Nguồn lực, sức lao động sáng tạo của con người luôn là vấn đề then chốt quyết định sự phát triển, sức mạnh của một đất nước nên việc phát triển thị trường hàng hoá sức lao động sao cho p
Trang 1M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 2
I LÝ LU ẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG 4
1 Khái ni ệm sức lao động: 4
2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá: 4
3 Hai thu ộc tính của hàng hoá sức lao động: 5
3.1 Giá tr ị của hàng hoá sức lao động 5
3.2 Giá tr ị sử dụng của hàng hoá sức lao động 6
II V ẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG, CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 7
1 Th ực trạng tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hi ện nay 7
2 Nh ững thành quả đạt được từ quá trình cải cách chính sách ti ền lương ở Việt Nam hiện nay 12
3 Nh ững hạn chế còn tồn đọng trong chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay 13
4 Nh ững định hướng hoàn thiện, cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam 15
K ẾT LUẬN 18
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO . 19
Trang 2M Ở ĐẦU
Thế giới đang chứng kiến những chuyển biến nhanh như vũ bão của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Nhiều lĩnh vực đã có những bước phát triển đột phá ở thời kì này, trong đó có làn sóng số hoá của lĩnh vực sản xuất Nhiều quốc gia đã nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế tri thức
và bắt đầu quan tâm, cụ thể hoá các ưu tiên phát triển kinh tế số Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó Hiện nay, đất nước ta cũng đang phải đối diện với những thách thức mà xu thế số hoá đem lại, một trong số đó là nguy cơ cạnh tranh về con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao ở các doanh nghiệp Nguồn lực, sức lao động sáng tạo của con người luôn là vấn đề then chốt quyết định sự phát triển, sức mạnh của một đất nước nên việc phát triển thị trường hàng hoá sức lao động sao cho phù hợp là một yêu cầu cấp thiết đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh đất nước muốn giàu mạnh khi nguồn tài nguyên thiên nhiên dần cạn kiệt còn khoa học kĩ thuật đang có những bước phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng
Lý luận của C Mác về loại hàng hoá đặc biệt – hàng hoá sức lao động đã cung cấp nhiều luận điểm khoa học, toàn diện và biện chứng Trên
cơ sở đó, tạo tiền đề vững chắc cho việc lý giải các vấn đề về thị trường của
loại hàng hoá đặc biệt này và áp dụng các giải pháp vào thực tiễn xã hội nhằm cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam
Trong các thời kỳ phát triển đất nước, Việt Nam đã nhiều lần cải cách chính sách tiền lương để phù hợp với nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập Dù đạt được những thành công nhất định, song chính sách tiền lương của nước ta vẫn còn rất nhiều hạn chế, nhất là cơ chế tạo nguồn chưa được tháo gỡ dẫn đến việc cải cách tiền lương bị rơi vào vòng luẩn quẩn Điều này đặt ra yêu cầu cần một cuộc cải cách đúng đắn, toàn diện, đồng bộ; dựa trên thực tiễn và các bằng chứng
Trang 3kha học thuyết phục, nhằm tạo ra động lực phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, thực hiện tốt hơn công bằng xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc
tế
Từ đó, em xin chọn đề tài “Hàng hoá sức lao động và vấn đề tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay” để lãm rõ hơn vấn đề này
Trang 4I LÝ LU ẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HOÁ SỨC
LAO ĐỘNG
Hàng hoá sức lao động là một thứ hàng hoá đặc biệt vì nó có thể tạo
ra giá trị thặng dư, tức là trong quá trình sử dụng loại hàng hoá này, giá trị của nó không những được bảo tồn mà còn tạo ra được giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó
Để hiểu rõ hơn cũng như để giải thích kỹ hơn vì sao hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt, hãy cùng đi làm sáng tỏ những vấn đề sau
1 Khái niệm sức lao động:
Sức lao động là năng lực lao động (của con người), bao gồm toàn bộ những toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần, tồn tại trong một cơ thể con người đang sống; và được người này đem ra vận dụng mỗi khi tạo
ra một giá trị sử dụng nhất định nào đó
2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá:
Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất Nhưng không phải trong bất kì điều kiện nào sức lao động cũng là hàng hoá Thực tiễn lịch sử thời kỳ chiếm hữu nô lệ cho thấy, bản thân người nô lệ thuộc sở hữu của chủ nô, họ không có quyền bán sức lao động
của mình do đó sức lao động chính của người nô lệ không phải hàng hoá Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hoá khi và chỉ khi thoả mãn những điều kiện sau:
lao động của bản thân mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hoá
Trang 5Th ứ hai, người lao động không có đủ tư liệu sản xuất cần thiết để tự
kết hợp với sức lao động của mình tạo ra hàng hoá để bán, cho nên họ phải bán sức lao động
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động trở thành hàng hoá Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện tiên quyết để tiền biến thành tư bản Trong các hình thái xã hội trước chủ ngĩa
tư bản chỉ có sản phẩm của lao động mới là hàng hoá Chỉ đến khi sản xuất hàng hoá phát triển đến một mức độ nhất định nào đó, các hình thái sản xuất xã hội cũ bị phá vỡ thì mới xuất hiện những điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá
3 Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động:
Cũng giống như mọi hàng hoá khác, hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng
Thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động là nhân tố quyết định giá trị hàng hoá sức lao động Nhưng sức lao động chỉ tồn tại dựa trên năng lực sống của con người Muốn tái sản xuất năng lực đó, người công nhân phải sử dụng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định về ăn, ngủ, nghỉ, học nghề,…Vậy thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất sức lao động sẽ quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy Nói cách khác, giá trị của hàng hoá sức lao động là giá trị của hàng hoá đóng vai trò là tư liệu sinh hoạt cần thiết và tối thiểu để nuôi sống người công nhân và gia đình họ, kể
cả khoản chi phí đào tạo người công nhân Chỉ có như vậy thì sức lao động
mới được sản xuất và tái sản xuất một cách liên tục
Giá trị hàng hoá sức lao động đậc biệt ở chỗ nó còn bao hàm cả yếu
tố tinh thần và yếu tố lịch sử, phụ thuộc vào hoàn lịch sử của từng nước,
Trang 6từng thời kì, trình độ văn minh của mỗi quốc gia Do đó, quy mô tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định Ta có thể xác định lượng giá trị hàng hoá sức lao động qua ba thành phần sau đây:
sản xuất sức lao động, duy trì đời sống người lao động
gia đình người lao động
Ngoài ra, giá trị sức lao động trong một thời kì chịu sự tác động của hai xu hướng đối lập nhau Một mặt, giá trị sức lao động tăng khi sản xuất càng phát triển dẫn đến nhu cầu về lao động phức tạp tăng, và khi nhu cầu
về tư liệu sinh hoạt tăng theo đà tiến bộ của lực lượng sản xuất; mặt khác, giá trị sức lao động sẽ giảm khi năng suất lao động xã hội tăng
Giống như các hàng hoá thông thường khác, giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động cũng nhằm thoả mãn nhu cầu của người mua Công dụng của
nó biểu hiện qua quá trình tiêu dùng hàng hoá sức lao động hay chính là quá trình lao động của người công nhân Đối với hàng hoá thông thường, sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến theo thời gian Nhưng đối với hàng hoá sức lao động, quá trình tiêu dùng chính là quá trình sản xuất, đồng thời là quá trình sức lao động tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Như vậy, giá trị sử dụng là thuộc tính tạo nên tính chất đặc biệt (đặc tính) của sức lao động và phần dôi ra ngoài trong quá trình sản xuất trên chính là giá trị thặng dư Đây chính là chìa khoá để giải thích mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động
Trang 7trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hoá thành tư bản Không những thế, hàng hoá sức lao động cũng là điều kiện của sự bóc lột chứ không phải cái quyết định có hay không có bóc lột, nói cách khác bản chất của giá trị
thặng dư là sự chiếm đoạt sức lao động của nhà tư bản
II VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG, CẢI CÁCH TIỀN
LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Thực trạng tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam
hi ện nay
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là vấn đề rất quan trọng được nhiều người quan tâm, nhất là người lao động Bởi, tiền lương
có liên quan trực tiếp đến thu nhập, mức sống, khả năng tái sản xuất sức lao động của người lao động và cũng là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại trong sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động
Tiền lương được xác định trên thị trường lao dộng thông qua hình thức thoả thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động, phù hợp với quan
hệ cung-cầu sức lao động và tuân thủ các quy định của pháp luật
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới kinh tế của nước đã và đang đạt được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực, đặc biệt trong việc nâng cao đời sống của nhân dân thể hiện qua các chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, đầu tư phát triển kinh tế nhiều thành phần, đầu tư phát triển giáo dục đào tạo, phát triển y tế nâng cao sức khoẻ,… và tiền công của người lao động cũng nhiều lần được thay đổi để phù hợp với nhu cầu cuộc sống
Thực hiện đường lối “Đổi mới” của Đảng đã chuyển đổi nền kinh tế
từ kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo có chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Điều đó đã làm thay đổi sâu sắc từ nhận thức đến hành động
Trang 8trên mội lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực lao động – tiền lương Do đó, hệ thống chính sách, pháp luật về tiền lương được ban hành và bước đầu đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng lao động có hiệu quả hơn
người lao động có việc làm và thu nhập ổn định
Nước ta đã trải qua 4 đợt cải cách chính sách tiền lương vào các năm
1960, năm 1985, năm 1993, năm 2003 Cụ thể như sau:
C ải cách tiền lương giai đoạn 1960-1984
Trước năm 1960, vấn đề tiền lương của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được quy định trong các sắc lệnh số 10-SL về việc tạm thời áp dụng các văn bản pháp luật của chế độ cũ để lại; sắc lệnh số 29 ngày
12/3//1947 quy định chế độ lao động trong toàn cõi Việt Nam Sau khi lập lại hòa bình, những yêu cầu đặt ra trong việc sửa đổi chế độ tiền lương đối với người lao động tại miền Bắc Việt Nam lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1957 và sau khi hoàn thành cải tạo kinh tế xã hội chủ nghĩa thì được triển khai chính thức vào năm 1960 Trong đợt cái cách này, vấn đề tiền lương tối thiểu được Chính phủ giới hạn trực tiếp bằng việc quy định cụ thể các mức lương của các ngành Trong mỗi ngành đều có mức khởi điểm được trả cho người lao động ứng với công việc đòi hỏi trình độ và cường
độ lao động thấp nhất
Một trong những điểm nhấn của chính sách cải cách tiền lương ở Việt Nam trong giai đoạn 1960-1984 là hướng tới mục tiêu chiếu cố toàn diện, cân nhắc kỹ lưỡng giữa yêu cầu và khả năng, kết hợp nguyên tắc với thực tế để vận dụng đúng đắn nguyên tắc phân phối theo lao động vào tình hình thực tế đất nước,…, chống chủ nghĩa bình quân, phải chống xu hướng đòi công bằng hợp lý một cách tuyệt đối, không phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước
C ải cách tiền lương giai đoạn 1985-1992
Trang 9Giai đoạn này được đánh dấu bằng việc ban hành Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 khóa V (tháng 6-1985) và Nghị định số 235/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang đã dẫn đến một cuộc cải cách lớn mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước Đến ngày 28/12/1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 202-HĐBT về tiền lương công nhân, viên chức sản xuất kinh doanh khu vực quốc doanh và công tư hợp doanh và Quyết định số 203-HĐBT về tiền lương công nhân, viên chức hành chính
sự nghiệp, lực lượng vũ trang và các đối tượng hưởng chính sách xã hội Theo đó, tiền lương tối thiểu được nâng lên 22.500 đồng/tháng
Năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông qua, từ đây thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam Lao động làm việc trong khu vực này phải chịu áp lực cao, đòi hỏi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và cường độ lao động cao hơn
Do đó, cần phải có quy định riêng về tiền lương tối thiểu cho lao động làm
việc ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài để có thể đánh giá đúng giá trị sức lao động mà người lao động bỏ ra và bảo đảm sự công bằng Và vào ngày 29-8-1990, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ra Quyết định số 356/LĐTBXH/QĐ về mức lương tối thiểu của người lao động trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Theo đó, mức lương tối thiểu dành cho người lao động làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
là 50 USD/tháng
Chính sách cải cách tiền lương của Việt Nam trong giai đoạn
1985-1992 đã có những cải thiện đáng kể trong việc cải cách tiền lương mặc dù còn nhiều hạn chế; đã có sự phân định về tiền lương tối thiểu đối với các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đảm bảo sự công bằng trong việc trả công cho người lao động
C ải cách tiền lương giai đoạn 1993-2002
Trang 10Trong giai đoạn này, một số văn bản pháp luật mới được ra đời Nghị định số 26/CP quy định tạm thời chế độ tiền lương mới trong các doanh nghiệp; ngày 23/5/1993, Nghị định số 25/CP được chính phủ ban hành, quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính - sự nghiệp và lực lượng vũ trang; Nghị định số 197/CP ngày
31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương; Thông tư số 11/LĐTBXH-TT ngày 3/5/1995
hướng dẫn Nghị định số 197/ CP Chính phủ ra Nghị định số 06/CP vào ngày 21/1/1997 về việc giải quyết tiền lương và trợ cấp năm 1997 đối với công chức, viên chức hành chính - sự nghiệp, người nghỉ hưu, nghỉ mất sức, lực lượng vũ trang cán bộ xã, phường và một số đối tượng hưởng chính sách xã hội Ngày 27-3-2000, Chính phủ ra Nghị định số
10/2000/NĐ-CP về việc quy định tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ra Quyết định số 708/1999/QĐ-BLĐTBXH quy định mức lương tối thiểu cho lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Ngày 15-12-2000, Chính phủ ra Nghị định số 77/2000/NĐ-CP Về việc điều chỉnh mức lương tối thiểu, mức trợ cấp và sinh hoạt phí đối với các đối tượng hưởng lương, phụ cấp, trợ cấp và sinh hoạt phí
Trong giai đoạn 1993-2002, mục tiêu của cải cách chính sách tiền lương của Việt Nam là làm cho tiền lương tối thiểu phải thực sự là “lưới an toàn” cho người lao động, đảm bảo cho họ duy trì được mức sống tối thiểu cần thiết và tái sản xuất sức lao động; đáp ứng yêu cầu tiền tệ hóa tiền lương, dần thay thế và tiến tới xóa bỏ chế độ phân phối hiện vật có tính
chất tiền lương Việc ban hành Bộ luật Lao động vào năm 1994 đã xác lập: ghi nhận một cách đầy đủ, toàn diện tiền lương tối thiểu trong văn bản pháp
lý có hiệu lực cao là Bộ luật, Bộ Luật Lao động góp phần tạo nên trật tự