thoại đầu VN nói với chồng – với con người Lời thoại thứ 3 nàng nói với thần linh, với cả chính mình  sự bế tắc tột cùng của VN Nỗi oan khuất của nàng vốn không thể có lời giải trong xã hội phong kiến bất công ngang trái  phê phán hiện thực xã hội sâu sắc

- Dù đã được Linh Phi cứu, sống nơi làng mây cung nước, nhưng đó là cuộc sống xa rời “thú vui nghi gia nghi thất” mà nàng từng thiết tha trân trọng, gìngiữ VN vẫn là người phụ nữ cô đơn

Các yếu tố kì ảo chỉ xoa dịu phần nào bi kịch nhưng không thể thay đổi bi kịch

VN là người phụ nữ đẹp người đẹp nết nhưng bất hạnh và chịu nhiều oan trái.

Tóm lại: Vũ Nương là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục lại đảm

đang, tháo vát, thờ kính mẹ chống rất mực hiếu thảo, một dạ thuỷ chung với chồng,hết lòng vun đắp cho hạnh phúc gia đình Nàng là người phụ nữ hoàn hảo, lí tưởngcủa mọi gia đình, là khuôn vàng thước ngọc của mọi người phụ nữ Người như nàngxứng đáng được hưởng hạnh phúc trọn ven, vậy mà lại phải chết oan uổng, đau đớn.Nguyễn Dữ không chỉ cac ngợi phẩm chất, đức hạnh của nàng mà còn thể hiệnlòng thương cảm sâu sắc với nỗi khổ đau, bi kịch của người phụ nữ trong chế độphụ quyền phong kiến bất công tàn bạo

Gv lưu ý liên hệ với số phận người phụ nữ trong văn học dân gian và trong các tác phẩm văn học khác:

- Truyện Kiều

Trang 8

Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều)

Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm)

Long Thành cẩm giả ca + Độc tiểu thanh kí (Nguyễn Du)

Long thành cầm giả ca

Long thành giai nhân,

Bất ký danh tự.

Ðộc thiện huyền cầm,

Cử thành chi nhân dĩ cầm danh.

Học đắc tiên triều cung trung “Cung phụng” khúc,

Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh.

Dư tại thiếu niên tằng nhất kiến,

Giám Hồ hồ biên dạ khai yến.

Thử thời tam thất chánh phương niên,

Xuân phong yểm ánh đào hoa diện.

Ðà nhan hám thái tối nghi nhân,

Lịch loạn ngũ thanh tuỳ thủ biến.

Hoãn như luơng phong độ tùng lâm,

Thanh như chích hạc minh tại âm.

Liệt như Tiến Phúc bi đầu toái phích lịch,

Ai như Trang Tích bịnh trung vi Việt ngâm.

Thính giả mỹ mỹ bất tri quyện,

Tận thị Trung Hoà Ðại Nội âm.

Tây Sơn chư thần mãn toạ tận khuynh đảo,

Triệt dạ truy hoan bất tri hiểu.

Tả phao hữu trịch tranh triền đầu,

Nê thổ kim tiền thù thảo thảo.

Hào hoa ý khí lăng công hầu,

Ngũ Lăng niên thiếu bất túc đạo.

Tính tương tam thập lục cung xuân,

Hoán thủ Trường An vô giá bảo.

Thử tịch hồi đầu nhị thập niên,

Tây Sơn bại hậu dư Nam thiên.

Chỉ xích Long Thành bất phục kiến,

Hà huống thành trung ca vũ diên.

Tuyên phủ sứ quân vị dư trùng mãi tiếu,

Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu.

Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa,

Nhan xú thần khô hình lược tiểu.

Lang tạ tàn my bất sức trang,

Thuỳ tri tiện thị đương niên thành trung đệ nhất điệu.

Cựu khúc tân thanh ám lệ thuỳ,

Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi.

Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự,

Giám Hồ hồ biên tằng kiến chi.

Thành quách suy di nhân sự cải,

Kỷ độ tang điền biến thương hải.

Trang 9

Tây Sơn cơ nghiệp nhất đán tận tiêu vong,

Ca vũ không lưu nhất nhân tại.

Thuấn tức bách niên tằng kỷ thì,

Thương tâm vãng sự lệ triêm y.

Nam Hà quy lai đầu tận bạch,

Quái để giai nhân nhan sắc suy.

Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng,

Khả liên đối diện bất tương tri.

Dịch nghĩa

Người đẹp Long Thành

Họ tên không được biết

Riêng thạo đàn huyền cầm

Dân trong thành gọi nàng là cô Cầm

Gảy khúc “Cung phụng” từ triều vua xưa

Một khúc đàn hay tuyệt từ trời đưa xuống thế gian.

Nhớ hồi trẻ tôi đã gặp nàng một lần

Bên hồ Giám trong một đêm yến tiệc

Tuổi cô cỡ hai mươi mốt

Áo hồng ánh lên khuôn mặt đẹp như hoa

Rượu đậm thêm nét mặt ngây thơ khả ái

Ngón tay lướt năm cung réo rắt

Tiếng khoan như gió thổi qua rừng thông

Thanh trong như đôi hạc kêu nơi xa xôi

Mạnh như sét đánh tan bia Tiến Phúc

Sầu bi như Trang Tích lúc đau ốm ngâm rên tiếng Việt

Người nghe nàng say sưa không biết mệt

Trong khúc nhạc đại nội Trung Hoà.

Quan tướng nhà Tây say rượu nghiêng ngả

Lo vui chơi suốt đêm không nghỉ

Bên phải bên trái tranh nhau cho thưởng

Tiền bạc coi thường có nghĩa chi.

Vẻ hào hoa hơn bậc vương hầu

Giới trẻ nơi Ngũ Lăng không đáng kể

Dường như ba mươi sáu cung xuân

Nay Tràng An đã hun đúc được một báu vật vô giá.

Trong đầu nhớ lại đã hai mươi năm

Tây sơn thua bại, tôi vào Nam

Long Thành gần mà cũng chẳng được thấy

Còn nói chi đến chuyện múa hát trong thành.

Nay Tuyên phủ sứ bày cuộc vui đãi tôi

Ca kỹ trẻ xinh cả một đám

Chỉ có một kẽ tóc hoa râm ngồi cuối phòng

Mặt xấu, sắc khô, người hơi nhỏ

Mày phờ phạc không điểm phấn tô son

Sao mà đoán được người này là đệ nhất danh ca một thời.

Điệu nhạc xưa làm ta thầm nhỏ lệ

Trang 10

Lắng tai nghe lòng càng đau xót

Tự nhiên nhớ lại hai mươi năm trước

Bên hồ Giám trong dạ tiệc ta đã thấy nàng

Thành quách đã chuyển, người cũng đổi thay

Nương dâu trở thành biển cả đã nhiều

Cơ nghiệp Tây sơn cũng đà tiêu tán

Sót lại đây còn người múa ca.

Thấm thoắt trăm năm có là bao

Cảm thương chuyện cũ dùng áo thấm nước mắt

Ta từ Nam trở lại, đầu bạc trắng

Trách làm sao được sắc đẹp cũng suy tàn.

Hai mắt trừng lên tưởng nhớ chuyện xưa

Thương cho đối mặt mà chẳng nhìn nhận ra nhau.

Độc tiểu thanh kí:

Độc Tiểu Thanh ký

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.

Chi phấn hữu thần liên tử hậu,

Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.

Cổ kim hận sự thiên nan vấn,

Phong vận kỳ oan ngã tự cư.

Bất tri tam bách dư niên hậu,

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Dịch nghĩa

Vườn hoa cạnh Tây Hồ đã thành bãi hoang,

Ta chỉ viếng nàng qua bài ký đọc trước cửa sổ mà thôi.

Son phấn có linh hồn chắc phải xót chuyện xảy ra sau khi chết,

Văn chương không có mệnh mà cũng bị liên luỵ, đốt đi còn sót lại một vài bài.

Mối hận cổ kim, thật khó mà hỏi ông trời.

Ta tự coi như người cùng một hội, một thuyền với nàng là kẻ vì nết phong nhã mà mắc phải nỗi oan lạ lùng.

Chẳng biết ba trăm năm sau nữa,

Thiên hạ có ai khóc Tố Như ta?

Trang 11

Bản khái quát về nhân vật Vũ Nương

Nương:

2 Vai trò của chi tiết cái bóng:

- Cái bóng xuất hiện 2 lần trong tác phẩm

+ lần 1: chỉ nín thin thít, mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi(qua lời Đản)

+ Lần 2: bóng Trương Sinh trên vách

-Ý nghĩa:

-Người vợ thủy chung, yêu chồng hết mực

+Khi chồng ở nhà+Khi tiễn chồng+Khi chồng đi lính+Khi bị nghi oan vẫn 1 mực thiết tha mong níu kéo hạnh phúc gia đình

-Người mẹ hiền, dâu thào

+Một mình vừa làm mẹ, vừa làm cha nuôi dạy con+Chăm sóc cho con đủ đầy, nhất là tinh thần, khỏa lấp cho con chỗ thiếu vắng của người cha qua chi tiết chiếc bòng

+Phụng dưỡng mẹ chồng khi đau ốm+Lo ma chay khi mẹ chồng mất

Trang 12

+ Cái bóng là đầu mối trực tiếp dẫn đến sự nghi ngờ của Trương Sinh và cũng

là đầu mối giải tỏa sự nghi ngờ của TS với VN

+ Cái bóng thể hiện tấm lòng của VN: cô đơn, khát khao hạnh phúc, chung thủy…

+ Cái bóng thể hiện bi kịch của VN: khát khao đoàn tụ mà phải chia ly

+Chiếc bóng ẩn dụ cho “bóng đen” của xã hội pk bất công, phi lý, ngang trái

-Cái bóng là chi tiết nghệ thuật đặc sắc nhất tác phẩm:

+ Vừa thể hiện vẻ đẹp tâm hồn vừa thể hiện số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến

+ Góp phần thể hiện 2 nhân vật phụ: tính cách ngây thơ của con trẻ và sự hồ đồđộc đoán đa nghi của TS

+Mang ý nghĩa tố cáo xã hội

-Sự trở về thêm hoàn chỉnh vẻ đẹp của nàng: trọng ân nghĩa, sống thủy chung; gắn bó sâu nặng với gia đình, với cuộc đời trần thế; bao dung, vị tha (Dù TS nghi oan,ruồng bỏ, khiến nàng phải tự vẫn những nàng vẫn độ lượng, tha thứ cho chồng)

- Vũ Nương trở về là sự tôn vinh cái đẹp, lớn tiếng bảo vệ và bênh vực cho người phụ nữ trong xã hội xưa của tác giả

Liên hệ: tư tưởng nhân đạo, lòng yêu thương con người, nhất là người phụ nữ của Nguyễn Dữ có tiếng nói tương đồng với Nguyễn Du mà hàng trăm năm sau mớixuất hiện Khi Nguyễn Du đưa Kiều từ thân phận “Thanh lâu 2 lượt, thanh y 2 lần”

để trở thành địa vị của 1 quan tòa trong màn báo ân báo oán “Trướng hùm mở giữa trung quân

Từ công sánh với phu nhân vùng ngồi”

Trang 13

Dẫu nàng có trở về như xưa, thì vẫn là sống trong cái xã hội bất

công ngang trái ấy, vẫn sẽ không có được hạnh phúc thực sự  Tiếng nói tố cáo, lên án xã hội

Hạnh phúc không phải sự đơn phương, nàng không thể trở về khi

đã trả giá bằng cái chết, không thể có được hạnh phúc bên người chồng gia trưởng, ích kỉ, vũ phu và cái ghen đã thành bản chất (vốn hay ghen)…

Phải lựa chọn từ bỏ cuộc sống nghi gia nghi thất mà Vũ Nương

hằng khao khát giữ gìn chính là phản ánh bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa

Tác phẩm là một bi kịch, một bài học cảnh tỉnh về hạnh phúc gia đình: Đức Linh Phi – yếu tố kì ảo có thể làm nên những điều kỳ diệu, có thể cứu sống conngười nhưng cũng bất lực không thể cứu vãn một cuộc hôn nhân đổ vỡ

4.GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT:

- Xây dựng tình huống truyện độc đáo, đặc biệt là chi tiết chiếc bóng Đây là sựkhái quát hoá tấm lòng, sự ngộ nhận và sự hiểu lầm của từng nhân vật Hình ảnh nàyhoàn thiện thêm vẻ đẹp nhân cách của Vũ Nương, đồng thời cũng thể hiện rõ néthơn số phận bi lịch của Vũ Nương nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung

- -Nghệ thuật dựng truyện, dẫn dắt tình huống truyện hợp lí Chi tiết chiếc bóng

là đầu mối cây chuyện lại chỉ xuất hiện một lần duy nhất ở cuối truyện, tạo sự bấtngờ, bàng hoàng cho người đọc tăng tính bi kịch cho câu chuyện

- Có nhiều sự sáng tạo so với cốt truyện cổ tích “ Vợ chàng Trương” bằng cáchsắp xếp thêm bớt chi tiết một cách độc đáo

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật được xây dựng qua lời nói và hànhđộng Các lời trần thuật và đối thoại của nhân vật sử dụng nhiều hình ảnh ước lệnhưng vẫn khắc hoạ đậm nét và chân thật nội tâm nhân vật

Trang 14

- Sử dụng yếu tố truyền kì ( kì ảo) làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm.

Yếu tố kỳ ảo, hoang đường làm câu chuyện vừa thực vừa mơ, vừa có hậu vừa không

có hậu, làm hoàn chỉnh vẻ đẹp của Vũ Nương

- Kết hợp các phương thức biểu đạt: Tự sự + Biểu cảm ( trữ tình) làm nên một

áng văn xuôi tự sự còn sống mãi với thời gian

+“Chuyện người con gái Nam Xương” là thiên truyện thứ 16/20 trong “Truyền

kì mạn lục” và có nguồn gốc từ truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”

Trong cả 2 truyện, nhân vật Trương Sinh thường bị coi là nhân vật phản diện

và bị chê trách bởi đã làm cho người con gái đẹp người đẹp nết ấy phải ra đi? Ý kiến

đó liệu có công bằng, thỏa đáng, cái nhìn đã thấu đáo, sâu sắc hay chỉ là bề nổi tảng băng?

Nhân vật Trương Sinh là nhân vật phải hứng nhiều bi kịch

Trang 15

BI KỊCH CỦA TRƯƠNG SINH:

*Bi kịch 1: bi kịch của khát vọng tề gia không thành:

- Khát vọng “tề gia”: vị trí quan trọng trong chí hướng nam nhi xưa “Tu thân,

tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”

“Tu thân: tu dưỡng tài, trí, đức Tề gia: sắp xếp, tổ chức trong 1 gia đình

-Từ 1 cuộc sống ấm êm bên gia đình, bên mẹ già vợ hiền, Trương Sinh phải thực hiện nghĩa vụ người đàn ông khi đất nước có chiến tranh: phải đi lính

khi thực hiện bổn phận người đàn ông phải từ bỏ gia đình, bỏ lại người vợ trẻ-Trương Sinh không phải tuýp người nam nhi chí lớn, trị quốc bình thiên hạ, không theo đòi chiến tranh lập công, đi lính 1 cách bất đắc dĩ, mong được 2 chữ bình yên

 Trương Sinh là người đàn ông của tề gia, an phận trong việc tề chỉnh gia đình, xây dựng gia đình và bản thân chằng cũng chăm chút cho gia đình hòa thuận (mặc dù có tính hay ghen)

Nhưng: Khi đi lính trở về: kết thúc 1 quãng đời lính tên bay đạn lạc nơi gió

sương sa trường để trở về nhà(tưởng là nơi bình yên) nhưng lại là khởi đầu cho bi kịch mới lớn hơn tất cả

+Mẹ mất:

Trương Sinh không có cơ hội: phụng dưỡng, báo hiếu mẹ già+ Lo ma chay khi mẹ mất, không được gặp mẹ lần cuối => Không làm tròn bổn phận người con (1)

Có thể bị kết tội “bất hiếu”: 1 cái tội rất lớn, đặc biệt là trong tư tưởng đạo Nhorất đề cao chữ Hiếu: “Hiếu là gốc của đứa, là nguồn của giáo” (Khổng Tử)

Vừa về tới, chàng vội bế con ra thăm mộ mẹ => Sâu thẳm trong con người này là người cha yêu thương con, có hiếu với mẹ

+Con vừa học nói:

Không có cơ hội nhìn thấy con chào đời, chăm sóc dạy dỗ con của mìnhKhông làm tròn bổn phận làm cha (2)“Con có cha như nhà có nóc”

Trang 16

Nếu Trương Sinh ở nhà, chắc chắn bổn phận làm con, làm cha sẽ được chàng thực hiện tốt, gia đình đó luôn ấm áp, không bao giờ thất hòa.

Hãy nghe lời nói của Trương Sinh “Hãy nín đi con, đừng khóc, cha về, bà mất, lòng cha đã buồn lắm rồi” => Thể hiện rõ bi kịch của TS

Bi kịch 2: Bi kịch của người biết trân trọng cái đẹp nhưng lại vô tình làm vỡ.

-Tuy ít học hành nhưng Trương Sinh là người biết yêu, biết nâng niu và trân trọng cái đẹp (TS đã đem trăm lạng vàng để cưới Vũ Nương, 1 cô gái nhà nghèo nhưng đủ công dung ngôn hạnh, trong cuộc sống gia đình hàng ngày rất hạnh phúc)-> Vượt qua quan niệm “môn đăng hộ đối”, quan niệm về giai cấp

-> Để có hạnh phúc gia đình phải từ cố gắng 2 phía

-Tuy nhiên, Trương Sinh phải đi lính, bỏ lại con thơ chưa chào đời, người vợ trẻ Khi từ cõi chết trở về, Trương Sinh rất cần 1 chỗ dựa là gia đình nhưng về đến nhà, Trương Sinh gặp rất nhiều khổ đau: Mẹ mất, không có niềm hạnh phúc đón nhận đứa con của mình, con không nhận cha, nghi ngờ vợ không chung thủy

 Bình: Nguyễn Dữ đã khéo léo đặt lời nói đó vào 1 đứa trẻ ngây thơ, mới học nói “đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”

->Khởi động, châm ngòi cho sự ghen tuông, đa nghi tưởng đã ngủ quên lâu ngày cộng thêm nỗi bất hạnh khi mới trở vềLàm cho con người ta không đủ bình tĩnh giải quyết,, sự hồ đồ khó tránh

- Trương Sinh khao khát có 1 cuộc sống gia đình hạnh phúc, ra sức vun đắp cho gia đình ấy nhưng chính tay mình lại làm vỡ nó Luôn trân trọng nâng niu tình cảm với Vũ Nương nhưng chính mình đẩy vợ vào chỗ chết để rồi 1 mình phải sống trong những ngày dằn vặt, đau khổ, ngôi nhà đầm ấm thuở nào trở thành giá lạnh, cảnh “gà trống nuôi con”

Bi kịch chồng chất bi kịch

Bi kịch 3: Bi kịch của sự ghen tuông đến mù quáng:

-Sự ghen tuông mù quáng dẫn đến một hậu quả tai hại, nặng nề: Cái chết của

Vũ Nương (Cái chết đầy xót xa, ẩn uất, hơn nữa là là cái chết của người phụ nữ thủychung, trong trắng, đức hạnh, trọn hiếu vẹn tình)

- Tính hay ghen của Trương Sinh: ghen tuông hồ đồ dẫn đến mất lí trí

Trang 17

+Vừa nghe con nói, đã đinh ninh :

“Đinh ninh”: 1 mực tin tưởng, chắc chắn, không thể sai đượcTS trở thành 1 người độc đoán, duy ý chí, bảo thủ

Bé Đản bi bô học nói, 1 đứa trẻ không biết nói dối những lại chưa đủ để tin tưởng, chưa phân biệt được đúng sai thật giả Người bình tĩnh sẽ không bao giờ tin vậy mà cần kiểm chứng thông tin, “trăm nghe không bằng 1 thấy”

+ Liên tiếp chuỗi phản ứng không bằng lí trí:

NgheĐinh ninhla umchửi mắngđánh đậpđuổi đi  hành động hồ đồ, khép Vũ Nương vào án tử hình, không có con đường sống

-Khi Vũ Nương mất:

+ động lòng tìm vớt thây nàng (trở lại bản tính tốt của mình, 1 hành động đáng trân trọng)

+1 mình lầm lũi nuôi con: thấu hiểu được sự vất vả, lầm lũi của vợ

+Nhất là sau khi hiểu ra sự sai lầm của bản thân, gây ra tội ác khiến con mồ côi

mẹ, “Mồ côi cha ăn cơm với cá/Mồ côi mẹ quét lá đầu đường”

chồng mất vợ, ngôi nhà đầm ấm thành hoang tàn rêu phong giá lạnh “cây cối mọc thành rừng, cỏ gai rợp mắt” +Hành động lập đàn giải oan: 1 cố gắng cuối cùnglàm cho nàng để níu kéo hạnh phúc cuối cùng, để chuộc lại 1 phần lầm lỗi

+Gặp nhau trong cách trở âm dương, gặp nhau 1 lần để biệt li mãimãi

+Hạnh phúc tan vỡ, không thể níu kéo, hàn gắn Hạnh phúc gia đình là thứ đáng quý, ngọt ngào thơm hơn mọi thứ trên đời, vừa bền bỉ lại mong manh Đến khi

vỡ, từng mảnh vỡ cứa vào tim làm người ứa máu Hạnh phúc gia đình là sự thuận vợthuận chồng, đồng tâm hiệp lực, không phải từ 1 phía…Bài học về hạnh phúc gia đình nghe văng vẳng mọi nơi, mọi thời đại, cả nghìn năm còn nguyên giá trị

+Chuyện vừa mang màu sắc cổ tích, vừa mang hơi thở cuộc đời

Câu 2:

Trang 18

Có ý kiến cho rằng chiếc lá trên tường đã cứu sống Giôn-xi nhưng chiếc bóng trên tường lại giết chết Vũ Nương Ý kiến của em?

*Nội dung cơ bản:

- Lập luận chung:

+ Chiếc bóng trên vách là “người giả”, chiếc lá trên tường là “lá giả”

2 cái “giả” ấy lại đưa đến 1 sự thật đối nghịch nhau: cái chết và sự sống.Vấn đề không phải ở cái “giả” ấy mà là ở tình người, lòng người

+ Con người vững lòng tin ở sự sống trong việc chờ chồng nuôi con, trân trọng

và khát khao hạnh phúc gia đình, “thú vui nghi gia nghi thất” lại phải đi đến cái chết-> Vũ Nương

+Người tuyệt vọng ở cuộc đời, không còn 1 khái khát sống, không còn 1 tia nghị lực thì cuộc sống lại được hồi sinh 1 cách diệu kì -> Giôn-xi

 Dành cho chồng: Những đêm dài, phòng không gối chiếc, chồng đi lính xa

mịt mùng tin tức, chiến tranh liên miên “Thập nhân khứ, cửu bất hoàn”, “Phận trai già cỗi chiến trường/ Chàng Xiêu tóc bạc điểm sương mới về”, vợ chồng mới lấy

nhau hương lửa đương nồng đượm thì phải chia li, mẹ mất, sự cô đơn, khao khát 1 mái ấm gia đình

Trang 19

>Chỉ bóng mình bảo là chồng, là 1 cách “sơn cùng thủy tận” về chữ đồng trong đạo vợ chồng Thể hiện cái tình và vẻ đẹp tâm hồn của Vũ Nương.

“Mình là ta đấy ư?Ta muốn gửi cho mình

Sâu thẳm mình ư”Lại là ta đấy”(Chế Lan Viên)

“Ước gì gần gũi tấc gang

Dãi niềm cay đắng để chàng tỏ hay”(Chinh phụ ngâm)

+ Chiếc bóng là hình ảnh ẩn dụ cho “bóng đêm” của xã hội phong kiến, khơi nguồn cho thói ghen tuông vô lí, độc đoán, gia trưởng, vũ phu của Trương Sinh TS nghe lời đứa con đang học nói, đinh ninh nghĩ oan cho vợ, không tin lời hàng xóm, không cho vợ cơ hội giãi bày, một chuỗi hành động hồ đồ, VN bị dồn vào cái chết+ Là lời tố cáo xã hội phong kiến, nơi người phụ nữ chịu nhiều bất hạnh, oan khiên và nỗi oan chỉ được giải tỏa bằng 1 cái chết đau thương (VN, Thúy Kiều, Kiều Nguyệt Nga, số phận long đong, lận đận, vô định, bọt bèo của người phụ nữ trong thơ HXH…)

Sự ân hận của người chồng, hành động lập đàn cầu siêu giải oan của tôn giáo không thể làm vơi đi nỗi đau và bi kịch

Chiếc bóng đã giết chết VN

Về “chiếc lá”: Chiếc lá trên tường cứu sống Giôn-xi – thể hiện tài năng, tâm

hồn của người họa sĩ

- Cụ Bơ-men khao khác 1 kiệt tác nghệ thuật nhưng 40 năm chiếc giá vẽ trống trơn “Người nghệ sĩ tung đôi cánh rộng không quen bước thường”

-Tài năng nghệ thuật kiệt xuất của cụ Bơ-men:

+Vẽ chiếc lá trong hoàn cảnh đặc biệt, hoàn toàn trái ngược điều kiện lí tưởng cho sáng tác: Trong 1 đêm mưa tuyết tối tăm ướt lạnh, với 1 chiếc thang và 1 chiếc đèn bão, trên nền chất liệu đặc biệt…

+Chiếc lá sinh động như thật Người nghệ sĩ thổi linh hồn, sự sống vào trong chiếc lá, chiếc lá căng tràn 1 dòng nhựa sống để đương đầu với thử thách (Xiu và Giôn-xi cùng là họa sĩ nhưng không nhận ra được, chiếc lá cách khung cửa sổ có vàichục thước, Giôn-xi nhìn “chằm chằm” vào chiếc lá

Vẻ đẹp tâm hồn của cụ Bơ-men: “chữ tâm kia mới bằng 3 chữ tài”

+Khi biết Giôn-xi nghĩ rằng sẽ lìa đời khi chiếc lá cuối cùng rơi xuống, cụ men đã phản ứng quyết liệt, quát mặng Giôn-xi 1 trận xong nước mắt ròng ròng+ So sánh Xiu và cụ Bơ-men:

Trang 20

Bơ-Xiu: Từ 1 sự tình cờ, từ sở thích giống nhau

Trong mùa đông lạnh lẽo, tình cảm của Xiu luôn ấp áp: an ủi, động viên, luôn làm tất cả mọi việc, vẽ nhiều hơn…xiu làm được tất cả cho Giôn-xi trừ việc vẽ được CLCC

Cụ Bơ-me: VẼ chiếc lá – Phải trả giá bằng cái chết

Chiếc lá: Kết tinh tài năng nghệ thuật dồn nén 40 năm của cụ Bơ men Được vẽ lên từ vẻ đẹp tâm hồn người nghệ sĩ, lòng yêu thương con người, đức hy sinh cao đẹp, lòng vị tha nhân ái + từ chính tính mạng của cụ Bơ-men

Chiếc lá đã cứu sống Giôn-xi, khơi dậy niềm tin, vực dậy mạch sống mong manh: nghệ thuật vị nhân sinh

Chiếc lá bất tử, không bao giờ rơi, vượt qua mọi thời tiết, thời gian Bất tử vì nghĩa cử cao đẹp của người nghệ sĩ, bất tử vì sứ mệnh thiêng liêng của nghệ thuật, bất tử như sự sống Hình ảnh cụ Bơ-men và kiệt tác của cụ cũng bất tử trong lòng người

Nghệ thuật xuất phát từ trái tim con người và dùng để kết nối những trái timKhi có tài, có tâm, có tình, nghệ thuật thể hiện 1 sức mạnh diệu kì Chính cái tài, tâm, tình đã khơi dậy niềm tin, vực dậy mạch sống mong manh để đưa Giôn-xi

Theo em, ý kiến trên thể hiện như thế nào qua nhân vật Vũ Nương?

a) Số phận bất hạnh:

* Phải sống trong nỗi cô đơn, vất vả:

– Nỗi vất vả của Vũ Nương: Một mình gánh vác gia đình, nuôi dạy con thơ, chăm sóc mẹ già

Trang 21

– Nỗi cô đơn tinh thần (phải vượt lên):

+ Cảnh sống lẻ loi

+ Nỗi nhớ thương khắc khoải

+ Nỗi lo lắng cho chồng đang chinh chiến nơi xa

* Phải gánh chịu nỗi oan lạ lùng và phải tìm đến cái chết:

– Nguyên nhân (của nỗi oan):

+ Do lời nói ngây thơ của bé Đản

+ Do Trường Sinh vốn đa nghi, hay ghen lại đang buồn vì mẹ mất

+ Do chiến tranh gây ra 3 năm xa cách, niềm tin vào Vũ Nương ị thử thách, bị lung lay

+ Có thể do cuộc hôn nhân bất bình đẳng giữa Vũ Nương và Trường Sinh, do

xã hội phong kiến trọng nam, khinh nữ cho phép Trường Sinh được đối xử rẻ rúng, tàn tệ với vợ mình

– Hậu quả (của nỗi oan):

+ Trường Sinh nghi ngờ, gạt đi lời thanh minh của Vũ Nương, mắng nhiếc, đánh đuổi Vũ Nương đi

+ Cùng đường Vũ Nương nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tận Đây là phản ứng dữ dội, quyết liệt của Vũ Nương để bảo vệ nhân phẩm nhưng cũng là cho thấy nỗi bất hạnh tột cùng của nàng

* Phải sống không hạnh phúc thực sự dưới thủy cung:

– Vũ Nương tuy được cứu sống, sống bất tử, giàu sang, đã được minh oan trên bến Hoàng Giang nhưng nàng không hạnh phúc thực sự:

+ Vẫn nhớ thương gia đình

+ Vẫn mong trở về dương thế mà không thể

=> Nhận xét: Số phận Vũ Nương tiêu biểu cho phận bạc của biết bao người phụ nữ trong xã hội phong kiến bất công, tàn bạo, nặng nề lễ giáo, hà khắc

b) Vẻ đẹp của Vũ Nương:

* Mang vẻ đẹp toàn vẹn nhất của người phụ nữ xã hội phong kiến

– Chi tiết Trường Sinh xin mẹ “đem 100 lạng vàng cưới về” càng tô đậm hơn

vẻ đẹp nhan sắc, phẩm chất của nàng

Ngày đăng: 19/12/2021, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w