1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ MỘT SỐ TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH BỆNH COVID19 ĐẾN TỶ LỆ THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM (HOẶC 1 QUỐC GIA KHÁC) VÀ GIẢI PHÁP

15 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 185,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không những thế dịch bệnh còn nhanh chóng lan ra các tỉnh, thành phố khác trong cả nước như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Hà Giang, Bắc Ninh,… đã đe dọa đến tăng trưởng kinh

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG TIỂU LUẬN HỌC PHẦN KINH TẾ VĨ MÔ

CHỦ ĐỀ 4: Một số tác động của dịch bệnh

Covid-19 đến tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam (hoặc 1 quốc gia

khác) và giải pháp.

Hà Nội, tháng 7/2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 1

PHẦN 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẤT NGHIỆP………2

1.1 Khái niệm thất nghiệp và đo lường thất nghiệp……….2

1.2 Phân loại thất nghiệp……… 3

1.3 Tác động của thất nghiệp………4

PHẦN 2 NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-19 ĐẾN TỶ LỆ THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM……….5

2.1 Khái quát tình hình kinh tế, việc làm ở Việt Nam trước và sau khi xảy ra dịch bệnh COVID-19……… ……… …………5

2.2 Diễn biến của dịch bệnh COVID-19 ở Việt Nam……… 6

2.3 Những tác động của dịch bệnh Covid-19 đến tỷ lệ thất nghiệp………….7

PHẦN 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM TỶ LỆ THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM DO TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-19……… 9

KẾT LUẬN……….12 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

MỞ ĐẦU

Vấn đề việc làm và thất nghiệp luôn nhận được sự quan tâm nhiều nhất của hầu hết các quốc gia trên thế giới Thất nghiệp tồn tại ở tất cả các nền kinh tế dù chúng có khác nhau về mức độ phát triển Hầu hết các quốc gia đều

cố gắng xây dựng các chính sách vĩ mô hướng đền tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, cải thiện việc làm và cắt giảm tỷ lệ thất nghiệp

Thế nhưng cho đến nay, đại dịch COVID-19 đã càn quét khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới và đang diễn biến rất phức tạp tại nhiều quốc gia Tình hình dịch bệnh kéo dài đã gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ đến các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh châu Âu,

Và tại Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2020, COVID-19 tác động lên nền kinh tế và làm cho tăng trưởng kinh tế nước ta rơi xuống mức thấp nhất trong 10 năm qua Tưởng chừng, cơn bão đại dịch COVID-19 đã qua đi và nền kinh tế sẽ phục hồi sau giai đoạn đầy khó khăn đó, tuy nhiên sau 99 ngày không có ca lây nhiễm trong cộng đồng, những ca nhiễm vi-rút SARS-CoV-2 lại được phát hiện tại Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quảng Nam Không những thế dịch bệnh còn nhanh chóng lan ra các tỉnh, thành phố khác trong cả nước như:

Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Hà Giang, Bắc Ninh,… đã đe dọa đến tăng trưởng kinh tế, phát triển doanh nghiệp, thu nhập của người lao động và khiến tỷ lệ thất nghiệp tại Việt Nam tăng so với quý trước và cùng kì năm ngoái một cách đáng lo ngại

Chính vì vậy tôi đã quyết định chọn chủ đề: “Một số tác động của dịch bệnh COVID-19 đến tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam (hoặc 1 quốc gia khác)

và giải pháp” làm chủ đề tiểu luận môn Kinh tế vĩ mô của mình Bởi hơn ai hết tôi cũng là một trong hàng triệu triệu người dân Việt Nam bị ảnh hưởng bởi bệnh dịch COVID-19 Đại dịch COVID-19 này không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế, vấn đề việc làm mà còn ảnh hưởng đến cuộc sống của tất cả mọi người như: phải ở nhà học online, họp online, giãn cách xã hội, đóng cửa các cửa hàng, quán ăn, xí nghiệp, công xưởng,… Và khi tìm hiểu về tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam không chỉ giúp tôi hiểu rõ tình hình việc làm trong thời kì bệnh dịch, cảm thấy cảm thông cho những người đang gặp khó khăn về kinh

tế và chung tay giúp đỡ, giải quyết những khó khăn chung để Việt Nam sớm vượt qua giai đoạn khó khăn này

Trang 4

NỘI DUNG PHẦN 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẤT NGHIỆP:

1.1 Khái niệm thất nghiệp và đo lường thất nghiệp:

Thất nghiệp luôn là một trong các vấn đề trọng tâm của các quốc gia, mối quan tâm hàng đầu của cá nhân và xã hội Vấn đề việc làm đòi hỏi các quốc gia phải quan tâm giải quyết để đảm bảo an sinh xã hội, nếu không có thể kéo theo những vấn đề phát sinh như: tệ nạn xã hội, lạm phát,… Chính vì vậy, chỉ tiêu phản ánh tình trạng việc làm và thất nghiệp là chỉ tiêu kinh tế toàn diện

và cần được tính toán một cách cẩn trọng của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, mỗi người trưởng thành (từ đủ 15 tuổi trở lên) trong các cuộc điều tra lao động và việc làm do Tổng cục Thống kê thực hiện được xếp vào một trong hai nhóm,

đó là: Nhóm dân số thuộc lưc lượng lao động và Nhóm dân số ngoài lực

lượng lao động

Trong đó nhóm dân số thuộc lưc lượng lao động là những người trong độ tuổi lao động (từ đủ 15 tuổi trở lên và trên 65 tuổi đối với nam, 60 tuổi đối với nữ) có việc làm gồm người làm công ăn lương, người làm kinh doanh hoặc lao động trong ruộng vườn trang trại của họ,… Người lao động tình nguyện, làm giúp (thanh niên tình nguyện, làm giúp người khác,…), làm từ thiện, nhân đạo,… thì không được tính là người có việc làm

Còn nhóm dân số ngoài lực lượng lao động gồm những người không thuộc nhóm trên chẳng hạn như: học sinh, sinh viên tập trung dài hạn, người nội trợ, người nghỉ hưu, người không có khả năng lao động hoặc sức khoẻ không bình thường, người không có quyền công dân, không có nhu cầu làm việc, quân nhân, lực lượng vũ trang,…

Và thất nghiệp là hiện tượng tồn tại những người thất nghiệp, đó là những người nằm trong độ tuổi trưởng thành, có khả năng lao động nhưng không có việc làm và đang tìm kiếm việc làm

Trên cơ sở phân nhóm như trên, các chỉ tiêu thống kê quan trọng của thị trường lao động sẽ được tính toán:

- Lực lượng lao động (hay dân số hoạt động kinh tế) là bộ phận dân số

trong độ tuổi trưởng thành (từ dủ 15 tuổi trở lên) gồm những người sẵn sàng

và có khả năng lao động Lực lượng lao động bao gồm cả những người đang

có việc làm và những người thất nghiệp

- Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm số người thất nghiệp so với tổng số

người trong lực lượng lao động Tỷ lệ này thường được thể hiện qua tỷ lệ thất nghiệp chung và tỷ lệ thất nghiệp các loại Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp của một quốc gia Cũng vì thế còn

Trang 5

có những quan niệm khác nhau về nội dung và phương pháp tính toán để nó

có khả năng biểu hiện đùng và đầy đủ đặc điểm nhiều vẻ của tình trạng thất nghiệp thực tế, đặc biệt là các nước đang phát triển

- Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng là tỷ lệ phần trăm của tổng số

ngày công việc làm việc thực tế so với tổng số ngày công có nhu cầu làm việc, bao gồm cả số ngày công thực tế đã làm việc và số ngày công có nhu cầu làm thêm Chỉ tiêu này thường được áp dụng ở khu vực nông thôn sản xuất có tính thời vụ để có thể tính toán một cách hợp lý hơn về thời gian lao động được sử dụng

- Ngoài các chỉ tiêu trên, các nhà thống kê còn tính toán thêm các chỉ

tiêu vể tỷ lệ tham gia lực lượng lao động và tỷ lệ thiếu việc làm Trong đó, tỷ

lệ tham gia lực lượng lao động là tỷ lệ phần trăm của lực lượng lao động so với dân số trưởng thành Còn tỷ lệ thiếu việc làm là tỷ lệ phần trăm của số người thiếu việc làm so với tổng số người đang làm việc

Các chỉ tiêu trên được tính toán theo định kì và là cơ sở cho các nhà kinh

tế và các nhà hoạch định chính sách quan sát, phân tích và đưa ra các giải pháp can thiệp khi có các diễn biến xảy ra trên thị trường lao động

1.2 Phân loại thất nghiệp:

Dựa vào các mục đích nghiên cứu khác nhau, thất nghiệp được phân loại theo các cách khác nhau Kinh tế học vĩ mô thường chia thất nghiệp thành hai nhóm: thất nghiệp tự nhiên và thất nghiệp chu kỳ Thất nghiệp tự nhiên chỉ mức thất nghiệp tồn tại ngay cả trong dài hạn, thất nghiệp chu kỳ chỉ những biến động của thất nghiệp từ năm này đến năm khác xung quanh mức thất nghiệp tự nhiên và nó gắn liền với những biến động kinh tế trong ngắn hạn Thất nghiệp tự nhiên được dùng để chỉ mức thất nghiệp mà bình thường nền kinh tế trải qua Thất nghiệp tự nhiên là loại thất nghiệp không tự biến mất ngay cả trong dài hạn Nói cách khác, nó tồn tại khi nền kinh tế đang hoạt động ở trạng thái toàn dụng nguồn lực Thất nghiệp tự nhiên gồm: thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển

Thất nghiệp chu kỳ được dùng để chỉ những biến động của thất nghiệp từ năm này đến năm khác xung quanh mức thất nghiệp tự nhiên Nó là loại hình thất nghiệp do ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế, gắn liền với các biến động ngắn hạn trong hoạt động kinh tế Thất nghiệp chu kỳ xuất hiện khi tổng cầu không

đủ để mua toàn bộ sản lượng tiềm năng của nền kinh tế, gây suy thoái và sản lượng thực tế thấp hơn mức tự nhiên Trong dài hạn, nền kinh tế có thể tự quay về trạng thái toàn dụng thông qua sự điểu chỉnh của tiền lương và giá cả, lúc đó thất nghiệp chu kỳ sẽ tự động biến mất Tuy nhiên, trong ngắn hạn, thất

Trang 6

nghiệp chu kỳ là một phần của nền kinh tế, mà cần sự can thiệp của chính phủ

để khắc phục

1.3 Tác động của thất nghiệp:

Thất nghiệp tồn tại ở tất cả các nền kinh tế, gây thiệt hại đáng kể cho xã hội nhưng lại không phân bố đồng đều đến toàn xã hội Thất nghiệp thường ảnh hưởng nhiều nhất đến đối tượng là các thanh niên mới gia nhập thị trường lao động và những nhóm dân cư nghèo trong xã hội,

Đối với cá nhân, thất nghiệp là một gánh nặng Khi thất nghiệp, thu nhập của họ bị giảm, mức sống thấp, họ trở thành đối tượng dễ bị tổn thương Thất nghiệp kéo dài khiến tinh thần của họ sa sút, kỹ năng của họ không có cơ hội được thực hành sẽ bị bào mòn Thời gian thất nghiệp quá lâu làm cho người

từ bỏ việc đi kiếm việc, gây ra gánh nặng cho xã hội cũng như gia đình của người thất nghiệp trở nên căng thẳng và tác động ngược lại đến tâm lý của họ, khiến một lần nữa họ bị tổn thương nhiều hơn

Một nền kinh tế không giải quyết sớm được vấn đề thất nghiệp sẽ khiến bản thân nền kinh tế đó rơi vào trạng thái nguy hiểm khi sản lượng sụt giảm,

xã hội bất ổn, các cá nhân phẫn nộ với chính phủ Nhiều quốc gia coi trọng việc can thiệp xử lý vấn đề thất nghiệp từ các động thái của chính phủ là một điều cần thiết Thất nghiệp gây ra chi phí cho xã hội, nhưng thực tế rất khó để

đo lường chi phí này, nên các nhà kinh tế học thường chuyển hướng sang tính toán sản lượng mất mát do việc sử dụng lao động ít

Thất nghiệp tự nhiên được biết đến là loại thất nghiệp ngay cả trong dài hạn, thuật ngữ tự nhiên không có nghĩa là đáng mong muốn Khi người lao động mất việc làm, rơi vào tình trạng thất nghiệp thì dù cho nguyên nhân gì thì trước tiên thu nhập cảu họ sẽ giảm sút, mức sống giảm, nếu để thời gian thất nghiệp dài thì họ sẽ gặp rất nhiều trở ngại khi tìm kiếm các cơ hội việc làm thực sự

Nhưng mặt khác, thất nghiệp tạm thời có thể là một điều tốt trong một số trường hợp, khi người lao động không chấp nhận ngay công việc đầu tiên mà

họ nhận được, họ sẽ bỏ công sức để tìm một công việc phù hợp với

nguyệnvọng và năng lực của mình Khi người lao động được làm công việc

mà họ yêu thích và phù hợp với khả năng, năng suất lao động sẽ cao hơn mà không cần bất cứ một sự giám sát hay thúc ép nào từ phía doanh nghiệp Về mặt kinh tế, quá trình này sẽ khiến việc phân bổ nguồn lực trở nên hiệu quả hơn, sản lượng cảu nền kinh tế trong dài hạn sẽ tăng lên theo

Thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển là loại thất nghiệp xảy ra do sự tác động của các yếu tố ngoài thị trường – yếu tố về thể chế chính trị hay xã hội Mục

Trang 7

đích đầu tiên của luật tiền lương tối thiểu, công đoàn, tiền lương hiệu quả là bảo vệ người lao động về mức tiền công, tiền lương, thời gian, môi trường làm việc, sức khoẻ và tinh thần Nhưng mặt trái của nó là khiến một nhóm người bị mất việc ngay cả khi họ chấp nhận mức lương và điều kiện làm việc

mà doanh nghiệp đưa ra Thất nghiệp không tự nguyện dẫn đến tình trạng khó khăn cho người lao động về mức sống, tinh thần và làm gia tăng các hiện tượng trật tự xã hội không ổn định Các cuộc biểu tình đòi quyền được làm việc, quyền được sống,… tăng lên làm nảy sinh các vấn đề tiêu cực về tâm lý của người lao động, suy giảm niềm tin với chính phủ

Thất nghiệp chu kỳ là loại thất nghiệp gắn với sự biến động của chu kỳ kinh tế, nó trở nên nghiêm trọng khi cao hơn mức thất nghiệp tự nhiên Trước tiên, sản lượng sẽ sụt giảm khi thất nghiệp trầm trọng, tiếp theo muốn đẩy sản lượng lên thì buộc các doanh nghiệp phải đầu tư các nguồn lực khác Khi sản lượng dưới mức tự nhiên thì những tổn thất trở nên rõ ràng hơn Người lao động mất tiền lương và nhận trợ cấp thất nghiệp, mức sống giảm, tinh thần của bản thân họ và gia đình họ đều sa sút Chính phủ mất một khoản thu nhập

từ thuế, phải chi trả một khoản trợ cấp nhiều hơn, điều này làm cán cân ngân sách bị lệch Các doanh nghiệp thiếu lao động để sản xuất, sản lượng giảm sút, lợi nhuận giảm Thất nghiệp chu kỳ cũng có mặt tích cực như gái trị của

sự nghỉ ngơi nhưng giá trị này là nhỏ so với mất mát mà nó gây ra

Dưới góc độ của chi phí cơ hội, việc thất nghiệp có thể giúp người lao động có thời gian nghỉ ngơi, lấy lại thể lực và tinh thần Thậm chí họ có thể tận dụng thời gian thất nghiệp để học hành và trau dồi thêm kỹ năng làm việc Điều này giúp cho năng suất lao động của họ sẽ được cải thiện khi họ quay lại làm việc trong thị trường lao động Thất nghiệp tự nhiên và thất nghiệp chu

kỳ đều có mặt tích cực và mặt tiêu cực của nó Tuy nhiên những mặt tích cực như giá trị cảu sự nghỉ ngơi này là nhỏ so với những mất mát mà nó gây ra Xét cho cùng, thất nghiệp xảy ra là do khiếm khuyết của thị trường, vì vậy cần phải có sự can thiệp của chính phủ thông qua các chính sách để hạn chế điều này

PHẦN 2 NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-19 ĐẾN TỶ

LỆ THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM:

2.1 Khái quát tình hình kinh tế, việc làm ở Việt Nam trước và sau khi xảy ra dịch bệnh COVID-19:

Qua 35 năm đổi mới (1986 - 2020), nền kinh tế Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn Tăng trưởng kinh tế luôn ở mức dương, có nhiều năm tăng

Trang 8

trưởng đạt mức cao trên dưới 8%; tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống 11,3% năm 2009 và chưa đến 4% vào năm 2019; thu nhập người dân được cải thiện rõ rệt, đời sống người dân nâng cao Tuy nhiên, trong hơn 3 thập niên đổi mới, nền kinh tế Việt Nam nhiều lần chịu tác động bởi các cú sốc bên ngoài như cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 và cú sốc dịch tễ vào năm 2020 Khác với

2 cú sốc trước là về tài chính - tiền tệ, cú sốc COVID-19 lần này chưa từng có tiền lệ, tác động mạnh mẽ lên nhiều nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

Mặc dù đại dịch COVID-19 tác động lên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nước ta, nhưng thể hiện tập trung ở hai yếu tố chính là cung và cầu Đối với yếu tố cầu, dịch bệnh COVID-19 cùng với việc thực hiện biện pháp giãn cách

xã hội cần thiết, bắt buộc theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 31-3-2020, của Thủ tướng Chính phủ, “Về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19” làm tiêu dùng trong nước sụt giảm mạnh Trong khi đó, các nền kinh tế lớn (Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc) cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi dịch bệnh và thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội dẫn đến tăng trưởng kinh tế suy giảm, kéo theo sự sụt giảm về cầu nhập khẩu, trong

đó có hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam

2.2 Diễn biến của dịch bệnh COVID-19 ở Việt Nam:

Ở Việt Nam, ngày 23/01/2020 ghi nhận trường hợp mắc COVID-19 đầu tiên, sau đó tiếp tục ghi nhận thêm 15 trường hợp Tất cả 16 trường hợp này đều được chữa khỏi hoàn toàn Sau 22 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới, ngày 06/3/2020, Việt Nam phát hiện ca nhiễm bệnh đầu tiên từ châu Âu, cuộc chiến phòng, chống dịch bắt đầu bước sang một giai đoạn mới (dịch thâm nhập từ nhiều hướng và đã tiềm ẩn trong cộng đồng) Tính đến ngày 30/3/2020, Việt Nam đã ghi nhận có tổng số 203 ca nhiễm mắc mới, trong đó

55 trường hợp đã được chữa khỏi và chưa có trường hợp nào tử vong

Ngày 25 tháng 7, bệnh nhân thứ 416 được phát hiện tại Đà Nẵng nhưng không truy được nguồn lây nhiễm và bệnh viện C Đà Nẵng bị phong tỏa Từ ngày 31 tháng 7, Việt Nam bắt đầu ghi nhận những ca tử vong đầu tiên

Ngày 2 tháng 1, Việt Nam ghi nhận một trường hợp có biến thể SARS-CoV-2 từ Anh ở một bệnh nhân nữ 45 tuổi Ngày 28 tháng 1, Hải Dương giãn cách xã hội từ 12h trưa sau khi có 72 ca nhiễm cộng đồng, kết thúc 55 ngày không lây nhiễm cộng đồng ở Việt Nam Ngày 8 tháng 3, việc tiêm vaccine COVID-19 được bắt đầu Và cho đến ngày 21 tháng 7, Bộ Y tế công bố 36 ca bệnh tử vong của Việt Nam tính theo thời gian từ ngày 17 đến ngày 20 tháng

Trang 9

7, trong đó có 36 ca ở Tp Hồ Chí Minh, 2 ca ở Long An và 2 ca ở Đồng Tháp

2.3 Những tác động của dịch bệnh Covid-19 đến tỷ lệ thất nghiệp:

Theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, dịch COVID-19 có thể khiến 1,5-2 triệu người lao động bị nghỉ việc tạm thời và 250.000 người thất nghiệp Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, trong quý I/2020, số lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp đã tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2019 Dịch COVID-19 đã làm ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực, đặc biệt là du lịch, vận tải, logistics và các ngành định hướng xuất khẩu Theo đó, khoảng 70-80% doanh nghiệp đã phải giảm phạm vi hoạt động kinh doanh Chỉ riêng những lĩnh vực này đã chiếm khoảng 15% tổng lao động tại Việt Nam

Những biến động trên thị trường lao động thường dẫn đến việc sa thải nhân viên, thay vì tuyển dụng mới, do đó tình hình việc làm có xu hướng phục hồi chậm sau những cú sốc kinh tế Những biến động này thường dẫn đến hệ quả lớn hơn khi lao động di cư từ nông thôn và thành thị trở về nhà sau khi mất việc làm; và sau đó không còn muốn tiếp tục với công việc cũ hoặc những công việc này cũng đã không thể tồn tại do doanh nghiệp bị phá sản do ảnh hưởng của đại dịch Do tính kết nối với nền kinh tế toàn cầu thông qua các quan hệ thương mại và chuỗi giá trị, các biện pháp kiểm soát sự lây lan của dịch COVID-19 từ bên ngoài lãnh thổ vào nước ta, có thể làm chậm tốc

độ phục hồi việc làm trong nước

Ngoài việc dịch COVID-19 đã tác động tức thời đến thu nhập trước mắt, thì tình trạng thất nghiệp có thể để lại những hậu quả tiêu cực trong dài hạn Thất nghiệp không những làm giảm thu nhập, mà có thể làm cho người lao động mất đi kỹ năng nếu không được làm việc Những ảnh hưởng này đặc biệt nghiêm trọng đối với người lao động không được tiếp cận mạng lưới an sinh xã hội, khiến cuộc sống của họ ngày càng khó khăn hơn khi họ mất đi nguồn thu nhập Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho rằng, phụ nữ là đối tượng đặc biệt chịu nhiều rủi ro do họ hầu như đảm nhận những công việc có mức lương thấp, không yêu cầu tay nghề cao, mà đây là nhóm công việc dễ bị ảnh hưởng do dịch COVID-19 Tình trạng mất việc làm của nam giới cũng có thể liên quan đến tình trạng gia tăng bạo lực đối với gia đình do phải hạn chế

đi lại để phòng chống dịch

Mất thu nhập cũng ảnh hưởng nhiều đến các hộ gia đình phải thực hiện giãn cách xã hội, dù các biện pháp giãn cách xã hội nhằm giúp kiểm soát dịch bệnh Nhiều người cho rằng, các chỉ số sức khoẻ nói chung sẽ giảm xuống khi người dân giảm những hoạt động có lợi cho sức khoẻ như tập thể dục, thể thao cũng như việc tiếp cận với nguồn cung thực phẩm có phần nào khó khăn

Trang 10

Nước ta cũng ghi nhận thời gian tạm đóng cửa trường học dài nhất từ trước đến nay, điều này dẫn đến học sinh dễ mất đi kiến thức, kỹ năng, nhất là ở các vùng, khu vực khó tiếp cận với công nghệ thông tin, làm ảnh hưởng đến khả năng học tập tại nhà Điều này cũng có thể dẫn tới có thể có một số học sinh không trở lại trường học tập sau khi các trường hoạt động trở lại, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa; và như vậy, có thể xảy ra nguy cơ làm mất nguồn vốn nhân lực trong tương lai do COVID-19

Hiện nay, cả nước đang nỗ lực khôi phục kinh tế đi đôi với phòng chống dịch đã phần nào cải thiện các gam màu xám của tình hình lao động việc làm trong nước, nhưng trong quý I năm 2021, cả nước vẫn còn 9,1 triệu người từ

15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch COVID-19 trong đó nam giới chiếm 51,0% và số người trong độ tuổi từ 25 đến 54 chiếm gần hai phần ba Trong tổng số 9,1 triệu người bị tác động tiêu cực bởi đại dịch COVID-19, có

540 nghìn người bị mất việc, 2,8 triệu người phải tạm nghỉ/tạm ngừng sản xuất kinh doanh; 3,1 triệu người cho biết họ bị cắt giảm giờ làm hoặc buộc phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên và 6,5 triệu lao động báo cáo họ bị giảm thu nhập Xét theo 3 khu vực, khu vực ít chịu tác động nhất của đại dịch là khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản với 7,5% lao động cho biết chịu tác động tiêu cực của đại dịch Đứng thứ hai là khu vực công nghiệp và xây dựng với 16,5% lao động bị ảnh hưởng Lao động trong khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, chiếm tỷ lệ 20,4%

Dịch Covid-19 bùng phát lần thứ ba ngay trước và trong dịp Tết nguyên đán làm tăng đáng kể số lao động thiếu việc làm so với quý trước và cùng kỳ năm trước Số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý I năm 2021 là 971,4 nghìn người; tăng 143,2 nghìn người so với quý trước và tăng 78,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm 2021 là 2,20%; tăng 0,38 phần trăm so với quý trước

và tăng 0,22 phần trăm so với cùng kỳ năm trước

Trong quý 2 và 6 tháng đầu năm 2021, thị trường lao động bị ảnh hưởng nặng nề bởi các đợt bùng phát dịch COVID-19 lần thứ 3 và thứ 4 Thị trường lao động chưa có dấu hiệu khả quan với số người có việc làm quý 2 giảm, tỉ lệ người thất nghiệp, thiếu việc làm, lao động làm việc trong khu vực phi chính thức tăng lên Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý 2 là 51,1 triệu người, tăng 44.700 người so với quý trước, tăng 1,7 triệu người so với cùng

kỳ năm trước Mặc dù vậy, so với cùng kỳ năm 2019 khi chưa có dịch bệnh, lực lượng lao động thấp hơn 304.000 người

Cũng theo Tổng cục Thống kê, số người có việc làm trong quý 2 năm nay

là 49,9 triệu người, giảm 65.000 người so với quý trước, tăng 1,8 triệu người

Ngày đăng: 18/12/2021, 23:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w