Tình hình nghiên cứu Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã tham khảo một số công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài, trong đó có: Đặng Thị Phương Trang 2015 phân t
Trang 1KHOA SAU ĐẠI HỌC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được sự của hướng dẫn của Giảng viên hướng dẫn PGS TS Nguyễn Hồng Nga em đã
thực hiện Luận văn Thạc sỹ ngành Quản trị Kinh doanh “Nâng cao năng lực tài chính
của Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú” tại Cà Mau
Để hoàn thành Luận văn Thạc sỹ này, em xin chân thành cảm ơn Giảng viên PGS TS Nguyễn Hồng Nga đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy em trong suốt quá trình thực hiện, nghiên cứu để hoàn thành đề cương kịp tiến độ
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề cương này một cách hoàn chỉnh nhất nhưng do bước đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với khảo sát thực tế cũng như có những hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những sai sót mà bản thân chưa nhận thấy được Mong rằng em sẽ nhận được sự góp ý của Giảng viên để bài tiểu luận được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Cà Mau, 02/2020
Tác giả bài nghiên cứu
Nguyễn Văn Bé
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu và caau hỏi nghiên cứu 3
3.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát 3
3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 3
3.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Bố cục của đề tài 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH 6
1.1 Bản chất của tài chính và ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính 6
1.1.1 Các khái niệm 6
1.1.2 Bản chất của tài chính doanh nghiệp 7
1.1.3 Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính 8
1.2 Nhiệm vụ và mục tiêu của phân tích tình hình tài chính 8
1.2.1 Nhiệm vụ của phân tích tình hình tài chính 8
1.2.2 Mục tiêu của phân tích tình hình tài chính 8
1.3 Thông tin sử dụng trong phân tích tình hình tài chính 9
1.3.1 Thông tin nội bộ doanh nghiệp 9
1.3.2 Thông tin bên ngoài doanh nghiệp 14
1.3.3 Môi trường vĩ mô của nền kinh tế 14
1.3.4 Môi trường vi mô 14
Trang 41.4 Phương pháp phân tích tình hình tài chính 16
1.4.1 Phương pháp so sánh 16
1.4.2 Phương pháp tỷ lệ 16
1.5 Nội dung phân tích 16
1.5.1 Phân tích tình hình nguồn vốn và tổng tài sản 16
1.5.2 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 17
1.6 Phân tích một số chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp 18
1.6.6 Phân tích rủi ro 22
1.6.6.1 Đòn bẩy hoạt động 22
1.6.6.2 Đòn bẩy tài chính 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG {VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ TÌNH HÌNH} NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN THỦY SẢN MINH PHÚ 28
2.1 Đặc điểm kinh tế, tổ chức, môi trường về Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú (MPC) 28
2.2 Phân Tích tình hình Tài chính Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 34
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN THỦY SẢN MINH PHÚ 76
3.1 Định hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới 76
3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực tài chính của Công ty 77
3.2.1 Phân bổ lại cơ cấu tài chính 77
3.2.2 Giải pháp về quản lý, kiểm soát chi phí của Công ty 78
3.3 Mục tiêu của Công ty giai đoạn 2020 đến 2030 83
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 5VASEP: Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: hình ảnh minh họa 14
Hình 2.1: những sản phẩm chủ lực của MPC 29
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ về cơ cấu tổ chức của Minh Phú 30
Sơ đồ 2.2: kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam giai đoạn 1997-2018 33
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ về tài sản ngắn hạn của Công ty qua các năm 37
Sơ đồ 2.4: Tiền và các khoản tương đương tiền của Công ty qua các năm 38
Sơ đồ 2.5: Hàng tồn kho của Công ty qua các năm 40
Sơ đồ 2.6: Sơ đồ về tài sản dài hạn của Công ty qua các năm 42
Sơ đồ 2.7: Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của Công ty qua các năm 45
Sơ đồ 2.8: Nợ dài hạn của Công ty qua các năm 47
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng tài sản và nguồn vốn của Công ty qua các năm 35
Bảng 2.2: Tổng tài sản và nguồn vốn của Công ty qua các năm 36
Bảng 2.3: Cơ cấu các khoản phải thu của Công ty qua các năm 39
Bảng 2.4: Tài sản dài hạn của Công ty qua các năm 42
Bảng 2.5: Tình hình nguồn vốn của Công ty qua các năm 44
Bảng 2.6: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty qua các năm 49
Bảng 2.7: Báo cáo chi phí hoạt động kinh doanh của Công ty qua các năm 51
Bảng 2.8: Chỉ tiêu về khả năng thanh toán của Công ty qua các năm 54
Bảng 2.9: Chỉ tiêu về khả năng hoạt động của Công ty qua các năm 58
Bảng 2.10: Chỉ tiêu về khả năng quản trị của Công ty qua các năm 62
Bảng 2.11: Chỉ tiêu về khả năng sinh lời của Công ty qua các năm 65
Bảng 2.12: Chỉ tiêu về điểm hòa vốn của Công ty qua các năm 67
Bảng 2.13: Độ lớn đoàn bẩy kinh doanh của Công ty qua các năm 69
Bảng 2.14: Độ lớn đoàn bẩy tài chính của Công ty qua các năm 70
Bảng 2.15: Độ lớn đoàn bẩy tài chính và các yếu tố liên quan 71
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển là vấn đề sống còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Bởi ở đó là một môi trường cạnh tranh mạnh mẽ mà sự tham gia của các thành phần kinh tế, nếu như có sức mạnh và đôi chân vững chắc thì mới thoát khỏi cơn bão thị trường Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự thất bại của doanh nghiệp, trong đó nguyên nhân cơ bản là không có được sự cân bằng giữa doanh thu và chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh Công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh cũng như hoạch định lợi nhuận có ảnh hưởng rất lớn tới mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp không bị mất cân bằng giữa doanh thu từ hoạt động kinh doanh và các khoản chi phí và nợ phải trả là bước đi đầu tiên quan trọng làm cơ sở cho các hoạt động tiếp theo của doanh nghiệp
Trong tiến trình phát triển chúng ta đã và đang có sự tập trung rất lớn vào các ngành nghề trọng tâm của đất nước, ở đó xuất khẩu thủy hải sản là một trong những ngành trọng điểm của nước nói chug và của tỉnh Cà Mau nói riêng và đặc biệt hơn nữa là của Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú – là một trong trong những nhà sản xuất và xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới Công ty cổ phần Tập doàn Thủy sản Minh Phú là Tập đoàn thủy sản số 1 Việt Nam và hàng đầu thế giới Sản phẩm của Công ty có mặt trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, với doanh thu trên 10.000 tỷ đồng mỗi năm
Chiến lược của Minh Phú trong giai đoạn sắp tới là hình thành các chuỗi giá trị tôm khép kín toàn cầu đưa Việt Nam lên bản đồ với vị trí nhà cung ứng tôm chất lượng hàng đầu Minh Phú tập trung tạo ra những sản phẩm Tôm có giá trị khác biệt tạo lợi thế cạnh tranh rõ rệt mà các đối thủ cạnh tranh không thể có được
Trên cơ sở nhận thức về mặt lý luận, quá trình nghiên cứu và công tác tại địa phương,
em đã lựa chọn đề tài “Nâng cao năng lực tài chính của Công ty cổ phần Tập đoàn
Thủy sản Minh Phú” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này
Trang 92 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã tham khảo một số công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài, trong đó có:
Đặng Thị Phương Trang (2015) phân tích tài chính Công ty Thủy sản Mekong
đã phân tích toàn bộ tình hình hoạt động của Công ty trong giai đoạn 2013-2015, các
số liệu chỉ số tài chính cũng đã được mổ sẽ, phân tích điểm mạnh-yếu của từng con số Trên sơ sở đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận hàng năm, cải thiện các chỉ số tài chính chưa đạt theo kỳ vọng
Cao Thị Ngọc Vân (2016) phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ phần XNK Thủy sản An Giang trong giai đoạn 2014-2016, đánh giá tác động của việc sản xuất lên báo cáo tài chính Trên cơ sở đó tác giả đề xuất các biện pháp để tăng năng xuất lao động cho đội ngủ cán bộ lao động trực tiếp nhằm tăng cường sản xuất
Thủy sản Bến Tre trong giai đoạn 2015-2017 Qua đó tác giả đánh giá và đề xuất các giải pháp nâng cao giá trị doanh nghiệp đang niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Tóm lại: nhìn chung các đề tài nghiên cứu trước đây đều đưa ra được các giải
pháp cuối cùng là nhằm nâng cao năng lực tài chính của bản thân doanh nghiệp mà mình nghiên cứu Phân tích và nhận định được biến động tài chính của doanh nghiệp qua từng thời kỳ
Bên cạnh kết quả nghiên cứu đạt được, hạn chế của đề tài nghiên cứu trước đây chưa chỉ ra được một số giải pháp mang tính chất cốt lõi trong báo cáo tài chính như: Thứ nhất: việc quản lý, sử dụng tài sản của Công ty còn một số hạn chế, hiệu suất sử dụng tổng tài sản chưa cao
Thứ hai: Công ty đang sử dụng một lượng lớn nợ vay, tự chủ tài chính còn ở mức thấp
Thứ ba: lợi nhuận của Công ty tăng chưa tương xứng với tốc độ tăng doanh thu tiêu thụ
Thứ tư: khả năng sinh lời của Công ty còn ở mức thấp
Trang 10Trong bài nghiên cứu này em sẽ thống kê lại khung lý thuyết về tài chính; doanh nghiệp; các cấu trúc tài chính; chỉ số tài chính; điểm mạnh, điểm yếu trong chính sách tài trợ của Công ty để cung cấp đầy đủ thông tin hơn cho nhà quản trị, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cho doanh nghiệp
3 Mục tiêu nghiên cứu và caau hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về cấu trúc tài chính, luận văn sẽ tiến hành đánh giá thực trạng việc nâng cao năng lực tài chính của Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh
phú (MPC) từ đó rút ra được điểm mạnh, điểm yếu trong chính sách tài chính nhằm
đưa ra những giải pháp cụ thể Từ phân tích này nhà quản trị sẽ biết được cân bằng tài chính hiện tại của Công ty cũng như định hướng nâng cao năng lực tài chính trong giai đoạn 2020 – 2030
Luận văn thực hiện với mục tiêu:
{Phân tích về doanh thu-lợi nhuận và thông qua các chỉ số tài chính của MPC}
Phân tích về tình hình thay đổi tỷ trọng của các khoản mục trên Bảng cân đối kế
toán của MPC, qua đó đánh giá về ưu và nhược điểm về năng lực tài chính hiện nay của MPC
Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực tài chính của Công ty
trong giai đoạn 2020 – 2030
Năng lực tài chính hiện nay của Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh phú (MPC) có ưu điểm và nhược điểm gì?
Các giải pháp nào cần đề xuất nhằm nâng cao năng lực tài chính của Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh phú (MPC) trong giai đoạn 2020 – 2030
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là năng lực tài chính của MPC trong thời gian 3 năm (2016 – 2018)
Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: đề tài nghiên cứu tập trung vào nâng cao năng lực tài chính của Công ty
Về thời gian: số liệu thứ cấp thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2018
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài: “Nâng cao năng lực tài chính của Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy
sản Minh Phú” sẽ được thực hiện bằng cách kết hợp các phương pháp sau:
{Phân tích; Tổng hợp; Đối chiếu số liệu; So sánh; Quan sát và điều tra thực tế
tại địa phương}
Phương pháp nghiên cứu định tính: tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu
định tính thông qua việc tổng quan các lý thuyết, các nghiên cứu liên quan nhằm xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu cho đề tài Ngoài ra, đề tài nghiên cứu còn
sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm phân tích các chỉ số tài chính của Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh phú (MPC) Qua đó, tác giả phân tích được những ưu điểm, nhược điểm về năng lực tài chính của Công ty nhằm đưa
ra các giải pháp nâng cao năng lực tài chính của Công ty
Trang 12THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH KINH DOANH VÀ TÀI CHÍNH Ở CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN THỦY SẢN MINH PHÚ
CHƯƠNG 3:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐÒN THỦY SẢN MINH PHÚ
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH 1.1 Bản chất của tài chính và ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh (Luật doanh nghiệp, năm 2015) Theo hình thức sở hữu tài sản thì Doanh nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước và Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân
1.1.1.2 Khái niệm tài chính
Tài chính là một phạm trù kinh tế, tồn tại khách quan và mang tính lịch sử Tài chính chỉ ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định Những điều kiện kinh tế xã hội này là những tiền đề khách quan cho sự ra đời và phát triển của tài chính Những tiền đề đó là nền kinh tế hàng hóa-tiền tệ và nhà nước (Giáo trình Tài chính học, NXB Tài chính 1997)
Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ, diễn ra ở mọi chủ thể trong
xã hội Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội (Giáo trình lý thuyết tài chính, Học viện Tài chính 2010)
Tóm lại: Tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng
nhu cầu của các chủ thể kinh tế Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và
sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế
1.1.1.3 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Trang 14Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, là một phạm trù khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định, đó là một tiền đề cần thiết Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Trong quá trình đó, đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn liền với hoạt động đầu tư vào các hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp, các luồng tiền tệ đó bao hàm các luồng tiền tệ đi vào và các luồng tiền tệ đi ra khỏi doanh nghiệp, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính của doanh nghiệp
Gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các vốn tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị tức là các quan hệ tài chính trong doanh nghiệp (Ths Vũ Quang Kết và TS Nguyễn Văn Tuấn, 2015)
1.1.2 Bản chất của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh gắn liền với việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các doanh nghiệp để phục vụ và giám sát quá trình sản xuất kinh doanh
Những quan hệ kinh tế thuộc phạm vi tài chính doanh nghiệp:
Thứ nhất: quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước
Thứ hai: quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư, cho vay, với bạn hàng và khách hàng
Thứ ba: quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp
Những quan hệ kinh tế trên được biểu hiện trong sự vận động của tiền tệ, thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, vì vậy thường được xem là các quan hệ tiền tệ Những quan hệ này một mặt phản ánh rõ doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế độc lập, chiếm địa vị chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời phản ánh rõ nét, mối liên
hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các khâu khác trong hệ thống tài chính
Trang 151.1.3 Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính
Hoạt động tài chính có mối liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh
Do đó, tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Vì vậy, cần phải thường xuyên theo dõi để kịp thời đánh giá, kiểm tra tình hình tài chính của doanh nghiệp, trong đó công tác phân tích tình hình tài chính giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa sau:
phối, sử dụng và quản lý các loại vốn và nguồn vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, đề ra những biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính là công cụ không thể thiếu phục vụ công tác quản
lý của cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính, ngân hang như: đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, chính sách về tài chính của Nhà nước, xem xét cho việc vay vốn, v.v…
1.2 Nhiệm vụ và mục tiêu của phân tích tình hình tài chính
1.2.1 Nhiệm vụ của phân tích tình hình tài chính
Nhiệm vụ của phân tích tình hình tài chính là làm rõ xu hướng, tốc độ tăng trưởng, thực trạng tài chính của doanh nghiệp, đặt trong mối quan hệ so sánh với các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành và các chỉ tiêu bình quân ngành, chỉ ra những thế mạnh và cả tình trạng bất ổn nhằm đề xuất những biện pháp quản trị tài chính đúng đắn
và kịp thời để phát huy ở mức cao nhất hiệu quả sử dụng vốn
1.2.2 Mục tiêu của phân tích tình hình tài chính
Phân tích tài chính giúp ta đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp Những người sử dụng các báo cáo tài chính theo đuổi các mục tiêu khác nhau nên việc phân tích tài chính cũng được tiến hành theo nhiều cách khác nhau Điều đó vừa tạo ra lợi ích vừa tạo ra sự phức tạp của phân tích tài chính
Một là: đối với nhà quản trị việc phân tích tài chính có nhiều mục tiêu
Trang 16Tạo thành các chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh quá khứ, tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp
Định hướng các quyết định của Ban Tổng giám đốc cũng như giám đốc tài chính: quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần, v.v …
Là cơ sở cho các dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư, phần ngân sách tiền mặt, v.v Cuối cùng, phân tích tài chính là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý Phân tích tình hình tài chính cũng phải cung cấp tin về các nguồn lực kinh tế, vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của các quá trình, các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp Đồng thời qua đó cho biết thêm nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các nguồn lực này và các tác động của những nghiệp vụ kinh tế, giúp cho chủ doanh nghiệp dự đoán chính xác quá trình phát triển doanh nghiệp trong tương lai
Hai là: Đối với nhà đầu tư, chủ nợ và một số đối tượng khác
Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác để họ có thể ra các quyết định về đầu tư, tín dụng và các quyết định tương tự Thông tin phải dễ hiểu đối với những người có một trình độ tương đối về kinh doanh và về các hoạt động kinh tế mà muốn nghiên cứu các thông tin này
Phân tích tình hình tài chính cũng nhằm cung cấp thông tin quan trọng nhất cho các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác đánh giá số lượng, thời gian
và rủi ro của những khoản thu bằng tiền từ cổ tức hoặc tiền lãi Vì các dòng tiền của các nhà đầu tư liên quan với các dòng tiền của doanh nghiệp nên quá trình phân tích phải cung cấp thông tin để giúp họ đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của các dòng tiền thu thuần dự kiến của doanh nghiệp
1.3 Thông tin sử dụng trong phân tích tình hình tài chính
1.3.1 Thông tin nội bộ doanh nghiệp
Bảng cân đối kế toán:
Trang 17Bảng cân đối là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất định Nội dung của Bảng cân đối thể hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản Các chỉ tiêu được phân loại, sắp xếp thành từng loại, từng mục, từng chỉ tiêu cụ thể Các chỉ tiêu được mã hoá để thuận tiện cho việc kiểm tra đối chiếu cũng như xử lý trên máy vi tính và được phản ánh theo số đầu năm, số cuối kỳ
Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản trị doanh nghiệp Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản, nguồn vốn và cơ cấu hình thành các nguồn đó Thông qua bảng cân đối kế toán, có thể nhận xét, nghiên cứu và đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp Trên cơ sở đó có thể phân tích tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động vốn Kết cấu bảng cân đối kế toán được chia làm 2 phần:
Phần tài sản: Chỉ tiêu phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của
doanh nghiệp tại thởi điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và theo hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tài sản được phân chia thành:
ản dài hạn ản ngắn hạn
tại thởi điểm lập báo cáo Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện tính pháp lý của tài sản đối với tài sản đang được quản lý và sử dụng ở doanh nghiệp Nó được phân chia như sau:
ợ phải trả
ồn vốn chủ sở hữu Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn được gọi là báo cáo thu nhập hay báo cáo lợi tức - là báo cáo tài chính tổng hợp về tình hình và kết quả kinh doanh, phản ánh
Trang 18thu nhập của hoạt động sản xuất - kinh doanh chính và một số hoạt động khác qua một thời kỳ kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm các mục chủ yếu như sau :
bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ trong năm báo cáo của doanh nghiệp
Các khoản giảm trừ doanh thu: Chỉ tiêu này phản ánh tổng hợp các khoản được
ghi giảm trừ vào tổng doanh thu trong năm, bao gồm: các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại và thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, v.v
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Chỉ tiêu này phản ánh số
doanh thu bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ đã trừ các khoản trừ
sản xuất ra thành phẩm, chi phí trực tiếp trong sản xuất, chi phí khác được tính vào giá vốn hoặc ghi giảm giá vốn hàng bán trong kỳ báo cáo
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Chỉ tiêu này phản ánh số chênh
lệch giữa doanh thu thuần về bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ với giá vốn hàng bán phát sinh trong kỳ báo cáo
Doanh thu hoạt động tài chính: Chỉ tiêu này phản ánh doanh thu hoạt động tài
chính thuần của Công ty trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Chi phí tài chính: Chỉ tiêu này phản ánh tổng chi phí tài chính, gồm tiền lãi vay
phải trả, chi phí bản quyền, chi phí hoạt động liên doanh, phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
đã bán, dịch vụ đã cung cấp phát sinh trong kỳ báo cáo
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chỉ tiêu này phản ánh tổng chi phí quản lý doanh
nghiệp phát sinh trong kỳ báo cáo
Thu nhập khác: Chỉ tiêu này phản ánh các khoản thu nhập khác (Sau khi đã trừ
thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp), phát sinh trong kỳ
Trang 19 Chi phí khác: Chỉ tiêu này phản ánh các khoản chi phí khác phát sinh trong kỳ
Phần sở hữu trong lãi hoặc lỗ của công ty liên kết và liên doanh được kế toán
theo phương pháp vốn chủ sở hữu (Trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất)
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh: Chỉ tiêu này phản ánh tổng số lợi
nhuận kế toán thực hiện trong năm báo cáo của doanh nghiệp trước khi trừ chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác phát sinh trong kỳ báo cáo
Thuế thu nhập doanh nghiệp: Chỉ tiêu này phản ánh chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp hiện hành phát sinh trong năm báo cáo
Lợi nhuận sau thuế: Chỉ tiêu này phản ánh tổng số lợi nhuận thuần (hoặc lỗ) sau
thuế từ các hoạt động của doanh nghiệp (sau khi trừ chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp) phát sinh trong năm báo cáo
Phần sở hữu của cổ đông thiểu số trong lãi hoặc lỗ sau thuế (Trong Báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh hợp nhất)
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành của báo cáo tài chính, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của DN Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của DN trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần:
Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh:
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của DN, cung cấp thông tin cơ bản để đánh giá khả năng tạo tiền của DN từ các hoạt động kinh doanh để trang trải nợ, duy trì hoạt động, trả cổ tức và tiến hành các hoạt động đầu tư mới mà không cần đến nguồn tài chính bên
Trang 20ngoài Thông tin về luồng tiền này khi sử dụng kết hợp với các thông tin khác sẽ giúp người sử dụng dự đoán luồng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai Các luồng tiền chủ yếu từ hoạt động kinh doanh gồm: tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ; tiền trả cho người cung cấp hàng hóa dịch vụ, tiền chi trả lãi vay, tiền chi trả cho người lao động, v.v…
Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư:
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là luồng tiền có liên quan đến việc mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền Các luồng tiền chủ yếu từ hoạt động đầu tư gồm: tiền thu từ việc thanh lý, nhượng bán tài sản cố định và các khoản tài sản dài hạn khác; tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào các đơn vị khác (trừ trường hợp tiền thu từ bán lại cổ phiếu đã mua vì mục đích thương mại); tiền thu hồi cho vay (trừ trường hợp tiền thu hồi cho vay của ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính); tiền chi mua sắm, xây dựng tài sản cố định và tài sản dài hạn khác; tiền chi đầu tư góp vốn vào các đơn vị khác (trừ trường hợp tiền chi mua cổ phiếu vì mục đích thương mại)…
Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính:
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan đến việc thay đổi về quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của DN Các luồng tiền chủ yếu từ hoạt động tài chính gồm: tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu; tiền thu từ các khoản vay ngắn hạn, dài hạn; tiền chi trả vốn góp của chủ
sở hữu, mua lại cổ phiếu của chính DN đã phát hành; tiền chi trả các khoản nợ gốc đã vay, v.v…
Thuyết minh báo cáo tài chính:
Thuyết minh BCTC được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng
và chi tiết Qua đó, nhà đầu tư hiểu rõ và chính xác hơn về tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp
Trang 211.3.2 Thông tin bên ngoài doanh nghiệp
Thông tin bên ngoài gồm những thông tin chung (liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất), thông tin về ngành kinh doanh (thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ … )
1.3.3 Môi trường vĩ mô của nền kinh tế
Môi trường các yếu tố chính trị:
Môi trường các yếu tố chính trị bao gồm: luật pháp hiện hành của quốc gia các chính sách và cơ chế của nhà nước đối với ngành nghề kinh doanh Các nhà quản trị doanh nghiệp phải lưu ý tới các yếu tố trên nhằm tiên đoán những thay đổi hay biến động về chính trị quốc gia, khu vực và chính trị thế giới để có những quyết định đúng đắn trong hoạt động kinh doanh
Hình 1.1: hình ảnh minh họa
1.3.4 Môi trường vi mô
Yếu tố Khách hàng:
Khách hàng là tổ chức hay cá nhân mua sản phẩm của doanh nghiệp đang kinh doanh Bất cứ một doanh nghiệp nào khách hàng luôn là yếu tố quan trọng nhất, vì vậy
Trang 22khách hàng quyết định tới sự sống còn của một doanh nghiệp Quyết định của khách hàng đối với doanh nghiệp thể hiện trên các mặt sau:
bán theo giá nào Thực tế, doanh nghiệp chỉ có thể bán với giá mà đại bộ phận người tiêu dùng chấp nhận, tức giá cạnh tranh trên thị trường
Phương thức bán hàng và phương thức phục vụ khách hàng là do khách hàng lựa chọn, vì trong nền kinh tế thị trường, người mua sẽ lựa chọn theo ý thích của mình và đồng thời giúp doanh nghiệp điều chỉnh phương thức phục vụ
Tính chất quyết định của khách hàng làm chuyển biến thị trường từ thụ trường
người bán sang thị trường người mua sự ủng hộ, khách hàng đương nhiên được coi như “thượng đế”
Đối thủ cạnh tranh:
Doanh nghiệp luôn trong trang thái phải ứng phó với cùng lúc rất nhiều đối thủ cạnh tranh Đặt doanh nghiệp không được xem thường bất kỳ đối thủ nào và cũng cần phải đáp ứng văn hóa cạnh tranh Lựa chọn cách ứng xử khôn ngoan nhất ngoài việc nhìn vào đối thủ trực tiếp, doanh nghiệp nên chọn các phương án vừa phải xác định, hiệp thương, vừa phải hướng tới chiếm lĩnh sự ủng hộ từ khách hàng
Các đơn vị cung ứng:
Lựa chọn nguồn cung ứng nguyên liệu, dịch vụ đối với doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng, nó bảo đảm cho hoạt động ổn định theo kế hoạch đã xây dựng Trên thực tế nhà cung cấp thường được phân thành ba loại chủ yếu: Loại cung cấp thiết bị công nghệ, nguyên vật liệu sản xuất; cung cấp nhân sự hoạt động; loại cung cấp tài chính và các dịch vụ từ ngân hàng, công ty cung cấp bảo hiểm
Mỗi doanh nghiệp cùng một thời điểm có quan hệ tới nhiều nguồn cung cấp thuộc cả ba loại trên Vấn đề đặt ra là yêu cầu của việc cung cấp phải đầy ổn định và kịp thời, đảm bảo về chất lượng Nếu sai lệch sẽ ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của bản thân doanh nghiệp Điều này lưu ý với các nhà quản trị là phải biết tìm cách
Trang 23đến được các nhà cung cấp có nguồn lực tin cậy, ổn định và giá cả hợp lý và cao hơn là
hệ thống hàng loạt các tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tiếp hoặc gián đoạn
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm chỉ tiêu đặc trưng phản ánh các nội dung cơ bản theo mục tiêu phân tích của doanh nghiệp Thông thường, gồm 4 nhóm sau:
Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Nhóm chỉ tiêu về kết cấu tài chính
Nhóm chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng vốn sản xuất – kinh doanh
Nhóm chỉ tiêu về doanh lợi
1.5 Nội dung phân tích
1.5.1 Phân tích tình hình nguồn vốn và tổng tài sản
Thứ nhất: phân tích cơ cấu nguồn vốn
Tính toán tỷ trọng từng nguồn vốn ở thời điểm đầu năm và cuối năm, so sánh tỷ trọng này giữa số cuối kỳ và số đầu năm
Trang 24Khi đánh giá, nhận xét cần chú trọng đến đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình thực tế trên thị trường và giai đoạn phát triển của nền kinh tế
Thứ hai: phân tích cơ cấu tài sản
Xác định tổng số tài sản đầu năm và cuối năm, so sánh giữa số cuối kỳ và số đầu năm cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối
Tính toán tỷ trọng từng loại tài sản so với tổng số của đầu năm và cuối năm, so sánh tỷ trọng giữa cuối kỳ với đầu năm
Khi đánh giá, nhận xét cần chú trọng đến đặc điểm kinh doanh của doanh
nghiệp, tình hình thực tế trên thị trường và giai đoạn phát triển của nền kinh tế
Thứ ba: phân tích cân đối cơ cấu tài sản và nguồn vốn
Phân tích cân đối cơ cấu tài sản và nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng với người quản lý doanh nghiệp và các chủ thể khác quan tâm đến doanh nghiệp Việc phân tích cân đối giữa tài sản và nguồn vốn cho biết sự ổn định và an toàn trong tài trợ và sử dụng vốn của doanh nghiệp Theo nguyên tắc cân đối giữa tài sản và nguồn vốn thì tài sản lưu động nên được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn, tài sản cố định nên được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn để hạn chế chi phí
sử dụng vốn phát sinh thêm hoặc rủi ro có thể gặp trong kinh doanh
1.5.2 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Quá trình đánh giá khái quát tình hình tài chính qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể thông qua việc phân tích 2 nội dung sau:
Phân tích kết quả các hoạt động: Lợi nhuận từ các loại hoạt động của doanh nghiệp cần được phân tích và đánh giá khái quát giữa doanh thu, chi phí và kết quả của từng loại hoạt động Từ đó có nhận xét về tình hình doanh thu của từng loại hoạt động trong tổng thể hoạt động của toàn doanh nghiệp
Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chính: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động do chức năng kinh doanh đem lại trong từng thời kỳ hạch toán của doanh nghiệp, là cơ sở chủ yếu để đánh giá, phân tích hiệu quả các mặt, các lĩnh vực hoạt động, phân tích nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của
Trang 25các nguyên nhân cơ bản đến kết quả chung của doanh nghiệp Bảng phân tích báo cáo kết quả kinh doanh đúng đắn và chính xác sẽ là số liệu quan trọng để tính và kiểm tra
số thuế thu nhập doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải nộp và sự kiểm tra đánh giá của các cơ quan quản lý về chất lượng hoạt động của doanh nghiệp
1.6 Phân tích một số chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp
Các số liệu trên báo cáo tài chính chưa hoàn toàn lột tả được hết thực trạng tài chính của doanh nghiệp, do vậy các nhà phân tích tài chính còn dùng các hệ số tài chính để giải thích thêm các mối quan hệ giữa các số liệu này Mỗi một doanh nghiệp khác nhau, thậm chí một một doanh nghiệp ở những thời điểm khác nhau cũng có hệ thống chỉ số tài chính không giống nhau Do đó, người ta coi các hệ số tài chính là những biểu hiện đặc trưng nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời
kỳ nhất định
1.6.1 Nhóm chỉ số về khả năng thanh toán:
Đây là những chỉ tiêu được rất nhiều người quan tâm như các nhà đầu tư, người cho vay, nhà cung cấp, v.v … Họ luôn đặt ra câu hỏi: hiện nay doanh nghiệp có
đủ khả năng trả các món nợ tới hạn hay không? Nhóm chỉ tiêu này gồm có:
Tỷ số khả năng thanh toán hiện thời:
Tỷ số thanh toán hiện thời = Tổng số tài sản ngắn hạn
Tỷ số này càng cao chứng tỏ công ty càng có nhiều khả năng sẽ hoàn trả được hết các khoản nợ
Tỷ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 cho thấy công ty đang ở trong tình trạng tài chính tiêu cực, có khả năng không trả được các khoản nợ khi đáo hạn Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là công ty sẽ phá sản bởi vì có rất nhiều cách để
Trang 26huy động thêm vốn Mặt khác, nếu tỷ số này quá cao cũng không phải là một dấu hiệu tốt bởi vì nó cho thấy doanh nghiệp đang sử dụng tài sản chưa được hiệu quả
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh:
Tỷ số thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho Tổng số nợ ngắn hạn
Tài sản lưu động trước khi mang đi thanh toán cho chủ nợ đều phải chuyển đổi thành tiền Trong đó tài sản lưu động hiện thì có hàng tồn kho chưa thể chuyển đổi ngay thành tiền , do đó nó có khả năng thanh toán kém nhất Vì vậy, hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo về khả năng trả nợ ngay, không dựa vào việc phải bán các loại vật tư hàng hóa và được xác định theo công thức trên
Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp chỉ cho biết mức độ thanh toán nhanh hơn mức độ bình thường mà chưa đủ để khẳng định doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ đáo hạn không
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh bằng tiền:
Tỷ số thanh toán lãi vay:
Trang 27Tỷ số thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế + lãi vay
Lãi vay phải trả
Vòng quay hàng tồn kho:
Vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu thuần trong kỳ
Bình quân hàng tồn kho trong kỳ
Là quan hệ tỷ lệ giữa doanh thu bán hàng thuần (hoặc giá vốn hàng bán) với trị giá bình quân hàng tồn kho trong kỳ:
Vòng quay các khoản phải thu khách hàng:
Vòng quay khoản phải thu
=
Doanh thu bán chịu trong kỳ
(thuần) Bình quân khoản phải thu trong kỳ
Là quan hệ tỷ lệ giữa doanh thu bán chịu với số dư bình quân các khoản phải thu của khách hàng trong kỳ:
Vòng quay vốn lưu động:
Vòng quay khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân = Khoản phải thu trong kỳ
Doanh thu bán chịu bình quân mỗi ngày
Là quan hệ tỷ lệ giữa số dư bình quân các khoản phải thu của khách hàng với doanh thu bán chịu bình quân một ngày trong kỳ:
Trang 28Vòng quay các khoản phải thu nói lên khả năng thu hồi vốn nhanh hay chậm trong quá trình thanh toán, nếu số ngày của vòng quay càng nhỏ thì tốc độ quay càng nhanh Tỷ số cuối năm thấp hơn năm trước là dấu diệu tốt.
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:
Tỷ số này phản ánh hiệu suất của nguyên giá TSCĐ và vốn cố định Công thức
tính như sau:
Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu trong kỳ
Nguyên giá bình quân TSCĐ
1.6.4 Nhóm tỷ số doanh lợi:
Tỷ số này còn được gọi là tỷ suất lợi nhuận và thường được xác định căn cứ trên lợi nhuận của hoạt động sản xuất – kinh doanh chính hoặc có thể căn cứ vào lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp) Nhóm chỉ tiêu này gồm có:
Tỷ suất lợi nhuận – doanh thu (ROS):
Doanh thu trong kỳ
Tỷ suất doanh lợi trên vốn sản xuất kinh doanh:
Vốn sx-kd bình quân
Tỷ suất doanh lợi trên nguồn vốn chủ sở hữu (ROE)
Vốn chủ sở hữu bình quân
1.6.5 Phân tích Dupont:
Phương pháp phân tích Dupont cho thấy mối quan hệ tương hỗ giữa các tỷ số tài chính Trước hết, doanh nghiệp cần xem xét mỗi một mối quan hệ tương tác giữa tỷ số lợi nhuận thuần trên doanh thu và tỷ số hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản có cân bằng với tỷ số lợi nhuận thuần trên toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp
Tổng tài sản bình quân
Công thức trên cho thấy tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) phụ thuộc vào hai yếu tố là: Tỷ suất doanh lợi và vòng quay tổng tài sản
Trang 29Doanh nghiệp cũng cần tính tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE):
Vốn chủ sở hữu bình quân
Để tăng ROE có thể dựa vào ROA, tăng tỷ số Tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu hoặc tăng cả hai Để tăng Tỷ số Tổng tài sản trên vốn chủ ta có thể hoặc tăng tổng tài sản, hoặc giảm vốn chủ sở hữu, hoặc vừa tăng tổng tài sản vừa giảm vốn chủ sở hữu
1.6.6 Phân tích rủi ro
1.6.6.1 Đòn bẩy hoạt động
Một là: đo lường tác động của đòn bẩy hoạt động
Dưới tác động của đòn bẩy hoạt động, một sự thay đổi trong số lượng hàng bán đưa đến kết quả lợi nhuận (lỗ) gia tăng với tốc độ lớn hơn Để đo lường mức độ tác động của đòn bẩy hoạt động, người ta sử dụng chỉ tiêu độ bẩy hoạt động (degree of operating leverage - DOL) Độ bẩy hoạt động được định nghĩa là phần trăm thay đổi của lợi nhuận hoạt động so với phần trăm thay đổi của sản lượng (hoặc doanh thu)
Độ bẩy hoạt động (DOL) ở
mức sản lượng Q = % thay đổi lợi nhuận hoạt động % thay đổi sản lượng (1)
Cần lưu ý rằng độ bẩy có thể khác nhau ở những mức sản lượng (hoặc doanh thu) khác nhau Do đó, khi nói đến độ bẩy phải chỉ rõ độ bẩy ở mức sản lượng Q, doanh thu S nào đó Chúng ta thực hiện thêm một số biến đổi công thức (1) để có thể dễ dàng tính DOL theo cách khác:
Lợi nhuận hoạt động EBIT = PQ – VQ – F = Q(P-V) – F
Bởi vì đơn giá P, định phí F, và biến phí đơn vị V là cố định nên:
ΔEBIT = ΔQ(P-V) Thay vào công thức (1) ta được:
(P-V)Q-F
Công thức (2) dùng để tính độ bẩy hoạt động theo sản lượng Q, công thức này chỉ thích hợp đối với những công ty mà sản phẩm có tính đơn chiếc Đối với công ty sản xuất sản phẩm đa dạng và không thể tính thành đơn vị, chúng ta sử dụng chỉ tiêu độ bẩy theo doanh thu Công thức tính độ bẩy theo doanh thu như sau:
DOLS = S-V = EBIT+F
Trang 30S: doanh thu, V: tổng chi phí khả biến
Giả định có hai công ty cùng doanh thu và lợi nhuận, nếu tăng cùng một lượng doanh thu như nhau, thì những công ty có tỷ lệ số dư đảm phí lớn, lợi nhuận tăng lên càng nhiều, vì vậy tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn và độ bẩy hoạt động sẽ lớn hơn Điều này cho thấy những công ty mà tỷ trọng chi phí bất biến lớn hơn khả biến thì tỷ lệ số
dư đảm phí lớn, từ đó đòn bẩy hoạt động sẽ lớn và lợi nhuận sẽ rất nhạy cảm với sự thay đổi doanh thu, sản lượng bán
Hai là: yếu tố tác động đến đòn bẩy hoạt động
Yếu tố tác động đến đòn bẩy hoạt động có ý nghĩa quan trọng và quyết định nhất chính là kết cấu chi phí Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng lớn, chi phí khả biến chiếm tỷ trọng nhỏ thì tỷ lệ số dư đảm phí lớn nên nếu tăng (giảm) doanh thu thì lợi nhuận tăng (giảm) nhiều hơn
Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng lớn là những công ty có mức đầu tư lớn, nếu gặp thuận lợi tốc độ phát triển nhanh Ngược lại nếu gặp rủi ro sản phẩm không tiêu thụ được, doanh thu giảm thì lợi nhuận giảm nhanh, sự phá sản diễn
ra nhanh chóng
Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng nhỏ, chi phí khả biến chiếm tỷ trọng lớn thì tỷ lệ số dư đảm phí nhỏ nên nếu tăng (giảm) doanh thu thì lợi nhuận tăng (giảm) ít hơn Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng nhỏ là những công ty
có mức đầu tư thấp vì vậy tốc độ phát triển chậm, nhưng nếu gặp rủi ro sản phẩm không tiêu thụ được thì sự thiệt hại cũng sẽ thấp hơn
Có thể hiểu theo cách khác, độ bẩy kinh doanh cao có thể giúp doanh nghiệp tạo
ra nhiều lợi nhuận hơn từ mỗi doanh số tăng thêm (doanh số biên tế) nếu việc bán một sản phẩm tăng thêm đó chỉ làm gia tăng chi phí khả biến đơn vị nhỏ Vì hầu hết các chi phí đã là chi phí cố định Do vậy, lợi nhuận biên tế được tăng lên và thu nhập cũng tăng nhanh hơn
Ba là: vai trò của đòn bẩy hoạt động đối với rủi ro của doanh nghiệp
Trang 31Rủi ro doanh nghiệp là rủi ro do những bất ổn phát sinh trong hoạt động của doanh nghiệp khiến cho lợi nhuận hoạt động giảm Cần chú ý rằng độ bẩy hoạt động chỉ là một bộ phận của rủi ro doanh nghiệp Yếu tố chính của rủi ro doanh nghiệp là sự thay đổi hay sự bất ổn của doanh thu và chi phí sản xuất, còn đòn bẩy hoạt động làm khuếch đại sự ảnh hưởng của các yếu tố này lên lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên bản thân đòn bẩy hoạt động không phải là nguồn gốc của rủi ro, bởi lẽ độ bẩy cao cũng chẳng có ý nghĩa gì cả nếu doanh thu và cơ cấu chi phí cố định, bởi vì cái gốc là sự thay đổi doanh thu và chi phí sản xuất Các nhà đầu tư khôn ngoan đều hiểu rằng dù một doanh nghiệp có mở rộng phạm vi thay đổi doanh số nhiều hơn mức cho trước cũng không có nghĩa là đầu tư nhiều hơn đã làm gia tăng chi phí cố định và sau
đó là gia tăng đòn bẩy hoạt động Do đó sẽ sai lầm nếu như đồng nghĩa độ bẩy hoạt động với rủi ro doanh nghiệp Tuy nhiên, độ bẩy hoạt động có tác dụng khuếch đại sự thay đổi lợi nhuận và do đó khuếch đại rủi ro của doanh nghiệp
Bốn là: ý nghĩa và tác dụng của đòn bẩy hoạt động
Sau khi nghiên cứu về đòn bẩy hoạt động, chúng ta đặt ra câu hỏi: Hiểu biết về đòn bẩy hoạt động của công ty có ích lợi thế nào đối với giám đốc tài chính? Là giám đốc tài chính, bạn cần biết trước xem ở một mức định phí nào đó, sự thay đổi doanh thu sẽ ảnh hưởng thế nào đến lợi nhuận hoạt động Độ bẩy hoạt động chính là công cụ giúp bạn trả lời câu hỏi này Khi doanh thu tăng hay giảm X % thì EBIT có chiều hướng tăng hay giảm X %×DOL Nếu doanh nghiệp có độ bẩy hoạt động cao, chỉ có biến động nhỏ trên doanh thu sẽ gây ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận
Đôi khi biết trước độ bẩy hoạt động, công ty có thể dễ dàng hơn trong việc quyết định chính sách doanh thu và chi phí của mình Nhưng nhìn chung, công ty không thích hoạt động dưới điều kiện độ bẩy hoạt động cao, bởi vì trong tình huống như vậy chỉ cần một sự sụt giảm nhỏ của doanh thu cũng dễ dẫn đến sụt giảm lớn lợi nhuận
Trang 32Trái lại, một số doanh nghiệp dự đoán kinh tế sẽ phát triển tốt, thị phần và doanh số ngày càng khả quan hơn, sẽ trang bị thêm cơ sở vật chất và máy móc hiện đại, độ bẩy hoạt động lớn sẽ đẩy mạnh mức gia tăng lợi nhuận
Sử dụng đòn bẩy hoạt động hợp lý có tác dụng khuếch đại gia tăng EBIT Tuy nhiên sự khuếch đại này không phải tuyến tính mà theo quy luật giảm dần
1.6.6.2 Đòn bẩy tài chính
Có một điều khác biệt lý thú giữa đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính là công ty có thể lựa chọn đòn bẩy tài chính trong khi không thể lựa chọn đòn bẩy hoạt động Đòn bẩy hoạt động phụ thuộc phần lớn vào đặc điểm hoạt động của công ty quyết định, chẳng hạn công ty hoạt động trong ngành hàng không và luyện thép có đòn bẩy hoạt động cao trong khi công ty hoạt động trong ngành dịch vụ như tư vấn và du lịch có đòn bẩy hoạt động thấp Đòn bẩy tài chính thì khác, công ty có quyền lựa chọn những hình thức tài trợ khác nhau như nợ vay, cổ phiếu ưu đãi hay cổ phiếu thường Thế nhưng trên thực tế ít khi có công ty nào không sử dụng đòn bẩy tài chính, vậy lý
do gì khiến công ty sử dụng đòn bẩy tài chính?
Trước hết, nợ vay có những lợi thế sau:
Chi phí trả lãi vay được tính trừ vào lợi nhuận trước khi tính thuế, hạ thấp chi phí thực của lãi vay
hân tán rủi ro cho vốn chủ sở hữu
Không phải lo sợ vấn đề hiệu ứng pha loãng quyền sở hữu nếu phát hành bổ sung
cổ phiếu gọi vốn
Công ty có thể chủ động điều chỉnh cơ cấu vốn tuỳ theo từng thời kỳ
Tuy nhiên, sức ép vận hành đảm bảo lợi suất cao hơn lãi suất, đảm bảo điểm rơi lợi nhuận tích lũy đủ thanh toán nợ gốc Nếu công ty gặp khó khăn tài chính và lợi tức kinh doanh không đủ bù đắp chi phí về lãi suất, các cổ đông của công ty sẽ phải bù vào chỗ sụt giảm đó
Cổ phiếu ưu đãi không phải trả vốn gốc nhưng không được khấu trừ thuế khi tính thu nhập chịu thuế
Trang 33Khi hoạt động kinh doanh hiệu quả, công ty thường quyết định tài trợ vốn từ những nguồn có chi phí cố định (nợ vay và cổ phiếu ưu đãi), bởi vì người nắm giữ nợ
có được lợi nhuận cố định nên các cổ đông không phải chia sẻ lợi nhuận của họ nếu công ty rất thành công, có thể tận dụng lợi thế đòn bẩy tài chính để gia tăng lợi nhuận cho cổ đông Cổ phiếu ưu đãi không được khấu trừ thuế khi tính thu nhập chịu thuế làm cho chi phí sử dụng vốn cổ phần ưu đãi cao hơn chi phí sử dụng nợ, vì thế công ty thích sử dụng đòn bẩy tài chính bằng nợ hơn cổ phiếu ưu đãi
Một là: đo lường tác động của đòn bẩy tài chính
Độ bẩy tài chính (degree of financial leverage – DFL) là một chỉ tiêu định lượng dùng để đo lường mức độ biến động của EPS khi EBIT thay đổi Độ bẩy tài chính ở một mức độ EBIT nào đó được xác định như là phần trăm thay đổi của EPS khi EBIT thay đổi 1 phần trăm
Đoàn bẩy tài chính
(DFL) ở mức EBIT =
Phần trăm thay đổi
EPS Phần trăm thay đổi
Độ bẩy tài chính là công cụ để biết trước xem ở một mức định phí tài trợ nào đó,
sự thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay sẽ ảnh hưởng thế nào đến lợi nhuận trên mỗi
cổ phần Khi EBIT tăng hay giảm X % thì EPS có chiều hướng tăng hay giảm X
%×DFL Nếu doanh nghiệp có độ bẩy tài chính cao, chỉ có biến động nhỏ của EBIT sẽ gây ảnh hưởng lớn đến EPS
EPS được xác định theo công thức sau:
NS
Trong đó:
I: lãi suất phải trả
PD: cổ tức cổ phiếu ưu đãi
Trang 34t: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
NS: số lượng cổ phần thông thường
Sự phối hợp các phương án tài trợ sẽ làm thay đổi lãi vay, cổ tức và số lượng cổ phần dẫn đến thay đổi EPS kỳ vọng Công thức tính EPS được xác định trong mối quan
hệ EBIT và các yếu tố trên là cơ sở phối hợp các phương án tài trợ để đem lại lợi nhuận trên vốn cổ phần cao nhất
Hai là: tác động nợ vay lên tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần
Tác động nợ vay lên tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần thể hiện qua việc so sánh giữa tỷ suất doanh lợi chung và lãi suất vay nợ Sự chênh lệch giữa tỷ lệ lợi nhuận đạt được và chi phí sử dụng vốn vay giúp doanh nghiệp biết được khả năng chi trả lãi vay để có thể đưa ra quyết định tài trợ từ nợ vay hợp lý, quyết định này tác động lên tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần như thế nào? Đây là vấn đề rất được cổ đông quan tâm Đòn cân nợ có tiềm năng làm tăng tỷ suất doanh lợi trên vốn cổ phần nhưng đồng thời cũng đem lại cho vốn cổ phần một nguy cơ rất lớn: nếu tỷ suất doanh lợi chung cao hơn lãi suất vay nợ, thì tỷ suất doanh lợi trên vốn cổ phần sẽ trở nên cao hơn Trái lại, nếu tỷ suất doanh lợi chung thấp hơn lãi suất vay nợ, tỷ suất doanh lợi trên vốn cổ phần
sẽ trở nên thấp hơn cả chi phí trả lãi vay
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG {VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ TÌNH HÌNH} NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN THỦY SẢN MINH PHÚ
2.1 Đặc điểm kinh tế, tổ chức, môi trường về Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy
MPC là đơn vị sản xuất kinh doanh, hạch toán kinh tế đầy đủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được cấp vốn, vay vốn và mở tài khoản ở Ngân hàng (kể cả tài khoản ngoại tệ) theo quy định của Nhà nước Năm 2013, cổ phiếu MPC được chính thức niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh Cuối tháng 03/2015, MPC tự nguyện hủy niêm yết với lý do có thể giúp Công ty phát hành thêm dễ dàng hơn cho các đối tác Tuy nhiên MPC đã niêm yết trở lại sàn upcom (sàn giao dịch tự do) vào tháng 09/2017 dù mục đích phát hành thêm vẫn chưa thực hiện (Phòng Tổ chức nhân sự, 2019)
2.1.1.2 Nhiệm vụ:
Được tổ chức sản xuất, chế biến các mặt hàng thủy-hải sản, theo chỉ tiêu kế hoạch Công ty được xuất khẩu các mặt hàng do Công ty sản xuất chế biến và nhập khẩu do nhu cầu phát triển sản xuất theo giấy phép kinh doanh
Liên doanh-liên kết kinh tế với các đơn vị kinh tế trong và ngoài tỉnh và các Công
ty nước ngoài, kể cả Việt kiều để nhận vốn đầu tư và tổ chức dịch vụ xuất nhập khẩu
Trang 36Tham gia vào chương trình xuất nhập khẩu của thành phố, được Ủy ban nhân dân thành phố cho phép và phân bổ các hạn ngạch xuất nhập khẩu của thành phố
2.1.2 Sản phẩm chủ lực của công ty:
- Tôm là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của MPC: tôm sú và tôm thẻ chân trắng
- Sản xuất con giống, nuôi tôm thượng phẩm, chế biến và xuất khẩu tôm
- Các sản phẩm tôm có giá trị gia tăng cao:
Hình 2.1: những sản phẩm chủ lực của MPC
2.1.3 Đặc điểm về tổ chức của công ty:
Trang 372.1.3.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú:
Công ty có cơ cấu tổ chức theo mô hình Công ty đại chúng gồm có: Đại hội đồng cổ đông; Hội đồng quản trị; Ban Tổng giám đốc; Ban kiểm soát; các bộ phận chuyên môn và các Công ty con trực thuộc
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ về cơ cấu tổ chức của Minh Phú
2.1.3.2 Hoạt động kinh doanh:
Trang 38Sản phẩm chủ yếu của MPC là các mặt hàng tôm đông lạnh xuất khẩu Các sản phẩm được chia làm hai nhóm:
+ Nhóm thức nhất là các mặt hàng truyền thống: tôm đông nguyên con; tôm HLSO block; tôm đông IQF; tôm PD tươi, hấp; tôm PTO tươi, hấp
+ Nhóm thứ hai là các mặt hàng giá trị gia tăng như: tôm nobashi, tôm sushi, tôm xẻ bướm, tôm tẩm bột
Năm 2018 Minh Phú trở thành doanh nghiệp xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới với 2,3% thị phần, với kim ngạch đạt hơn 750 triệu USD, sản lượng xuất khẩu đạt gần 67.500 tấn tôm, tăng lần lượt 7,7% về giá trị và 19,6% về lượng ở Việt Nam kim ngạch xuất khẩu của Minh Phú bằng 3 doanh nghiệp đứng sau cộng lại và chiếm 21% tổng giá trị xuất khẩu tôm
Minh Phú định hướng xây dựng mô hình kinh doanh tôm theo chuỗi giá trị khép kín,
từ sản xuất con giống, xây dựng vùng nuôi công nghệ cao, đến chế biến các mặt hàng tôm đông lạnh và tôm công nghệ cao phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu Đặc biệt MPC đang kỳ vọng công nghệ nuôi mới tại Việt Nam và sẽ cung cấp được nguồn tôm dồi dào, với giá thành thấp trong tương lai
Doanh thu của MPC đến chủ yếu từ hoạt động xuất khẩu các mặt hàng tôm đông lạnh và tôm giá trị gia tăng Trong đó mặt hàng tôm giá trị gia tăng hiện nay chiếm 42% trong cơ cấu doanh thu, mang lại biên lợi nhuận gộp cao hơn từ 15 - 20% so với tôm đông lạnh thông thường
2.1.3.3 Hoặt động marketing:
Do đặc thù của Công ty chủ yếu là bán sỉ, xuất khẩu cho các khách hàng lớn ở nước ngoài như: chuỗi nhà hàng, siêu thị, khách sạn và các nhà phân phối lớn Vì vậy đối tượng khách hàng của Công ty chủ yếu là các doanh nghiệp chứ không phải khách hàng tiêu dùng cá nhân Do vậy hoạt động quảng cáo và tiếp thị của Công ty cũng có tính đặc thù riêng so với những đơn vị sản xuất khác
Hiện nay, Công ty triển khai hoạt động nghiên cứu thị trường chủ yếu thông qua khách hàng của Công ty là các doanh nghiệp, siêu thị, nhà hàng ở nước ngoài Trên
Trang 39cơ sở những góp ý và yêu cầu thiết thực của khách hàng về tiêu chuẩn, sản phẩm, bao gói, v.v… của từng loại sản phẩm mà Công ty sẽ có những nghiên cứu để cải tiến quy trình, hoặc đưa rả sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Bên cạnh đó Công ty cũng xây dựng website (www.minhphu.com) để giới thiệu và quảng bá các sản phẩm của Minh Phú đến các đối tượng khách hàng
2.1.4 Đặc điểm về ngành tôm Việt Nam
Bảo Việt Securities (2018), Ngành thủy sản Việt Nam nói chung và ngành nuôi trồng tôm nói riêng ra đời từ rất lâu nhưng phải tới giai đoạn sau năm 2003 mới bắt đầu được đầu tư phát triển và cạnh tranh với các nước trên thế giới Tính đến nay, ngành tôm đã trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển với những nét chính:
+ Giai đoạn 1997 – 2003: Đây là giai đoạn sơ khai với nền tảng ban đầu rất thấp,
hoạt động nuôi trồng và đánh bắt còn nhỏ lẻ, chưa có tổ chức Tư duy quản lý giai đoạn này chỉ chú trọng đạt sản lượng và giá trị xuất khẩu mà không quan tâm đến chất lượng và hiệu quả thật sự Sản phẩm chính trong giai đoạn này là các loại tôm
sú và các loại tôm đánh bắt khác
+ Giai đoạn 2003 – 2009: Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu tôm lần đầu vượt mức 1
tỷ USD, giai đoạn này tuy tốc độ tăng trưởng hàng năm không cao, nhưng ổn định, với mức bình quân 9%/năm
+ Giai đoạn 2010 – 2014: Từ năm 2008, tôm thẻ chân trắng bắt đầu được đưa vào
nuôi ở Việt Nam Năm 2010, xuất khẩu tôm lần đầu tiên đạt hơn 2 tỷ USD Năm
2014, kim ngạch xuất khẩu tôm đạt mức kỷ lục 3,95 tỷ USD, do có sự chuyển dịch lớn về diện tích thả nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú Điều này đã tạo ra sự đột phá về kim ngạch xuất khẩu, do ưu thế về năng suất của tôm thẻ chân trắng so với tôm
sú là rất lớn Nguồn cung tôm thế giới giảm do dịch EMS, đồng thời nhu cầu tôm trên thị trường thế giới cũng bắt đầu tăng cao, kéo theo sự tăng trưởng về khối lượng
và giá trị của tôm Việt Nam Tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 20%/năm trong giai đoạn này
Trang 40+ Giai đoạn 2015 đến nay: Năm 2015, tình hình không thuận lợi cho ngành tôm
Việt Nam do ảnh hưởng từ biến đổi thời tiết, và biến động tỷ giá trong nước Đồng thời, giá tôm thế giới cũng giảm mạnh do chênh lệch cung – cầu ở các thị trường lớn Nhưng từ 2016 đến nay, XK tôm hồi phục và liên tục tăng trưởng, chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu thụ tăng, trong khi nguồn cung tôm thế giới giảm Bên cạnh đó là những nổ lực của Việt Nam trong việc kiểm soát chất kháng sinh, chú trọng chất lượng sản phẩm hơn số lượng Sự đa dạng hóa thị trường xuất khẩu với Trung Quốc, Nhật Bản, Canada, … đã giúp ngành tôm giảm phụ thuộc vào một vài thị trường chính, cũng như tác động từ việc áp thuế và hàng rào kỹ thuật từ các thị trường khó tính truyền thống như Mỹ, EU
(Nguồn: báo cáo thống kê trang báo VASEP)
Sơ đồ 2.2: kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam giai đoạn 1997-2018
2.1.5 Vị thế ngành tôm Việt Nam
Phạm Lê An Thuận (2019) đánh giá tôm là mặt hàng xuất khẩu đóng góp cao nhất vào kim ngạch xuất khẩu thủy sản, đạt 3,55 tỷ USD trong tổng số 8,8 tỷ USD năm
2018 (chiếm 40%) Việt Nam hiện là quốc gia nuôi trồng tôm lớn thứ 2 thế giới (sau
Ấn Độ), xuất khẩu đi hơn 100 quốc gia với kim ngạch xuất khẩu năm 2018 chiếm gần 15% tổng giá trị xuất khẩu tôm toàn thế giới