Chế định trách bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng và không thể thiếu của pháp luật dân sự trong bất kỳ các quốc gia nào trên thế giới.. Để thực hiện điều đó,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -0-0 -
Tiểu luận kết thúc học phần Nêu và phân tích quy định của Tư pháp quốc tế Việt Nam về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Học phần: Tư pháp quốc tế
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Bá Diến
Sinh viên thực hiện: Vũ Đình Huấn (Thi bổ sung)
Mã sinh viên: 18050062
Ngày sinh: 2/10/2000
Khóa: Kép 9 Luật kinh doanh
Hà Nội, tháng 8, năm 2021
Trang 21 Đặt vấn đề
Chế định trách bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng và không thể thiếu của pháp luật dân sự trong bất kỳ các quốc gia nào trên thế giới Tuy nhiên mỗi quốc gia lại có những quy định khác nhau về căn cứ bồi thường, cách thức xác định bồi thường, các thiệt hại bồi thường hay mức bồi thường Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay thì vấn đề các quan hệ dân sự mang tính quốc tế ngày càng gia tăng và đa dạng Do đó, vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài đã trở thành một vấn đề mang tính chất pháp lý quốc tế và là một trong những vấn đề quan trọng trong Tư pháp quốc tế
Việt Nam đề ra chủ trương hội nhập quốc tế từ những năm 1986 Để thực hiện điều đó, Việt Nam đã hợp tác, ký kết nhiều hiệp định với các quốc gia trên thế giới
và sửa đổi pháp luật, trong đó có vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng có yếu tố nước ngoài
2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Theo pháp luật các quốc gia trên thế với trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một nghĩa vụ dân sự phát sinh khi một chủ thế gây ra những thiệt hại do hành vi trái pháp luật làm xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thế khác
Trong tư pháp quốc tế, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu
là trách nhiệm bồi thường thiệt hại có yếu tố nước ngoài tham gia Trên cơ sở yếu tố nước ngoài trong quan hệ dân sự quy định tại khoản 2 điều 663 Bộ luật dân sự năm
2015, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài là quan
hệ trách nhiệm có một trong các yếu tố:
Trang 3Thứ nhất, các bên tham gia (bên bị thiệt hại và bên gây thiệt hại) trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có quốc tịch khác nhau
Thứ hai, các bên tham gia trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đều là công dân Việt Nam hoặc pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ xảy ra tại nước ngoài
Thứ ba, các bên tham gia trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đều là công dân Việt Nam hoặc pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ bồi thường đó ở nước ngoài.1
Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài được định nghĩa như sau: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu
tố nước ngoài là trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng phát sinh khi có thiệt hại xảy ra
và có ít nhất một trong ba yếu tố nước ngoài: “Thứ nhất, các bên tham gia quan hệ không có cùng quốc tịch; Thứ hai, sự kiện gây thiệt hại hoặc hậu quả xảy ra tại nước ngoài; Thứ ba, đối tượng bị thiệt hại ở nước ngoài.”2
2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài
2.1 Chủ thể không có cùng quốc tịch hay trụ sở
Điểm nổi bật của các quan hệ xã hội được Tư pháp quốc tế điều chỉnh là yếu tố nước ngoài của các quan hệ này Yếu tố nước ngoài đầu tiên phải kể đến đó là điểm khác biệt về chủ thể Chủ thể có là cá nhân, pháp nhân, trường hợp cá biệt là nhà nước Đối với trường hợp chủ thể là cá nhân thì các cá nhân đó phải không cùng
1 Điều 663, Bộ luật dân sự năm 2015
2 Lê Thu Hường (2011), Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài Sdd, Tr.19
Trang 4quốc tịch Ngoài ra, nếu chủ thể là pháp nhân thì các pháp nhân phải có trụ sở ở các nước khác nhau
2.2 Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại được thực hiện ở nước ngoài
Khác với quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong luật dân sự Trong Tư pháp quốc tế, hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại được thực hiện tại nước ngoài, đối với trường hợp này, các chủ thể trong quan hệ có cùng quốc tịch hay khác quốc tịch không phải là điều quan trọng Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại được thực hiện ở một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ khác với quốc gia mà chủ thể mang quốc tịch hay có trụ sở
2.3 Thiệt hại của hành vi trái pháp luật xảy ra ở nước ngoài
Hành vi trái pháp luật được thực hiện và hệ quả là thiệt hại xảy ra Tuy nhiên, nếu thiệt hại đó xảy ra trong nước thì pháp luật điều chỉnh là pháp luật dân sự Nhưng trong cùng trường hợp nếu hành vi trái pháp luật được thực hiện trong nước nhưng thiệt hại thì không dừng lại trong phạm vi quốc gia mà có liên quan đến quốc gia khác thì quan hệ dân sự trở thành quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Khi đó, không chỉ có luật quốc gia nơi hành vi trái pháp luật được áp dụng mà có thể áp dụng luật mà quốc gia nơi xảy ra thiệt hại cũng có thể được áp dụng
2.4 Đối tượng của hành vi gây thiệt hại ở nước ngoài
Một được đặc điểm nữa để phân biệt bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế và trong luật dân sự là đối tượng hành vi gây thiệt hại ở nước ngoài Trong trường hợp này, chủ thể của quan hệ có thể có cùng quốc tịch, hành vi gây thiệt hại có thể được thực hiện trong nước nhưng tài sản là đối tượng của hành vi xâm hại là ở nước ngoài
Trang 53 Xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài
3.1 Khái niệm xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Các quan hệ dân sự khi có sự tham gia của yếu tố nước ngoài đã làm cho tính chất phức tạp của quan hệ này tăng lên nhiều lần Vấn đề lúc này không chỉ đơn giản áp dụng pháp luật của một quốc gia tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên hay ý chí chủ quan của các cơ quan tư pháp mỗi nước mà phải dựa vào các nguyên tắc lựa chọn luật nhất định của từng quốc gia trong mối tương quan với quốc gia khác Điều
đó gây ra hiện tượng “Xung đột pháp luật”
Theo định nghĩa của giáo trình Tư pháp quốc tế: “Xung đột pháp luật là hiện tượng
là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế cụ thể, do có sự khác nhau giữa pháp luật của các quốc gia hoặc do
Như vậy, có thể định nghĩa được: “Xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau cùng có thể điều chỉnh các quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài.”
3.2 Nguyên nhân xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Có hai nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Thứ nhất, là việc pháp luật mỗi quốc gia, mỗi khu vực trên thế giới lại có những quy định không giống nhau về điều kiện bồi thường, cách xác định
3 Trần Minh Ngọc, Vũ Thị Phương Lan (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Đại học Luật Hà Nội, Tr 50
Trang 6thiệt hại, nguyên tắc bồi thường thiệt hại, các loại thiệt hại phải bồi thường, cách xác định thiệt hại,… Thứ hai, các quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có sự tham gia của yếu tố nước ngoài Nghĩa là pháp luật của các nước có liên quan đều
có khả nawg điều chỉnh quan hệ bồi thường Khi xung đột pháp luật diễn ra thì quan trọng không phải chỉ là chỉ ra nguyên nhân của xung đột mà mỗi quốc gia phải có cách thức giải quyết xung đột sao cho phù hợp với lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ tư pháp quốc tế, vừa đảm bảo lợi ích quốc gia mình
3.3 Giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế ở một số nước
Trong việc điều chỉnh vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài, đa số pháp luật của các nước đều áp dụng pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật (Lex loci delicti commisi) Tuy nhiên, trong thực
tế của đời sống quốc tế thường xảy ra trường hợp là hành vi gây thiệt hại được thực hiện ở nước này nhưng hậu quả của hành vi gây thiệt hại đó lại phát sinh ở một nước khác Vậy, pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật ở đây sẽ là pháp luật của nước nào
Hiện nay các nước trên thế giới chưa có quan điểm thống nhất đâu được coi là nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại Cụ thể, pháp luật một số nước quy định nơi vi phạm pháp luật là nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại (Italia, Hy lạp) Theo quan điểm này, thì khi giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
có yếu tố nước ngoài, các cơ quan Tư pháp của các nước này sẽ áp dụng hệ thuộc luật nơi có hành vi gây thiệt hại xảy ra Trong khi đó, pháp luật một số nước khác lại quy định nơi vi phạm pháp luật là nơi phát sinh hậu quả thực tế do hành vi gây thiệt hại gây ra (Anh, Hoa Kỳ) Như vậy, ở những nước theo quan điểm này, người
ta sẽ áp dụng pháp luật của nước nơi có hiện diện của hậu quả thiệt hại để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Kết hợp cả hai quan điểm nêu trên,
Trang 7pháp luật của một số nước (Đông âu) quy định áp dụng cả hai loại pháp luật Đó là pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả thực tế tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể pháp luật nước nào có lợi hơn khi áp dụng 4
3.4 Giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế ở Việt Nam
Ở Việt Nam, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài được quy định chủ yếu trong Bộ Luật dân sự năm 2015, Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2014, Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015, Luật cạnh tranh năm 2018,… và trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
a Giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định pháp luật Việt Nam
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam được quy định tại điều 687 Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó:
“1 Các bên được thoả thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc BTTHNHĐ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này Trường hợp không có thoả thuận thì pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại được áp dụng
2 Trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có nơi cư trú, đối với cá nhân hoặc nơi thành lập, đối với pháp nhân tại cùng một nước thì pháp luật của nước đó được áp dụng”.5
Điều 687 đã xây dựng được ba trường hợp để xác định luật áp dụng giải quyết vấn
đề BTTHNHĐ, cụ thể như sau:
4 Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), Giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Tư pháp quốc tế, Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang
5 Điều 687 Bộ luật dân sự năm 2015
Trang 8Một là trường hợp các bên có thoả thuận chọn pháp luật áp dụng cho việc BTTHNHĐ thì áp dụng luật do các bên thoả thuận Điều này cũng chỉ áp dụng nếu các bên không cùng nơi cư trú (khoản 1 Điều 687) Ví dụ một công dân Việt Nam
đi du lịch tại Hàn Quốc đã gặp phải một tai nạn giao thông nhưng trong thời gian tại Hàn Quốc không có biểu hiện gì nghiêm trọng và cần về nước ngay do hết visa du lịch Công dân Việt Nam này và người đã đâm vào mình đã thoả thuận trao đổi thông tin để nếu khi về nước anh ta gặp vấn đề gì thì có thể liên hệ giải quyết và họ đã thoả thuận sẽ giải quyết theo pháp luật Hàn Quốc Sau khi về nước, công dân Việt Nam gặp phải nhiều khó khăn trong điều khiển hành động nên đã nhập viện kiểm tra và phát hiện bị tụ máu não do tai nạn và khối máu chèn ép vào các dây thần kinh điều khiển hành động Sau khi hoàn thành chữa trị người này khởi kiện công dân Hàn Quốc đã đâm vào mình tại toà án của Việt Nam Trong trường hợp này, toà án thụ lí đơn kiện sẽ áp dụng pháp luật Hàn Quốc để giải quyết theo sự thoả thuận của các bên
Hai là trường hợp các bên không có thoả thuận thì pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại được áp dụng (khoản 1 Điều 687) Trong trường hợp trên, nếu hai bên không có thoả thuận về pháp luật áp dụng (cả trước và sau khi công dân Việt Nam khởi kiện) thì toà án thụ lí đơn kiện sẽ phải áp dụng pháp luật Việt Nam với tư cách là pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại
Ba là trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có nơi cư trú (đối với cá nhân) hoặc nơi thành lập (đối với pháp nhân) tại cùng một nước thì pháp luật của nước đó được áp dụng (khoản 2 Điều 687) Ví dụ hai công dân Việt Nam đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc Trong thời gian làm việc tại Hàn Quốc một người khi
đi làm đã đâm xe vào người kia đang đi bộ Người bị đâm xe đã ngã, trẹo khớp, phải
bó bột bàn tay và phải nghỉ làm một thời gian nhưng do không am hiểu hệ thống toà
Trang 9án địa phương nên sau khi hết hợp đồng lao động về Việt Nam người này mới khởi kiện người đã đâm xe mình tại toà án Việt Nam để đòi bồi thường thiệt hại Trong trường hợp này, toà án Việt Nam sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết mặc
dù các bên không có thoả thuận và hậu quả xảy ra tại Hàn Quốc vì Việt Nam là nơi
cư trú chung của hai bên đương sự
b Giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Ngoài quy định của pháp luật trong nước, việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
có yếu tố nước ngoài còn được giải quyết trên cơ sở các quy định của điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên
Hiện nay Việt Nam chưa tham gia điều ước quốc tế đa phương nào về vấn đề này,
do đó ở Việt Nam hiện nay, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được điều chỉnh bằng điều ước quốc tế song phương Hiện nay, Việt Nam đã kí kết Hiệp định tương trợ Tư pháp với khoảng 15 nước Các Hiệp định cơ bản đều có điều khoản quy định
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài Cụ thể Hiệp định với Liên Xô ( cũ ) tại Điều 33, với Tiệp Khắc tại Điều 33, với Hunggari tại Điều 30, với Bungari tại Điều 31, với Ba Lan tại Điều 38, với Lào tại Điều 23, với Liên Bang Nga tại điều 37, với Ucraina tại Điều 33, với Mông Cổ tại Điều 41và với Bêlarút tại Điều 39 Còn lại ba Hiệp định là Hiệp định với Cuba, Hiệp định với Trung Quốc và Hiệp định với Cộng Hoà Pháp không có điều khoản quy định về vấn
đề này
Nội dung của điều khoản quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài trong các Hiệp định kể trên tương đối thống nhất Ví dụ, Điều 37 Hiệp định tương trợ tư pháp với Liên Bang Nga năm 1998 quy định :
Trang 10“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (do hành vi vi phạm pháp luật) được xác định theo pháp luật của Bên ký kết nơi xảy ra hoàn cảnh làm căn cứ để yêu cầu bồi thường thiệt hại.6
Nếu nguyên đơn và bị đơn đều là công dân của một Bên ký kết hoặc đều được thành lập hoặc có trụ sở ở một Bên ký kết, thì áp dụng pháp của Bên kí kết đó ” Các Hiệp định tương trợ tư pháp với Mông Cổ (Điều 41) với Bungari (Điều 31) với Ba Lan (Điều 38), với Bêlarút (Điều 39) cũng nội dung tương tự như trên
Riêng Hiệp định tương trợ tư pháp với Hunggari (Điều 30) thì quy định: “ Về trách nhiệm do gây thiệt hại, sẽ áp dụng pháp luật của nước kí kết nơi đã xảy ra hành vi gây thiệt hại Tuy nhiên, nếu các đương sự thường trú trên lãnh thổ nước kí kết kia thì áp dụng pháp luật của nuớc ký kết kia” Điều 23 Hiệp định tương trợ tư pháp với Lào cũng có nội dung tương tự như vậy.7
4 Kết luận
Khi xã hội ngày càng phát triển và phát sinh các vấn đề mới trong các quan hệ xã hội nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài nói riêng, các quy định về trách nhiệm này ngày càng bộc lộ nhiều bất cập Do đó, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu để đưa ra những giải pháp phù hợp để hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài
6 Điều 37, Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên Bang Nga
7 Nguyễn Hồng Bắc (2010), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài, Thông tin pháp luật dân sự