Trên địa huyện Bù Ðốp chưa có một nghiên cứu nào liên quan đến vì sao người nông dân không mặn mà với việc tham gia BHXH TN và để đưa ra các giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguy
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG
KHOA KINH TẾ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SỸ
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA CỦA NÔNG DÂN VÀO BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TẠI
Tháng 7 năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG
KHOA KINH TẾ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SỸ
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA CỦA NÔNG DÂN VÀO BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TẠI
Tháng 7 năm 2020
Trang 3LỜI CAM ÐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Giải pháp tăng cường sự tham gia của nông
dân vào Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Bù Ðốp tỉnh Bình Phước” là kết quả
học tập và nghiên cứu chính tôi
Kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện
Các số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy, những tài liệu tham khảo được trích dẫn nguồn đầy đù trong luận vãn theo đúng quy định
Luận văn này chưa được trình nộp để lấy học vị thạc sỹ tại bất cứ một trường đại học nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của tôi
Bình Dương, ngày 15 tháng 05 năm 2020
Tác giả
Kiều Minh Sơn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập khóa học Cao học Quản lý kinh tế tại trường Ðại học Bình Dương, tôi xin chân thành cảm Quý Thầy Cô đã truyền đạt kiến thức và tạo điều
kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn “Giải
pháp tăng cường sự tham gia của nông dân vào Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Bù Ðốp tỉnh Bình Phước”
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy PGS.TS Ðặng Thanh Hà, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ và định hướng giúp tôi hoàn thiện trong công tác nghiên cứu và viết Luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến những bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tận tình hỗ trợ, góp ý và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã hết sức cố gắng hoàn thiện Luận văn, trao đổi và tiếp thu ý kiến đóng góp từ Quý Thầy cô và bạn bè nhưng với khuôn khổ thời gian nghiên cứu và khối lượng kiến thức còn hạn chế, Luận văn không tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được những thông tin góp ý của Quý thầy cô!
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Chương.1 MỞ ÐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.7 Điểm mới của nghiên cứu 3
1.8 Cấu trúc của luận văn 3
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 4
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở lý thuyết 5
2.1.1 Lý thuyết về bảo hiểm xã hội 5
2.1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm 5
2.1.1.2 Khái niệm về bảo hiểm xã hội 5
2.1.1.3 Các chế độ bảo hiểm xã hội 5
2.1.1.4 Chức năng của bảo hiểm xã hội 5
2.1.2 Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân 5
2.1.2.1 Khái niệm về nông dân 5
2.1.2.2 Khái niệm về Bảo hiểm xã hội cho nông dân 5
2.1.2.3 Mức đóng và phương thức đóng của nông dân khi tham gia bảo hiểm xã hội tựnguyện 8
2.1.2.4 Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân 9
2.1.2 Bản chất và vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân 10
2.1.2.1 Bản chất bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân 10
2.1.2.2 Vai trò bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân 10
Trang 62.1.3 Sự cần thiết tăng cường nông dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện 11
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân 15
2.2 Nền tảng nghiên cứu 16
2.2.1 Thuyết tiếp cận nhu cầu 16
2.2.2 Lý thuyết hành vi 18
2.2.3 Lý thuyết hành vi hợp lý 19
2.2.4 Lý thuyết lựa chọn hợp lý 20
2.2.5 Lý thuyết hành vi có kế hoạch 21
2.3 Các nghiên cứu bảo hiểm xã hội tự nguyện ngoài nước và trong nước 23
2.4 Đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu 30
2.4.1 Giả thuyết nghiên cứu 30
2.4.1.1 Nhận thức về tính an sinh xã hội của BHXH tự nguyện 30
2.4.1.2 Thái độ 30
2.4.1.3 Ảnh hưởng xã hội 31
2.4.1.4 Hiểu biết chính sách về BHXH tự nguyện 32
2.4.1.5 Thu nhập 32
2.4.1.6 Truyền thông 33
2.4.2 Mô hình nghiên cứu 33
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 34
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Phương pháp 35
3.2 Quy trình nghiên cứu 36
3.3 Tổng thể và mẫu nghiên cứu 37
3.3.1 Tổng thể mẫu 37
3.3.2 Kỹ thuật lấy mẫu 37
3.3.3 Cỡ mẫu 37
3.4 Xây dựng thang đo 38
3.5 Công cụ nghiên cứu 41
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 44
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Tổng quan về BHXH huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước 45
Trang 74.1.1 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực BHXH huyện Bù Đốp 45
4.1.2 Thực trạng hoạt động tuyên truyền BHXH TN huyện Bù Đốp 46
4.1.3 Thực trạng tham gia BHXH TN của nông dân huyện Bù Đốp 47
4.1.4 Thu nhập bình của huyện Bù Đốp qua các năm 49
4.2 Kết quả nghiên cứu 50
4.2.1 Thống kê mô tả mẫu 50
4.2.2 Mô tả biến nghiên cứu 53
4.2.3 Kiểm định độ tin cậy thang đo 54
4.2.4 Kiểm định thang đo thông qua phân tích nhân tố khám phá EFA 59
4.2.4.1 Phân tích nhân tố cấu thành ý định tham gia 60
4.2.4.2 Phân tích EFA cho thang đo ý định tham gia BHXH TN 62
4.2.5 Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 63
4.2.5.1 Phân tích tương quan 63
4.2.5.2 Phân tích hồi quy 65
4.2.5.3 Kiểm định các giả thuyết 69
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 70
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 71
5.1 Kết Luận 71
5.2 Hàm ý chính sách 72
5.2.1 Hoàn thiện, sửa đổi cơ chế chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện 73
5.2.1.1 Sửa đổi một số vấn đề trong chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện 73
5.2.1.2 Xây dựng chương trình phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện của huyện đến 2030 74
5.2.1.3 Nâng cao nhận thức của người nông dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện 76 5.2.2 Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phụ trách bảo hiểm xã hội tự nguyện 76
5.2.2.1 Sắp sếp cán bộ phụ trách bảo BHXH TN đến năm 2030 76
5.2.2.2 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phụ trách BHXH TN 77
5.2.3 Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện 78
5.2.4 Giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện 78
5.2.4.1 Thay đổi nội dung tuyên truyền về bảo BHXH TN 79
Trang 85.2.4.2 Phát triển truyền thông về bảo hiểm xã hội tự nguyện qua các phương tiện
thông tin đại chúng 80
5.2.4.3 Phát triển truyền thông liên cá nhân 81
5.2.4.4 Phát triển truyền thông nhóm 81
5.2.4.5 Về phương pháp truyền thông 82
5.2.5 Giải pháp tăng cường công tác quản lý nguồn vốn quỹ BHXH TN 83
5.2.6 Giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, ổn định ASXH 84
5.2.6.1 Một số giải pháp phát triển nông nghiệp của huyện định hướng tới năm 2030 84
5.2.6.2 Tạo việc làm, ổn định thu nhập đối với người nông dân 85
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tên đầy đủ
ASXH An sinh xã hội
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHXH TN Bảo hiểm xã hội tự nguyện
BHXH BB Bảo hiểm xã hội bắt buộc
BHYT Bảo hiểm y tế
ANOVA Analysis of variance
EFA Exloratory Factor Analysis – phân
tích nhân tố khám phá
hình hành động hợp lý
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Xây dựng thang đo
Bảng 4.1 Số lượng cán bộ và nhân viên đại lý thu BHXH TN huyện Bù Đốp
Bảng 4.2 Số người tham gia BHXH TN, BHXH BB tại huyện Bù Đốp
Bảng 4.3 Thu nhập bình quân đầu người huyện Bù Đốp giai đoạn 2016 - 2018 Bảng 4.4 Thu thập thông tin của người nông dân qua điều tra
Bảng 4.5 Thống kê mô tả biến nghiên cứu
Bảng 4.6 Cronbach’s Alpha của nhân tố Nhận thức tính ASXH của BHXHTN Bảng 4.7 Cronbach’s Alpha của nhân tố Thái độ
Bảng 4.8 Cronbach’s Alpha của nhân tố Ảnh hưởng xã hội
Bảng 4.9 Cronbach’s Alpha của nhân tố Hiểu biết chính sách BHXH TN
Bảng 4.10 Cronbach’s Alpha của nhân tố Thu nhập
Bảng 4.11 Cronbach’s Alpha của nhân tố Truyền thông
Bảng 4.12 Cronbach’s Alpha của nhân tố Ý định tham gia BHXH TN
Bảng 4.13 Tổng hợp kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha
Bảng 4.14 KMO và kiểm định Bartlett của các nhân tố cấu thành
Bảng 4.15 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA
Bảng 4.16 Kết quả kiểm định KMO và Barlett’s test của thang đo Ý định tham gia BHXH TN
Bảng 4.17 Phân tích tương quan
Bảng 4.18 Hệ số xác định phù hợp của mô hình
Bảng 4.19 Kết quả phân tích ANOVA
Bảng 4.20 Kết quả phân tích hồi quy nhóm yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH TN
Bảng 5.1 Đề xuất sắp sếp cán bộ thu BHXH TN giai đoạn 2020 – 2030
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Mô hình tháp nhu cầu của Maslow
Hình 2.2: Mô hình Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA)
Hình 2.3: Mô hình Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)
Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu của Liyue & Yu
Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của Mathauer & cộng sự
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của Hoàng Thu Thủy và Bùi Hoàng Minh Thư Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 4.1 Tỷ lệ người nông dân biết đến BHXH TN
Hình 4.2 Đánh giá của nông dân về quyền lợi khi tham gia BHXHTN
Trang 12Chương 1 MỞ ÐẦU 1.1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
An sinh xã hội (ASXH) được coi là một trong những nền tảng cho sự phát triển vững chắc của kinh tế và ổn định xã hội Trong đó bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trụ cột trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của nước ta, BHXH đã trở thành công cụ giúp nhà nước điều tiết xã hội trong nền kinh tế thị trường một cách hiệu quả, giúp gắn kết phát triển kinh tế với thực hiện công bằng, tiến bộ và phát triển xã hội bền vững Với mong muốn đảm bảo cuộc sống tốt hơn cho người nông dân Bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXH TN) đã ra đời và bắt đầu thực hiện từ năm
2008 Có thể nói BHXH TN được kỳ vọng là chỗ dựa cho người thu nhập thấp, đem đến cơ hội hưởng “lương hưu” cho hàng chục triệu người không nằm trong diện bảo hiểm bắt buộc Trải qua quá trình thực hiện BHXH TN càng chứng tỏ đây là chính sách quan trọng của Ðảng và Nhà nước ta Mục tiêu thực hiện việc mở rộng
độ bao phủ và nâng cao hiệu quả của chính sách BHXH TN ở Việt Nam chính là phát huy đầy đủ vai trò trụ cột của BHXH, góp phần quan trọng không chỉ cho sự phát triển kinh tế mà còn nhằm mục tiêu ổn định xã hội và an sinh cho mọi người dân
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đã và đang đạt được những kết quả khả quan đáng ghi nhận Việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội là hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tiễn và đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Có thể nói, việc xây dựng chế độ BHXH TN là rất cần thiết, nhằm áp dụng cho đối tượng không thuộc diện làm công
ăn lương, không được bảo vệ bởi bảo hiểm xã hội bắt buộc, những đối tượng nghề
là nông dân, mà trong nền kinh tế thị trường của chúng ta hiện nay, đối tượng này
chiếm phần lớn
Phát triển Bảo hiểm xã hội, đặc biệt là tăng cường đối tượng tham gia BHXH
TN là một xu hướng tất yếu nhằm thiết lập một hệ thống an sinh xã hội Tuy nhiên, qua 10 năm thực hiện (2008-2018), trên địa bàn huyện Bù Ðốp chỉ có 134 người tham gia BHXH TN, số lượng người nông dân tham gia BHXH TN tại Bù Đốp mặc
dù năm sau cao hơn năm trước nhưng chưa tương xứng với kỳ vọng và tiềm năng của huyện, như vậy còn rất nhiều nông dân chưa tham gia BHXH TN
Trang 13Trên địa huyện Bù Ðốp chưa có một nghiên cứu nào liên quan đến vì sao người nông dân không mặn mà với việc tham gia BHXH TN và để đưa ra các giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Bù Đốp Ðó là lý do
tôi chọn đề tài “Giải pháp tăng cường sự tham gia của nông dân vào Bảo hiểm xã
hội tự nguyện tại huyện Bù Ðốp tỉnh Bình Phước” để làm luận văn thạc sĩ của
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của
người nông dân ở huyện Bù Đốp
Đo lường và kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH
TN của nông dân ở huyện Bù Đốp
Dựa vào kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý nhằm gia tăng người nông
dân tham gia BHXH TN tại huyện Bù Đốp
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Vì sao số người nông dân tham gia BHXH TN ở huyện Bù Đốp lại ít?
Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định tham gia BHXH TN của người nông dân ở huyện Bù Đốp như thế nào?
Các hàm ý nào được đề xuất để gia tăng người nông dân tham gia BHXH TN
ở huyện Bù Đốp
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người nông dân
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ 2016 – 2018 từ Ủy ban nhân dân huyện Bù Đốp và Bảo hiểm xã hội huyện Bù Đốp
Trang 14Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 11/2019 đến tháng 12/2019 thông qua phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng
Nghiên cứu định lượng: Dùng kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng bảng hỏi nông dân tại huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước Số lượng người nông dân được xác định bằng công thức của Slovin Toàn bộ dữ liệu hồi đáp sẽ được xử lý với sự
hỗ trợ của phần mềm SPSS
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về lý luận, hệ thống hóa bổ sung, làm rõ những vấn đề lý luận về tham gia
BHXH TN và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tham gia BHXH TN
Về thực tiễn, thực trạng phát triển BHXH TN và sự tham gia BHXH TN đối
với người nông dân trên địa bàn huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước, xây dựng mô hình nghiên cứu những nhân tố tác động đến ý định tham gia BHXH TN
Về giải pháp, luận văn đưa ra các hàm ý nhằm tăng cường sự tham gia của
nông dân vào BHXH TN ở huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước
1.7 Điểm mới của nghiên cứu
Bảo hiểm xã hội nói chung và BHXH TN nói riêng luôn nhận được sự quan tâm của người nông dân không được hưởng BHXH, thực tế đã chứng minh sự cần thiết tham gia loại hình BHXH nói chung và BHXH TN nói riêng Tuy nhiên, loại hình bảo hiểm tự nguyện do các công ty bảo hiểm phi nhân thọ cung cấp - mang tính chất kinh doanh do đó, người dân vẫn có sự nghi ngờ và cẩn trọng khi tiếp xúc với loại hình bảo hiểm đang còn mới mẻ này Các nhà nghiên cứu trước đây đã có nhiều công trình về đề tài này, tuy nhiên, hiện tại BHXH TN vẫn là một vấn đề mới đối với người nông dân ở huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước Do đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài này nhằm tìm ra các hàm ý chính sách nhằm tăng cường sự tham gia của nông dân vào BHXH TN
1.8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm có 5 chương Cụ thể:
Chương 1 Mở đầu
Trang 15Trình bày tính cấp thiết và lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý thuyết
Trình bày khái niệm BHXH, lý thuyết về BHXH TN, các nền tảng lý thuyết của nghiên cứu, lược khảo các nghiên cứu trước, mô hình nghiên cứu
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
Trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định lượng, phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu, nguồn thông tin thu thập
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Thực hiện mô tả mẫu điều tra các biến định tính, tác giả đã tổng hợp thông tin từ số liệu khảo sát thông qua mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA) để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của nông dân ở huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước
Trang 16Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết về bảo hiểm xã hội
2.1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu xã hội, pháp lý, kinh tế, kỹ thuật, nghiệp vụ…
Theo Monique (2010): “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê”
Hồ Sĩ Sà (2000, trang 12) định nghĩa:“Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường (theo quy luật thống kê) cho người tham gia bảo hiểm trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc người thứ ba; Điều này có nghĩa
là người tham gia chuyển giao rủi ro cho người bảo hiểm bằng cách nộp một khoản phí để hình thành quỹ dự trữ Khi người tham gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm lấy quỹ dự trữ trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia Phạm vi bảo hiểm là những rủi ro mà người tham gia đăng ký với người bảo hiểm”
Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít (Dennis Kessler, 2008) Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự đoán được
Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính, thông qua đó một cá nhân hay một tổ chức có quyền được hưởng bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm nếu rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra nhờ vào khoản đóng góp phí bảo hiểm cho mình hay cho người thứ ba Khoản tiền bồi thường hoặc chi trả này do một tổ chức đảm nhận,
tổ chức này có trách nhiệm trước rủi ro hay sự kiện bảo hiểm và bù trừ chúng theo quy luật thống kê (Nguyễn Văn Định, 2008)
Trang 17Như vậy có thể nói: Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ bảo hiểm tập trung nhằm giải quyết các rủi ro bảo hiểm cho các đối tượng tham gia bảo hiểm, đảm bảo cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường
2.1.1.2 Khái niệm về bảo hiểm xã hội
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi BHXH là bộ phận chính cấu thành hệ thống An sinh xã hội (ASXH), là chính sách xã hội quan trọng của mỗi nước Tuy nhiên, rất khó có một khái niệm chung về BHXH được tất cả các quốc gia thống nhất sử dụng bởi quan niệm về vấn đề này như thế nào phụ thuộc vào nhận thức của người dân, của Nhà nước, của tập quán lựa chọn và khả năng quản lý của mỗi loại rủi ro trong từng nước Vì vậy, trên bình diện quốc tế, khái niệm chung của ILO về ASXH cũng được sử dụng trong lĩnh vực BHXH Theo công ước 102 (1952) thì BHXH có thể được hiểu khái quát là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp cộng đồng, nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con
BHXH là sự đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động và gia đình họ khi có nguy cơ mất an toàn về kinh tế do bị giảm hoặc mất khả năng lao động thông qua sử dụng nguồn quỹ huy động từ người tham gia và sự tài trợ của Nhà nước (Nguyễn Văn Định, 2008)
BHXH là loại hình dịch vụ công trong nền kinh tế thị trường, hoạt động không nhằm mục đích kiếm lời BHXH có vai trò kinh tế xã hội hết sức quan trọng
vì nó hướng tới diện bảo vệ là người lao động, lực lượng quan trọng đang trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội BHXH có tính cộng đồng, tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc và là trụ cột chính của hệ thống ASXH của mỗi nước (Phạm Thị Định, 2011)
Trong từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1: “BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH
Trang 18có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội”
BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện theo quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm
xã hội thì bảo hiểm xã hội bao gồm:
BHXH bắt buộc: là loại hình BHXH mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia
BHXH tự nguyện: là loại hình BHXH mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình
để hưởng bảo hiểm xã hội BHXH TN được triển khai thực hiện từ năm 2008 với 2 chế độ bảo hiểm là hưu trí và tử tuất (Luật Bảo hiểm Xã hội Việt Nam 2014).Theo tác giả: BHXH là chính sách an sinh xã hội của Nhà nước nhằm mục đích chi trả một phần thu nhập cho người lao động khi gặp sự cố trong cuộc sống như ốm đau, thai sản, tuổi già không còn khả năng lao động hoặc tử tuất trên cơ sở đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động dưới sự quản lý của Nhà nước
2.1.1.3 Các chế độ bảo hiểm xã hội
Các chế độ bảo hiểm xã hội tại Việt Nam hiện nay bao gồm:
a) Chế độ bảo hiểm ốm đau;
b) Chế độ bảo hiểm xã hội tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp;
c) Chế độ bảo hiểm thai sản;
d) Chế độ bảo hiểm thất nghiệp;
e) Chế độ hưu trí;
g) Chế độ bảo hiểm y tế;
h) Chế độ tử tuất
2.1.1.4 Chức năng của bảo hiểm xã hội
Trên thực tế, nhiều người lao động băn khoăn và không muốn tham gia BHXH vì cho rằng mức đóng BHXH khá cao Tuy nhiên, người lao động lại không nắm rõ được lợi ích mà BHXH mang lại cho người lao động Vậy thực chất khi đóng bảo hiểm xã hội để làm gì?
Bảo hiểm xã hội sẽ giúp bảo đảm thay thế, bù đắp sự thiếu hụt về mặt tài chính cho người lao động và gia đình người lao động khi gặp phải những rủi ro trong cuộc sống như tai nạn, ốm đau, …
Trang 19Ngoài chức năng trên thì bảo hiểm xã hội sẽ phân phối lại thu nhập cho người lao động Chức năng này thể hiện ở việc người lao động san sẻ thu nhập theo thời gian Tức là, người lao động sẽ đóng BHXH để dành hưởng trợ cấp khi gặp rủi
ro hay có vấn đề khác như thai sản, thất nghiệp hay lương hưu sau này…
2.1.2 Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
2.1.2.1 Khái niệm về nông dân
Nông dân là những người là những người lao động cư trú tại nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai, chăn nuôi và trồng trọt…
2.1.2.2 Khái niệm về Bảo hiểm xã hội cho nông dân
Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân là loại hình bảo hiểm do Nhà nước
tổ chức mà người tham gia bảo hiểm được quyền lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với tài chính của mình
Căn cứ theo Khoản 4, Điều 2 Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, không nằm trong nhóm đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đều có thể tham gia BHXH tự nguyện Và khi nào cần tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thì người nông dân căn cứ theo đúng quy định nêu trên xem mình thuộc nhóm đối tượng nào để có thể đóng BHXH
2.1.2.3 Mức đóng và phương thức đóng của nông dân khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Căn cứ Điều 87, Luật BHXH Việt Nam 2014 quy định chi tiết mức đóng BHXH tự nguyện cho nông dân như sau: Người nông dân quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật này, hằng tháng đóng bằng 22% mức thu nhập tháng do người nông dân lựa chọn để đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; mức thu nhập tháng làm căn
cứ đóng bảo hiểm xã hội thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở
Mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH TN của người tham gia BHXH
tự nguyện lựa chọn (gọi tắt là Mức thu nhập tháng): thấp nhất bằng lương tối thiểu chung, cao nhất bằng 20 lần lương tối thiểu chung
Mức thu nhập tháng = Lmin + m × 50.000 (đồng/tháng)
Trang 20Trong đó: Lmin: là mức lương tối thiểu chung; m: là số nguyên lớn hơn hoặc bằng 0 (do người tham gia lựa chọn)
Người nông dân được chọn một trong các phương thức đóng sau đây:
2.1.2.4 Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
- Chế độ hưu trí cho nông dân
Người nông dân thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đủ điều kiện về tuổi và thời gian tham gia bảo hiểm xã hội sẽ được hưởng chế độ hưu trí
Lương hưu hàng tháng bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH và tương ứng với số năm đóng BHXH, trong đó:
Nông dân nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm
2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm và từ năm 2022 trở đi là 20 năm
Nông dân nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm
Sau đó cứ mỗi năm thì nông dân nam và nữ được tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%
- Chế độ tử tuất cho nông dân
Người nông dân có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện từ đủ 60 tháng (05 năm) trở lên và người đang hưởng lương hưu sẽ được hưởng trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở (mức lương cơ sở hiện tại là 1.490.000 đồng), dành cho người có thời gian đóng từ đủ 60 tháng trở lên hoặc đang hưởng lương hưu
Người nông dân đang đóng bảo hiểm xã hội, người nông dân đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội, người đang hưởng lương hưu khi chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người nông dân đang đóng bảo hiểm xã hội hoặc đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội
Trang 21- Sổ bảo hiểm xã hội cho nông dân
Theo quy định hiện nay thì mỗi nông dân khi tham gia BHXH TN sẽ được
cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp sổ BHXH ghi chép đầy đủ quá trình tham gia, để làm căn cứ giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội cho người nông dân theo quy định của pháp luật
2.1.2 Bản chất và vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân 2.1.2.1 Bản chất bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
Bản chất kinh tế: là sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH TN nhằm góp phần ổn định cuộc sống của người tham gia và gia đình khi gặp rủi ro làm mất hoặc giảm khả năng lao động
Bản chất xã hội: không vì mục đich lợi nhuận, mà hoạt động vì mục tiêu xã hội thông qua việc chi trả các chế độ BHXH TN, khi người tham gia bị tổ thất do rủi ro, tuổi già, đảm bảo cuộc sống và an sinh xã hội
2.1.2.2 Vai trò bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
Thứ nhất, ổn định thu nhập cho người nông dân và gia đình Khi tham gia
BHXH TN phải trích một khoản tiền nộp vào quỹ BHXH, khi gặp rủi ro, bất hạnh
do chết hay khi về già hết tuổi lao động sẽ được hưởng các chế độ theo quy định, góp phần nâng cao đời sống tinh thần đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc (Viet Nam Foundation, 2013)
Thứ hai, tạo điều kiện cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, động lực cần thiết để khắc phục những biến cố trong cuộc sống, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân - thiện - mỹ, nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà
ai nhà ấy rạng” BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội công bằng, văn minh
Thứ ba, thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần tương thân tương ái Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho xã hội phát triển lành mạnh và bền vững
Trang 22Thứ tư, thực hiện bình đẳng xã hội Trên giác độ xã hội, BHXH TN là một
công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động
Trên giác độ kinh tế, BHXH TN là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội (Viet Nam Foundation, 2013)
2.1.3 Sự cần thiết tăng cường nông dân tham gia bảo hiểm xã hội tự
nguyện
Theo Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến (1998), “Việt Nam là một nước đông dân (90 triệu người, đứng hàng thứ 12 trên thế giới), nhưng lại là một trong những nước mới bước ra khỏi nhóm nước nghèo Vì vậy an sinh xã hội nói chung
và bảo hiểm xã hội nói riêng có ý nghĩa rất to lớn đối với người nông dân và người lao động (NLĐ) Riêng lĩnh vực BHXH, qua trên 50 năm thực hiện, chính sách BHXH đã phát huy dần từng bước, từ chỗ đối tượng BHXH chỉ là công nhân viên chức Nhà nước, đến nay đã mở rộng cho NLĐ trong các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế Tính đến nay đã có khoảng 19 triệu người tham gia BHXH”
Chính sách bảo hiểm xã hội đã góp phần to lớn vào việc ổn định đời sống cho NLĐ thụ hưởng BHXH; góp phần ổn định chính trị - xã hội của đất nước Tuy nhiên, so với lực lượng lao động cả nước thì tỷ lệ lao động tham gia BHXH còn thấp Những NLĐ trong khu vực phi kết cấu, lao động nông nghiệp và lao động ở khu vực không có quan hệ lao động chưa được tham gia BHXH, chưa được sự bảo
vệ của BHXH một cách chính thống Điều này đã làm tăng nguy cơ cho gánh nặng của hệ thống an sinh xã hội (tầng thứ nhất) Nghĩa là tăng nguy cơ cho các chi phí công cộng để trợ giúp cho các đối tượng này Theo dự báo đến những năm 2030 của thế kỷ này, dân số nước ta sẽ đạt 100 triệu người và lực lượng lao động khoảng 55 triệu người Đây là lực lượng lao động đông đảo có thể tham gia BHXH nếu như chính sách BHXH được mở rộng cho mọi NLĐ và như vậy sẽ có khoảng 50% số dân được bảo vệ ở tầng thứ hai của hệ thống ASXH quốc gia Hay nói cách khác nguy cơ rủi ro trong lao động của trên 50% dân cư đã được bảo vệ bởi các chế độ BHXH Điều này đã giảm chi phí công cộng để thực hiện các trợ giúp xã hội tối thiểu (tầng thứ nhất) Xét dưới khía cạnh kinh tế, khi các chi phí công cộng cho trợ
Trang 23giúp xã hội giảm đi thì số tiền từ ngân sách và xã hội sẽ được đầu tư vào các lĩnh vực khác của nền kinh tế quốc dân làm cho đời sống của người dân được “an sinh’’ hơn
Đây là ý nghĩa rất lớn lao của sự mở rộng và phát triển BHXH trong hệ thống ASXH quốc gia Hệ thống BHXH được mở rộng góp phần giảm bớt những đối tượng cần trợ giúp xã hội Hiện nay ở Việt Nam nếu mọi NLĐ được tham gia vào các hệ thống BHXH (hoặc bắt buộc hoặc tự nguyện), đặc biệt là nông dân và lao động nông thôn, nơi chiếm đến 70% dân số và gần 70% lực lượng lao động cả nước, thì họ sẽ phần nào được sự bảo vệ của hệ thống, được sự san sẻ của những người cùng tham gia bảo hiểm và như vậy gánh nặng của ngân sách, của các quỹ công cộng và của cộng đồng sẽ được nhẹ bớt Điều này cũng có nghĩa là hệ thống ASXH quốc gia càng đảm bảo và phát triển Tuy nhiên để đạt được sự ASXH nói chung, không chỉ là tự thân của hệ thống mà còn phụ thuộc vào sự phát triển KT-
XH nói chung của đất nước Một đất nước muốn có một nền an sinh vững mạnh thì phải có một nền kinh tế đủ mạnh và một nền chính trị tiến bộ và ổn định, bởi lẽ sự phát triển của hệ thống ASXH phụ thuộc rất lớn vào quan điểm chính trị, vào đường
lối phát triển đất nước của các nhà cầm quyền (Trần Quang Hùng, 1993)
Đối với loại hình BHXH tự nguyện, theo tác giả, đây là sự cần thiết khách
quan trong nền kinh tế quốc dân Thực ra loại hình bảo hiểm trước đây đã được thực hiện ở một vài địa phương Chẳng hạn ở Phú Xuyên, Hà Tây, từ năm 1986 Hội nông dân ở đây đã thực hiện bảo hiểm hưu trí cho nông dân Bảo hiểm ở Hà Tây được thực hiện trên cơ sở đóng bằng thóc để hưởng tuổi già Tuy nhiên, do chưa có
sự chuẩn bị chu đáo và chưa có cơ sở pháp lý phù hợp, nên kết quả thực hiện ở các địa phương này còn hạn chế Loại hình BHXH tự nguyện thường được áp dụng cho hai nhóm lao động Nhóm thứ nhất là những người tham gia hình thức BHXH BB nhưng có nhu cầu thêm; nhóm thứ hai là những người chưa tham gia BHXH Trong luận văn, như ở phạm vi đã trình bày, chỉ đề cập đến nhóm thứ hai Những người này gồm lao động trong nông nghiệp, lao động trong khu vực tiểu thủ công nghiệp, lao động độc lập…
Trang 24Do tính chất lao động rất đa dạng và thu nhập của họ cũng rất khó kiểm soát, nên cần có cách thức tổ chức và cách đóng BHXH TN phù hợp Về cách thức tổ chức BHXH TN, theo kinh nghiệm của một số nước, nhà nước chỉ tạo ra khung pháp lý, định hướng chung Các hoạt động nghiệp vụ BHXH được thực hiện theo chế độ tự quản Mô hình này có thể tóm tắt như sau; NLĐ bầu ra người đại diện cho mình vào Hội đồng tự quản cơ sở Hội đồng cơ sở lại bầu ra đại diện để tham gia vào hội đồng tự quản vùng Hội đồng tự quản các vùng lại bầu ra Hội đồng BHXH Trung ương Đây là cơ quan cao nhất của BHXH tự nguyện Cơ quan này đề ra điều
lệ và định ra phương hướng hoạt động theo định hướng chung của nhà nước, bao gồm cả cách thức đóng góp, xây dựng các chế độ, đầu tư phát triển quỹ… Vì là hình thức tự nguyện, nên tổ chức như vậy NLĐ coi BHXH là của mình, dễ dàng chấp nhận hơn Để thực hiện được mô hình BHXH tự nguyện đòi hỏi hệ thống luật pháp của Nhà nước phải hoàn thiện và có sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan chức năng
Về cách thức đóng góp BHXH TN, vì thu nhập của NLĐ ở các nhóm đối tượng nêu trên rất khó kiểm soát và thường không ổn định (đặc biệt là lao động trong nông nghiệp, lao động độc lập), do đó cũng nên thực hiện đóng và hưởng trên
cơ sở của “mức thu nhập được bảo hiểm” Mức thu nhập được bảo hiểm, hiểu một cách phổ quát nhất là mức thu nhập bình quân của các nhóm lao động tham gia BHXH tự nguyện, thông qua thống kê thu nhập theo số lớn, được dùng để tính mức đóng và mức hưởng BHXH Mức thu nhập được bảo hiểm này có thể được điều chỉnh theo từng thời kỳ phù hợp với mặt bằng chung của nền kinh tế quốc dân Đóng và hưởng theo cách này thì mọi NLĐ có thể tham gia được nhất là đối với những lao động có thu nhập thấp và không ổn định và nghiệp vụ bảo hiểm cũng sẽ đơn giản Về các chế độ BHXH, do tính chất linh hoạt và đa dạng của lao động và khả năng quản lý, hệ thống BHXH tự nguyện nên làm từng bước, trước hết có thể thực hiện chế độ bảo hiểm tuổi già và chế độ tử tuất Điều kiện để hưởng trợ cấp BHXH cũng trên cơ sở độ tuổi và thời gian đóng góp Tuy nhiên, khác với hệ thống bảo hiểm bắt buộc, trong hệ thống bảo hiểm tự nguyện, NLĐ có thể tham gia bảo hiểm khi tuổi đời đã tương đối nhiều (chẳng hạn 40-50 hay 50 tuổi mới bắt đầu tham gia bảo hiểm) Vì vậy về mặt kỹ thuật cần tính toán các mức đóng khác nhau
Trang 25để những người ở các độ tuổi khác nhau cũng có thể tham gia, mà vẫn bảo đảm công tác công bằng (Trần Quang Hùng, 1993)
Như đã nêu, số đối tượng tham gia BHXH theo hình thức bắt buộc chỉ mới chiếm khoảng 20% lực lượng lao động, còn khoảng 80% số lao động chưa được tham gia BHXH, trong đó số người làm nông nghiệp và ở nông thôn chiếm khoảng 80% Như vậy, ở góc độ chính sách, chúng ta chưa có điều kiện thực hiện BHXH bắt buộc cho lực lượng lao động đông đảo này Trong khi đó Hiến pháp và các chủ trương của Đảng đều đã đề cập đến vấn đề BHXH đối với NLĐ trong các thành phần kinh tế Dưới góc độ công bằng xã hội, công bằng giữa làm việc và thụ hưởng thì điều này cũng chưa thực hiện được Suốt thời kỳ chiến tranh và xây dựng đất nước, người nông dân nói riêng và NLĐ trong nông thôn nói chung đã có nhiều đóng góp to lớn, trong khi đó các phúc lợi xã hội dành cho họ còn rất hạn chế, đặc biệt là họ chưa được hưởng BHXH Do đó BHXH TN đối với NLĐ nói chung và nông dân và lao động nông thôn vừa là nhu cầu khách quan vừa là trách nhiệm của nhà nước Tính khách quan để thực hiện BHXH đối với nông dân thể hiện ở những điểm như:
Thứ nhất, trong nền sản xuất hàng hoá, NLĐ tiểu thủ công nghiệp, nông dân đều tạo ra của cải vật chất cho xã hội, hơn nữa, họ là những người góp phần nuôi sống xã hội loài người Mặt khác, trong quá trình lao động sản xuất, những nông dân này phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro, trong đó có những loại “rủi ro xã hội” như các nhóm lao động khác, như ốm đau, TNLĐ, tuổi già, tử tuất, làm cho họ bị giảm hoặc mất thu nhập Do vậy, họ có nhu cầu được BHXH Theo tác giả, đây là nhu cầu mang tính khách quan của BHXH
Thứ hai, do có sản xuất hàng hoá, người nông dân không chỉ làm ra lúa gạo
để ăn mà còn bán trên thị trường và làm ra các sản phẩm, các dịch vụ trên thị trường Nhờ đó mà họ đã có thu nhập ổn định và cơ cấu thu nhập đa dạng Đây là
“điều kiện đủ”, là điều kiện rất cơ bản để nông dân có khả năng tham gia BHXH
TN
Thứ ba, đối với lao động nông thôn, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn đã bước đầu có sự chuyển dịch Nông thôn nước ta hiện nay không phải chỉ có sản xuất nông nghiệp mà đã phát triển các loại hình sản xuất và dịch vụ khác Giá
Trang 26trị sản lượng cây không phải lương thực tăng lên Giá trị sản phẩm chế biến so với giá trị sản lượng nông nghiệp cũng không ngừng tăng lên Điều này cũng có nghĩa
là thu nhập của người nông dân đã khá đa dạng và khả năng tham gia BHXH TN của họ càng cao hơn
Như vậy, có thể nói, thực hiện BHXH TN đối với nông dân chưa thuộc đối tượng của BHXH bắt buộc là sự cần thiết khách quan, nhằm bảo vệ cho nông dân trước những “rủi ro, bất trắc xã hội” trong quá trình lao động
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân
Theo Nguyễn Anh Vũ và cs (2004), có hai nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến việc tham gia, triển khai BHXH tự nguyện bao gồm (1) Vấn đề phát triển kinh tế xã hội của đất nước (2) Đặc điểm của đối tượng tham gia BHXH TN
(1) Vấn đề phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Kinh tế xã hội đất nước có vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của BHXH TN Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế, đa dạng hóa nền kinh tế nhiều thành phần, thay đổi thể chế kinh tế theo định hướng thị trường xã hội chủ nghĩa… không chỉ ảnh hưởng đến riêng cuộc sống của nông dân
mà còn là sự thay đổi của nền kinh tế xã hội quốc gia Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, việc làm, nhận thức của nông dân trên phạm vi vĩ mô Sự phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ sẽ làm cho đời sống vật chất tinh thần của nông dân không ngừng được cải thiện Từ đó khiến cho họ có thêm nhận thức và có nhu cầu tham gia BHXH TN cao hơn
(2) Đặc điểm của đối tượng tham gia
Thu nhập của người nông dân: tăng trưởng kinh tế của đất nước có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tham gia BHXH TN của nông dân Khả năng tham gia BHXH TN là toàn bộ giá trị mà những nông dân thu nhập được trong quá trình lao động sau khi đã chi dùng cho các nhu cầu của bản thân và gia đình
Việc làm của người nông dân: ảnh hưởng không nhỏ tới quyết định tham gia BHXH của họ Đối với các lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ, việc tham gia BHXH là một
Trang 27điều bắt buộc và đồng thời cũng là quyền lợi mà họ được hưởng Tuy nhiên đối với những đối tượng lao động là nông dân, họ không có cơ hội được tiếp cận với BHXH BB, thay vào đó họ chỉ có thể tham gia BHXH TN và đó cũng là công cụ để
họ có thể yên tâm về tương lai của mình khi sức khỏe không còn đủ để lao động tạo thu nhập cho bản thân và gia đình
Nhận thức của người nông dân: sự hiểu biết của người nông dân về chính sách BHXH TN là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc quyết định có tham gia BHXH TN hay không tham gia Người nông dân có hiểu biết về BHXH
TN thì họ mới biết được là khi tham gia họ phải đóng bao nhiêu tiền một tháng, quyền lợi họ được hưởng những gì và khả năng họ có thể tham gia được hay không,
ý nghĩa của việc tham gia BHXH TN cho chính họ và gia đình, xã hội (Nguyễn Anh Vũ và cs., 2004)
2.2 Nền tảng lý thuyết của nghiên cứu
2.2.1 Thuyết tiếp cận nhu cầu
Theo từ điển tóm tắt xã hội học (Tiếng Nga): Nhu cầu là đòi hỏi điều gì đó cần thiết để đảm bảo hoạt động sống của cơ thể, của nhân cách con người, của nhóm xã hội, của toàn xã hội nói chung; là nguồn thôi thúc nội tại của hành động Nhu cầu mang cả tính chất sinh học và tính chất xã hội Nhu cầu mang tính sinh học là nhu cầu nhằm đáp ứng những đòi hỏi của sự phát triển sinh học ở con người Còn nhu cầu mang tính xã hội thể hiện trước hết ở chỗ là dù nhu cầu riêng của mỗi cá nhân nhưng nó chỉ có thể được đáp ứng nhờ vào nền sản xuất xã hội và
vì vậy chúng mang tính xã hội rõ nét.Thêm vào đó những nhu cầu giống nhau nhưng ở mỗi thời đại khác nhau thì được xã hội đáp ứng một cách khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử và mức độ phát triển của xã hội đó
Khi nhắc đến hành vi người tiêu dùng, không thể không nhắc đến tháp nhu cầu của Maslow (Maslow’s hierachy of needs) Maslow đã phân chia nhu cầu của con người theo 5 giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên là các nhu cầu cơ bản con người như
ăn, ở, mặc, duy trì nòi giống… để đảm bảo sự tồn tại của con người Khi đã thỏa mãn nhu cầu cơ bản này, vấn đề con người quan tâm lúc này là sự an toàn, an ninh của chính bản thân Kế đến là nhu cầu giao tiếp, những mối quan hệ và gắn bó
Trang 28trong xã hội Nhu cầu tiếp tục tiến lên đến giai đoạn được nhận biết và tôn trọng,
để cuối cùng nhu cầu cao nhất là nhu cầu được thể hiện chính mình
Nhu cầu khẳng định
Nhu cầu được coi trọng Nhu cầu xã hội
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu sinh lý
Hình 2.1: Mô hình tháp nhu cầu của Maslow
số nền văn hóa khác
Trang 29Thứ hai: Các nhu cầu có tính chất tương đồng sẽ được thỏa mãn bởi nhiều sản phẩm khác nhau hay loại hình tiêu thụ khác nhau Thật vậy, văn hóa có ảnh hưởng mạnh đến hành vi người tiêu dùng và những nhà làm marketting phải hiểu được hành vi con người để có thể cung cấp những sản phẩm, dịch vụ đến đúng đối tượng trong một không gian và thời gian thích hợp
Người tiêu dùng thể hiện hành vi mua sắm của mình thông qua cách thức mua sắm, động cơ và mục đích mua sắm Việc mua sắm đó sẽ thỏa mãn nhu cầu nào đó của cá nhân hay nhóm người? Do vậy, để thỏa mãn nhu cầu thì người tiêu dùng sẽ thể hiện hành vi mua sắm của mình như thế nào?
Việc tham gia BHXH TN để người lao động có thu nhập ổn định khi về già, không sống phụ thuộc vào con cái, đáp ứng nhu cầu an toàn, những người hưởng lương hưu đến tháng đi nhận lương được thỏa mãn nhu cầu giao lưu với bạn bè, người thân
2.2.2 Lý thuyết hành vi
Theo cách hiểu của lý thuyết hành vi chính thống rất phát triển ở Mỹ, hành
vi của con người chỉ là những phản ứng (máy móc) quan sát được sau các tác nhân
và nếu không quan sát được những phản ứng thì có thể nói rằng không có hành vi
Lý thuyết này cho rằng chúng ta không thể nghiên cứu được những gì mà chúng ta không thể quan sát trực tiếp được Do vậy, tâm lý, ý thức con người không thể trở thành đối tượng nghiên cứu của lý thuyết hành vi Các nhà hành vi chính thống cho rằng các tác nhân quy định phản ứng của con người, do đó qua các phản ứng có thể hiểu được các tác nhân J Waston - một đại diện tiêu biểu của lý thuyết hành vi trong tâm lý học đã đưa ra mô hình hành vi gồm một chuỗi kích thích và phản ứng:
S (tác nhân) → R (phản ứng) Theo sơ đồ này thì hành vi chúng ta hoàn toàn máy móc, cơ học mà không có sự tham gia của ý thức hay một yếu tố nào khác
Về sau trong quá trình phát triển thuyết hành vi, khái niệm hành vi dần được
mở rộng và chứa đựng thêm nhiều yếu tố mới Các nhà hành vi mới (hay còn gọi là các nhà hành vi xã hội) cho rằng giữa hai yếu tố tác nhân và phản ứng còn có các yếu tố trung gian được chia làm 2 loại là các nhu cầu sinh lý và các yếu tố nhận thức Nhà xã hội học Mỹ George Hebert Mead đưa ra luận điểm về bản chất xã hội
Trang 30của hành vi con người: “Hành vi xã hội không thể hiểu được nếu xây dựng nó từ các tác nhân và phản ứng Nó cần được phân tích như một chỉnh thể linh hoạt, không một bộ phận nào của chỉnh thể được phân tích hoặc có thể được phân tích độc lập” Điều này có nghĩa, hành vi xã hội là một thể thống nhất gồm các yếu tố bên trong và bên ngoài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
2.2.3 Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA – Theory of Reasoned Action)
TRA được ra đời bởi Fishbein và Ajzen (1975) Lý thuyết khẳng định rằng con người thường cân nhắc kết quả của các hành động khác nhau trước khi thực hiện chúng và họ chọn thực hiện các hành động sẽ dẫn đến những kết quả họ mong muốn Công cụ tốt nhất để phán đoán hành vi là ý định Hành vi được xác định bởi
ý định thực hiện hành động (BI) của một người Ý định là kế hoạch hay khả năng một người nào đó sẽ thực hiện một hành động cụ thể trong một bối cảnh nhất định
Ý định là đại diện về mặt nhận thức của sự sẵn sàng thực hiện một hành động nào đó Ý định hành động là động lực chính dẫn đến hành vi
Fishbein và Ajzen đề xuất rằng ý định hành động chịu ảnh hưởng bởi thái độ đối với hành vi và chuẩn mực chủ quan
Nếu một người mong đợi và cho rằng hành vi sẽ mang lại kết quả tích cực và cảm thấy những người quan trọng (có ảnh hưởng đối với cá nhân) khuyến khích, ủng hộ việc thực hiện hành vi này thì ý định thực hiện hành vi sẽ được hình thành Nói cách khác, cá nhân thực hiện hành động xuất phát từ một nguyên nhân cụ thể đó là kỳ vọng về kết quả tích cực của hành động và niềm tin vào việc những người xung quanh ủng hộ hành động của mình
Theo lý thuyết hành vi hợp lý, thái độ được hình thành bởi hai nhân tố: (1) những niềm tin của cá nhân về những kết quả của hành vi (là niềm tin về việc hành
vi sẽ mang lại những kết quả có những tính chất nhất định) và (2) đánh giá của người đó về kết quả này (giá trị liên quan đến đặc điểm của kết quả hành động)
Chuẩn mực chủ quan được hình thành bởi hai nhân tố: (1) niềm tin về việc những người có ảnh hưởng cho rằng cá nhân này nên thực hiện hành vi (cảm giác hay niềm tin về việc những người xung quanh ta có đồng tình hay không đồng tình với hành vi của chúng ta) và (2) động lực để tuân thủ theo những người có ảnh
Trang 31hưởng này (ý định hay hành vi của cá nhân có bị ảnh hưởng bởi ý nghĩ của những người xung quanh hay không)
Niề m tin về kết quả
hành động
Thái độ Đánh giá kết quả hành
động
hành vi Niềm tin vào quy chuẩn
của người xung quanh
Chuẩn mực chủ quan Động lực để tuân thủ
những người xung quanh
Hình 2.2: Mô hình Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA)
(Nguồn: Ajzen I and Fishbein M., 1975)
2.2.4 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý
Tiêu biểu cho trường phái này là Coleman (1990).Coleman định hướng sự chọn lựa hợp lý, ông cho rằng “hành động có mục đích hướng tới một mục tiêu, mục tiêu đó định hình bởi các giá trị hay các sở thích”.Hai thành tố cơ bản của lý thuyết này đó chính là các actor (chủ thể hành động) và các tiềm năng.Các tiềm năng là những cái mà trên chúng ta actor kiểm soát và họ có một phần quan tâm nhất định đối với chúng Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý không phải chỉ giải thích hành động xã hội trên cấp vi mô (hành động cá nhân) Thuyết này được xây dựng
và phát triển để xem xét hoạt động chức năng của các hệ thống và các thiết chế kinh
tế xã hội tức là trên cấp vĩ mô Nó được dùng làm phương pháp tiếp hành động cá nhân của nhóm và các chức năng của cả hệ thống cũng như các mối liên hệ chức năng giữa cá nhân nhóm và hệ thống
Với thu nhập khác nhau, điều kiện sống khác nhau, nhu cầu khác nhau… thì người tiêu dùng lại có những sự lựa chọn khác nhau khi mua sắm cũng như tiêu
Trang 32dùng hàng hóa Nếu như người tiêu dùng có mức sống giàu có mua sắm những hàng hóa đắt tiền với số lượng lớn thì người tiêu dùng có mức sống thấp hơn mua sắm ít hàng hóa hơn với số lượng ít hơn Sự lựa chọn này còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác nữa bởi vậy sự lựa chọn mua sắm hàng hóa của người tiêu dùng là khác nhau và có thể thay đổi theo thời gian, không gian
2.2.5 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)
TPB là một lý thuyết mở rộng của lý thuyết hành vi hợp lý (Ajzen và Fishbein, 1980; Fishbein và Ajzen, 1975), lý thuyết này được tạo ra do sự hạn chế của lý thuyết trước về việc cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do kiểm soát lý trí
Cũng giống như lý thuyết hành vi hợp lý, nhân tố trung tâm trong lý thuyết hành vi có kế hoạch là ý định của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi nhất định Ý định được cho là nhân tố động cơ dẫn đến hành vi, nó là chỉ báo cho việc con người sẽ cố gắng đến mức nào, hay dự định sẽ dành bao nhiêu nỗ lực vào việc thực hiện một hành vi cụ thể Như quy luật chung, ý định càng mạnh mẽ thì khả năng hành vi được thực hiện càng lớn Điều này là rõ ràng, tuy nhiên, việc ý định thực hiện hành vi trở thành hành vi thực chỉ được nhìn thấy trong những hành vi nằm hoàn toàn dưới sự kiểm soát của lý chí (ví dụ cá nhân quyết định thực hiện hay không thực hiện hành vi đó bằng lý chí) Trong thực tế có những hành vi thỏa mãn điều kiện này, tuy nhiên việc thực hiện hầu hết các hành vi dù ít hay nhiều đều phụ thuộc vào những nhân tố cản trở như sự sẵn có của những nguồn lực hay những cơ hội cần Những nhân tố này đại diện cho sự kiểm soát hành vi trong thực tế của cá nhân Nếu các nguồn lực hay cơ hội cần thiết được thỏa mãn sẽ làm nảy sinh ý định hành động và cùng với ý định hành động thì hành vi sẽ được thực hiện Như vậy, trong học thuyết mới này, các tác giả cho rằng ý định thực hiện hành vi chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố: (1) thái độ đối với hành vi, (2) chuẩn mức chủ quan và (3) nhận thức về kiểm soát hành vi
Nhận thức về kiểm soát hành vi: tầm quan trọng của kiểm soát hành vi trong
thực tế là hiển nhiên Các nguồn lực và các cơ hội sẵn có sẽ phần nào quyết định khả năng thực hiện hành động Nhận thức về kiểm soát hành vi đóng một vai trò quan trọng trong lý thuyết hành vi có kế hoạch Thực tế, lý thuyết hành vi có kế
Trang 33hoạch khác với lý thuyết hành động từ nguyên nhân ở nhân tố này Nhận thức về kiểm soát hành vi được định nghĩa là nhận thức của cá nhân về sự dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện một hành vi mong muốn Theo lý thuyết hành vi có kế hoạch, nhận thức về kiểm soát hành vi cùng với ý định hành động có thể được sử dụng trực tiếp để mô tả hành vi Vẫn với việc lấy ý định hành động làm trung tâm, việc giải thích hành vi sẽ đạt kết quả cao hơn khi đưa thêm nhân tố nhận thức về kiểm soát hành vi vào
Như vậy, lý thuyết hành vi có kế hoạch chỉ ra ba nhân tố độc lập về mặt khái niệm quyết định nên ý định Đầu tiên là thái độ đối với hành vi, đó là mức độ mà mỗi cá nhân đánh giá cao hay thấp một hành vi nào đó Thứ hai là chuẩn mực chủ quan, đó là nhận thức về áp lực mà xã hội đặt lên cá nhân trong việc thực hiện hay không thực hiện hành vi Thứ ba là nhận thức về kiểm soát hành vi, đó là nhận thức
về việc dễ hay khó để thực hiện một hành vi cụ thể Nhìn chung, thái độ đối với hành vi càng tích cực, chuẩn mực chủ quan càng ủng hộ việc thực hiện hành vi và nhận thức kiểm soát hành vi càng ít cản trở thì ý định thực hiện hành vi càng mạnh
mẽ Tuy nhiên tầm quan trọng của mỗi nhân tố trong ba nhân tố nêu trên không hoàn toàn tương đồng trong những mối cảnh nghiên cứu hành vi khác nhau
Trang 342.3 Các nghiên cứu bảo hiểm xã hội tự nguyện ngoài nước và trong nước
Nghiên cứu của Liyue & Yu (2006) nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến việc tham gia BHXH của dân cư trôi nổi tại 06 thành phố ở Trung Quốc từ ba cấp
độ bao gồm thành phố, doanh nghiệp và dân số nổi Kết quả nghiên cứu giúp tác giả định hướng, gợi ý tìm ra nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện
là “nhận thức về tính an sinh xã hội khi tham gia BHXH tự nguyện”, “hiểu biết về BHXH tự nguyện”, trong khi đó chính sách xã hội của các thành phố ảnh hưởng đáng kể đến sự tham gia của bảo hiểm xã hội của quần thể thả nổi; đặc điểm doanh nghiệp có tác động tương đối mơ hồ mà không có sự đồng bộ rõ ràng về sự tham gia bảo hiểm xã hội của quần thể thả nổi; ở một mức độ nhất định, đặc điểm cá nhân của quần thể thả nổi gây ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm xã hội của họ, nhưng ổn định việc làm của họ không phải là yếu tố quyết định quan trọng Cuối cùng, bài báo thảo luận về những tác động chính sách của các kết quả nghiên cứu
Cá nhân (người dân):
- Đặc điểm công việc
- Điều kiện làm việc
Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu của Liyue & Yu (2006)
(Nguồn: Liyue & Yu, 2006)
Trang 35Nghiên cứu của Mathauer & cộng sự (2008) nhằm phân tích và tìm hiểu nhu cầu về bảo hiểm y tế (xã hội) của người lao động khu vực phi chính thức ở Kenya bằng cách đánh giá nhận thức và kiến thức và mối quan tâm của họ về bảo hiểm y
tế và Quỹ bảo hiểm bệnh viện quốc gia Kenya (NHIF) Nghiên cứu này phục vụ để khám phá cách các công nhân khu vực phi chính thức có thể được tích hợp vào NHIF Để thu thập dữ liệu, các cuộc thảo luận nhóm tập trung đã được tổ chức với các nhóm công nhân khu vực phi chính thức có tổ chức thuộc các loại khác nhau trên cả nước Kết quả cho thấy rằng rào cản quan trọng nhất đối với việc tham gia bảo hiểm là việc thiếu kiến thức của người lao động khu vực phi chính thức về NHIF, và thủ tục đăng ký bảo hiểm Không có khả năng thanh toán là một yếu tố quan trọng đối với một số người, nhưng về nguyên tắc, mọi người quan tâm đến bảo hiểm y tế và do đó sẵn sàng trả tiền cho nó Mô hình nghiên cứu cụ thể như sau:
Kiến thức của người dân về chi phí CSSK
Chất lượng chăm sóc sức khỏe của các cơ sở y
tế
Hiểu và chấp nhận cơ sở bảo hiểm
Sự tín nhiệm và tin tưởng trong quản lý quỹ bảo
hiểm
Tính ưu việt của các gói bảo hiểm
Khả năng chi trả
Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của Mathauer & cộng sự (2008) (Nguồn: (
( Nguồn: Mathauer & cộng sự, 2008)
Nhu cầu tham gia bảo hiểm
của người
lao động khu vực phi chí
Trang 36Phạm Ngọc Hà (2011), nghiên cứu các giải pháp tăng cường BHXH tự nguyện cho nông dân ở tỉnh Quảng Nam Tác giả đã Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận, phân tích đánh giá những kết quả đạt được Đánh giá tổng quan về thực trạng triển khai thực hiện BHXH tự nguyện đối với nông dân tại tỉnh Quảng Nam trong 3 năm qua; kết quả đạt được, chưa được, những nguyên nhân tồn tại, hạn chế Từ đó,
đề xuất sớm bổ sung, sửa đổi luật BHXH về BHXHTN đối với nông dân tham gia BHXHTN như giảm tỷ lệ phần % về mức đóng từ 18% hiện nay xuống còn 15% và được ổn định lâu dài ít nhất 5 năm Điều chỉnh bổ sung thêm các chế độ hưởng BHXHTN ốm đau, thai sản, tai nạn lao động như đối tượng BHXH bắt buộc để thể hiện sự bình đẳng Có cơ chế hỗ trợ một phần mức đóng BHXH tự nguyện đối với người nông dân ít nhất 3% trên mức lương tối thiểu để tạo điều kiện cho người nông dân tham gia, trước hết từ năm 2012 đến 2015 ưu tiên hỗ trợ cho nhóm người nông dân là người nghèo, người dân tộc miền núi khó khăn
Phạm Thị Phương Thanh (2015), nghiên cứu phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người dân trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột Tác giả, đã Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiển về BHXH tự nguyện cho người dân Đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện cho người dân trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột Tác giả, kết luận với nhu cầu tham gia BHXHTN khá cao nhưng khả năng tham gia hạn chế do phần lớn lao động khu vực này có thu nhập không ổn định, khả năng tiết kiệm không cao là một thách thức rất lớn trong khi mức đóng khá cao (thấp nhất là 16% mức lương tối thiểu và tăng dần đến khi đạt 22%) Người nghèo, nhóm xã hội yếu thế, người dân tộc khó khăn là những đối tượng khó có thể tiếp cận được với BHXH TN Muốn mở rộng độ bao phủ cho nhóm đối tượng này phải có chính sách hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng Đây là một thách thức rất lớn đối với nước ta khi mà ngân sách nhà nước còn eo hẹp, khả năng xã hội hóa còn khó khăn
Nguyễn Thị Thanh Mây (2018), nghiên cứu phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam Tác giả, đã Khái quát hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển Mô tả thực trạng phát triển BHXH TN trên địa bàn huyện Tây Giang, Từ kết quả điều tra nghiên cứu cho thấy, đa số NLĐ
Trang 37cho rằng mức đóng phí như hiện nay là cao so với thu nhập của họ (chiếm 65,71%), ngoài ra khả năng lựa chọn mức phí tham gia BHXH tự nguyện phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập của NLĐ, vì vậy với mức đóng tối thiểu hàng tháng bằng mức lương
cơ sở (mức quy định hiện hành với mức đóng tối thiểu hàng tháng bằng 22% lương
cơ sở) như hiện nay sẽ là rào cản lớn đối với NLĐ Phát triển thêm quyền lợi được
hưởng khi tham gia BHXH tự nguyện, hiện tại chỉ có hai chế độ là hưu trí và tử tuất, còn BHXH BB có 5 chế độ là hưu trí, tử tuất, thai sản, ốm đau, tai nạn lao động được chi trả
Trương Thị Phượng (2012) nghiên cứu đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của NLĐ khu vực phi chính thức tại tỉnh Phú Yên” Nghiên cứu này đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá một cách tổng quan về thực trạng tình hình lao động hoạt động trong khu vực phi chính thức cũng như tình hình thực hiện chính sách BHXH tự nguyện cho NLĐ ở Phú Yên Nghiên cứu cũng đã chỉ ra
6 nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của NLĐ ở khu vực phi chính thức của tỉnh Phú Yên
Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ & Hồ Huy Tựu (2014) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia BHXH tự ngyện của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An Tác giả đã tiến hành khảo cứu các lý thuyết
về hành vi người tiêu dùng nói chung như TRA và TPB, đánh giá tổng quan các nghiên cứu trước đây liên quan đến hành vi người tiêu dùng nói chung và các nghiên cứu về sự quan tâm của người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội nói riêng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 7 biến tác động có ý nghĩa thống kê lên sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện với tầm quan trọng lần lượt là: Tuyên truyền về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Ý thức sức khỏe, Kiến thức về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Thái độ, Kỳ vọng gia đình, Trách nhiệm đạo lý và Kiểm soát hành
vi Từ đây, tác giả đề xuất các hàm ý ứng dụng nhằm gia tăng sự quan tâm của những người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện
Trang 38Hoàng Thu Thủy & Bùi Hoàng Minh Thư (2018) nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân: trường hợp địa bàn tỉnh Phú Yên Mẫu được khảo sát từ 325 hộ nông dân được phân đều đến 4 địa bàn của tỉnh Phú Yên Nghiên cứu đề xuất 07 nhân tố độc lập ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của nông dân trên địa bàn tỉnh Phú Yên Kết quả phân tích cho thấy 05 biến có ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người nông dân: (1) Hiểu biết về chính sách BHXH tự nguyện; (2) Thái độ với việc tham gia BHXH tự nguyện; (3) Cảm nhận rủi ro khi tham gia BHXH tự nguyện; (4) Thủ tục tham gia BHXH tự nguyện; và (5) Trách nhiệm đạo lý Ở mô hình nghiên cứu này gồm những thang đo có độ tin cậy giúp đo lường thành phần các nhân tố và
ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Phú Yên Với kết quả nghiên cứu, một
số hàm ý chính sách được gợi ý nhằm gia tăng ý định tham gia BHXH tự nguyện của nông dân trên địa bàn tỉnh Phú Yên, đó là việc đổi mới chất lượng tổ chức thực hiện chế độ BHXH tự nguyện; nâng cao nhận thức của người dân về sự cần thiết tham gia BHXH tự nguyện; hoàn thiện cơ chế chính sách và tăng cường quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội
Hiểu biết về chính sách BHXH TN
Thái độ với việc tham gia BHXH TN
Cảm nhận rủi ro khi tham gia BHXHTN
Thủ tục tham gia BHXH TN
Trách nhiệm đạo lý
Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu của Hoàng Thu Thủy và
Bùi Hoàng Minh Thư (2018)
Ý định tham gia Bảo hiểm
xã hội tự nguyện
Trang 39Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ & Hồ Huy Tựu (2014) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia BHXH tự ngyện của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An Tác giả đã tiến hành khảo cứu các lý thuyết
về hành vi người tiêu dùng nói chung như TRA và TPB, đánh giá tổng quan các nghiên cứu trước đây liên quan đến hành vi người tiêu dùng nói chung và các nghiên cứu về sự quan tâm của người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội nói riêng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 7 biến tác động có ý nghĩa thống kê lên sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện với tầm quan trọng lần lượt là: Tuyên truyền về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Ý thức sức khỏe, Kiến thức về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Thái độ, Kỳ vọng gia đình, Trách nhiệm đạo lý và Kiểm soát hành
vi
Từ đây, tác giả đề xuất các hàm ý ứng dụng nhằm gia tăng sự quan tâm của những người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện
Thái độ đối với việc tham gia BHXH TN
quan tâm
gia
Trách nhiệm đạo lý
BHXH
tự nguyện
Kiểm soát hành vi Kiến thức về BHXH TN
Trang 40Trương Thị Phượng & Nguyễn Thị Hiển (2013) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh Phú Yên Kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh Phú Yên đã giúp hình thành mô hình nghiên cứu phù hợp Mô hình nghiên cứu
Ý định tham gia BHXH tự nguyện bao gồm: (1) Nhận thức an sinh xã hội của BHXH tự nguyện; (2) Thái độ; (3) Ảnh hưởng xã hội; (4) Hiểu biết về BHXH tự nguyện; (5) thu nhập và (6) truyền thông Tất cả những kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra được mức độ quan trọng hay thứ tự ưu tiên của các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức Ngoài
ra, nghiên cứu này còn góp phần vào hệ thống thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến
ý định tham gia BHXH tự nguyện tại tỉnh Phú Yên nói riêng, Việt Nam nói chung
Nhận thức tính ASXH của BHXH TN
định tham gia
hiểm
xã
tự nguyện
Thu nhập Truyền thông
Hình 2.8: Mô hình nghiên cứu của Trương Thị Phượng, Nguyễn Thị Hiển (2013)
(Nguồn: Trương Thị Phượng, Nguyễn Thị Hiển, 2013)