- Những quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự: Quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân + Quan hệ tài sản: “là quan hệ giữa các chủ thể gắn liền với tài sản, tức là quan hệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÌNH SỰ
MÔN HỌC LUẬT DÂN SỰ - QUY ĐỊNH CHUNG TÀI SẢN, THỪA KẾ
BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ (BÀI TẬP THÁNG) GIẢNG VIÊN: ĐẶNG LÊ PHƯƠNG UYÊN
DANH SÁCH NHÓM
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
VẤN ĐỀ 1: Đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự 1
Câu 1: Những quan hệ nào thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự? 1
Câu 2: Quan hệ giữa A và B trên có thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 và BLDS 2015 không? Vì sao? 1
VẤN ĐỀ 2: Quan hệ dân sự và quan hệ pháp luật dân sự 1
Câu 1: Quan hệ giữa anh Giáp và anh Phú liên quan đến con trâu đực có thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự không? 1
Câu 2: Quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự có những đặc điểm gì? 1
Câu 3: Cho biết những thành phần của một quan hệ pháp luật dân sự Những thành phần này được thể hiện như thế nào trong quan hệ giữa anh Giáp và anh Phú về con trâu cái? 2
Câu 4: Cho biết quan hệ pháp luật dân sự có những đặc điểm gì? 3
Câu 5: Cho biết những căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự Quan hệ giữa anh Giáp và anh Phú về con trâu cái được phát sinh trên căn cứ nào? 3
VẤN ĐỀ 3: Tuyên bố cá nhân đã chết 4
* Tóm tắt Quyết định 1 4
* Tóm tắt Quyết định 2 4
* Tóm tắt Quyết định 3 4
Câu 1: Những điểm giống và khác nhau giữa tuyên bố một người mất tích và tuyên bố một người là đã chết 5
Câu 2: Một người biệt tích và không có tin tức xác thực là còn sống trong thời hạn bao lâu thì có thể bị Tòa án tuyên bố là đã chết? 7
Câu 3: Trong các vụ việc trên, cá nhân bị tuyên bố chết biệt tích từ thời điểm nào? Vì sao? 7
Câu 4: Cho biết tầm quan trọng của việc xác định ngày chết của một cá nhân Nêu cơ sở pháp lý và ví dụ minh họa 7
Câu 5: Tòa án xác định ngày chết của các cá nhân bị tuyên bố chết là ngày nào? Đoạn nào của các Quyết định trên cho câu trả lời? 9
Câu 6: Đối với hoàn cảnh như trong các quyết định trên, pháp luật nước ngoài xác định ngày chết là ngày nào? 9
Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định ngày chết trong các Quyết định trên 9
VẤN ĐỀ 4: TỔ HỢP TÁC 10
* Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về tổ hợp tác và suy nghĩ của anh/chị về những điểm mới này 10
Trang 3VẤN ĐỀ 1: Đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự
Câu 1: Những quan hệ nào thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự?
- Những quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự: Quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân
+ Quan hệ tài sản: “là quan hệ giữa các chủ thể gắn liền với tài sản, tức là quan hệ giữa các chủ thế gắn liền với “vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” (khoản 1 Điều
105 BLDS)”1
+ Quan hệ nhân thân: “là quan hệ của chủ thể gắn liền với yếu tố nhân thân của chủ thể.”2
Câu 2: Quan hệ giữa A và B trên có thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 và BLDS 2015 không? Vì sao?
- Có Vì dựa trên cơ sở pháp lý của bộ luật hiện hành là điều 1 thì bộ luật này quy định địa vị, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân và pháp nhân, quyền và cả nghĩa vụ về nhân thân và tài sản cá nhân, pháp nhân được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm Hành động của A đã vi phạm nghĩa vụ và sự tự do ý chí trong quan hệ dân sự đối với B
VẤN ĐỀ 2: Quan hệ dân sự và quan hệ pháp luật dân sự
Câu 1: Quan hệ giữa anh Giáp và anh Phú liên quan đến con trâu đực có thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự không?
- Quan hệ giữa anh Giáp và anh Phú liên quan đến con trâu đực thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự
Vì quan hệ giữa Giáp và anh Phú liên quan đến quan hệ sở hữu tài sản mà cụ thể ở đây là con trâu đực của anh Phú
Câu 2: Quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự có những đặc điểm gì?
- Quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự đa dạng và phong phú3
+ Đa dạng về lĩnh vực như quan hệ vật quyền và quan hệ trái quyền
+ Đa dạng phong phú về đối tượng như vật, tiền, giấy tờ có giá trị, tài sản hiện tại, + Đa dạng phong phú về chủ thể như cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và Nhà nước, chủ thể mang quốc tịch nước ngoài,
- Quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự mang tính ý chí4
1Đỗ Văn Đại, Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự của ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, Nxb.Hồng Đức
– Hội Luật gia Việt Nam, tr.6
2Đỗ Văn Đại, Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự của ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, Nxb.Hồng Đức
– Hội Luật gia Việt Nam, tr.7
3Đỗ Văn Đại, Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự của ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, Nxb.Hồng Đức
- Hội Luật gia Việt Nam, tr.6 và tr.7
4Đỗ Văn Đại, Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự của ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, Nxb.Hồng Đức
- Hội Luật gia Việt Nam, tr.6 và tr.7
Trang 4+ Quan hệ tài sản phản ảnh và ghi nhận ý chí của chủ thể trong các quan hệ tài sản như xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ tài sản
+ Quan hệ tài sản chịu tác động bởi ý chí của nhà nước ( tính phù hợp với quy định của BLDS ) Mỗi quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự đều chịu một quy chế pháp lý
từ nhà nước
- Quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự mang tính hàng hóa và tiền tệ5
+ Đối tượng của quan hệ tài sản là hành hóa có giá trị và được xác định thông qua trao đổi hàng hóa, chịu sự chi phối của quy luật giá trị
+ Tính chất hàng hóa của tài sản cũng phụ thuộc vào ý chí nhà nước
- Quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự có tính chất đền bù tương đương trong trao đổi6
Sự đền bù tương đương trong trao đổi là biểu hiện của quan hệ hàng hóa và tiền tệ,
là đặc trưng của quan hệ dân sự theo nghĩa rộng.7
Câu 3: Cho biết những thành phần của một quan hệ pháp luật dân sự Những thành phần này được thể hiện như thế nào trong quan hệ giữa anh Giáp và anh Phú về con trâu cái?
- Những thành phần của một quan hệ pháp luật dân sự bao gồm:
+ Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự
• Là những người tham gia vào các quan hệ đó bao gồm cá nhân, pháp nhân
• Phải có đủ tư cách chủ thể mới được tham gia vào một quan hệ dân sự
+ Khách thể của quan hệ pháp luật dân sự
• Là một phạm trù pháp lý, là bộ phận cấu thành của quan hệ pháp luật
• Là những cái mà các chủ thể của quan hệ pháp luật hướng tới tác động vào
• Là những lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần mà pháp luật bảo vệ cho các chủ thể trong quan hệ pháp luật
• Khách thể có thể là bộ phận của vật chất cũng có thể là những giá trị tinh thần và được chia thành 5 nhóm: tài sản, hành vi và các dịch vụ, kết quả của hoạt động tinh thần sáng tạo, các giá trị nhân thân, quyền sử dụng đất
+ Nội dung của quan hệ pháp luật dân sự
5Đỗ Văn Đại, Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự của ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, Nxb.Hồng Đức
- Hội Luật gia Việt Nam, tr.6 và tr.7
6Đỗ Văn Đại, Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự của ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, Nxb.Hồng Đức
- Hội Luật gia Việt Nam, tr.6 và tr.7
7 Công ty Luật Dương Gia, “Các đặc điểm của quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự”,
https://luatduonggia.vn/cac-dac-diem-cua-quan-he-tai-san-thuoc-doi-tuong-dieu-chinh-cua-luat-dan-su/amp/?fbclid=IwAR3K0D7-SsP9u_OdtyIlm8NQcaUBMRHbSX6dpWBHcMXIY6GorK5Zi7puYLU, truy cập ngày 11/4/2021
Trang 5• Là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào quan hệ dân sự.
• Quyền của một bên tương ứng với nghĩa vụ của bên còn lại
+ Phân loại quan hệ pháp luật dân sự
• Quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân
• Quan hệ pháp luật tuyệt đối, tương đối
• Quan hệ vật quyền và quan hệ trái quyền8
- Những thành phần được thể hiện trong quan hệ giữa anh Giáp và anh Phú về con trâu cái là:
+ Chủ thể : Anh Phú, Anh Giáp
+ Khách thể : con trâu cái
+ Nội dung: Anh Phú có quyền đòi lại con trâu đã mất cũng như Anh Giáp phải có nghĩa vụ phải trả lại con trâu bị mất kia lại cho anh Phú theo lời Tòa án xác định + Phân loại: Quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân
Câu 4: Cho biết quan hệ pháp luật dân sự có những đặc điểm gì?
- Quan hệ pháp luật dân sự có những đặc điểm sau:
+ Tồn tại ngay cả trong trường hợp chưa có quan hệ pháp luật dân sự nào trực tiếp điều chính
+ Địa vị pháp lý của các bên tham gia quan hệ pháp luật dân sự đều bình đẳng + Đa dạng về chủ thể, khách thể và phương pháp bảo vệ các quyền dân sự.9
Câu 5: Cho biết những căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự Quan hệ giữa anh Giáp và anh Phú về con trâu cái được phát sinh trên căn cứ nào?
- Những căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự: quy phạm pháp luật, thành phần chủ thể và sự kiện pháp lý
- Quan hệ giữa anh Giáp và anh Phú về con trâu cái được phát sinh trên những căn cứ: + Chủ thể:
Anh Phú – chủ sở hữu của 2 con trâu bị thất lạc (một đực và một cái)
Anh Giáp – người đã nuôi dưỡng 2 con trâu trong thời gian chúng bị thất lạc + Sự kiện pháp lý: Anh Phú thả 9 con trâu trong rừng Ngày 7/5/2004, anh kiểm tra
và thấy thiếu 02 con (một cái và một đực) Ngày 17/5/2004 anh Phú đi tìm trâu tại khu vực trang trại nhà anh Giáp và thấy 02 con trâu của anh còn thiếu Sau khi trao đổi anh Giáp đồng ý trả cho anh Phú con trâu đực nhưng không đồng ý trả con trâu cái với lý do con trâu này là của anh => Tranh chấp quyền sở hữu con trâu cái giữa anh Giáp và anh Phú
+ Quy phạm pháp luật điều chỉnh: Điều 231 Bộ luật Dân sự 2005
Điều 231 Xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc
8Chế Mỹ Phương Đài, Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự của ĐH Luật TP Hồ Chí Minh,
Nxb.Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.47
9Chế Mỹ Phương Đài, Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự của ĐH Luật TP Hồ Chí Minh,
Nxb.Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.42
Trang 61 Người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại Sau 06 tháng, kể từ ngày thông báo công khai hoặc sau 01 năm đối với gia súc thả rông theo tập quán thì quyền sở hữu đối với gia súc và số gia súc được sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia súc
2 Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia súc bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được gia súc Trong thời gian nuôi giữ gia súc bị thất lạc, nếu gia súc có sinh con thì người bắt được gia súc được hưởng một nửa số gia súc sinh ra hoặc 50% giá trị số gia súc sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia súc
VẤN ĐỀ 3: Tuyên bố cá nhân đã chết
* Tóm tắt Quyết định 1
Quyết định số 272/2018/QĐST-DS
Ngày 27/4/2018
Bà Bùi Thị T và ông Trần Văn C là vợ chồng có một con chung là Trần Minh T Cha
mẹ ông C đều đã mất, cuối năm 1985 ông C bỏ nhà đi biệt tích, không có tin tức, giá đình bà T đã tổ chức tìm kiếm, nhưng vẫn không có tin tức gì của ông C Bà Bùi Thị
T yêu cầu Toà án tuyên bố ông Trần Văn C; nơi cư trú cuối cùng: phường Bình Phước, quận 9, TP HCM là đã chết Ngày 26/20/2017, TAND quận 9 bạn hành thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết nhưng đến nay vẫn không có thông tin của ông C
* Tóm tắt Quyết định 2
Quyết định số 04/2018/QĐST-DS
Ngày 19/11/2018
Chị K là chị gái anh Đ đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 1992 đến nay không có tin tức gì Giá đình anh Đ đã tìm kiếm và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhiều lần, nhưng cũng không có kết quả Nay anh Đ làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố chị K là đã chết Sau khi thụ lý, TAND huyện Đông Sơn đã ra quyết định thông báo tìm kiếm chị K trên nhiều phương tiện đến nay đã hết hạn thông báo theo quy định của pháp luật, nhưng chị K vẫn không về và cũng không có tin tức gì
* Tóm tắt Quyết định 3
Quyết định số 94/2019/QĐST-VDS
Ngày 15/11/2019
Ông C sinh 1972 thường trú tại Bạch Mai, Hà Nội đã bỏ nhà đi từ tháng 01 năm
1997, từ đó đến nay không trở về nhà Bà K và gia đình đã tìm kiếm nhiều lần nhưng
Trang 7không có kết quả Lương hưu của cụ C đó BHXH quận Hai Bà Trưng chị trả đến tháng 3 năm 1997, việc nhận lương hưu của cụ C do bà S1 vợ cụ trực tiếp
nhận.Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm vợ S1, các con cụ là ông Phạm Ngọc C, bà K, bà P, bà M, ông L, ông L1, ông S, bà H Tất cả cùng nhất trí với
bà K, yêu cầu Toà án tuyên bố cụ C là đã chết, đồng thời ủy quyền cho bà K quyết định những vấn đề liên quan
Câu 1: Những điểm giống và khác nhau giữa tuyên bố một người mất tích và tuyên
bố một người là đã chết.
- Giống nhau:
+ Đối tượng yêu cầu Tòa án tuyên một người dã chết hoặc mất tích: Người có quyền
và nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người đã chết hoặc mất tích
+ Đối tượng có quyền tuyên bố một người đã chết hoặc mất tích: Tòa án có quyền tuyên bố một người mất tích và tuyên bố một người đã chết.10
- Khác nhau:
Tuyên bố cá nhân mất tích Tuyên bố cá nhân chết
Cơ sở pháp lý Điều 68, 69, 70 Bộ luật Dân sự
2015
Điều 71,72,73 Bộ luật Dân sự 2015
Khái niệm Mất tích là sự thừa nhận của
Tòa án về tình trạng biệt tích của một cá nhân Dựa trên cơ sở
có đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan
Tuyên bố chết là sự thừa nhận của Tòa án về cái chết đối với một cá nhân Khi cá nhân đó đã biệt tích trong thời hạn theo luật định trên cơ sở đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan
Điều kiện tuyên
bố
Căn cứ: Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015
- Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan;
- Một người biệt tích 02 năm liền trở lên; đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp
Căn cứ: Điều 71 Bộ luật Dân
sự 2015
- Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan;
- Đáp ứng đủ điều kiện tại 1 trong 04 trường hợp sau: + Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích
10Nguyễn Xuân Quang, Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự của ĐH Luật TP Hồ Chí Minh,
Nxb.Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.112 và tr.125
Trang 8luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết
*Lưu ý: Thời hạn 02 năm được hiểu là
+ Ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó;
+ Không xác định được ngày thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng;
+ Không xác định được ngày, tháng thì thời hạn được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng
của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
+ Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không
có tin tức xác thực là còn sống;
+ Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
+ Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tuyên
bố mất tích
Hậu quả pháp
lý
- Tạm đình chỉ tư cách chủ thể của người bị tuyên bố mất tích (không làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ)
- Tài sản người bị tuyên bố mất tích sẽ được chuyển sang quản
lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích (Điều 65, 66, 67 và 69
Bộ luật Dân sự 2015)
- Vợ/chồng của người bị mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án cho phép họ ly hôn (Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Dân sự 2015)
- Chấm dứt tư cách chủ thể của người chết đối với mọi quan hệ pháp luật mà người
đó tham gia với tư cách chủ thể
- Tài sản của người tuyên bố chết được giải quyết theo pháp luật về thừa kế (Điều 72 Bộ luật Dân sự 2015)
Trang 9định và hậu quả
Câu 2: Một người biệt tích và không có tin tức xác thực là còn sống trong thời hạn bao lâu thì có thể bị Tòa án tuyên bố là đã chết?
- Theo khoản d Điều 71 BLDS 2015 “ Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin
tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.”
=> Như vậy biệt tích từ 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống thì Toà án có thể tuyên bố là đã chết (thời hạn này được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó, nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng, nếu không xác định được ngày tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.)
Câu 3: Trong các vụ việc trên, cá nhân bị tuyên bố chết biệt tích từ thời điểm nào?
Vì sao?
- Cá nhân bị tuyên bố chết biệt tích từ thời điểm: Theo điểm d Khoản 1 Điều 71
BLDS năm 2015: “d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn
sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.”
Trường hợp không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng của cá nhân thì ngày chết của cá nhân được tính là ngày đầu tiên của ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng
- Trường hợp ông C và cụ Phạm Văn C được coi là cá nhân bị tuyên bố biệt tích Vì: Ông C và cụ Phạm Văn C là người biệt tích và không có tin tức xác thực là còn sống trong 05 năm liền trở lên Do đó, người có quyền lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa
án ra quyết định tuyên bố một người đã chết
Câu 4: Cho biết tầm quan trọng của việc xác định ngày chết của một cá nhân Nêu
cơ sở pháp lý và ví dụ minh họa.
- Xác định thời điểm chết của một người bị Tòa án tuyên bố là đã chết có ý nghĩa rất
quan trọng bởi thời điểm chết của một người là thời điểm phát sinh sự kiện pháp lý liên quan đến quyền, nghĩa vụ về tài sản của người đó Đặc biệt, nó là cơ sở để xác định thời điểm mở thừa kế theo quy định tại khoản 1, Điều 611 BLDS năm 2015
* Khoản 1, Điều 611 BLDS năm 2015 quy định:
Trang 101 Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này”
Khi giải quyết tranh chấp về thừa kế (nếu phát sinh), Tòa án sẽ căn cứ vào thời điểm xác định một người là đã chết để xác định những vấn đề liên quan như thời hiệu thừa kế, hàng thừa kế, diện thừa kế, di sản… Do đó, xác định đúng hay sai thời điểm chết của người bị tuyên bố là đã chết sẽ dẫn đến việc Tòa án giải quyết vụ án thừa kế đúng hay sai
Theo quy định tại khoản 1, Điều 71 BLDS năm 2015 thì: “1 Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:
a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này”
Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử vẫn còn nhiều quan điểm không thống nhất khi áp dụng điều luật này để xác định thời điểm chết của một người bị tuyên bố là đã chết của các Tòa án
Ví dụ: ông Nguyễn Văn A được xác định đi khỏi nhà và không có tin tức gì đến nay từ ngày 09/02/1975, khi có yêu cầu tuyên bố ông A là đã chết thì Tòa án có các quan điểm khác nhau Cụ thể:
- Quan điểm thứ nhất: ngày chết của ông A là ngày phát sinh sự kiện ông A đi khỏi nhà, tức là ngày 09/02/1975
- Quan điểm thứ hai: ngày chết của ông A là ngày quyết định giải quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật (ví dụ: ngày 30/9/2020 Tòa án ra quyết định tuyên bố ông A là đã chết thì ngày chết của ông A được xác định là ngày 10/10/2020)
- Quan điểm thứ ba: ngày chết của ông A được xác định là ngày 09/02/1980, sau 05 năm kể từ ngày ông A đi khỏi nhà
=> Theo quan điểm của người viết thì việc xác định ngày chết của ông A theo quan điểm thứ ba là phù hợp và đúng với quy định tại khoản 1, Điều 71 BLDS năm 2015 Tuy nhiên, đến nay giữa các Tòa án, thậm chí giữa các Thẩm phán trong cùng một