1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bình luận hệ thống tư pháp quốc tế việt nam về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

15 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU 1.2 Đặc trưng cơ bản của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 1 CHƯƠNG 2:

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÀI TIỂU LUẬN –

BÀI THI BỔ SUNG KÌ III 2019 -2020

Môn: Tư pháp quốc tế

Bình luận hệ thống tư pháp quốc tế Việt Nam về việc kết hôn, quan hệ vợ

chồng, ly hôn có yếu tố nước ngoài

Giảng viên : GS.TS.GVCC Nguyễn Bá Diến

Họ và tên : Nguyễn Đặng Bảo Quyên

Mã SV : 16051112 Lớp : Kép 9 – Luật kinh doanh

HÀ NỘI – 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU

1.2 Đặc trưng cơ bản của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 1

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN

2.2 QUY ĐỊNH QUAN HỆ GIỮA VỢ VÀ CHỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 6

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐIỀU CHỈNH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, cùng với sự hội nhập, hợp tác quốc tế, quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, với người Việt Nam định cư ở nước ngoài ngày càng phổ biến và gia tăng về số lượng Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, trên thực tế, đã mang lại nhiều giá trị và ý nghĩa tích cực trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần tạo nên sự giao lưu hội nhập toàn diện trong đời sống quốc tế Với những giá trị tích cực như vậy, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một quan hệ bình thường rất được hoan nghênh từ phía nhà nước và xã hội Tuy nhiên, kết hôn có yếu tố nước ngoài cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, tiêu cực trong xã hội Cũng như các quan hệ khác, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài cũng cần được pháp luật điều chỉnh Vì

vậy, người viết chọn đề tài “Bình luận hệ thống tư pháp quốc tế Việt Nam về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài” cụ thể là các quy định pháp luật về việc kết hôn, quan hệ vợ

chồng, ly hôn có yếu tố nước ngoài

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực trạng của các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam Trên cơ sở đó, đưa ra các bình luận và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao thực trạng pháp luật về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong Tư pháp quốc tế

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu bao gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng như quy định pháp luật Việt Nam hiện hành cũng về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Phạm vi của bài tiểu luận là những nội dung pháp lý liên quan tới các quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, bao gồm: kết hôn, quan hệ pháp lý giữa vợ

- chồng và chấm dứt quan hệ vợ chồng

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN

NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm

Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn, đây là một khái niệm đã được quy định tại khoản 1 điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014.1 Qua khái niệm này ta

có thể hiểu, hôn nhân chính là mối quan hệ giữa người vợ và người chồng sau khi đã tuân thủ các điều kiện và thực hiện các thủ tục theo quy định về luật hôn nhân và gia đình, đó

là sự kết hợp của các cá nhân về nhiều mặt bao gồm: tình cảm, xã hội, tôn giáo hợp pháp

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, “yếu tố nước ngoài” trong quan

hệ hôn nhân và gia đình được xác định trong cả Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014 và Bộ luật dân sự 2015 Theo đó điều 3 khoản 25 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014 đã xác định rõ quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định

cư ở nước ngoài, quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân là Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài

1.2 Đặc trưng cơ bản của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

1.2.1 Đối tượng điều chỉnh

Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài với những tiêu chí đặc trưng về chủ thể, căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt và khách thể là đối tượng điều chỉnh của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 2Những nội hàm của quan

hệ hôn nhân được điều chỉnh gồm: kết hôn, quan hệ pháp lý về tài sản và nhân thân giữa

vợ chồng, hủy bỏ hôn nhân trái pháp luật và ly hôn

1 Quốc hội (2014), Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hà Nội

2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.

Trang 5

1.2.2 Nguồn điều chỉnh

Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là một bộ phận thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế, nên nguồn luật của Tư pháp quốc tế đương nhiên là nguồn luật của điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, liệt kê theo thứ tự ưu tiên áp dụng như sau: Điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia, tập quán quốc tế và án lệ

Tại Việt Nam, vấn đề hôn nhân, trong đó có quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành là Hiến pháp 2013, Bộ luật Dân sự

2015, Luật hôn nhân và gia đình 2014 và các văn bản pháp luật khác

1.2.3 Phương pháp điều chỉnh

Phương pháp điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài là việc chọn hệ thống pháp luật để giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật, gồm hai phương pháp thực chất và phương pháp xung đột, gắn liền với loại quy phạm thực chất và quy phạm xung đột Phương pháp thực chất là phương pháp trực tiếp giải quyết ngay quan hệ pháp lý phát sinh bằng cách xác định trực tiếp quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ, nhằm làm “hài hòa hóa” sự khác biệt và đơn giản hóa việc áp dụng pháp luật của các quốc gia trong giải quyết tranh chấp các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Phương pháp xung đột là phương pháp giải quyết gián tiếp quan hệ hôn nhân có yếu

tố nước ngoài bằng việc dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật áp dụng Các kiểu hệ thuộc thường được sử dụng để giải quyết xung đột pháp luật đối với quan hệ hồn nhân có yếu

tố nước ngoài là Luật nhân thân (Lex personalix) hoặc Luật nơi cư trú của các bên đương

sự (Lex domicilli) để điều chỉnh về điều kiện kết hôn, quan hệ vợ chồng và ly hôn; Luật nơi tiến hành kết hôn điều chỉnh về nghi thức kết hôn; Luật nơi Tòa án có thẩm quyền giải quyết để điều chỉnh việc ly hôn 3

3 Trường Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật (1997), Giáo trình tư pháp quốc tế, NXB Đại học quốc gia Hà

Nội

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ

HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 2.1 Quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài

2.1.1 Điều kiện kết hôn

Về độ tuổi kết hôn

Một điểm chung của pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước về độ tuổi kết hôn

đó là chỉ quy định độ tuổi tối thiểu mà không quy định cụ thể tuổi tối đa trong việc kết hôn hoặc giới hạn sự chênh lệch tuổi giữa nam và nữ trong kết hôn.4

Nguyên tắc tính tuổi tròn đủ trong độ tuổi kết hôn được áp dụng trong Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014, quy định các bên tham gia kết hôn phải tuân thủ điều kiện: “Nam

từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” Xét trong mối tương quan với Bộ luật Dân

sự và Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, quy định trên bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong việc công nhận, thực hiện bảo vệ quyền dân sự của cá nhân

Về ý chí tự nguyện kết hôn của các bên

Theo pháp luật Việt Nam quy định tại khoản Khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” Sự tự nguyện là bên nam và nữ

tự mình quyết định việc kết hôn với nhau xuất phát từ tình yêu thương, thể hiện ý chí của bản thông không chịu sự tác động của bên nào hay của người khác Để đảm bảo cho sự tự nguyện, pháp luật quy định, hai người muốn kết hôn với nhau phải cùng có mặt tại ủy ban nhân dân nộp tờ khai đăng ký kết hôn, không cho phép cử người đại diện đăng ký kết hôn hoặc vắng mặt khi làm thủ tục đăng ký kết hôn

Về năng lực hành vi dân sự

Chủ thể đăng ký kết hôn phải là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, được quy định cụ thể trong Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Có ba cơ sở pháp lý để xác

4 Quốc hội (2014), Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hà Nội.

Trang 7

định một người mất năng lực hành vi dân sự Thứ nhất, người đó là người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhân thức để làm chủ hành vi của mình Thứ hai, đã có quyết định có hieeju lực của Tòa án dựa trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự Thứ ba, các cơ quan chức năng như Tòa án, tổ chức giám định chỉ định tham gia xem xét một người có bị mất năng lực hành

vi dân sự hay không khi có yêu cầu của người có quyền hoặc lợi ích liên quan Thiếu một trong ba cơ sở trên, một người không bị coi là mất năng lực hành vi dân sự và họ có quyền kết hôn

Điều kiện về tình trạng hôn nhân của chủ thể

Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định cấm việc kết hôn với người đang có vợ hoặc chồng, cấm hành vi “chung sống như vợ chồng với người đang có vợ hoặc chồng” Tuy nhiên quy định như điểm c khoản 2 ĐIều 5 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 còn rườm

rà, nặng về giải thích, làm giảm tính ngắn gọn, súc tích trong diễn đạt

Điều kiện không có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ thân thuộc

Pháp luật Việt Nam từ trước tới nay, đặc biệt là Luật hôn nhân và gia đình 2014 cấm “kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có quan hệ huyết thống hoặc có quan hệ thân thuộc kết hôn với nhau

Điều kiện khác nhau về giới tính

Luật hôn nhân và gia đình 2014 thể hiện một bước tiến nhỏ so với bộ luật năm

2000, đó là không quy định cấm hôn nhân đồng giới mà quy định “Nhà nước không thừa nhân giữa những người cùng giới tính” Điều đó đồng nghĩa Nhà nước không phủ nhận thực tế hiện tượng quan hệ đồng giới và loại bỏ nhân quyền song hôn nhân đồng giới không nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật và khi có tranh chấp xảy ra, pháp luât không được áp dụng điều chỉnh

Trang 8

2.1.2 Nghi thức kết hôn

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nghi thức kết hôn hợp pháp của Việt Nam là nghi thức kết hôn dân sự Việc kết hôn phải được đăng ký trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khi đăng ký phải có mặt của cả hai bên nam nữ kết hôn; đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn của họ, nếu hai bên đồng ý tự nguyện thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trai Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình sẽ không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng; vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn 5

Thẩm quyền đăng ký hộ tịch liên quan đến các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch, quy định tại Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Như vậy, thẩm quyền đăng ký hộ tịch trong đó có kết hôn có yếu tố nước ngoài sẽ được chuyển giao từ Ủy ban Nhân Dân cấp tỉnh sang Ủy ban Nhân dân cấp huyện

So với các quy định của các quốc gia khác, sự khác biệt đồng thời là bất cập, hạn chế của Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam là chưa quy định về luật điều chỉnh nghi thức kết hôn đối với quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài cũng như chưa có quy định về nguyên tắc chọn luật áp dụng để xác định tính hợp pháp của nghi thức kết hôn trong quá trình áp dụng pháp luật để điều chỉnh

2.1.3 Hủy việc kết hôn trái pháp luật

Tại Việt Nam, đối với pháp luật quốc gia, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa quy định rõ ràng về nguyên tắc chọng luật áp dụng để hủy việc kết hôn trái pháp luật Nhưng căn cứ vào khoản 3 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 phân định thẩm quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật có yếu tố nước ngoài do TAND cấp tỉnh có thẩm quyền chung và TAND cấp huyện nơi công dân Việt Nam cư trú có thẩm quyền với

5 TS Nông Quốc Bình, TS Nông Hồng Bắc (2006), Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

Trang 9

các vụ mà một bên đương sự là công dân nước láng giềng ở khu vực biên giới Việt Nam Như vậy có thể hiểu tại Việt Nam, nguyên tắc áp dụng luật để giải quyết việc hủy kết hôn trái pháp luật là luật nơi cư trú của đương sự và luật tòa án

Vấn đều hủy kết hôn trái pháp luật chỉ đặt ra đối với những trường hợp vi phạm về điều kiện kết hôn, còn đối với những trường hợp vi phạm về nghi thức kết hôn thì khi có yêu cầu, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận kết hôn cũ

và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn (Điều 13, Luật hôn nhân và gia đình 2014)

2.2 Quy định quan hệ giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài

2.2.1 Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

Quyền về quốc tịch sau khi kết hôn

Ở Việt Nam vấn đề quốc tịch liên quan tới hôn nhân có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 9 và 10 Luật quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2014: “Việc kết hôn, ly hôn

và hủy kết hôn trái pháp luật giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài không làm thay đổi quốc tịch của các bên và việc vợ hoặc chồng, nhập hoặc mất quốc tịch không làm thay đổi quốc tịch của người kia” Như vậy, quan điểm về quốc tịch của các bên tỏng trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài của Việt Nam tương đồng với pháp luật các nước trên thế giới

Quyền được đề nghị ly thân

Ở Việt Nam chưa có quy định về ly thân trong Luật hôn nhân và gia đình nhưng đây là vấn đề phổ biến trong thực tiễn, ảnh hương đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em Trong khi “đây là một trong những tình tiết đề Tòa án xác định có hay không có mâu thuẫn trầm trọng, làm căn cứ cho ly hôn”

Trang 10

2.2.2 Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng

Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận” (Điều 28) và “trong trường hợp có yêu cầu giải quyết việc áp dụng chế độ tài của vợ chồng theo thỏa thuận,

cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng các quy định của Luật này và các Luật khác có liên quan của Việt Nam để giải quyết” (Điều 130) Như vậy, ngoài chế độ chọn tài sản của vợ chồng theo luật định, Luật còn quy định về chế độ tài sản theo thỏa thuận

áp dụng đối với quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Đây là một trong những điểm mới nổi bật của Luật hôn nhân và gia đình 2014, góp phần làm giảm đáng kể sự phức tạp trong giải quyết tranh chấp và phân định tài sản sau ly hôn

2.3 Quy định về chấm dứt quan hệ hôn nhân

Căn cứ vào Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình, việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này Như vậy, Theo quy định tại Khoản 2, Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Tòa án được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Điều 34, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm Những tranh chấp, yêu cầu mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài” Như vậy, việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau được giải quyết tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam

Ngày đăng: 19/12/2021, 11:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w