1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH xây DỰNG NÔNG THÔN mới tại xã ĐỊNH BÌNH, THÀNH PHỐ cà MAU, TỈNH cà MAU

101 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu cho thấy, để đạt được mục tiêu xây dựng nông thôn mới của Thành phố Cà Mau đưa ra, xã Định Bình đã nỗ lực, quyết tâm cao trong toàn hệ thống chính trị từ cán bộ, đảng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG

PHẠM CẨM TÚ MSHV: 17001117

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ ĐỊNH BÌNH,

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG

PHẠM CẨM TÚ MSHV: 17001117

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ ĐỊNH BÌNH,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn này “Phân tích thực trạng triển khai chính

sách xây dựng nông thôn mới tại xã Định Bình, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau” là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoài trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn đúng theo quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Cà Mau, ngày tháng năm 2019

Phạm Cẩm Tú

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Ban Giám hiệu trường Đại học Bình Dương, Khoa Đào tạo Sau Đại học, Giảng viên tham gia giảng dạy đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi nghiên cứu học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp

Lãnh đạo cùng đồng nghiệp trong cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Thành uỷ đã tạo điều kiện giúp đỡ, chia sẽ công việc để tôi có điều kiện được tham gia lớp học này PGS.TS Nguyễn Văn Trình đã tận tình cung cấp tài liệu, hướng dẫn, giúp đỡ

và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này

Các chuyên gia đã đóng góp ý kiến cho luận văn

Các anh/chị học viên ngành Quản lý kinh tế ME02 và gia đình đã động viên, giúp đỡ và cung cấp cho tác giả những thông tin, tài liệu có liên quan trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Trân trọng cảm ơn!

Trang 5

TÓM TẮT

Luận văn “Phân tích thực trạng triển khai chính sách xây dựng nông thôn mới

tại xã Định Bình, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau” nhằm giúp cho các xã trong thành phố Cà Mau nói riêng, của tỉnh Cà Mau nói chung đạt được những kết quả và thành tựu quan trọng trong quá trình xây dựng nông thôn mới Trước yêu cầu phát triển và hội nhập, mục tiêu đẩy nhanh CNH- HĐH đất nước, đòi hỏi có nhiều chính sách đột phá và đồng bộ nhằm giải quyết toàn bộ vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội của nông thôn Giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có ý nghĩa chiến lược đối với sự ổn định và phát triển của đất nước

Kết quả nghiên cứu cho thấy, để đạt được mục tiêu xây dựng nông thôn mới của Thành phố Cà Mau đưa ra, xã Định Bình đã nỗ lực, quyết tâm cao trong toàn hệ thống chính trị từ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân đã

cố gắng, ra sức tuyên truyền, vận động cùng nhau thực hiện đạt từng tiêu chí để được công nhận “xã nông thôn mới” đem lại sự thông thoáng, khang trang làm thay đổi diện mạo của xã và kinh tế cũng phát triển theo từng năm Do đó, để thực hiện đạt kết quả như mong muốn thì các chính sách đưa ra trong quá trình xây dựng NTM phải thực sự phù hợp, sát với tình hình thực tế hay những đặc thù của xã Qua nghiên cứu này, tác giả đưa ra một số kiến nghị cho cơ quan chức năng của thành phố và của tỉnh Cà Mau tham khảo để bổ sung thêm một số giải pháp, định hướng cho chương trình xây dựng NTM được hoàn thiện và phù hợp hơn, sát với tình hình thực tế của mỗi đơn vị

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan nghiên cứu 2

2.1 Xây dựng nông thôn mới ở các nước châu Á 2

2.2 Những nghiên cứu ngoài nước 6

2.3 Những nghiên cứu trong nước 8

2.4 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới trong nước 10

3 Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu 11

3.1 Mục tiêu 11

3.1.1 Mục tiêu tổng quát 11

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 11

3.2 Các câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu đề tài 12

4 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 12

4.1 Đối tượng nghiên cứu 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu 12

4.3 Thời gian nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu và số liệu 12

5.1 Phương pháp nghıên cứu 12

Trang 7

5.2 Số liệu 12

6 Ý nghĩa thực tiễn 13

7 Kết cấu của luận văn 13

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NÔNG THÔN MỚI 15

1.1 Các khái niệm cơ bản 15

1.1.1 Khái niệm nông thôn 15

1.1.2 Nông thôn mới 17

1.2 Xây dựng nông thôn mới và Chương trình xây dựng nông thôn mới 20

1.2.1 Xây dựng nông thôn mới 20

1.2.2 Chương trình xây dựng nông thôn mới 22

1.2.2.1 Quan niệm truyền thống về xây dựng nông thôn 22

1.2.2.2 Quan niệm xây dựng nông thôn mới hiện nay 25

1.2.2.3 Chương trình xây dựng nông thôn mới 27

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CÁC CHÍNH SÁCH VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠİ XÃ ĐỊNH BÌNH 30

2.1 Tổng quan về nông thôn mới 30

2.1.1 Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến Chương trình xây dựng nông thôn mới 30

2.1.2 Tình hình xây dựng NTM ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long 32

2.1.3 Tỉnh Cà Mau với phong trào xây dựng nông thôn mới 34

2.1.4 Phong trào xây dựng nông thôn mới của thành phố Cà Mau 44

2.2 Các chính sách về xây dựng nông thôn mới của xã Định Bình, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau 48

2.2.1 Một số nét về xã Định Bình 48

2.2.2 Quá trình thực hiện các chính sách để xây dựng NTM của xã 50

Trang 8

2.2.3 Kết quả thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới của xã 54

2.3 Những khó khăn và bài học kinh nghiệm của xã Định Bình trong quá trình xây dựng nông thôn mới 63

2.3.1 Khó khăn, hạn chế và nguyên nhân 63

2.3.2 Một số kinh nghiệm 63

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 65

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN CHỈNH CHÍNH SÁCH VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ ĐỊNH BÌNH 66

3.1 Phương hướng, quan điểm và mục tiêu thực hiện mô hình 66

3.1.1 Phương hướng 66

3.1.2 Quan điểm 70

3.1.3 Mục tiêu 71

3.1.3.1 Mục tiêu chung 71

3.1.3.2 Mục tiêu cụ thể 72

3.2 Các giải pháp để thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới 76

3.3 Kiến nghị 86

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 878

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ANTT: An ninh trật tự

BĐKH: Biến đổi khí hậu

CNH: Công nghiệp hoá

CTMTQG: Chương trình mục tiêu quốc gia

ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long

UBMTTQ: Ủy ban Mặt trận tổ quốc

UBND: Ủy ban nhân dân

XDNTM: Xây dựng nông thôn mới

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ của các đối tượng quản lý và tham gia đóng góp thực hiện

chương trình xây dựng nông thôn mới 28

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua cùng với sự đổi mới chung của đất nước, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, đời sống của nông dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn đã có nhiều biến đổi tích cực Tuy nhiên, chính sách mới của Đảng vẫn chưa thực sự phát huy hiệu quả với phát triển nông thôn, thiếu tính bền vững, chưa đáp ứng được yêu cầu CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn Nông nghiệp và nông thôn nước ta vẫn tiềm ẩn những mâu thuẫn, thách thức

và bộc lộ những hạn chế không nhỏ Để góp phần khắc phục một cách cơ bản tình trạng trên, đưa Nghị quyết của Đảng về nông thôn đi vào cuộc sống, một trong những việc cần làm trong giai đoạn này là xây dựng mô hình nông thôn mới đáp ứng yêu cầu CNH – HĐH và hội nhập nền kinh tế thế giới Vì vậy, từ năm 2001 –

2006 cả nước đã triển khai Đề án thí điểm “Xây dựng mô hình nông thôn mới cấp

xã theo hướng công nghiệp hoá, hiên đại hoá, dân chủ hoá” do Ban kinh tế Trung ương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo

Để triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã ban hành quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 về Chương trình mục tiêu quốc gia

về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 [1] với mục tiêu xây dựng và phát triển nông thôn theo mô hình mới nhằm thay đổi diện mạo của khu vực nông thôn, nâng cao đời sống mọi mặt của người nông dân Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM đã được tổ chức thực hiện trên phạm vi toàn quốc trong cả hệ thống chính trị, từ Trung ương đến các địa phương, đặc biệt là sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân và đã có tác động sâu sắc đến đời sống, kinh tế, xã hội của các vùng nông thôn nước ta Hoà cùng với sự thay đổi và phát triển của cả nước, thời gian qua tỉnh Cà Mau cũng đã chỉ đạo thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả đáng phấn khởi Tuy nhiên, cũng còn có những khó khăn, hạn chế nhất định trong việc học hỏi, làm theo các mô hình xây dựng nông thôn mới từ các địa phương khác và tính đặc thù của từng đơn vị về địa

Trang 12

giới, phân bổ dân cư, trong thực hiện 19 tiêu chí Qua đó tôi chọn đề tài “Phân

tích thực trạng triển khai chính sách xây dựng nông thôn mớı tại xã Định Bình, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau” để nghiên cứu

2 Tổng quan nghiên cứu

Phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân là chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước Liên quan đến

đề tài về xây dựng nông thôn mới đã có nhiều công trình khoa học, sách tham khảo, các luận văn, luận án, các bài báo, tạp chí đề cập đến nhiều góc độ khác nhau

2.1 Xây dựng nông thôn mới ở các nước châu Á

Xây dựng NTM luôn là những vấn đề được quan tâm ở tất cả các nước và tùy theo điều kiện của mỗi nước để có cách giải quyết Sau đây là những kinh nghiệm phát triển nông thôn mới của một số quốc gia trên thế giới [2]

* Nhật Bản: Coi trọng phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp

Sau chiến tranh thế giới II, kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề, không chỉ sản xuất công nghiệp mà nông nghiệp cũng đạt ở mức rất thấp, nguyên liệu và lương thực trong nước thiếu thốn trầm trọng Do vậy trong điều kiện đất chật người đông,

để phát triển nông nghiệp Nhật Bản coi phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp

là biện pháp hàng đầu

Để phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp, Nhật Bản chủ yếu dựa vào các viện nghiên cứu nông nghiệp của Nhà nước và chính quyền các địa phương Viện quốc gia về khoa học nông nghiệp được thành lập ở cấp quốc gia Bên cạnh đó, các viện nghiên cứu nông nghiệp cũng tăng cường liên kết nghiên cứu với các trường đại học, các xí nghiệp tư nhân và các hội khuyến nông Mục tiêu của sự liên kết này

là giúp nông dân tiếp cận công nghệ, trang thiết bị tiên tiến, giúp tăng năng suất, chất lượng, đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng ổn định

Bước ngoặt của chính sách nông nghiệp của Nhật Bản thực sự bắt đầu khi Luật Nông nghiệp cơ bản được ban hành vào năm 1961, với hai phương hướng chính sách chủ yếu: Phát triển sản xuất có chọn lọc và giảm sản xuất những nông phẩm có sức tiêu thụ kém Khi sản xuất hàng hóa lớn phát triển, Nhật Bản tập trung

Trang 13

đất đai, mở rộng quy mô sản xuất, phát triển nông hộ lớn hoặc trang trại để tạo điều kiện cơ giới hóa, tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh

HTX có vị trí rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp ở Nhật Bản Chính phủ rất coi trọng thể chế vận hành các HTX nông nghiệp và đã ban hành, thực hiện nhiều chính sách giúp đỡ phát triển, không ngừng mở rộng quy mô sản xuất nhằm giúp người nông dân thoát khỏi cảnh đói nghèo và cùng hội nhập vào nền kinh tế thế giới Vai trò của các HTX và tổ chức kinh tế HTX dịch vụ đã thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất và chuyên môn hóa sâu theo hướng thương mại hóa trong nông nghiệp nước này

Từ khi bắt đầu công nghiệp hóa, 80% nhà máy lớn đã được xây dựng ở nông thôn; 30% lao động nông nghiệp tham gia hoạt động phi nông nghiệp, năm 1960 tỷ

lệ này tăng lên 66% Nhờ chủ trương này mà công nghiệp sử dụng được một nguồn lao động rẻ, dân cư nông thôn có thu nhập cao Năm 1950 thu nhập phi nông nghiệp đóng góp gần 30% tổng thu nhập của cư dân nông thôn Nhật Bản, năm 1990 tăng lên tới 85%

* Thái Lan: Phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân

Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một

số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân

Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý,

từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học,

Trang 14

phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…

Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Thái Lan cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của Nhà nước trên cơ

sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

* Hàn Quốc: Phong trào "Cộng đồng Mới"

Vào những năm 1960, Hàn Quốc là một trong những trường hợp “lạc hậu” ở châu Á Ngày hôm nay, Hàn Quốc lại trở thành một trong những nền kinh tế phát triển cao trên thế giới Đó là nhờ chính phủ đã đưa ra rất nhiều giải pháp tập trung phát triển ngành công nghiệp để dẫn đến sự tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, đồng thời quốc gia này đặt niềm đam mê và niềm tin vào việc phát triển khu vực nông thôn và công nghiệp cùng một lúc Như vậy, sự phát triển của ngành nông nghiệp và công nghiệp đã mở đường cho nền tảng vững chắc của tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ

và bền vững trong nhiều thập kỷ bắt đầu từ những năm 1970 Ngày nay, Hàn Quốc mạnh cả về đô thị và nông thôn Dù ở đâu, hầu hết người dân cũng được hưởng một trong những tiêu chuẩn sống cao nhất ở châu Á Lý do cho sự thành công trong việc phát triển nông thôn là gì? Đó chính là các phong trào Saemaul Undong - có nghĩa

là phong trào "Cộng đồng Mới"

Trang 15

Phong trào bắt đầu vào 22/4/1970 như một chiến dịch phát triển nông thôn mới Sau đó, sức lan tỏa được ví như “cháy rừng” trên toàn Hàn Quốc Chiến dịch được thiết lập theo sự chỉ dẫn của Tổng thống Park Chung-Hee Tổng thống đã từng lập luận: "Tôi tin rằng nếu chúng ta chăm lo cho cộng đồng bằng chính bàn tay của mình với tinh thần tự chủ và độc lập, bằng mồ hôi của chính mình, sau này đời sống của chúng ta sẽ cải thiện xứng đáng" Khi phong trào được phát động, Hàn Quốc bắt đầu cất cánh về mặt kinh tế và không có sự tụt hậu từ đó

Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp, lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của Chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: Cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó và hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân

Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong

8 năm từ 1971 - 1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140

hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự

Trang 16

giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào

Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là, năm 1971, cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến năm 1975, trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm 1980 Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã

có 98% số làng tự chủ về kinh tế

Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có

2.2 Những nghiên cứu ngoài nước

Đề cập đến vấn đề này có nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu qua các giai đoạn khác nhau, điển hình là:

Cuốn sách “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển” của Frans Elltis đã nêu lên những vấn đề cơ bản của chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển thông qua việc nghiên cứu lý thuyết, khảo cứu thực tiễn ở nhiều quốc gia Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh Cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề về chính sách phát triển vùng, chính sách hổ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, chính sách thương mại nông sản, những vấn đề về phát sinh trong quá trình

đô thị hoá Đặc biệt đáng lưu ý là công trình này đã xem xét nền nông nghiệp của các nước đang phát triển trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hoá gắn liền với phát triển thương mại nông sản trên thế giới; đồng thời, nêu lên mô hình thành công, thất bại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân

Trang 17

Công trình “Một số vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước và Việt Nam” của Benedict J.tria Kerrkvliet, Jamesscott do Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Thịnh sưu tầm và giới thiệu, đã nghiên cứu về vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và những kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng truyền thống ở Việt Nam Những điểm đáng chú ý của công trình này có giá trị tham khảo cho việc giải quyết những vấn đề chính sách phát triển nông thôn nước ta hiện nay như: tương lai của các trang trại nhỏ, nông dân với khoa học, hệ tư tưởng của nông dân, các hình thức sở hữu đất đai, những mô hình tiến hoá nông thôn ở các nước nông nghiệp trồng lúa

Lê Thế Cương với bài viết “Thực tiễn hiện đại hoá nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc và kinh nghiệm rút ra cho Việt nam” đã phân tích những nội dung mấu chốt

từ thực tiễn con đường “hiện đại hoá nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc”, trên cơ sở

đó rút ra những bài học kinh nghiệm đối với xây dựng nông thôn ở nước ta Những bài học được tác giả chỉ ra trên những vấn đề cơ bản như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tạo chuyển biến một cách rõ rệt để nhận thức sâu sắc hơn vai trò, ý nghĩa của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong cả hệ thống chính trị, đặc biệt chủ thể chính là cư dân khu vực nông nghiệp, nông thôn; đẩy mạnh đổi mới và hoàn thiện

cơ chế chính sách, đổi mới cơ chế thị trường nông nghiệp, nông thôn, thực hiện một cách đồng bộ, nghiêm túc, quyết liệt những chính sách và chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn đó ban hành; đẩy mạnh phát triển chất lượng nhân lực, nguồn lực kỹ thuật các trường, viện, trung tâm nghiên cứu nông nghiệp; phát triển công tác nghiên cứu khoa học ứng dụng; xây dựng, hổ trợ, phát triển các tổ chức kinh tế nông nghiệp, nông thôn và đẩy mạnh nguồn vốn đầu tư vào nông nghiệp

Dự án MISPA 2006 với vấn đề “Lý luận và thực tiễn xây dựng nông thôn mới

xã hội chủ nghĩa” do dịch giả Cù Ngọc Hưởng đã nghiên cứu vấn đề xây dựng nông thôn mới XHCN ở Trung Quốc trên nhiều khía cạnh Từ sự hình thành khái niệm, bối cảnh, nội hàm, ý nghĩa thực hiện của sự nghiệp xây dựng nông thôn mới XHCN Công trình tổng hợp ý kiến nhiều chiều của các học giả trong nước trên những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu như hệ thống lý luận xây dựng NTM XHCN;

Trang 18

mục tiêu, tiêu chuẩn đánh giá và hệ thống chỉ tiêu đánh giá quá trình xây dựng NTM XHCN; hệ thống chỉ tiêu đánh giá quá trình xây dựng NTM XHCN và lựa chọn các chỉ tiêu cho từng khu vực; phạm vi, trọng điểm và phương án xây dựng NTM; lý thuyết, nguyên tắc, phương pháp và sự đảm bảo thực hiện các kế hoạch xây dựng NTM; thể chế quản lý, cơ chế trao vốn, các chỉ tiêu đánh giá hiệu ích kinh

tế, cơ chế giám sát và cơ chế đảm bảo của sự nghiệp xây dựng NTM, Nhìn chung kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo hữu ích khi tiếp cận đến kinh nghiệm của các quốc gia trong quá trình xây dựng NTM

2.3 Những nghiên cứu trong nước

Luận án nghiên cứu của Nguyễn Văn Hùng đánh giá đúng thực trạng, những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới và tác động của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội thời gian qua; từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, đưa ra những kiến nghị phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội và tìm hiểu được những học giả có nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu như:

Nguyễn Ngọc Hà, trong cuốn sách “Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2011)” đã tập trung làm

rõ những điều kiện lịch sử và quá trình hình thành những quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với xây dựng xã hội nông thôn Việt Nam văn minh hiện đại; nghiên cứu một cách toàn diện về kinh tế nông nghiệp và những biến đổi trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nông thôn trong thời kỳ đổi mới; quá trình triển khai thực hiện đường lối chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp và những thành tựu đạt được Trong đó, tập trung vào nội dung trọng tâm là vấn đề Đảng lãnh đạo thực hiện đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp, quản lý ruộng đất, giải phóng sức lao động, phát huy sự năng động, sáng tạo của người nông dân,

Nguyễn Văn Bích, trong cuốn sách “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại” đã nhìn nhận một cách khá toàn diện lịch sử phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta trong thế kỷ XX, nhất là 20 năm đổi mới

Trang 19

Chu Hữu Quý, trong cuốn sách “Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn, nông nghiệp Việt Nam” đã đánh giá thực trạng nông thôn nước ta hiện nay trên hai khía cạnh: vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn; sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực đối với việc chăm lo thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn Trên những đánh giá đó, tác giả nhận định một số vấn đề về phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta, kể cả phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững; chủ trương, chính sách tiếp tục phát triển KT - XH nông thôn nước ta

Đặng Kim Sơn, với cuốn “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau” đã nêu bật thực trạng các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay; những thành tựu, khó khăn, vướng mắc còn tồn tại Xuất phát từ thực tiễn, tác giả đã đề xuất những định hướng và kiến nghị chính sách nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày càng phát triển

Nguyễn Thị Tố Quyên, trong cuốn sách “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 - 2020” đã đề cập đến vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trước những bối cảnh, cơ hội và thách thức trong mô hình tăng trưởng kinh tế

Võ Chí Công “Những vấn đề cơ bản trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta” đã làm rõ những vấn đề: đổi mới quản lý xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, thực trạng quản lý kinh tế và yêu cầu của đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, và một số vấn đề xây dựng NTM XHCN trong mối quan hệ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Tác giả nhấn mạnh, xây dựng NTM XHCN là sự nghiệp trọng đại, có nhiều khó khăn và đang là vấn đề đòi hỏi cấp bách; giải quyết vấn đề này phải đồng bộ trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực Việc đổi mới quản lý, phát triển sản xuất nông nghiệp phải gắn bó với việc giải quyết đúng đắn các vấn đề xã hội và xây dựng NTM XHCN bằng những việc làm thiết thực: tổ chức làm tốt, có chất lượng việc xây dựng quy hoạch tổng thể KT - XH của từng huyện, từng xã thể hiện sự thống nhất hài hoà giữa quy hoạch phát triển sản xuất nông - công nghiệp, quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng, phải có kế hoạch

Trang 20

và tổ chức thực hiện tốt kế hoạch xây dựng NTM XHCN, phải thực hiện dân chủ hoá, công khai hoá đi đôi với đề cao kỷ luật và pháp luật trong quản lý kinh tế, Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh với bài viết: “Xây dựng mô hình nông thôn mới ở nước ta hiện nay” phân tích chủ yếu ba vấn đề: Thứ nhất, nông thôn Việt Nam trước yêu cầu mới Thứ hai, hình dung ban đầu về những tiêu chí của mô hình NTM Thứ ba, về những nhân tố chính của mô hình NTM như: kinh tế, chính trị, văn hoá, con người, môi trường

Các tác giả Huỳnh Phẩm Dũng Phát, Nguyễn Đình Văn, Nguyễn Thị Khánh

Ly được đăng trên báo Tạp chí khoa học nói về “Thực trạng và giải pháp phát triển nông thôn mới ở tỉnh Cà Mau”.[3]

2.4 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới trong nước

Xây dựng nông thôn mới là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm góp phần nâng tầm phát triển vùng nông thôn, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của đất nước

Cùng với những văn bản chỉ đạo của Trung ương và những cuộc sơ kết, tổng kết của các tỉnh trong nước về xây dựng NTM như:

+ Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày 12 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020 [4] + Quyết định số 398/QĐ-TTg ngày 11/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ về

kế hoạch triển khai Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày 12 tháng 11 năm 2015 [5] + Văn bản số 5681/BKHĐT-HĐTĐ ngày 20/7/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội đồng thẩm định nhà nước về Báo cáo nghiên cứu khả thi Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020 [6]

+ Tại Hội nghị Tổng kết Chương trình khoa học công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2012-2017 và kế hoạch triển khai giai đoạn 2018-2020 ở tỉnh Vĩnh Phúc do Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ chủ trì (Trưởng Ban chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia) phát biểu: “Phong trào nào, cuộc vận động nào cũng phải dựa trên những luận cứ khoa học và Chương trình xây dựng nông thôn

Trang 21

mới đã có được nền tảng này, được ứng dụng trong thực tiễn và hỗ trợ hiệu quả cho xây dựng nông thôn mới”.[7]

+ Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.[8]

+ Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 của Thủ Tướng Chính phủ + Quyết định 1600/QĐ-TTg, ngày 16/8/2016 về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 của Thủ Tướng Chính phủ.[9] + Quyết định số 1996/QĐ-TTg, ngày 04/11/2014 của Thủ Tướng Chính phủ, UBND các huyện, thành phố và các xã đã thành lập Văn phòng Điều phối cấp huyện, bố trí cán bộ chuyên trách cấp xã.[10]

+ Quyết định số 946/QĐ-UBND, ngày 04/7/2013 về về kiện toàn tổ chức bộ máy Văn phòng Điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của tỉnh Cà Mau.[11]

+ Quyết định số 83/QĐ-SGTVT ngày 04/4/2014 của Sở Giao thông Vận tải về việc ban hành "Thiết kế mẫu đường giao thông nông thôn theo Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020 trên địa bàn tỉnh Cà Mau [12]

3 Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

3.1.1 Mục tiêu tổng quát

Đề tài này hướng đến mục tiêu hoàn thiện và cải tiến chương trình nông thôn mới tại xã Định Bình của thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau Qua đó để các xã còn lại trong thành phố Cà Mau thực hiện xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tốt hơn

3.1.2 Mục tiêu cụ thể

Một cách cụ thể, đề tài hướng đến việc thực hiện các mục tiêu sau:

- Hoàn thiện mô hình xây dựng nông thôn mới tại xã Định Bình của thành phố

Cà Mau

Trang 22

- Cải tiến mô hình xây dựng nông thôn mới tại xã Định Bình của thành phố Cà Mau để các xã còn lại trong thành phố Cà Mau có sự học hỏi, rút kinh nghiệm để đẩy nhanh tiến độ thực hiện đạt kế hoạch đã đề ra đến năm 2020

3.2 Các câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu đề tài

- Thực trạng công tác triển khai xây dựng nông thôn mới tại xã Định Bình đã

và đang diễn ra như thế nào?

- Trong quá trình thực hiện chương trình nông thôn mới tại xã Định Bình, những hạn chế nào đang tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế này là gì?

- Các giải pháp nào nhằm hoàn thiện công tác triển khai xây dựng chương trình nông thôn mới tại xã Định Bình nói riêng và cho Việt Nam nói chung là gì?

4 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Là các văn bản chỉ đạo, kế hoạch, quy định về chương trình xây dựng nông thôn mới từ Trung ương đến cơ sở

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Xã Định Bình, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau

4.3 Thời gian nghiên cứu

Các văn bản triển khai về xây dựng nông thôn mới của Trung ương, tỉnh Cà Mau, thành phố Cà Mau và xã Định Bình từ năm 2010 đến 2018

5 Phương pháp nghiên cứu và số liệu

5.1 Phương pháp nghıên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với thống kê mô tả Các nội dung được trình bày trong nghiên cứu này dựa trên các tài liệu tổng kết về xây dựng mô hình nông thôn mới ở Việt Nam của Ban Chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới, các báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, một số nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước về xây dựng mô hình nông thôn mới

5.2 Số liệu

Nguồn dữ liệu thứ cấp sẽ được thu thập trong 03 năm gần đây từ:

Trang 23

- Kết quả các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

- Số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê

Nguồn dữ liệu thứ cấp này được sử dụng:

- Xây dựng luận cứ lý thuyết cho nghiên cứu

- Phân tích đánh giá mô hình xây dựng nông thôn mới

- Nghiên cứu bài học kinh nghiệm

- Xác định các nhân tố tác động đến mô hình xây dựng nông thôn mới

6 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn góp phần làm rõ hơn một số chính sách về xây dựng nông thôn mới của tỉnh Cà Mau, trên cơ sở thông qua thực tiễn xây dựng nông thôn mới tại xã Định Bình, thành phố Cà Mau Qua đó đề xuất các giải pháp vận dụng các tiêu chí phù hợp để các xã còn lại trong tỉnh Cà Mau đạt chuẩn nông thôn mới

7 Kết cấu của luận văn

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NÔNG THÔN MỚI

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CÁC CHÍNH SÁCH VỀ NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ ĐỊNH BÌNH

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN CHỈNH CHÍNH SÁCH VỀ NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ ĐỊNH BÌNH

KẾT LUẬN

Trang 24

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Nông thôn là nơi lưu giữ và bảo tồn những di sản văn hoá quốc gia như phong tục tập quán cổ truyền và đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hoá, các danh lam thắng cảnh, Đây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hoá dân tộc; đồng thời, là khu vực giải trí, du lịch sinh thái phong phú, hấp dẫn đối với mọi người Nông thôn là một vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác, phân biệt với đô thị

Nông thôn mới là văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của Việt Nam, những nét đặc trưng bản sắc từng vùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng, mức sống của người dân Nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng KT- XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao; theo định hướng XHCN Nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng tiên tiến

về mọi mặt so với mô hình nông thôn cũ

Trang 25

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NÔNG THÔN MỚI

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm nông thôn

Khi xây dựng lý luận về xã hội, Mác và Ăngghen đã khái quát quy luật chung về tình hình đô thị, đó là kết quả của quá trình phân công lao động xã hội trong quá khứ, nhờ đó xã hội loài người tách thành hai phân hệ: đô thị và nông thôn Theo Mác, sự phân công lao động trong nội bộ của một dân tộc trước hết là

do có sự tách rời giữa lao động công nghiệp và lao động nông nghiệp và do đó gây

ra sự tách rời giữa thành thị và nông thôn Sự hình thành đô thị cũng là quá trình làm cho xã hội nông thôn được khẳng định; vì vậy, giữa nông thôn và đô thị có những điểm khác biệt Tuy nhiên, quan niệm về nông thôn có thể khác nhau ở mỗi quốc gia Vùng nông thôn có thể được định nghĩa bởi quy mô định cư, mật độ dân

số, khoảng cách đến những vùng thành thị, phân chia hành chính và tầm quan trọng của ngành công nghiệp

Theo tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), có thể định nghĩa nông thôn theo hai phương pháp: Thứ nhất, thành thị được xác định bởi luật, theo đó, là tất cả những trung tâm của tỉnh, huyện và các vùng còn lại được định nghĩa là nông thôn Thứ hai, sử dụng mức độ tập trung dân sống thành cụm quan sát được

để xác định vùng thành thị

Việt Nam theo phương pháp thứ nhất để phân định thành thị, nông thôn Theo đó, nông thôn theo quy định về hành chính và thống kê của Việt Nam là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định

là khu vực thành thị)

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong thời kỳ phát triển kinh tế nước ta hiện nay, quá trình xây dựng nông thôn mới thì

Trang 26

vấn đề tam nông luôn chiếm vị trí quan trọng, quyết định cho những chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế nông thôn trong thời kỳ CNH, HĐH

Nông thôn được coi như là khu vực địa lý, là một xã hội, là môi trường sống của người nông dân, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội với nhiều nét đặc thù (tình làng, nghĩa xóm), nơi đó sinh kế cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu

Theo truyền thống và phổ biến hiện nay thì nông thôn là nơi định cư của những người sống chủ yếu bằng nghề nông, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, một

số ít người sống bằng nghề phi nông nghiệp nhưng di động nghề thấp, thường là nghề truyền thống và phân công lao động xã hội chưa cao, trình độ chuyên môn thấp, kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu kinh tế nông thôn Đa dạng

về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái bao gồm các tài nguyên đất, nước, khí hậu, rừng, sông suối, ao hồ, khoáng sản, hệ động thực vật

Cư dân công thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình Những người ngoài họ tộc cùng chung sống luôn có tinh thần điều kiện giúp đỡ nhau tạo nên tình làng, nghĩa xóm lâu bền Trong mối quan hệ ứng xử giữa con người với con người ở nông thôn Việt Nam, các hành vi của mỗi cá nhân thường được đặt trong các thiết chế xã hội (gia đình, dòng họ, làng xóm, ) làm cho vai trò của cộng đồng trở nên mạnh mẽ và cá nhân trở nên nhỏ bé Sức mạnh của cộng đồng làng xã thể hiện cả trong quan hệ giữa các thành viên và những thành viên ngoài cộng đồng

Nông thôn là nơi lưu giữ và bảo tồn những di sản văn hoá quốc gia như phong tục tập quán cổ truyền và đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hoá, các danh lam thắng cảnh, Đây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hoá dân tộc; đồng thời, là khu vực giải trí, du lịch sinh thái phong phú, hấp dẫn đối với mọi người

Như vậy, nông thôn là một vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và

Trang 27

môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác, phân biệt với đô thị

1.1.2 Nông thôn mới

Nông thôn mới là văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của Việt Nam, những nét đặc trưng bản sắc từng vùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng, mức sống của người dân

Các nhà nghiên cứu có nhiều tiếp cận khác nhau: Tác giả Vũ Trọng Khải trong cuốn sách “Phát triển nông thôn Việt Nam: Từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại” cho rằng, Nông thôn mới là văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống Việt Nam

Tô Văn Trưởng cho rằng, Nông thôn mới cũng phải giữ được tính truyền thống, những nét đặc trưng, bản sắc từng vùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng, mức sống của người dân Mô hình nông thôn tiên tiến phải được dựa trên nền tảng cơ bản là nông dân có tri thức Họ phải có trình độ khoa học

về thổ nhưỡng, giống cây trồng, hoá học phân bón và thuốc trừ sâu, quản lý dịch bệnh, bảo quản sau thu hoạch, kinh tế nông nghiệp,

Có tác giả lại khẳng định, nông thôn mới phải tập trung vào xây dựng kết cấu

hạ tầng làm đòn bẩy phát triển các ngành nghề khác; NTM phải đạt được bộ tiêu chí (19 tiêu chí) do Chính phủ ban hành; NTM phải cải tạo được cảnh quan, bảo vệ môi trường, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; NTM phải áp dụng khoa học kỹ thuật mới, nâng cao thu nhập cho người dân

Một số quan niệm khác cho rằng, NTM là nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao, có quy hoạch, kết cấu hạ tầng hiện đại, môi trường sinh thái trong lành, dân trí cao, giữ gìn được bản sắc văn hoá dân tộc, an ninh chính trị được giữ vững Nhìn chung các học giả khá thống nhất khi khẳng định quan điểm về NTM đó là, nông thôn có kinh tế phát trıển, đờı sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, dân trí cao, bản sắc văn hoá dân tộc được gìn giữ và tái tạo Như vậy, mô hình NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu

Trang 28

cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt, thể hiện ở 5 nội dung như: Thứ nhất: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Thứ hai: Sản xuất phát triển bền vững theo hướng hàng hoá Thứ ba: Đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Thứ tư: Bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển Thứ năm: Được quản lý tốt và dân chủ ngày càng được nâng cao

Để xây dựng nông thôn với 5 nội dung trên, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM bao gồm 19 tiêu chí, được khái quát thành 5 nhóm nội dung: nhóm tiêu chí về quy hoạch, về hạ tầng

KT - XH, về kinh tế và tổ chức sản xuất, về văn hoá, xã hội, môi trường và về hệ thống chính trị Hiện nay, các xã đều được hướng dẫn về nhóm tiêu chí để hướng dẫn tới từng người dân Khi xã đạt đủ 19 tiêu chí đó thì được công nhận xã NTM

Mô hình NTM được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển;

có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; tiến bộ hơn so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước

Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình NTM có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách Trên tinh thần đó, các chính sách KT- XH sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình NTM

Ngoài những đặc điểm chung của nông thôn truyền thống, mô hình NTM hiện nay còn có một số đặc điểm riêng, điều đó được thể hiện ở một số tiêu chí sau:

+ NTM đáp ứng yêu cầu thị trường hoá, CNH, HĐH, chuẩn bị những điều kiện vật chất, tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống, trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời Trước hết, tạo cho người dân có điều kiện

để chuyển đổi lối sống, canh tác tự cung tự cấp, thuần nông (cổ truyền) sang sản

Trang 29

xuất hàng hoá, dịch vụ, du lịch và những ngành nghề khác

+ Có khả năng khai thác hợp lý, nuôi dưỡng các nguồn lực, đạt tăng trưởng

kinh tế cao, bền vững; môi trường sinh thái được giữ gìn; tiềm năng du lịch được khai thác; làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu thủ công nghiệp được khôi phục; ứng dụng công nghệ cao về quản lý, về sinh học, ; cơ cấu nông thôn phát triển hài hoà, hội nhập địa phương, vùng, cả nước và quốc tế

+ Nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, dân trí được nâng cao, sức lao

động được giải phóng Đó chính là sức mạnh nội sinh của làng, xã trong công cuộc xây dựng NTM Người nông dân có cuộc sống ổn định, giàu có, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, tay nghề cao, lối sống văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được những giá trị văn hoá, bản sắc truyền thống, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực mọi phong trào chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, nhằm vừa tự hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân cư dân ở nông thôn, vừa góp phần xây dựng nông thôn ngày càng văn minh, giàu đẹp

+ Đơn vị cơ bản của mô hình NTM là làng, xã Làng, xã thực sự là một cộng

đồng; trong đó, quản lý của Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của người dân thông qua hương ước, lệ làng (không trái với pháp luật của Nhà nước) Quản lý của Nhà nước và tự quản của nông dân, các giá trị truyền thống của làng, xã được phát huy tối đa, tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống KT -

XH ở nông thôn, giữ vững an ninh trật tự xã hội, nhằm hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn

+ Dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất Các chủ thể nông thôn

(lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính phủ, nhà nước, tư nhân, ) có khả năng, điều kiện, trình độ để tham gia tích cực vào các quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch, thông suốt, hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng Người nông dân tự lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương

Trang 30

theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Như vậy, Nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng KT- XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với

đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao; theo định hướng XHCN

Nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng tiên tiến về mọi mặt so với mô hình nông thôn cũ

Xã nông thôn mới là xã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên các lĩnh vực là Quy hoạch, hạ tầng kinh tế xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất, văn hóa - xã hội - môi trường, hệ thống chính trị được quy định tại các văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

Huyện nông thôn mới là huyện có tỷ lệ số xã trong huyện đạt chuẩn nông thôn mới và có các tiêu chí về quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, y tế, văn hóa, giáo dục, sản xuất, môi trường, an ninh- trật tự xã hội và chỉ đạo xây dựng nông thôn mới đạt chuẩn theo quy định tại các văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

1.2 Xây dựng nông thôn mới và Chương trình xây dựng nông thôn mới 1.2.1 Xây dựng nông thôn mới

Xây dựng Nông thôn mới là quá trình xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường nông thôn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nông thôn, phát triển hài hòa, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị với nông thôn Quá trình xây dựng với vai trò chủ thể là người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác

Xây dựng nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực,

Trang 31

vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ);

có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh

Quá trình xây dựng nông thôn mới có những đặc trưng cơ bản như sau:

- Nội dung xây dựng NTM hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được qui định tại văn bản pháp quy do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành

- Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện

- Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư

- Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và

cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành)

- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của chính quyền địa phương ở cấp xã, được tiến hành đồng bộ

Trang 32

trên tất cả các mặt của xã hội trong đó việc xây dựng cơ sở hạ tầng địa phương đi trước một bước

Những đặc trưng này quyết định đến việc tổ chức, huy động nguồn lực tài chính để thực hiện xây dựng nông thôn mới ở mỗi địa phương Từ khâu lập kế hoạch cho đến quá trình thực hiện cần có sự tham gia của người dân Trong quá trình tổ chức huy động cần huy động sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân, sự phối hợp của các tổ chức chính trị xã hội và quản lý của Nhà nước Cần phải xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng vốn một cách công khai, minh bạch và có hiệu quả để thực hiện các tiêu chí của chương trình

1.2.2 Chương trình xây dựng nông thôn mới

1.2.2.1 Quan niệm truyền thống về xây dựng nông thôn

Nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong quá trình phát triển có vị trí, vai trò to lớn trong lịch sử hình thành quốc gia dân tộc và trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam XHCN Qua các giai đoạn cách mạng, nông dân luôn là lực lượng hùng hậu, góp phần làm nên những trang sử

vẻ vang của dân tộc

Xây dựng nông thôn hay phát triển nông thôn là một tổ hợp các hoạt động đa dạng, có sự tham gia của cá nhân, nhóm, tổ chức, đảm bảo sự phát triển cho cộng đồng nông thôn

Theo quan niệm truyền thống, phát triển nông thôn là một phần của mô hình HĐH, thể hiện trên 4 lĩnh vực: đầu tư vốn nâng cao năng suất; ứng dụng khoa học vào sản xuất và dịch vụ; hình thành các tổ chức chính trị, kinh tế quy mô lớn cấp nhà nước và đô thị hoá

Nhìn chung, mô hình phát triển nông thôn cũ tập trung chủ yếu vào phát triển sản xuất và mở rộng kinh tế thị trường, ở các nước XHCN thì phát triển sản xuất và dịch vụ do nhà nước kiểm soát Trong các chương trình phát triển này thì tiêu chí kinh tế được đề cao hơn cả trong các quyết định, các nhân tố xã hội, môi trường ít được chú trọng

Nhìn chung, chủ trương về xây dựng NTM hay phát triển nông thôn đã được

Trang 33

thực hiện từ khá lâu, chủ yếu gắn với nội dung phát triển nông nghiệp nói chung nhưng phạm vi mới dừng lại ở việc thí điểm ở một số địa phương

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn:

- Cơ sở của kinh tế nông thôn là nông nghiệp đã chuyển từ nền sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN Kinh tế nông thôn không những góp phần giải quyết vấn đề an ninh lương thực quốc gia mà còn trở thành một trong những nước có nhiều sản phẩm nông sản xuất khẩu đứng đầu thế giới, bước đầu hình thành những vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh quy mô lớn Bước chuyển này có ý nghĩa quan trọng tạo tiền đề cho việc xây dựng NTM

- Hệ thống kết cấu hạ tầng KT - XH ở nông thôn, tiền đề đẩy mạnh CNH, HĐH phát triển nhanh, các dịch vụ phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, đời sống nông dân được cung cấp ngày càng tốt hơn, đáp ứng yêu cầu của sản xuất, đời sống của người dân Hệ thống đường giao thông nông thôn được xây dựng, nâng cấp cả

về số lượng lẫn chất lượng Hệ thống thuỷ lợi đáp ứng ngày càng tốt hơn cho yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp Công tác giáo dục và đào tạo ở nông thôn đã được chú trọng, hệ thống trường học các cấp được mở rộng, về cơ bản xoá trường, lớp tạm Cùng với giáo dục và đào tạo, hệ thống y tế nông thôn đã được quan tâm đầu tư xây dựng, trở thành tuyến chăm sóc sức khoẻ ban đầu quan trọng cho nhân dân Hệ thống mạng lưới thông tin, văn hoá phát triển nhanh, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn

- Trong công cuộc đổi mới, chính sách xã hội và an sinh xã hội đúng đắn, hướng vào phát triển con người, vì hạnh phúc của nhân dân là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách

xã hội ở khu vực nông thôn, nhất là khu vực đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng núi cao, biên giới, hải đảo Nhiều nguồn lực để đầu tư cho chương trình giảm nghèo, chăm lo giúp các đối tượng chính sách, người nghèo, người gặp khó khăn cơ nhỡ góp phần từng bước ổn định cuộc sống đã được triển

Trang 34

khai và phát huy tác dụng tích cực

- Hệ thống Chính trị ở cơ sở thường xuyên được củng cố, hiệu quả hoạt động ngày càng được nâng lên; thực hiện tốt qui chế dân chủ cơ sở, sức mạnh tổng hợp của quần chúng ngày càng phát huy; an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững

1985 giảm xuống còn 46,9% hiện nay)

- Xu hướng phân hoá giàu nghèo gia tăng trong nội bộ khu vực nông thôn và giữa nông thôn với thành thị trở thành vấn đề bức xúc hiện nay Hơn nữa, sản xuất nông nghiệp chịu nhiều rủi ro do thiên tai nên nguy cơ các hộ cận nghèo trở thành

hộ nghèo rất cao, hoặc các hộ đã thoát nghèo nhưng nếu gặp rủi ro dễ trở về hộ nghèo

- Quá trình phát triển nông thôn còn nhiều bất cập, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, cơ bản vẫn là tự phát; kết cấu hạ tầng KT - XH tuy có những biến đổi tích cực về điện, đường, trường, trạm song vẫn lạc hậu; đời sống vật chất, văn hoá,

y tế, gıáo dục của cư dân nông thôn được cải thiện một bước nhưng còn ở mức thấp, đặc biệt ngày càng doãng cách xa so với đô thị Khu vực nông thôn có nguy cơ ngày càng tụt hậu, khó có điều kiện tiếp cận việc làm, thu nhập, giáo dục, y tế, các dịch

vụ văn hoá,

- Môi trường tự nhiên ngày càng bị ô nhiễm, nhiều nơi ở mức báo động, môi trường văn hoá - xã hội một số vùng ở nông thôn bị xuống cấp, chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp Tệ nạn xã hội, tiêu cực xã hội gia tăng Các giá trị văn hoá ở nông

Trang 35

thôn chưa được khẳng định rõ rệt, một số giá trị văn hoá tích cực ở nông thôn có xu hướng bị mai một Tình trạng khiếu kiện về đất đai, đền bù, giải phóng mặt bằng chậm được giải quyết, gây bức xúc trong nhân dân

Nhìn chung, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của nông thôn Những tồn tại hạn chế, bất cập hiện nay là những mâu thuẫn tồn tại trong quá trình phát triển KT - XH nông thôn Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu, đời sống nông dân còn thấp Vì vậy, xây dựng NTM là tất yếu, được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn

Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn, nâng cao đời sống của người nông thôn Ngày 5-8-2008, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thông qua Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó đề ra mục tiêu xây dựng NTM Do đó, xây dựng NTM được xác định là một nhiệm vụ chiến lược

1.2.2.2 Quan niệm xây dựng nông thôn mới hiện nay

- Mục tiêu xây dựng NTM: Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT- XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng XHCN Đây là một chương trình tổng thể về phát triển KT - XH, chính trị, an ninh quốc phòng

Trang 36

tiêu chí, quy chuẩn đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ, hướng dẫn Các hoạt động

cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định, tổ chức thực hiện

+ Được thực hiện trên cơ sở kế thừa, lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư

+ Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH, đảm bảo an ninh, quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các bộ chuyên ngành ban hành)

+ Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; hình thành cuộc vận động “Toàn dân xây dựng NTM” do Mặt trận

Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng NTM

- Điểm mới của chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM hiện nay

có những điểm khác biệt so với xây dựng NTM trước đây như: Thứ nhất, xây dựng NTM theo tiêu chí chung cả nước, được định trước Thứ hai, xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước, không thực hiện thí điểm, nơi làm nơi không, 9.121 xã trên cả nước cùng làm Thứ ba, cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng NTM, không phải nhà nước hay tổ chức Chính trị - xã hội, mà người dân

tự xây dựng Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chương trình mục tiêu quốc gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn

Như vậy, xây dựng NTM chính là thực hiện chương trình phát triển toàn diện, vững chắc nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhằm nâng cao đời sống người dân và sự phát triển Đó là quá trình thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hoá, xã hội,

Trang 37

môi trường; trong đó có hàm ý là tạo ra những “con người mới” có văn hoá trong môi trường NTM

Xây dựng NTM bao gồm tất cả các vấn đề gắn với đời sống của người dân

và môi trường, không gian sống ở khu vực nông thôn (giáo dục, y tế, nhà cửa, dịch

vụ công cộng, cơ sở vật chất, năng lực lãnh đạo, quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hoá cũng như các vấn đề kinh tế của địa phương nói chung, kinh

tế ngành nói riêng), là một quá trình ổn định, bền vững với những thay đổi kinh tế,

xã hội, văn hoá, môi trường hướng tới hội nhập bền vững trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường Mục tiêu trọng tâm là nâng cao được đời sống dân cư tại cộng đồng và được sống trong một xã hội nông thôn năng động, văn hoá hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hoá truyền thống, đồng thời ở đó môi trường được bảo vệ và ngày càng được tôn tạo

1.2.2.3 Chương trình xây dựng nông thôn mới

Chương trình XDNTM là một chương trình mục tiêu quốc gia được thực hiện ở các vùng nông thôn nhằm xây dựng và phát triển nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại

Mục tiêu của chương trình xây dựng nông thôn mới là: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân

- trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Chương trình xây dựng NTM bao gồm các nội dung chính sau đây:

+ Xây dựng và hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương xây dựng nông thôn mới

+ Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở các địa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao thu nhập, giảm nghèo và an sinh xã hội

Trang 38

+ Phát triển giáo dục đào tạo, y tế, xây dựng đời sống văn hóa văn minh, lành mạnh và hiện đại cho các vùng nông thôn

+ Nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn, giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn,

Chương trình xây dựng nông thôn mới đã và đang thu hút sự tham gia của

cả hệ thống chính trị Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được thực hiện theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của người dân địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, hỗ trợ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện Các đối tượng tham gia này có mối liên hệ mật thiết với nhau khi tham gia đóng góp vào quá trình thực hiện các nội dung của chương trình

Các đối tượng tham gia quản lý và đóng góp xây dựng nông thôn mới được thể hiện thông qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ của các đối tượng quản lý và tham gia đóng góp thực

hiện chương trình xây dựng nông thôn mới

Trang 39

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Các nhân tố ảnh hưởng đến Chương trình xây dựng nông thôn mới, xét về mặt

cơ cấu, hoạt động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn ở khu vực nông thôn, trong khi

đó sản xuất nông nghiệp nước ta phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ tác động tích cực đến phát triển sản xuất nông nghiệp và ngược lại Do đó, mọi sự biến đổi trong tự nhiên ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của cư dân nông thôn Các dự báo gần đây cho thấy, mức

độ tác động của BĐKH đối với Việt Nam sẽ rất lớn Ngoài ảnh hưởng đến nguồn nước, ảnh hưởng của nước biển dâng do BĐKH sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh lương thực của nước ta do phần lớn diện tích sản xuất lương thực tại hai vựa lúa chính của cả nước có khả năng sẽ bị ngập lụt Mực nước biển dâng sẽ đe doạ trực tiếp đến các quốc gia có dân số cao và kinh tế tập trung ở vùng ven biển

Do tác động của biến đổi khí hậu, môi trường sống bị huỷ hoại, các hộ gia đình ở nông thôn chịu ảnh hưởng nặng nề của những rủi ro do thiên tai như: lũ lụt, hạn hán, bão lốc, nước biển dâng, dịch bệnh, môi trường sống bị huỷ hoại, có 4-5%

số dân bị tổn thương do thiên tai Như vậy, điều kiện tự nhiên tác động một cách trực tiếp và gián tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của cư dân nông thôn, làm giảm lượng nước, tăng xâm nhập mặn, giảm diện tích canh tác, ô nhiễm môi trường sống

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CÁC CHÍNH SÁCH VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚİ TẠİ XÃ ĐỊNH BÌNH

2.1 Tổng quan về nông thôn mới

2.1.1 Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến Chương trình xây dựng nông thôn mới

Những nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên Xét về mặt cơ cấu, hoạt động

nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn ở khu vực nông thôn, trong khi đó sản xuất nông nghiệp nước ta phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ tác động tích cực đến phát triển sản xuất nông nghiệp và ngược lại Do đó, mọi sự biến đổi trong tự nhiên ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của cư dân nông thôn Trong những năm qua và dự báo cùng với sự biến đổi khí hậu, sản xuất nông nghiệp nước ta đã và đang chịu nhiều tác động trên các khía cạnh như:

+ Ảnh hưởng đến sử dụng đất cho nông nghiệp bởi mất diện tích do nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt, sạt lở, hoang mạc hoá, Biến đổi khí hậu làm thay đổi tính thích hợp của nền sản xuất nông nghiệp với cơ cấu khí hậu Sự giảm dần cường

độ lạnh trong mùa đông, tăng cường thời gian nắng nóng dẫn đến tình trạng mất dần hoặc triệt tiêu tính phù hợp giữa các loại cây, con trên các vùng sinh thái

+ Làm chậm đi quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sản xuất hàng hoá và đa dạng hoá cũng như biến dạng nền nông nghiệp cổ truyền Ở mức độ nhất định, BĐKH làm mất đi một số đặc điểm quan trọng của các vùng nông nghiệp

+ Biến đổi khí hậu gây nhiều khó khăn cho công tác thuỷ lợi, khả năng tiêu thoát nước ra biển giảm đi rõ rệt, mực nước các sông dâng lên, đỉnh lũ tăng thêm,

uy hiếp các tuyến đê sông ở các tỉnh phía Bắc, đê bao và bờ bao ở các tỉnh phía Nam; diện tích ngập úng mở rộng, thời gian ngập úng kéo dài Nhu cầu tiêu nước, cấp nước gia tăng vượt khả năng đáp ứng của nhiều hệ thống thuỷ lợi Mặt khác,

Ngày đăng: 19/12/2021, 19:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ của các đối tƣợng quản lý và tham gia đóng góp thực - PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH xây DỰNG NÔNG THÔN mới tại xã ĐỊNH BÌNH, THÀNH PHỐ cà MAU, TỈNH cà MAU
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ của các đối tƣợng quản lý và tham gia đóng góp thực (Trang 38)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w