Trên cơ sở lý luận đó, luận văn đánh giá chi tiết thực trạng quản lý nhà nước trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, làm
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân, dưới
sự hướng dẫn của TS Trần Anh Minh Các số liệu và nội dung trong luận văn là trung thực, khách quan dựa trên kết quả thu thập, nghiên cứu, phân tích, so sánh và đánh giá từ thực tiễn công tác tại địa phương Những tài liệu, thông tin tham khảo đảm bảo đã được công bố, chính thống và được bản thân trích dẫn đúng theo hướng dẫn trình bày luận văn thạc sĩ của Trường Đạo học Bình Dương
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình./
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Trí
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô Trường Đạo học Bình Dương, đặc biệt là Khoa Kinh tế đã dạy dỗ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu để làm nền tảng cho việc thực hiện luận văn này
Tôi đặc biệt cảm ơn thầy giáo TS Trần Anh Minh đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy tôi để hoàn tất luận văn cao học này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn bè lớp cao học Quản lý kinh
tế 18ME02, đồng nghiệp, quý cơ quan, tổ chức, các cá nhân, tập thể đã cung cấp số liệu thống kê, báo cáo làm nguồn dữ liệu quan trọng cho việc phân tích và đánh giá của nghiên cứu này
Cuối cùng, tôi hết lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình đã động viên để tôi có động lực hoàn thành luận văn này một cách tốt đẹp
Xin chân thành cảm ơn./
Trang 5TÓM TẮT
Luận văn này hệ thống hóa những cơ sở lý luận của quản lý nhà nước trong thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, phân tích các khái niệm có liên quan, tổng hợp các nghiên cứu, chủ trương, chính sách của nhà nước và kết quả thực hiện từ các địa phương trong và ngoài tỉnh Bình Dương để đúc kết thành những bài học kinh nghiệm quý báo trong công cuộc xây dựng nông thôn mới của nước ta hiện nay
Trên cơ sở lý luận đó, luận văn đánh giá chi tiết thực trạng quản lý nhà nước trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, làm rõ những kết quả đạt được, những ưu điểm, tồn tại, hạn chế, tìm ra các nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó để rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả về nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Bình Dương nói chung và huyện Bàu Bàng nói riêng trong thời gian tới
Trang 61 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài trang 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn trang 3
3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu trang 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu trang 6
5 Phương pháp nghiên cứu trang 7
6 Ý nghĩa của nghiên cứu trang 7
7 Kết cấu của luận văn trang 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Cơ sở khoa học về xây dựng nông thôn mới trang 9 1.1.1 Các khái niệm có liên quan trang 9 1.1.2 Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới trang 15 1.1.3 Nội dung đánh giá hiệu quả xây dựng nông thôn mới trang 17 1.2 Bài học kinh nghiệm về xây dựng nông thôn mới trang 24 1.2.1 Xây dựng nông thôn mới tại một số huyện trên địa bàn
tỉnh Bình Dương hiện nay trang 24 1.2.2 Xây dựng nông thôn mới tại một số huyện thuộc các tỉnh khác trang 27 1.2.3 Bài học kinh nghiệm về hiệu quả xây dựng nông thôn mới trang 30
Kết luận chương 1 trang 32 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Bàu Bàng trang 33
Trang 72.2 Tổng quan kết quả xây dựng nông thôn mới tại huyện Bàu Bàng trang 38 2.3 Thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Bàu Bàng trang 38 2.3.1 Thực trạng về chủ trương, định hướng xây dựng nông thôn mới trang 38 2.3.2 Thực trạng về công tác lập quy hoạch trang 40 2.3.3 Thực trạng về công tác tổ chức bộ máy quản lý xây dựng
nông thôn mới các cấp trang 41 2.3.4 Thực trạng về công tác tuyên truyền, vận động xây dựng
nông thôn mới trang 46 2.3.5 Thực trạng về công tác huy động, quản lý, phân phối
các nguồn lực xây dựng nông thôn mới trang 47 2.3.6 Thực trạng về công tác kiểm tra, giám sát, tổng kết, rút
kinh nghiệm trang 49 2.3.7 Thực trạng về công tác đào tạo, tập huấn cán bộ, công chức
phụ trách công tác xây dựng nông thôn mới trang 50 2.3.8 Thực trạng về công tác đánh giá, xét công nhận đạt chuẩn
nông thôn mới trang 51 2.3.9 Thực trạng phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân trang 52 2.4 Đánh giá chung trang 54 2.4.1 Những thành tựu đạt được trong phong trào xây dựng
nông thôn mới của huyện Bàu Bàng trang 54 2.4.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trang 56
Kết luận Chương 2 trang 62 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
3.1 Quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới trang 63 3.2 Nhận diện vấn đề và đề xuất định hướng xây dựng
nông thôn mới của huyện Bàu Bàng trong thời gian tới trang 64 3.3 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới của huyện Bàu Bàng trang 65 3.3.1 Mục tiêu tổng quát trang 65
Trang 83.3.2 Mục tiêu cụ thể trang 66 3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới
của huyện Bàu Bàng trang 66 3.4.1 Về chủ trương, định hướng xây dựng nông thôn mới trang 66 3.4.2 Về công tác lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới trang 69 3.4.3 Về công tác tổ chức bộ máy quản lý trang 70 3.4.4 Về công tác tuyên truyền, vận động trang 71 3.4.5 Về việc huy động, quản lý, phân phối các nguồn lực
cho xây dựng nông thôn mới trang 72 3.4.6 Về công tác kiểm tra, giám sát, tổng kết, rút kinh nghiệm trang 75 3.4.7 Về công tác đào tạo, tập huấn cán bộ, công chức trang 76 3.4.8 Về công tác đánh giá, xét công nhận đạt chuẩn nông thôn mới trang 77 3.4.9 Về phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân trang 77
Kết luận Chương 3 trang 79 KẾT LUẬN trang 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9TNTM: Tài nguyên môi trường
UBND: Ủy ban nhân dân
XDNTM: Xây dựng nông thôn mới
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quán triệt Nghị quyết Đại hội X, ngày 05/8/2008 Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (khóa X) ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW đã nêu một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông nghiệp, nông thôn Nghị quyết khẳng định rõ: Sau hơn 20 năm thực hiện đường đối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện và to lớn Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới Theo đó quan điểm của Đảng ta nêu bật nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Việc xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới Tuy nhiên, nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở nông thôn còn chậm, nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Việc xây dựng quy hoạch, định hướng phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi ở cơ sở còn lúng túng, thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước,… còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm Một số chính sách xã hội ở nông thôn triển khai thực hiện chậm và chưa đồng bộ Trình độ năng lực của một số cán bộ cơ sở còn yếu, chưa đủ sức giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc của dân Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
Trang 11nước, đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn
Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn, ngày 22/7/2011 UBND tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 2083/QĐ-UBND về Chương trình mục tiêu xây dựng NTM tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-
2020 Nhờ sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương từ tỉnh đến cơ sở, sau gần 10 năm triển khai, thực hiện xây dựng NTM, đến nay 100% các xã trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành đạt chuẩn xã NTM, kinh tế - xã hội của vùng nông thôn không ngừng phát triển, cơ sở hạ tầng, giao thông được xây dựng kiên cố, đời sống vật chất tinh thần của người dân được nâng cao, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương
Huyện Bàu Bàng được thành lập năm 2014 sau khi tách ra từ huyện Bến Cát theo Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29/12/2013 của Chính phủ có vị trí chiến lực
vô cùng quan trọng, là cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Bình Dương, với hệ thống cơ sở
hạ tầng phát triển, là cửa ngõ giao thương quan trọng đối với khu vực Đông Nam
Bộ nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, sự quan tâm chỉ đạo của cấp thẩm quyền và sự hưởng ứng nhiệt tình của quần chúng nhân dân, hiện nay Bàu Bàng là một trong những đơn vị đi đầu trong công cuộc xây dựng NTM, thúc đẩy nền kinh tế huyện không ngừng phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân trên địa bàn huyện Tuy nhiên, thực tế cho thấy bên cạnh những thành tự đạt được, việc xây dựng NTM trên địa bàn huyện Bàu Bàng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong tổ chức quản lý và thực hiện Mặc dù kết cấu hạ tầng của huyện được đầu tư cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nhưng trong những năm qua thu hút đầu
tư phát triển công nghiệp, nông nghiệp ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ cao vào các vùng đã quy hoạch còn chậm, chưa đồng bộ do đó tốc độ phát triển kinh tế của huyện vẫn chưa tương xứng với tiềm năng Bên cạnh đó, một số Ban Quản lý cấp xã chưa thực sự chủ động tổ chức lấy ý kiến nhân dân khi tiến hành lập quy hoạch; sau khi quy hoạch đã được huyện phê duyệt, công tác tổ chức công khai ra người dân theo quy định còn chậm Việc thực hiện các tiêu chí nông thôn mới chủ
Trang 12yếu do các cơ quan chuyên ngành thực hiện, chưa phát huy được hết các nguồn lực tiềm năng trong xã hội Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp còn hạn chế, nhất là cơ chế tự động hóa trong nông nghiệp kỹ thuật cao chưa phổ biến, chủ yếu làm thủ công nên năng suất thấp, thu nhập người dân có chiều hướng tăng nhưng vẫn còn bấp bênh, nhất là đối với các hộ kinh doanh nhỏ, vốn ít Không những vậy mà công tác tuyên truyền, vận động chưa linh hoạt, chưa đổi mới phương thức, một số xã chỉ tập trung vào hình thức tuyên truyền truyền thống như: thông qua đài truyền thanh, họp giao ban, hội nghị, chưa lồng ghép công tác tuyên truyền với các hoạt động, phong trào khác
Từ việc nghiên cứu, tổ chức, thực hiện xây dựng NTM trên địa bàn huyện Bàu Bàng, để nắm bắt được tính hiệu quả, chất lượng trong xây dựng NTM của huyện, từ đó đánh giá được thực trạng xây dựng NTM tại huyện Bàu Bàng và đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện trong thời gian tới Xuất phát từ thực tế nêu trên mà tôi đã chọn đề tài: "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương"
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Hiện nay, Việt Nam cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp, do đó việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và xây dựng NTM nói riêng luôn được quan tâm nghiên cứu Liên quan đến đề tài xây dựng NTM trong phát triển kinh tế - xã hội, đến nay đã có nhiều công trình khoa học, sách tham khảo, các luận văn, luận án, các bài báo, tạp chí khoa học đề cập đến nhiều góc độ khác nhau Cụ thể như sau:
- Sách: "Lý luận và thực tiễn xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa" của Dịch giả Cù Ngọc Hưởng - Viên Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (năm 2006): đánh giá quá trình xây dựng NTM Xã hội chủ nghĩa bao gồm: lý thuyết, nguyên tắc, phương pháp và sự đảm bảo thực hiện các kế hoạch xây dựng NTM; thể chế quản lý, cơ chế trao vốn, các chỉ tiêu đánh giá hiệu ích kinh tế, cơ chế giám sát
và cơ chế đảm bảo của sự nghiệp xây dựng NTM
- Tạp chí khoa học: "Một số vấn đề kinh tế trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta" của tác giả Nguyễn Danh Sơn (năm 2015) bàn về một số vấn đề kinh tế
Trang 13trong xây dựng NTM ở nước ta, tập trung vào 03 vấn đề lớn liên quan trực tiếp tới hoạt động kinh tế của nông dân mà tác giả bài viết cho rằng hiện đang nóng và tác động ảnh hưởng nhiều tới tiến trình xây dựng NTM ở nước ta trong thời gian tới, đó
là sử dụng đất và tích tụ ruộng đất, tiêu thụ nông phẩm và kết nối với nông dân
- Tạp chí khoa học: "Chương trình xây dựng nông thôn mới: một cái nhìn từ lịch sử chính sách" của các tác giả Bùi Quang Dũng, Nguyễn Trung Kiên, Bùi Hải Yến, Phùng Thị Hải Hậu (năm 2015) làm rõ khái niệm NTM, xây dựng NTM, các văn bản chính sách hiện có về NTM
- Cổng thông tin điện tử Chính phủ ngày 06/8/2018 với bài viết Nông thôn
mới phát triển bền vững trên nền tảng khoa học đã đưa ra giải pháp nghiên cứu
khoa học trong xây dựng thể chế, chính sách thực hiện các vấn đề cụ thể để nâng cao thu nhập, bảo tồn văn hoá bản sắc các vùng miền, xây dựng nông thôn mới gắn với đô thị hoá, công nghiệp hoá nông nghiệp, bảo đảm an ninh, an toàn cho đời sống cư dân nông thôn
- Sách: "Cẩm nang xây dựng nông thôn mới chính sách phát triển ngành nghề nông nghiệp, nông thôn" của tác giả Nguyễn Phương, Nhà xuất bản Nông Nghiệp (năm 2018): nội dung cuốn sách hệ thống hóa đầy đủ những quy định chung của nhà nước liên quan đến việc phát triển nông nghiệp, nông thôn
- Tạp chí khoa học: "Quản lý các quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong xây dựng nông thôn mới hiện nay" của tác giả Nguyễn Văn Khương - Trường Đại học Lâm nghiệp (năm 2019): đã nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp cho việc quản lý các quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong xây dựng NTM ở Việt Nam hiện nay
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học: "Lý luận và thực tiễn trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam" từ ngày 16-17/7/2019 do Bộ NN&PTNT chủ trì là diễn đàn quan trọng trong Kế hoạch tổng kết 10 năm xây dựng NTM, nhằm đi sâu đánh giá bản chất những chuyển biến ở nông thôn; nhận diện những yếu tố tác động; phân tích các vấn đề vướng mắc của NTM; đúc kết các bài học thành công, cách làm hay, sáng tạo; giúp dự báo bối cảnh tương lai, những cơ hội, thách thức và đặt ra những
Trang 14vấn đề trọng tâm chuẩn bị cho các chương trình xây dựng NTM kiểu mẫu, NTM nâng cao trong giai đoạn mới
- Cổng thông tin điện tử Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông
thôn mới ngày 24/12/2019 với bài viết Hướng đến xây dựng nông thôn mới bền
vững đã nghiên cứu các giải pháp để xây dựng NTM gắn kết hài hòa với đô thị hóa,
giữ được bản sắc và các giá trị truyền thống của vùng thôn quê đặc trưng; giảm sức
ép lớn của ô nhiễm môi trường từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, giao thông
- Cổng thông tin điện tử Bộ Nội vụ ngày 22/12/2020 với bài viết Nhận diện
vấn đề và đề xuất định hướng cho xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam đã phân tích
thực trạng xây dựng nông thôn mới của Việt Nam trong giai đoạn 2010-2020, nêu bật những thành tựu đạt được, làm rõ những hạn chế, khuyết điểm và đề xuất các giải pháp trọng tâm xây dựng NTM giai đoạn tới
Ngoài những nghiên cứu kể trên, còn rất nhiều công trình khoa học, sách tham khảo, các luận văn, luận án, các bài báo, tạp chí khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về xây dựng NTM
Những tài liệu nêu trên đã cung cấp những luận cứ, dữ liệu, cơ sở thực tiễn quan trọng giúp cho việc nghiên cứu, định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn
ở nước ta trong giai đoạn mới Tuy nhiên, riêng Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được triển khai từ năm 2011, thời gian trước năm 2011 chưa có công trình nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Tới thời điểm hiện nay qua gần 9 năm thực hiện, tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về công tác xây dựng nông thôn mới nhưng những công trình nghiên cứu đó chưa đánh giá được đầy đủ thực trạng của quá trình triển khai vì chưa kết thúc giai đoạn triển khai 2011 - 2020
Để đánh giá chính xác, đầy đủ quá trình thực hiện của giai đoạn 2011 - 2020, các địa phương phải có sự tổng kết, đánh giá và rút ra bài học kinh nghiệm để định hướng cho giai đoạn kế tiếp Tuy nhiên, trên thực tế thì thực trạng xây dựng NTM ở các địa phương, cơ sở khác nhau là khác nhau, các công trình đã nghiên cứu trước đây thường tập trung nghiên cứu những vấn đề chung, cốt lõi hoặc đặc trưng ở địa phương của chính tác giả và xét trên địa bàn tỉnh Bình Dương cho đến nay chưa có
Trang 15công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về xây dựng NTM ở huyện Bàu Bàng Do đó, hiện nay tài liệu nghiên cứu chính thức về thực trạng, các giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng NTM tại huyện Bàu Bàng là rất hạn chế Vì vậy, trong luận văn này, tác giả muốn phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng NTM tại huyện Bàu Bàng trong thời gian tới
3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận của quản lý nhà nước trong thực hiện chương trình xây dựng NTM;
- Đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM ở huyện Bàu Bàng, làm rõ những kết quả đạt được, những ưu điểm, tồn tại, hạn chế, tìm ra các nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó và rút ra những bài học kinh nghiệm;
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả về xây dựng NTM tại tỉnh Bình Dương nói chung và huyện Bàu Bàng nói riêng
3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung làm rõ các câu hỏi sau:
- Thế nào là hiệu quả của xây dựng nông thôn mới?
- Để đánh giá hiệu quả của xây dựng nông thôn mới cần dựa vào những chỉ tiêu nào?
- Thực trạng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bàu Bàng trong thời gian qua là như thế nào?
- Cần phải có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bàu Bàng?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quản lý nhà nước về Chương trình xây dựng NTM tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, đồng thời đánh giá hiệu quả và sự hài lòng của người dân trên địa bàn huyện về kết quả thực hiện Chương trình xây dựng NTM
Trang 164.2 Phạm vi
- Không gian: nghiên cứu trên địa bàn huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương
- Thời gian: đề tài tiến hành điều tra, nghiên cứu việc xây dựng NTM trên địa bàn huyện Bàu Bàng giai đoạn 2016-2020 và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong giai đoạn 2021-2025
- Nội dung nghiên cứu: thực trạng xây dựng NTM thông qua việc thực hiện các nội dung của Bộ tiêu chí xã NTM, huyện NTM, xã NTM nâng cao
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Tiếp cận nghiên cứu
Tiếp cận nghiên cứu định tính, nghiên cứu tình huống điển hình
5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
- Tài liệu giáo trình khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu;
- Các báo cáo tổng kết của tỉnh, huyện; số liệu của cấp thẩm quyền, các cơ quan thống kê liên quan về tình hình xây dựng NTM;
- Các bài viết đăng trên báo, các tạp chí khoa học chuyên ngành và tạp chí mang tính hàn lâm có liên quan;
- Các luận văn của các học viên khác
5.3 Phương pháp xử lý thông tin và biện luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp mô tả
- Phương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa của nghiên cứu
- Luận văn có tác dụng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM ở huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM được thực hiện có hiệu quả thì sẽ giúp nhiều vùng nông thôn phát triển toàn diện kinh tế - xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của nông dân không ngừng được cải thiện, hộ nghèo giảm, nhiều nét đẹp văn hóa được bảo tồn và phát huy
Trang 17- Nội dung nghiên cứu của luận văn có thể giúp cho các nhà quản lý xây dựng NTM làm cơ sở hoàn thiện quản lý nhà nước và nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực xây dựng NTM và làm tư liệu giảng dạy, nghiên cứu cho học viên, cán bộ, công chức làm chuyên trách công tác xây dựng nông thôn mới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về xây dựng nông thôn mới
Chương 2: Thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương
Trang 18- Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM (Khoản 1, Điều 2) đã đưa ra khái niệm như sau: “Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”
- Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn (Khoản
1, Điều 3): "Vùng nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn phường thuộc thị xã, quận và thành phố"
Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau: "Nông thôn là vùng khác với thành thị,
ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp,
có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn"
Từ những khái niệm trên có thể đưa ra một số đặc trưng cơ bản của vùng nông thôn như sau:
- Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng chủ yếu là nông dân, sản xuất nông nghiệp là cơ bản, ngoài ra còn có các hoạt động sản xuất và phi sản xuất khác phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và cho nông dân
- So với thành thị thì nông thôn là vùng có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, trình độ sản xuất hàng hoá và tiếp cận thị trường thấp hơn Vì vậy nông thôn chịu sức hút của thành thị về nhiều mặt Dân cư nông thôn thường hay đổ xô về thành thị để kiếm việc làm và tìm cơ hội sống tốt hơn
Trang 19- Nông thôn có thu nhập và đời sống thấp hơn, trình độ văn hoá, khoa học công nghệ thấp hơn thành thị và ngay cả trình độ dân chủ, tự do, công bằng xã hội trong một chừng mực nào đó cũng thấp hơn thành thị
- Nông thôn giàu tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nguồn nước, khí hậu nhưng rất đa dạng về kinh tế, xã hội, đa dạng về các hình thức tổ chức quản lí, đa dạng về qui mô và trình độ phát triển
1.1.1.2 Nông thôn mới
Nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn
và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò chủ thể trong xây dựng NTM
NTM thúc đẩy nền kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo định hướng quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị; nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ; đảm bảo an sinh xã hội; sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã xác định NTM là khu vực có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường
1.1.1.3 Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới
Ở Việt Nam, căn cứ theo Quyết định số 42/2002/QĐ-TTg ngày 19/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ khái niệm như sau: “Chương trình mục tiêu quốc gia là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trường, cơ chế, chính sách, tổ chức để thực hiện một hoặc một
số mục tiêu đã được xác định trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của
Trang 20đất nước trong một thời gian nhất định” Hiện nay, cả nước đang duy trì 02 Chương trình mục tiêu quốc gia: Xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững
Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ (sau này được thay thế bởi Quyết định 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn
2016 – 2020) định nghĩa như sau: "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng", bao gồm 11 nội dung sau:
"1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
- Nội dung 1: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;
- Nội dung 2: Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã
2 Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
- Nội dung 1: Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã và
hệ thống giao thông trên địa bàn xã Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hóa);
- Nội dung 2: Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 3: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 4: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về
y tế trên địa bàn xã Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 5: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75%
số xã đạt chuẩn;
Trang 21- Nội dung 6: Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ Đến 2015 có 65% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 7: Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã Đến 2015
có 45% số xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa) Đến 2020 có 77% số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch)
3 Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
- Nội dung 1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao;
- Nội dung 2: Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp;
- Nội dung 3: Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp;
- Nội dung 4: Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương;
- Nội dung 5: Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn
4 Giảm nghèo và an sinh xã hội
- Nội dung 1: Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
- Nội dung 2: Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo;
- Nội dung 3: Thực hiện các chương trình an sinh xã hội
5 Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
- Nội dung 1: Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;
- Nội dung 2: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;
Trang 22- Nội dung 3: Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn
6 Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
7 Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực
về y tế, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
8 Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn
- Nội dung 1: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
- Nội dung 2: Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
9 Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Nội dung 1: Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;
- Nội dung 2: Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng…
10 Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn
- Nội dung 1: Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội
vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới;
- Nội dung 2: Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này;
- Nội dung 3: Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới
Trang 2311 Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
- Nội dung 1: Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng, chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu;
- Nội dung 2: Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo
an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới."
Hiện nay, tỉnh Bình Dương tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng NTM theo Quyết định số 2083/QĐ-UBND ngày 22/7/2011 của UBND tỉnh Bình Dương về ban hành Chương trình mục tiêu xây dựng NTM tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2020 Tuy nhiên, nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng NTM của tỉnh Bình Dương trên thực tế có một số nội dung thay đổi
so với Quyết định số 800/QĐ-TTg do gắn với tình hình thực tế của địa phương
1.1.1.4 Tiêu chí nông thôn mới
Tiêu chí nông thôn mới là những nội dung quy định gắn với những chỉ tiêu
cụ thể phải đạt được trong một giai đoạn nhất định để làm căn cứ bình xét công nhận xã, huyện có đạt chuẩn theo quy định hay không Trong mỗi nội dung và tiêu chí trên đều có xác định cụ thể những công việc phải làm và mức độ đạt được các tiêu chí để được công nhận là xã, huyện nông thôn mới
Bộ tiêu chí xã nông thôn mới tỉnh Bình Dương giai đoạn 2017 - 2020 bao gồm 19 tiêu chí được ban hành kèm theo Quyết định số 730/QĐ-UBND ngày 24/3/2017 của UBND tỉnh Bình Dương (Phụ lục 1) Bộ tiêu chí huyện nông thôn mới được ban hành kèm theo Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ (Phụ lục 2)
1.1.1.5 Đặc trưng của nông thôn mới
- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao;
- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;
- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;
- An ninh tốt, quản lý dân chủ;
Trang 24- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao
1.1.1.6 Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
Quản lý nhà nước về xây dựng NTM là một dạng của hoạt động quản lý nhà nước, trong đó đối tượng quản lý là hoạt động xây dựng NTM, chủ thể thực thi quản lý là hệ thống các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức được trao quyền tác động quản lý thông qua các cơ chế, chính sách nhằm khai thác, huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của các thành phần kinh tế tham gia xây dựng NTM theo quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
Hiện nay, công tác QLNN về xây dựng NTM bao gồm 09 nội dung chính như sau:
- Công tác lãnh đạo, điều hành, định hướng;
- Công tác quy hoạch;
- Công tác tổ chức bộ máy quản lý;
- Công tác tuyên truyền, vận động;
- Công tác huy động, quản lý, phân phối các nguồn lực;
- Công tác kiểm tra, giám sát, tổng kết, rút kinh nghiệm;
- Công tác đào tạo, tập huấn cán bộ, công chức;
- Công tác đánh giá, xét công nhận đạt chuẩn;
- Công tác phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân
1.1.1.7 Hiệu quả xây dựng nông thôn mới
Từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia định nghĩa: “Hiệu quả là khả năng tạo
ra kết quả mong muốn Khi cái gì đó được coi là hiệu quả, có nghĩa là nó có một kết quả mong muốn hoặc mong đợi, hoặc tạo ra một ấn tượng sâu sắc, sinh động”
Như vậy, xây dựng nông thôn mới được xem là có hiệu quả khi kết quả mà
nó mang lại đáp ứng sự hài lòng hoặc mong đợi của Đảng, nhà nước và nhân dân
Về các tiêu chí đánh giá hiệu quả xây dựng nông thôn mới được trình bày cụ thể tại mục 1.1.3
1.1.2 Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới
1.1.2.1 Vai trò của xây dựng nông thôn mới
Trang 25Hiện nay, do kết cấu hạ tầng nội thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi) còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ, nhiều hạng mục công trình
đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; giao thông nội đồng
ít được quan tâm đầu tư; hệ thống thủy lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn rất hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển
Phương thức sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp, cơ giới hoá chưa đồng bộ
Thu nhập của nông dân thấp, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao
Đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục…); nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát Hiện nay, kinh tế – xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch
Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, cần 3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật Qua việc xây dựng NTM sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa
Mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó
Trang 26Xây dựng NTM là nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn với thành thị, nhằm hướng đến mục tiêu phát triển toàn diện, hài hòa và bền vững giữa kinh tế
và xã hội, không để vùng nông thôn bị tụt hậu trong sự phát triển chung, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.2.2 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới
Xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng, nhà nước và đặc trưng của nông thôn mới, xác định được mục tiêu của xây dựng NTM là phát triển kinh tế, xã hội, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, giữ vững an ninh chính trị Trong đó, mục tiêu cốt lõi là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân thông qua việc cải thiện thu nhập, phát triển sản xuất
để đáp ứng đời sống công ăn việc làm cho người dân Ngoài ra, để chương trình xây dựng NTM được phát triển bền vững, lâu dài cần có sự chỉ đạo, điều hành đúng đắn
từ các cấp thẩm quyền; đào tạo đội ngũ nguồn nhân lực có chất lượng cao; có quy hoạch xây dựng hợp lý; có sự kiểm tra, giám sát việc thực hiện và nhất là sự đóng góp tích cực của nhân dân, doanh nghiệp Vì vậy, có thể thấy sự hiệu quả của chương trình xây dựng NTM phụ thuộc rất lớn vào công tác QLNN của huyện, nếu làm tốt công tác này thì chương trình xây dựng NTM sẽ có hiệu quả, đáp ứng được đầy đủ các mục tiêu của chương trình, đảm bảo chương trình được phát triển bền vững, lâu dài Để đánh giá chi tiết hiệu quả xây dựng NTM, việc cần làm là tập trung đánh giá các nội dung của QLNN về xây dựng NTM để thấy được những tồn tại, hạn chế, từ đó đề ra các nhiệm vụ, giải pháp giúp nâng cao hiệu quả
1.1.3 Nội dung đánh giá hiệu quả xây dựng nông thôn mới
1.1.3.1 Chủ trương, định hướng xây dựng nông thôn mới
Quản lý xây dựng các chủ trương, chiến lược, kế hoạch trong quản lý phát triển nói chung và trong quản lý các quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong xây dựng NTM nói riêng là một công việc vô cùng quan trọng, định hướng đúng sẽ đạt được mục tiêu, rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí và ngược lại Mục đích của nó là rất rõ ràng cho việc tạo nền tảng vững chắc của sự nhất quán, tránh được tối đa những phát sinh trong quá trình thực hiện công việc và đặc biệt là những sự do dự
Trang 27và việc làm giả tạo, những thay đổi tự phát không đúng lúc và lường trước được những khó khăn thách thức sẽ đến Để xây dựng nông thôn mơi có hiệu quả thì các cấp chính quyền xác định xây dựng NTM làm nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, liên tục Các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể từ cấp trên đến cơ sở tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt và đồng bộ các giải pháp xây dựng NTM trên địa bàn
Xây dựng các chiến lược, kế hoạch là quá trình xác định mục tiêu và quyết định phải làm gì và làm như thế nào để đạt được mục tiêu Đó là tập hợp các hành động, quyết định của lãnh đạo, hướng tới việc ban hành các chiến lược chuyên biệt nhằm đạt mục tiêu của tổ chức, dự báo được những thời cơ, thách thức, thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện mục tiêu Từ đó có những giải pháp nắm bắt thời
cơ, hạn chế rủi ro, phù hợp trong từng thời kỳ, từng giai đoạn Mục đích của nó là rất rõ ràng cho việc tạo nền tảng vững chắc của sự nhất quán, tránh được tối đa những phát sinh trong quá trình thực hiện công việc và đặc biệt là những sự do dự
và việc làm giả tạo, những thay đổi tự phát không đúng lúc và lường trước được những khó khăn thách thức sẽ đến
Đây đều là những công việc khó khăn, phức tạp, nó đòi hỏi những người quản lý xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội NTM phải có phẩm chất năng lực tốt, có kiến thức, kinh nghiệm và sáng tạo, dám nghĩ, dám làm
và dám chịu trách nhiệm
1.1.3.2 Công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch đóng vai trò then chốt, tạo nền móng để thực hiện các tiêu chí còn lại.Quy hoạch NTM là bố trí, sắp xếp các khu chức năng, sản xuất, dịch vụ, hạ tầng kinh tế - xã hội, môi trường trên địa bàn theo tiêu chuẩn NTM gắn với đặc thù, tiềm năng, lợi thế của từng địa phương Để có mô hình NTM mang tính kế thừa và bổ sung, phát triển mới theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa thì công tác quy hoạch được đặt lên hàng đầu (nằm ở vị trí số 1 trong 19 tiêu chí xây dựng NTM) Nếu quy hoạch không có chất lượng, tính tổng thể và tầm nhìn, thì lộ trình đến đích NTM của các địa phương là vô cùng gian khó
Trang 28Trong thời gian qua, nhiều địa phương chưa quan tâm đúng mức tới công tác xây dựng chiến lược kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, mà chỉ tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng dẫn đến việc xây dựng NTM thiếu tính kế hoạch, phát sinh nhiều hệ lụy: tình trạng quy hoạch treo, chạy theo quy hoạch, phá vỡ quy hoạch, phát triển tự phát, tình trạng nợ đọng trong xây dựng cơ bản đã xảy ra khá phổ biến Việc tổ chức xây dựng các chiến lược phải phản ánh nhiều góc độ của tầm nhìn, ở đó có đầy đủ cả chiến lược phát triển vĩ mô, vi mô, dài hạn, trung hạn và ngắn hạn trên nhiều lĩnh vực như: việc xây dựng chiến lược truyền thông xây dựng NTM với phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững; quy hoạch sử dụng đất; xây dựng cơ bản; tái cấu trúc phát triển nông nghiệp theo chuỗi giá trị bền vững; phát triển kinh tế gắn với phát triển văn hóa - xã hội - quốc phòng an ninh; chiến lược an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái,… công tác quản lý lập kế hoạch, quy hoạch NTM đã tiêu tạo điều kiện cho cả người dân và chính quyền thực hiện thuận lợi
1.1.3.3 Công tác tổ chức bộ máy quản lý
Tổ chức bộ máy quản lý điều hành đóng vai trò là chủ thể quản lý, thực hiện các tác động hướng đích tới đối tượng và khách thể của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đã đề ra Vì vậy vai trò của bộ máy quản lý điều hành là hết sức quan trọng Bộ máy quản lý điều hành thực hiện các chức năng quản lý, hoạch định chiến lược, bao gồm các chức năng quản lý xét theo quá trình là: kế hoạch, tổ chức, điều hành, kiểm tra và các chức năng quản lý phân chia theo lĩnh vực quản lý như: tài chính, nhân lực, đầu tư, nghiên cứu và phát triển
Tổ chức bộ máy quản lý có vai trò quyết định tới sự tồn tại, phát triển hoặc suy thoái của tổ chức, nó được coi là một cơ quan đầu não điều khiển mọi hoạt động của tổ chức, phối hợp hoạt động giữa các bộ phận, tác động tới người lao động và từ
đó tác động đến năng suất lao động của tổ chức Tương tự như vậy, đối với mỗi cấp hành chính, mỗi ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý hành chính Nhà nước nói chung, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước cũng được kiến tạo theo những quy định chặt chẽ, cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật Tổ chức bộ máy quản lý trong xây dựng NTM chính là các bộ phận tham mưu, giúp việc, giúp cơ quan nhà
Trang 29nước thực hiện chức năng quản lý trong xây dựng NTM một cách thống nhất, chặt chẽ và có khoa học
Hiện nay, việc thành lập Ban Chỉ đạo - cơ quan tham mưu giúp việc trong quản lý nhà nước về xây dựng NTM ở các cấp thực hiện theo quy định tại Quyết định số 1013/QĐ-TTg ngày 01/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình MTQG về Xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020
Về bộ máy, hiện nay đã hình thành bộ máy chỉ đạo, điều hành thống nhất từ Trung ương xuống địa phương Ở Trung ương, có Ban chỉ đạo chương trình MTQG
do một Phó Thủ tướng làm trưởng ban; cấp tỉnh có Ban chỉ đạo các chương trình MTQG do Chủ tịch (hoặc Phó Chủ tịch) UBND tỉnh làm trưởng ban; cấp huyện có Ban chỉ đạo các chương trình MTQG do Chủ tịch (hoặc Phó Chủ tịch) UBND cấp huyện làm trưởng ban; cấp xã có Ban quản lý cấp xã do Chủ tịch UBND (hoặc Phó Chủ tịch) làm Trưởng ban Ngoài Ban chỉ đạo các cấp, còn có một hệ thống Văn phòng điều phối xây dựng NTM từ trung ương đến huyện, riêng cấp xã có một công chức chuyên trách theo dõi xây dựng NTM Có thể thấy, ít có một chương trình quốc gia nào có hệ thống bộ máy chỉ đạo, điều hành thống nhất, chặt chẽ như Chương trình MTQG xây dựng NTM Nhờ vậy, công tác quản lý nhà nước về xây dựng NTM có bộ máy liên thông, chuyên nghiệp từ trung ương xuống địa phương
Để bộ máy giúp việc hoạt động có hiệu quả, bền vững cần tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, xây dựng chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm việc ở nông thôn, đặc biệt là cán
bộ chuyên trách về NTM Mỗi cán bộ đứng đầu phải được lựa chọn cẩn thận, gắn với trách nhiệm cụ thể, đó phải là những con người tâm huyết, am hiểu lĩnh vực chuyên môn, nắm bắt tốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về xây dựng NTM, thấu hiểu tình hình thực tế, phong tục tập quán của địa phương, luôn bám sát cơ sở, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm Kinh nghiệm thành công trong xây dựng NTM chỉ ra rằng, một tập thể lãnh đạo có năng lực, có trách nhiệm chính là điều kiện quan trọng quyết định thành công Chính vì vậy, công tác đào tạo cán bộ cơ sở được coi trọng, bởi đây là lực lượng trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng
Trang 30NTM Sự năng động và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức là nhân tố quyết định sự thành công của bộ máy quản lý
1.1.3.4 Công tác tuyên truyền, vận động
Công tác tuyên truyền được xác định là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng, nhằm tạo sự đồng thuận, đoàn kết, đồng lòng của nhân dân Khi triển khai thực hiện Chương trình mục MTQG xây dựng NTM, Ban Chỉ đạo Trung ương
đã xác định rõ truyền thông là một giải pháp quan trọng để chỉ đạo thực hiện Chương trình Vì vậy, các hình thức tuyên truyền được triển khai đa dạng với sự tham gia của mọi cấp, ngành, đoàn thể nhằm chuyển tải một cách sâu sắc, thiết thực nhất những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng nông thôn mới tới mọi tầng lớp nhân dân
Nhờ công tác tuyên truyền được triển khai sâu rộng, đa dạng nhiều hình thức nên đã có tác dụng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và người dân về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn Chính vì vậy, khi Thủ tướng Chính phủ phát động phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” đã nhận được sự hưởng ứng tích cực của các cấp, các ngành và nhân dân cả nước Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo Trung ương, phong trào xây dựng nông thôn mới nhờ làm tốt công tác tuyên truyền nên có sức lan tỏa mạnh mẽ Theo quan điểm của Ban Chỉ đạo Chương trình MTQG, xây dựng nông thôn mới là một quá trình lâu dài, thường xuyên và liên tục, có điểm bắt đầu nhưng không có điểm kết thúc Do vậy, cần tiếp tục phát huy bài học kinh nghiệm của giai đoạn trước, đó là tập trung cho công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ và cư dân nông thôn, nâng cao chất lượng các phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới
1.1.3.5 Công tác huy động, quản lý, phân phối các nguồn lực
Xây dựng nông thôn mới là để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Chính vì vậy, sự đồng thuận từ cấp ủy, chính quyền địa phương cho đến từng người dân là yếu tố quan trọng hàng đầu trong thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM Cùng với nguồn lực của Nhà nước thì việc huy động nguồn lực của Nhân dân đóng vai trò rất quan trọng, giúp cho nhiệm vụ xây dựng NTM được đảm bảo bền vững, lâu dài, có hiệu quả
Trang 31Việc huy động nguồn lực, quản lý và sử dụng nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, các ngành, địa phương phải chủ động, tập trung lồng ghép có hiệu quả vốn của các dự án khác với xây dựng NTM Việc huy động người dân, cộng đồng dân cư đóng góp xây dựng NTM phải được thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch và không có tình trạng huy động quá sức dân Các nguồn vốn nói chung cần được sử dụng có hiệu quả, tránh lãng phí và phải mang lại những lợi ích thiết thực
1.1.3.6 Công tác kiểm tra, giám sát
Công tác kiểm tra, giám sát là một trong các khâu quan trọng của quá trình quản lý, điều hành trong tổ chức, thông qua công tác kiểm tra, giám sát giúp người quản lý sử dụng nhằm theo dõi, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ đã giao Qua kiểm tra, giám sát người quản lý mới biết được tiến độ thực hiện, chất lượng thực hiện, những ưu, khuyết điểm của đối tượng bị giám sát, kiểm toán, thanh tra trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ đồng thời qua đó cho người quản lý biết được quyết định quản lý có những tồn tại gì, để trên cơ sở đó sửa đổi bổ sung hoặc có các chế tài buộc đối tượng bị giám sát có các biện pháp thích hợp để thực hiện tốt hơn chức năng nhiệm, vụ của mình Quản lý các quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong xây dựng NTM rất cần sự chỉ đạo và giám sát thực hiện trên nhiều chiều, nhiều khía cạnh Công việc này không chỉ diễn ra ở việc cấp quản lý trên giám sát hoạt động của cấp dưới mà nó là quá trình cùng thực hiện và giám sát lẫn nhau, trong đó việc phát huy vai trò giám sát của người dân đóng vai trò đặc biệt quan trọng Hiện nay, ngoài công tác kiểm tra do cơ quan quản lý được phân công và giao nhiệm vụ thực hiện ở từng cấp, công tác giám sát xây dựng NTM do Đoàn giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện định kỳ và tổng hợp đánh giá
1.1.3.7 Công tác đào tạo, tập huấn cán bộ, công chức
Đội ngũ cán bộ, phân loại chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu công tác để có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ khác nhau cho phù hợp Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý Chương trình cần bồi dưỡng nâng cao năng lực định hướng, tư vấn chính sách, những người này có thể thay đổi, luân chuyển theo yêu cầu công tác
Trang 32của mỗi địa phương, ban, ngành; riêng cán bộ chuyên môn cần được đào tạo theo hướng chuyên môn hóa, có tính ổn định cao Chỉ trên cơ sở đó mới tạo ra đội ngũ chuyên nghiệp Riêng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, luôn luôn chú ý quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cấp xã là cấp gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” Thực tế xây dựng NTM gần 10 năm qua cũng cho thấy, ở đâu cán bộ cấp cơ sở năng động, sáng tạo, tâm huyết thì xây dựng NTM thành công và ngược lại
Cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý, cơ quan chuyên môn, các viện nghiên cứu, trường đại học để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao trong xây dựng NTM Có cán bộ quản lý chung Chương trình, có cán bộ quản lý từng ngành, lĩnh vực cụ thể với yêu cầu chuyên môn khác nhau Ví
dụ, việc xác định xã đạt chuẩn NTM phải đảm bảo tiêu chí môi trường, nhưng việc định lượng tiêu chí môi trường và các cơ sở khoa học để định lượng tiêu chí đó phải
do cơ quan chuyên môn tư vấn, thực hiện Từ đó đặt ra yêu cầu, xây dựng cơ chế phối hợp, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ quản lý chương trình chuyên nghiệp, kết hợp sử dụng các chuyên gia trong từng ngành, lĩnh vực nhất định
1.1.3.8 Công tác đánh giá, xét công nhận đạt chuẩn
Thành tích đạt chuẩn nông thôn mới là phần thưởng xứng đáng cho nỗ lực phấn đấu của toàn thể chính quyền và nhân dân của địa phương Danh hiệu đạt chuẩn là một trong những cột mốc quan trọng để địa phương tiếp tục phấn đấu các bước tiếp theo, không những để duy trì thành tích đã đạt được mà còn phấn đấu để đạt các tiêu chí nâng cao Để đánh giá và xét công nhân đạt chuẩn NTM, các cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện đúng quy trình, thủ tục, công khai, minh bạch,
có sự tham gia ý kiến của nhân dân để đảm bảo xứng đáng và công bằng Hiện nay, trình tự, thủ tục xét công nhận địa phương đạt chuẩn thực hiện theo quy định tại Quyết định số 2540/QĐ-TTg về việc ban hành quy định điều kiện, trình tự, thủ tục,
hồ sơ xét, công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, địa phương hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020
Do sức ép thành tích, nhiều địa phương còn tình trạng “chạy đua thành tích” nâng số tiêu chí đạt chuẩn, khiến kết quả còn hình thức, thiếu bền vững, phát sinh
Trang 33nợ đọng, công tác rà soát, thẩm tra, thẩm định, xét công nhận đạt chuẩn chưa đảm bảo đúng thực chất Do đó, để xây dựng NTM có hiệu quả phải chú trọng thực hiện nghiêm túc công tác đánh giá, xét công nhận đạt chuẩn
1.1.3.9 Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân
Nhằm nâng cao thu nhập người dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn, địa phương phải xác định phát triển sản xuất nông nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt và có tính quyết định trong việc thực hiện thành công Chương trình Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
Nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, các địa phương phải chú trọng đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp, trọng tâm là phát triển các mô hình sản xuất; ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất; đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng; phát triển mô hình kết hợp, liên kết Đồng thời, tăng cường áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, góp phần cơ giới hóa và nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp của địa phương Việc đẩy mạnh phát triển sản xuất còn giải quyết được vấn đề việc làm, tạo công ăn việc làm, cải thiện thu nhập cho người dân, giúp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, góp phần củng cố niềm tin cho người dân tham gia tích cực vào quá trình xây dựng NTM
1.2 Bài học kinh nghiệm về xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Xây dựng nông thôn mới tại một số huyện trên địa bàn tỉnh Bình Dương hiện nay
1.2.1.1 Huyện Phú Giáo
Năm 2011 UBND huyện Phú Giáo thành lập Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM Qua các lần kiện toàn đến nay Ban chỉ đạo luôn duy trì hoạt động với 44 thành viên do đồng chí Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban, Ban chỉ đạo đã ban hành quy chế hoạt động và phân công nhiệm vụ cho các thành viên Ban chỉ đạo, để chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể, UBND các xã tiến hành rà soát từng tiêu chí xây dựng NTM tại các địa phương, hướng dẫn các xã thực hiện nội dung xây dựng NTM theo kế hoạch
Đồng thời yêu cầu UBND các xã chỉ đạo Ban quản lý xây dựng NTM xã báo cáo Ban chỉ đạo huyện (thông qua Văn phòng Điều phối NTM huyện) hàng tháng
Trang 34theo quy định, chỉ đạo các thành viên Ban chỉ đạo thường xuyên bám sát địa bàn phụ trách, nắm bắt tiến độ, tham mưu Ban chỉ đạo, UBND huyện xử lý kịp thời những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện
Ban chỉ đạo huyện duy trì tổ chức họp giao ban định kỳ hàng quý, 6 tháng, tổng kết năm đánh giá tình hình thực hiện xây dựng NTM, chỉ rỏ những tồn tại hạn chế, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện, xác định nguyên nhân, đề ra giải pháp để chỉ đạo thực hiện trong những năm tiếp theo
Để đẩy nhanh tiến độ xây dựng xã, huyện đạt chuẩn NTM, Ban chỉ đạo huyện Phú Giáo hàng năm xây dựng kế hoạch thực hiện xây dựng NTM Hàng năm Ban chỉ đạo huyện thành lập Đoàn thẩm tra do đồng chí Phó Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng đoàn đánh giá mức độ đạt từng tiêu chí xã NTM, các Tiêu chí huyện đạt chuẩn NTM UBND huyện tổ chức lấy ý kiến tham gia của UBMTTQ huyện, các tổ chức chính trị xã hội, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đối với báo cáo kết quả thực hiện các Tiêu chí xã, huyện đạt chuẩn NTM
Các phòng, ban, ngành chuyên môn theo chức năng nhiệm vụ được ban hành các văn bản, hướng dẫn các xã thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện các tiêu chí
do phòng, ban, ngành phụ trách, các xã đã ban hành Nghị quyết, Kế hoạch cụ thể để chỉ đạo thực hiện Chương trình xây dựng NTM tại địa phương
Ban chỉ đạo tỉnh Bình Dương chọn xã Tân Long xuất phát điểm xây dựng NTM 2011 Ban Chỉ đạo xây dựng NTM huyện Phú Giáo chọn xã Tân Hiệp làm điểm 2011 Để tập trung chỉ đạo quyết liệt, phát huy tính chủ động sáng tạo của địa phương, nêu cao vai trò gương mẫu của cán bộ, Đảng viên, đặt biệt là người đứng đầu, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát huy vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM, tạo sự đồng thuận, ủng hộ nhân dân Kết quả xã Tân Long và Tân Hiệp đã về đích NTM năm 2014 là một trong những xã về đích NTM đầu tiên của tỉnh Bình Dương và huyện Phú Giáo
1.2.1.2 Huyện Bắc Tân Uyên
Xác định xây dựng NTM là nhiệm vụ trọng tâm để thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, liên tục của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể từ huyện đến cơ
Trang 35sở đã ban hành quyết định thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng NTM huyện, Ban Quản
lý NTM các xã để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt và đồng bộ các giải pháp trong việc thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM trên địa bàn huyện
Huyện ủy, UBND huyện đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai cuộc vận động thực hiện phong trào thi đua “Toàn dân chung sức xây dựng NTM” tới các cấp, các ngành và cộng đồng dân cư để triển khai thực hiện; hàng năm tổ chức tổng kết, đánh giá các mô hình điểm, nhân rộng các điển hình, những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo trong tham gia thực hiện chương trình; thường xuyên đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động tạo sự đồng thuận, thống nhất trong cán bộ, đảng viên và cộng đồng dân cư để huy động mọi nguồn lực trong tham gia xây dựng NTM
Sau khi được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2014, UBND huyện đã ban hành Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo huyện; qua các lần được kiện toàn đến nay Ban Chỉ đạo huyện duy trì hoạt động với 37 thành viên, Trưởng ban do đồng chí Chủ tịch UBND huyện kiêm nhiệm, Phó Trưởng ban Thường trực do Phó Chủ tịch UBND huyện kiêm nhiệm Ban Chỉ đạo đã bàn hành quy chế hoạt động và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên phụ trách từng tiêu chí và địa bàn để triển khai thực hiện có hiệu quả Đồng thời, yêu cầu UBND, Ban Quản lý NTM các xã báo cáo kết quả thực hiện về cho ban Chỉ đạo huyện (thông qua Văn phòng Điều phối NTM huyện) hàng tháng, quý theo quy định Chỉ đạo các thành viên Ban Chỉ đạo thường xuyên bám sát cơ sở, nắm bắt tiến độ, tham mưu UBND huyện, Ban Chỉ đạo huyện xử lý kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện
Ban Chỉ đạo xây dựng NTM huyện duy trì tổ chức hội nghị giao ban định kỳ hàng quý, sơ kết 6 tháng, tổng kết năm để đánh giá kết quả tình hình triển khai thực hiện xây dựng NTM, chỉ ra rõ những tồn tại, hạn chế, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện, xác định nguyên nhân, đề ra các giải pháp để chỉ đạo thực hiện trong năm tiếp theo Sau mỗi hội nghị giao ban sơ kết, tổng kết, Ban Chỉ đạo đều có thông báo kết luận để tập trung chỉ đạo thực hiện đạt được hiệu quả cao hơn
Trang 36Để tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng địa phương trong thực hiện nhiệm vụ chính trị xây dựng NTM, hàng năm Huyện ủy, Hội đồng nhân dân đã ban hành Nghị quyết để lãnh đạo, chỉ đạo trong triển khai thực hiện chương trình Yêu cầu mục tiêu đặt ra khi xây dựng và ban hành nghị quyết là phải làm rõ tình hình thực tiễn cũng như những khó khăn, thuận lợi, đề ra giải pháp lãnh đạo, triển khai thực hiện một cách cụ thể, rõ ràng, không chung chung, né tránh những việc khó Theo đó, đến nay đã có 10/10 xã, thị trấn (đạt 100%) được công nhận đạt chuẩn NTM; diện mạo NTM của huyện ngày càng thay đổi rõ rệt; kinh tế - xã hội phát triển khá toàn diện; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được tăng cường
1.2.2 Xây dựng nông thôn mới tại một số huyện thuộc các tỉnh khác
1.2.2.1 Huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
Huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai có 15 đơn vị hành chính bao gồm 1 thị trấn
và 14 xã Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 72.719,48 ha, dân số 234.187 người trong đó dân số nông thôn 216.436 người chiếm tỷ lệ 92,42% Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn huyện năm 2014 đạt 37,617 triệu đồng/người/năm Bình quân giá trị sản phẩm trên 1ha đất nông nghiệp đạt từ 100 -250 triệu/ha Cụ thể thực hiện chương trình như sau:
Huyện ủy, UBND huyện ban hành đầy đủ các văn bản quy định từ Nghị quyết, chương trình, kế hoạch 05 năm, hàng năm về xây dựng NTM BCĐ nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng NTM huyện phân công nhiệm vụ cho các thành viên phụ trách từng tiêu chí, từng xã Định kỳ hàng tháng, quý, 6 tháng BCĐ giao ban để kiểm tra rà soát kết quả thực hiện để tập trung chỉ đạo xử lý những tồn tại vướng, đánh giá những thuận lợi khó khăn, những việc làm được và chưa được
và đề ra giải pháp chỉ đạo điều hành trong thời gian tới; Hàng tuần, hàng tháng Huyện ủy, UBND huyện tổ chức kiểm tra các xã về tiến độ thực hiện, chỉ đạo cụ thể từng vấn đề cần giải quyết, tháo gỡ khó khăn, đôn đốc, chỉ đạo xã đẩy nhanh tiến
độ
Huyện đã dựa trên các yếu tố tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội để quy hoạch thành 4 tiểu vùng để định hướng phát triển, cụ thể như sau:
Trang 37- Tiểu vùng I: Cơ cấu kinh tế chủ yếu là công nghiệp – dịch vụ và nông nghiệp
- Tiểu vùng II: Cơ cấu kinh tế chủ yếu là chuyên canh cây lâu năm, cây hàng năm, cây đặc sản với trình độ thâm canh cao và chăn nuôi trang trại
- Tiểu vùng III: Cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông, lâm nghiệp, trang trại chăn nuôi và thủy sản
- Tiểu vùng 4: chuyên canh cây tiêu, điều, rau sạch, trang trại chăn nuôi Chuyển đổi cơ cấu cây trồng: huyện đã mạnh dạn khuyến khích người dân chuyển từ 1 vụ bắp + 2 vụ lúa sang 2 vụ bắp + 1 vụ lúa; áp dụng giống mới tăng từ
3 vụ bắp/năm lên 4 vụ bắp/năm (1 vụ bình quân thu hoạch 13-14 tấn Ngoài ra thân cây bắp và 1 số phế phẩm nông nghiệp còn được bán để ủ lên men với công nghệ xanh làm thức ăn cho bò sữa xuất khẩu sang Nhật Bản với giá trị cao)
Áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng trọt:
+ Chuyển đổi giống có năng suất cao: Đối với cây ngắn ngày, nông dân đã sử dụng 100% giống năng suất cao, kháng bệnh; đối với cây lâu năm, cây ăn trái có tỷ
lệ giống mới cao năng suất cao (78% chôm chôm giống mới, 94,64% sầu riêng giống mới, 85% xoài giống mới, 98% điều giống mới, 100% diện tích tiêu sử dụng giống tiêu Vĩnh Linh)
+ Chuyển giao mô hình tưới tiết kiệm (tưới phun sương) và bón phân qua đường ống Qua đó giúp người dân sản xuất tiết kiệm được nguồn nước, giảm chi phí và công lao động trong khâu tưới, bón phân và quan trọng nhất là việc áp dụng
mô hình này đã nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm
+ Chăn nuôi đã quy hoạch vùng phát triển, công tác sinh hóa đàn bò đạt 99%, nạc hóa đàn heo đạt trên 98% 100% các trang trại chăn nuôi sử dụng hầm Biogas, khoảng 60% hộ chăn nuôi nhỏ lẻ có sử dụng hầm Biogas
Đổi mới xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất: Huyện Xuân Lộc là huyện đầu tiên của cả nước tổng kết từ thực tiễn để phát triển mô hình Câu lạc bộ năng suất cao làm cơ sở cho nông dân hợp tác ở mức giản đơn, phù hợp với khả năng, điều kiện của họ để từ đó tạo tiền tiền đề, điều kiện vững chắc đi lên hình thức hợp
Trang 38tác cao hơn đó là Liên hiệp Câu lạc bộ và Hợp tác xã Huyện tiếp tục vận động nhân dân xây dựng câu lạc bộ làm giàu (đã thành lập 15 câu lạc bộ tại 15 xã, thị trấn)
1.2.2.2 Huyện Châu Thành, tỉnh Long An
Huyện Châu Thành là huyện đầu tiên đạt chuẩn NTM của tỉnh Long An Từ một huyện còn mang đậm tính thuần nông, có xuất phát điểm khá thấp, đến nay, Châu Thành đã trở thành một huyện năng động và giàu tiềm năng phát triển Kinh
tế của huyện duy trì phát triển với tốc độ khá cao và ổn định, đạt mức tăng trưởng bình quân trên 8,1%/năm (giai đoạn 2011 - 2019); cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, thu nhập bình quân đầu người năm 2019 đạt trên 59 triệu đồng
Tính đến nay, tất cả 12 xã của huyện Châu Thành đều đạt danh hiệu NTM Với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, sự chung tay góp sức của người dân, doanh nghiệp, bộ mặt nông thôn Châu Thành ngày càng trở nên khang trang, sạch, đẹp; hạ tầng thiết yếu về giao thông, thủy lợi, văn hóa, y tế, giáo dục,… được quan tâm đầu
tư, nâng cấp, xây dựng mới Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển, xuất hiện nhiều mô hình sản xuất, mô hình liên kết, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ mang lại hiệu quả kinh tế cao Từ đó, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn từng bước được cải thiện; tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo và giữ vững Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Long An nói chung, huyện Châu Thành nói riêng đã nỗ lực phấn đấu và đạt được trong phong trào xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Huyện Châu Thành luôn bám sát định hướng phát triển của tỉnh, tổ chức thực hiện hiệu quả các chương trình kinh tế trọng điểm đã đề ra; chú trọng công tác cải cách hành chính và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ thành lập và phát triển doanh nghiệp; tập trung huy động thực hiện có hiệu quả các nguồn lực để phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; đồng thời đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng tốt các thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 vào phát triển kinh tế xã hội; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến để xây dựng Châu Thành trở thành huyện NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu
1.2.2.3 Huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
Trang 39Ở huyện Bù Đăng những năm qua, trên cơ sở các nghị quyết của Huyện ủy
và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các kế hoạch xây dựng NTM theo từng giai đoạn và hằng năm Các thành viên trong Ban Chỉ đạo xây dựng NTM của huyện đều được phân công trách nhiệm
cụ thể, trong đó có theo dõi, chỉ đạo và phối hợp với UBND các xã về thực hiện những tiêu chí NTM Sự đoàn kết, phối hợp đồng bộ của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, sự đồng lòng, chung sức của lực lượng vũ trang và nhân dân trong huyện là động lực quan trọng, thúc đẩy hoàn thành các mục tiêu về đích NTM Điều này cũng đòi hỏi trong quá trình xây dựng NTM, cấp ủy, chính quyền các cấp cần phải có quyết tâm chính trị cao, có kế hoạch chỉ đạo cụ thể, chủ động, sáng tạo, sâu sát, liên tục, đặc biệt là phải phát huy vai trò của người đứng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và vai trò hạt nhân của các ban quản lý xây dựng NTM
xã - đơn vị trực tiếp thực hiện Bộ tiêu chí xã NTM
Thời gian qua, công tác tuyên truyền được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với tiến độ thực hiện xây dựng NTM ở huyện Bù Đăng Hệ thống chính trị các cấp và các lực lượng vũ trang trên địa bàn huyện chủ động triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền với những hình thức phong phú, phù hợp với từng nhóm đối tượng, nhất là người dân Qua đó, nhận thức của cán bộ, đảng viên và người dân về xây dựng NTM từng bước có sự chuyển biến tích cực, người dân ngày càng chủ động hơn trong tham gia, đóng góp xây dựng NTM
Trong xây dựng NTM, các tiêu chí NTM là mục tiêu, xây dựng kết cấu hạ tầng là tiền đề, phát triển sản xuất là gốc, lợi ích của người dân là động lực và sự tham gia của cộng đồng dân cư chính là chìa khóa của thành công Do đó, cần tập trung áp dụng nhiều biện pháp để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trong quá trình xây dựng NTM, đặc biệt là áp dụng các tiến bộ của khoa học -
kỹ thuật vào phát triển sản xuất, đồng thời triển khai thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội
1.2.3 Bài học kinh nghiệm về hiệu quả xây dựng nông thôn mới
Trang 40Với những kinh nghiệm quý báo rút ra từ xây dựng NTM các huyện trong và ngoài tỉnh đã đúc kết một số bài học kinh nghiệm, từ đó, tham khảo để thời gian tới, thực hiện một cách hiệu quả hơn đối với phong trào xây dựng NTM của huyện Bàu Bàng Cụ thể:
- Xây dựng NTM thực chất là thực hiện các nội dung cụ thể để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Do đó, phải gắn xây dựng NTM với quy hoạch tái cơ cấu nông nghiệp và thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Việc thực hiện tái cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp không chỉ phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương mà còn giúp người dân tăng cường tính chủ động, đổi mới tư duy sản xuất, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn
- Phải thực sự phát huy vai trò chủ thể của người dân Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng phải là giải pháp quan trọng hàng đầu Làm cho dân hiểu, dân tin, dân hưởng ứng bằng sự tham gia bàn bạc, hiến kế, đóng góp công, của và chủ động thực hiện các nhiệm vụ của mình là yếu tố quyết định sự thành công của Chương trình
- Phải có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên sâu sát, quyết liệt của các cấp ủy, chính quyền, sự tham gia tích cực và phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể Trong đó, người đứng đầu cấp ủy và chính quyền có vai trò quan trọng Để thực hiện có kết quả tốt chính quyền các cấp phải có quyết tâm chính trị cao, có kế hoạch chỉ đạo cụ thể, chủ động, sáng tạo, sâu sát, liên tục của các cấp ủy, chính quyền, nhất là vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp và của Ban Chỉ đạo Thực tiễn cho thấy nơi nào các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể thực sự quan tâm vào cuộc thường xuyên, quyết liệt thì trong cùng hoàn cảnh còn nhiều khó khăn vẫn tạo ra sự chuyển biến rõ nét
- Coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng NTM các cấp, nhất là cán bộ cơ sở, nâng cao nhận thức chính trị, ý thức trách nhiệm của mỗi người cán bộ đối với nhiệm vụ được giao Cán bộ tham mưu cho Ban Chỉ đạo, Ban Quản lý xây dựng NTM triển khai thực hiện từng tiêu chí phù hợp với điều kiện thực tiễn ở cơ sở Thường xuyên đào tạo nâng cao năng lực, kỹ