Tính cấp thiết của đề tài: Trong suốt mấy chục năm tồn tại nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, ở nước ta, thị trường lao động với tư cách là một bộ phận cấu thành của thị trường, các yế
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: Kinh tế chính trị Mác-Lênin (PLT08A)
ĐỀ TÀI: Phân tích hàng hóa sức lao động Nêu giải pháp
để giải quyết bài toán thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Giảng viên hướng dẫn : TS Phạm Thị Nguyệt Sinh viên thực hiện : Mai Thị Lưu
Lớp : K23NHE
Mã sinh viên : 23A4010766
Hà nội, ngày 07 tháng 06 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài: 2
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I Lý luận chung về hàng hóa sức lao động của C.Mác: 4
1 Sức lao động: 4
1.1 Khái niệm sức lao động: 4
1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa: 4
2 Hàng hóa sức lao động: 5
2.1 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động: 5
2.2 Giá cả của hàng hóa sức lao động – tiền công: 6
2.2.1 Bản chất của tiền công: 6
2.2.2 Hình thức tiền công cơ bản: 6
2.2.3 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế: 6
3 Thị trường sức lao động: 6
4 Tìm hiểu khái quát về thất nghiệp: 7
4.1 Thế nào là thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp: 7
4.2 Phân loại thất nghiệp: 7
CHƯƠNG II Thực trạng thị trường sức lao động ở Việt Nam: 8
1 Tình hình thị trường sức lao động ở Việt Nam: 8
2 Thực trạng thị trường lao động ở Việt Nam: 9
2.1 Thực trạng về nguồn cung lao động: 9
2.1.1 Số lượng lao động: 9
2.1.2 Chất lượng lao động: 10
2.2 Thực trạng về cầu lao động: 10
CHƯƠNG III Một số giải pháp giải quyết bài toán thất nghiệp: 12
1 Hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp theo lý thuyết: 12
2 Kích cầu: 12
3 Hướng nghiệp: 13
4 Tạo mọi điều kiện cho lao động thất nghiệp: 14
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong suốt mấy chục năm tồn tại nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, ở nước ta, thị trường lao động với tư cách là một bộ phận cấu thành của thị trường, các yếu tố sản xuất đã không được công nhận Điều này có nguồn gốc từ các thành kiến mang tính nhận thức về hàng hóa sức lao động, về việc làm, về thất nghiệp Một trong số
đó là coi sức lao động là hàng hóa có thể mua bán được là điều cấm kỵ Các quyết định liên quan đến nguồn lao động, nhất là các quyết định về phân bổ lực lượng lao động, về luân chuyển lao động, chủ yếu được thực hiện nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề về công bằng xã hội hơn là chú trọng đến hiệu quả kinh tế
Hơn thế nữa, các hoạt động trong nền kinh tế nhà nước và nền kinh tế tập thể mới được coi là lao động, là có việc làm, giai đoạn đó đã làm đóng băng thị trường lao động của khu vực ngoài nhà nước Những người làm việc ở các cơ quan ngoài nhà nước này vẫn bị coi là thất nghiệp, là bất hợp pháp Thậm chí những người chủ đứng ra thuê lao động, tạo công ăn việc làm cho họ thì lại bị gán mác là bóc lột, bị hạn chế và phân biệt đối xử một cách nặng nề
Tuy nhiên, những năm gần đây, sự chuyển đổi theo hướng tích cực của nền kinh tế Việt Nam đã mang lại những tín hiệu tích cực liên quan đến phân bổ và sử dụng lực lượng lao động Thị trường lao động đã được công nhận một cách rộng rãi, được pháp luật bảo vệ, Bộ Luật Lao động đã được ban hành vào ngày 23/6/1994 và tiếp đó là một loạt những Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Bộ Luật Lao động Sức lao động dần được coi là một loại hàng hóa, được thể hiện thông qua việc người lao động có thể tự do tìm kiếm việc làm mà không bị gọi là thất nghiệp, việc thuê mướn lao động làm việc cho mình của các chủ sử dụng lao động đã không còn
bị kì thị hay phân biệt đối xử nữa Mặc dù vậy, đã từng quen với quan niệm coi lao động là một giá trị tinh thần xã hội cao nhất, việc thay đổi quan niệm này đã làm không ít người bỡ ngỡ, hiểu không đúng về bản chất của lao động Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, tiền lương được coi là mức giá của sức lao động và được quyết định bởi sự thỏa thuận giữa cả hai bên Việc nhận thức đúng, vận dụng
Trang 4hợp lý lý luận hàng hóa sức lao động là một vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế của nước ta hiện nay
Với mục đích đó, tôi chọn để tài“Phân tích hàng hóa sức lao động Nêu giải pháp để giải quyết bài toán thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu
luận của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ hơn vấn đề hàng hóa sức lao động, về điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa, từ
đó đặt ra những giải pháp để giải quyết bài toán thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay
- Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, tiểu luận có những nhiệm vụ sau:
Làm rõ một số vấn đề lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác và tất yếu khách quan của việc tồn tại hàng hóa sức lao động trong nền kinh tế thị trường
Phân tích thực trạng việc vận dụng lý luận hàng hóa – sức lao động của C.Mác trong việc phát triển thị trường lao động của nước ta
Đề ra những giải pháp nhằm giải quyết vấn đề thất nghiệp của nước ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận hàng hóa – sức lao động của C.Mác, quá
trình hình thành, phát triển thị trường lao động của nước ta
- Phạm vi nghiên cứu: thị trường lao động Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đến
nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở lý luận: Tiểu luận nghiên cứu vấn đề dựa vào quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về hàng hóa sức lao động, có tham khảo một số các lý thuyết của kinh tế học, kinh tế phát triển dựa trên những quan điểm và đường
lối đổi mới trong các văn kiện của Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 5Phương pháp nghiên cứu: Tiểu luận đã sử dụng phương pháp biện chứng duy
vật với các biện pháp như: thống nhất logic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa, phương pháp thống kê đối chiếu, so sánh để nghiên cứu
và trình bày bản chất của vấn đề
NỘI DUNG CHƯƠNG I Lý luận chung về hàng hóa sức lao động của C.Mác:
1 Sức lao động:
1.1 Khái niệm sức lao động:
Theo C.Mác: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong mọi cơ thể, trong mọi con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [24, tr.251]
1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:
Sức lao động là yếu tố cơ bản của mọi quá trình sản xuất nhưng không phải trong xã hội nào nó cũng là hàng hóa Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi có những điều kiện lịch sử nhất định
Sức lao động trở thành hàng hóa khi có đủ hai điều kiện sau:
Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, tức là có quyền chi
phối sức lao động; và do đó quyền bán sức lao động như là một hàng hóa Trong xã hội phong kiến, người nô lệ không thể tự mình bán sức lao động được vì bản thân
họ thuộc sở hữu của chủ nô Vì vậy, việc biến sức lao động thành hàng hóa đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ nô lệ và nông nô
Thứ hai, người có sức lao động không có tư liệu sản xuất (tức là không có những
phương tiện vật chất cần thiết để thực hiện sức lao động của mình) Vì vậy anh ta phải bán sức lao động của mình để kiếm sống Nếu người lao động tự do về thân thể nhưng có tư liệu sản xuất thì anh ta đang bán hàng hóa do mình sản xuất ra chứ không phải là bán sức lao động
Trang 6Khi mà cả hai điều kiện ở trên cùng tồn tại một cách song hành thì sức lao động sẽ tạo thành một loại hàng hóa tất yếu và hiển nhiên
2 Hàng hóa sức lao động:
2.1 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động:
Cũng như các hàng hóa thông thường, hàng hóa sức lao động có hai thuộc tính:
Giá trị hàng hóa sức lao động: là hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất và
tái sản xuất ra sức lao động Một người sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động bằng cách tiêu dùng những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho bản thân và con cái anh ta
Vì vậy, giá trị sức lao động được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt đó
Giá trị hàng hóa sức lao động bao gồm: Giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho chính người lao động, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần cho vợ con người lao động
và chi phí người lao động
Là hàng hóa đặc biệt nên giá trị hàng hóa sức lao động còn bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử: yếu tố tình thần là trong các tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động và vợ con anh ta, có bộ phận nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của họ như sách báo, phim ảnh, ; về yếu tố lịch sử, những nhu cầu vật chất và tinh thần trên phụ thuộc vào điều kiện địa lý, xã hội cũng như trình độ văn minh của mỗi nước và mỗi thời kỳ trong lịch sử
sức lao động, tức là quá trình người công nhân lao động Hàng hóa sức lao đông có giá trị sử dụng độc đáo: khi người công nhân lao động, anh ta có khả năng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân sức lao động Một phần giá trị mới đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản bỏ túi Nhờ vậy, số tiền mà nhà tư bản bỏ ra mua các yếu tố sản xuất (trong đó có sức lao động) đã trở thành tư bản
So sánh hàng hóa sức lao động và hàng hóa thông thường, ta thấy bên cạnh một số điểm giống nhau (đều là hàng hóa, có hai thuộc tính, ) thì hàng hóa sức lao động
có rất nhiều điểm khác với hàng hóa thông thường (về việc mua – bán, về giá trị và đặc biệt là giá trị sử dụng) Cho nên, sức lao động là hàng hóa đặc biệt, có khả năng
Trang 7tạo ra giá trị và giá trị thặng dư Chính sự xuất hiện của hàng hóa này là “chìa khóa”
để giải thích những mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản
2.2 Giá cả của hàng hóa sức lao động – tiền công:
Tiền công là số tiền người công nhân nhận được sau một thời gian làm việc nhất định hoặc sau khi hoàn thành một số công việc nào đó cho nhà tư bản
Tiền công phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân cũng như các chính sách điều tiết của nhà nước
- Tiền công tính theo thời gian: là hình thức tiền công mà số lượng nhiều hay ít phụ thuộc vào thời gian lao động của công nhân dài hay ngắn
- Tiền công tính theo sản phẩm: là hình thức tiền công mà số lượng nhiều hay
ít phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay khối lượng công việc mà công nhân
đã hoàn thành
Số tiền mà người công nhân nhận được chưa phản ánh đúng mức sống của công nhân Muốn biết mức sống của họ cao hay thấp phải phân biệt được tiền công danh nghĩa với tiền công thực tế
- Tiền công danh nghĩa: là số tiền người công nhân nhận được sau khi bán sức lao động cho nhà tư bản
- Tiền công thực tế: là số lượng hàng hóa, dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình
3 Thị trường sức lao động:
Thị trường theo nghĩa hẹp là nơi diễn ra sự trao đổi, mua bán hàng hóa Còn theo nghĩa rộng, thị trường là tổng thể tất cả các mối quan hệ cạnh tranh, cung – cầu, giá cả, mà trong đó giá cả và lượng hàng hóa tiêu thụ được xác định
Thị trường sức lao động hay còn gọi là thị trường lao động là một trong số các loại thị trường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do
Trang 8(người bán) và một bên là người cần sử dụng lao động (người mua) Sự trao đổi này dựa trên thỏa thuận về tiền công, điều kiện lao động, được thể hiện trên hợp đồng lao động
4 Tìm hiểu khái quát về thất nghiệp:
4.1 Thế nào là thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp:
- Lực lượng lao động xã hội là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có nhu cầu lao động (và những người ngoài độ tuổi nhưng trên thực tế có tham gia lao động)
- Thất nghiệp là những người trong lực lượng lao động xã hội không có việc làm và đang tích cực tìm kiếm việc làm
- Tỷ lệ thất nghiệp là % số người thất nghiệp so với tổng số người trong lực lượng lao động
Công thức tính: U% = 𝑆ố 𝑛𝑔ườ𝑖 𝑡ℎấ𝑡 𝑛𝑔ℎ𝑖ệ𝑝/ LLLĐXH
Trong đó: Lực lượng lao động xã hội (LLLĐXH) = Số người có việc làm + Số người thất nghiệp
4.2 Phân loại thất nghiệp:
Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần được phân loại để hiểu rõ về nó Có thể chia thành các loại như sau :
Phân theo loại hình thất nghiệp: Thất nghiệp chia theo giới tính (nam – nữ); Thất nghiệp chia theo lứa tuổi (tuổi – nghề); Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn,…); Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc
Phân theo lý do thất nghiệp
- Bỏ việc: Là những người tự ý xin thôi việc vì những lí do khác nhau như lương thấp, không hợp nghề,…
- Mất việc: Là những người bị các đơn vị sản xuất kinh doanh cho thôi việc vì một lý do nào đó
- Nhập mới: Là những người lần đầu tiên bổ sung vào lực lượng lao động, nhưng chưa tìm được việc làm, đang tích cực tìm kiếm việc làm
Trang 9- Tái nhập: Là những người đã rời khỏi lực lượng lao động nay muốn quay trở lại làm việc nhưng chưa tìm được việc làm
Phân theo nguồn gốc thất nghiệp:
- Thất nghiệp tạm thời: Xảy ra khi có một số người lao động đang trong thời gian tìm kiếm việc làm hoặc tìm kiếm công việc khác tốt hơn, phù hợp với nhu cầu riêng của mình
- Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra do sự không ăn khớp giữa cơ cấu của cung và cầu lao động về kỹ năng, nghành nghề, địa điểm,… Hai loại thất nghiệp trên chỉ xảy ra ở một bộ phận thị trường lao động
- Thất nghiệp chu kỳ (thất nghiệp do thiếu cầu): Xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm Nguyên nhân chính là do sự suy giảm tổng cầu trong nền kinh tế và gắn với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh tế Thất nghiệp này xảy
ra trên toàn bộ thị trường lao động
- Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường : Xảy ra khi tiền lương được ấn định cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động Loại thất nghiệp này do các yếu tố chính trị - xã hội tác động
Theo phân tích hiện đại về thất nghiệp
- Thất nghiệp tự nguyện: Chỉ những người “tự nguyện” không muốn làm việc
do việc làm và mức lương chưa phù hợp với mong muốn
- Thất nghiệp không tự nguyện: Chỉ những người muốn đi làm ở mức lương hiện hành nhưng không được thuê
- Thất nghiệp tự nhiên: Là mức thất nghiệp khi thị trường lao động ở trạng thái cân bằng Tại đó, mức tiền lương và giá cả là hợp lý, các thị trường đều đạt cân bằng dài hạn
CHƯƠNG II Thực trạng thị trường sức lao động ở Việt Nam:
1 Tình hình thị trường sức lao động ở Việt Nam:
Từ năm 1986, Đảng và nhà nước ta đã chính thức công nhận sức lao động (khi có
đủ hai điều kiện) là hàng hóa, vì vậy việc xây dựng thị trường sức lao động là điều
Trang 10tất yếu Đảng ta cũng nhấn mạnh, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề cốt lõi, trọng tâm của Đảng và nhà nước Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi có sự đồng bộ các loại thị trường, thị trường lao động từ chỗ không tồn tại đã bắt đầu hình thành và phát triển
Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt những chính sách và cơ chế quản lý, phù hợp với sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tạo mọi điều kiện để các hình thức kinh tế phát triển, tạo công ăn việc làm đáp ứng nhu cầu đời sống của người lao động, từ đó cơ hội lựa chọn việc làm của người lao động ngày càng được mở rộng Nhờ việc Đảng và Nhà nước ta tạo mọi điều kiện thuận lợi như thế mà người lao động từ chỗ thụ động, trông chờ đến
sự bố trí của Nhà nước như trong thời kỳ bao cấp thì đã trở nên chủ động hơn trong việc tìm kiếm việc làm Bên cạnh đó, người sử dụng lao động được khuyến khích làm giàu hợp pháp, đẩy mạnh đầu tư vào việc làm Khu vực kinh tế tư nhân được thừa nhận, từ đó đã mở ra những cơ hội to lớn về vấn đề việc làm cho người lao động
2 Thực trạng thị trường lao động ở Việt Nam:
2.1 Thực trạng về nguồn cung lao động:
Cung lao động là tổng tất cả nguồn lực lao động do người lao động tự nguyện đem vào quá trình tái sản xuất xã hội Nguồn cung lao động được xét theo hai khía cạnh
là số lượng và chất lượng nguồn cung
Nước ta có nguồn lao động dồi dào, đặc biệt là lao động trẻ Tính đến hết quý I năm
2021, dân số Việt Nam là 98,1 triệu người, trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 51,0 triệu người, giảm 1,1 triệu người so với quý trước và giảm 180,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước (số liệu từ Tổng cục thống kê) Thông
thường, theo đà tăng của dân số thì lực lượng lao động năm sau luôn cao hơn năm trước, tuy nhiên lực lượng lao động trong quý I năm 2021 lại giảm, thấp hơn năm
2021 khoảng 600 nghìn người Lực lượng lao động nước ta dồi dào nhưng phân bố không đồng đều ở các vùng miền Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của khu vực thành thị là 66,7%, trong khi đó tỷ lệ này ở nông thôn là 69,9% Hiện nay, cung về