Bài luận đi phân tích, chứng minh và làm rõ các quy định pháp luật liên quan về việc trả hồ sơ bổ sung trong giai đoạn xét xử vụ án sơ thẩm hình sự. Qua đó đưa ra một số những thuận lợi và vướng mắc còn tồn tại hiện nay. Cuối cùng là một số giải pháp để hoàn thiện PL.
Trang 1MÔN: LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ANH/CHỊ HÃY PHÂN TÍCH QUY ĐỊNH VỀ VIỆC TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
ÁN HÌNH SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ HÃY NÊU MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG
THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT………
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 2
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM 2
1 Khái niệm 2
2 Đặc điểm 2
3 Ý nghĩa 3
II QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 3 1 Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn chuẩn bị xét xử 3
1.1 Căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung 3
1.1.1 Khi thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 hoặc Điều 441 Bộ luật Tố tụng hình sự mà không thể bổ sung tại phiên tòa được 4
1.1.2 Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm 5
1.1.3 Có căn cứ để cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can 5
1.1.4 Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng 6
1.2 Thẩm quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung 7
1.3 Thủ tục trả hồ sơ điều tra bổ sung 7
1.4 Thời hạn và số lần trả hồ sơ điều tra bổ sung 8
2 Trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại phiên tòa xét xử 8
2.1 Căn cứ trả hồ sơ điều tra bổ sung 8
2.2 Thẩm quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung 8
2.3 Thủ tục trả hồ sơ điều tra bổ sung 9
2.4 Thời hạn và số lần Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung 9
Trang 3III MỘT SỐ ĐIỂM MỚI VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
NĂM 2015 SO VỚI BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 10
IV THỰC TRẠNG, MỘT SỐ KHÓ KHĂN VƯỚNG MẮC VÀ KIẾN NGHỊ HƯỚNG GIẢI QUYẾT TRONG VIỆC TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG Ở GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 11
1 Thực trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 11
2 Một số khó khăn, vướng mắc 12
2.1 Về mặt pháp lý 12
2.2 Về mặt thực tiễn 13
3 Kiến nghị hướng giải quyết 14
3.1 Về mặt pháp lý 14
3.2 Về mặt thực tiễn 15
C KẾT LUẬN 16
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
2 BLTTHS năm 2003 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
3 BLTTHS năm 2015 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
4 TTLT số 02/2017 Thông tư liên tịch số
A MỞ ĐẦU
Quá trình giải quyết VAHS trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó, giai đoạnxét xử đóng vai trò đặc biệt quan trọng Tại phiên tòa, tất cả những chứng cứ, tài liệu, đồ vậtthu thập được trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố đều được đưa ra xem xét công khaithông qua việc xét hỏi và trên cơ sở đó các bên tiến hành tranh luận Có như vậy, Tòa án
Trang 5mới có thể đưa ra những phán quyết khách quan, toàn diện, phù hợp với sự thật của vụ án vàquy định của pháp luật Tuy nhiên, không phải trường hợp nào sau khi nhận bản cáo trạng
và hồ sơ vụ án từ VKS chuyển sang Tòa án cũng quyết định đưa vụ án ra xét xử ngay Nếuphát hiện có những trường hợp không thu thập được đầy đủ tài liệu, chứng cứ để kết luận vềtội phạm, người phạm tội hoặc quá trình điều tra, truy tố còn vi phạm quy định của phápluật TTHS hoặc có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác, có đồng phạm khác, thìTòa án với tư cách là cơ quan xét xử phải trả hồ sơ để ĐTBS nhằm khắc phục những tồn tại,thiết sót trong giai đoạn điều tra, truy tố, từ đó đảm bảo có căn cứ để giải quyết vụ án đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật
Trong thực tiễn TTHS hiện nay, việc Tòa án trả hồ sơ cho VKS để ĐTBS là điều cầnthiết, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 vềchiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ chính trị Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫncòn nhiều bất cập trong hoạt động trả hồ sơ ĐTBS của Tòa án khi hiệu quả hiệu quả hoạtđộng trả hồ sơ của Tòa án không phải lúc nào cũng được đảm bảo Điều này xuất phát từnhận thức nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm nguyên nhân khách quan và nguyên nhânchủ quan Chính vì vậy, việc nghiên cứu chế định trả hồ sơ để ĐTBS trong giai đoạn XXSTVAHS là điều rất quan trọng và cần thiết
Xuất phát từ những lý do trên, em xin lựa chọn đề tài số 17: “Anh/chị hãy phân tích
quy định về việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự Hãy nêu một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết” làm bài tiểu luận học kỳ môn Luật tố tụng hình sự.
Trang 6B NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM
1 Khái niệm
Trả hồ sơ ĐTBS là “việc cơ quan tiến hành tố tụng sau trả vụ án về cho cơ quan tiến
hành tố tụng trước để tiếp tục điều tra, khắc phục việc thiếu chứng cứ và vi phạm thủ tục tố tụng để truy tố, đề nghị truy tố bổ sung đối với các trường hợp được cho là cơ quan tiến hành tố tụng trước đó đã bỏ lọt tội phạm hoặc người thực hiện HVPT” [10, tr.8] Còn
XXST VAHS “là việc Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng xem xét, ra phán quyết về vụ
án theo thủ tục sơ thẩm, trong đó Tòa án căn cứ các quy định của BLTTHS, quyết định truy
tố của VKS, chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng và kết quả tranh tụng tại phiên tòa ra bản án hoặc quyết định tố tụng để giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm” [5, tr.416]
Như vậy, ta rút ra khái niệm “trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn XXST VAHS
như sau: “Trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn XXST VAHS là việc Tòa án cấp sơ
thẩm trong giai đoạn CBXX hoặc tại phiên tòa quyết định trả hồ sơ VAHS cho VKS nơi ra quyết định truy tố để điều tra bổ sung nếu phát hiện thấy thiếu những chứng cứ quan trọng,
có đồng phạm khác, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà không thể khắc phục tại phiên tòa, từ đó nhằm khắc phục những thiếu sót trong quá trình điều tra, truy tố và đảm bảo cho việc giải quyết VAHS được khách quan, toàn diện, đúng quy định của pháp luật”
[8, tr.12]
2 Đặc điểm
Thứ nhất, thẩm quyền trả hồ sơ ĐTBS trong giai đoạn XXST VAHS là Thẩm phán
được phân công chủ tọa phiên tòa (ở giai đoạn CBXX) và Hội đồng xét xử (tại phiên tòa)
Thứ hai, chủ thể tiếp nhận hồ sơ Tòa án cấp sơ thẩm trả để điều tra bổ sung là VKS
nơi ra quyết định truy tố và ban hành cáo trạng hoặc VKS được ủy quyền thực hành quyềncông tố và kiểm sát xét xử (trong trường hợp VKS cấp trên ra quyết định truy tố và ủyquyền cho VKS cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử)
Thứ ba, mục đích của trả hồ sơ ĐTBS trong giai đoạn XXST là nhằm đảm bảo cho
việc điều tra, truy tố, xét xử phải thật sự đầy đủ, khách quan, đúng người, đúng pháp luật,không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Trang 7Thứ tư, trả hồ sơ ĐTBS trong giai đoạn XXST VAHS là quyết định áp dụng pháp
luật Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay mà không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủtục phúc thẩm như một số các quyết định tố tụng khác
Thứ hai, bảo đảm các nguyên tắc cơ bản trong BLTTHS: nguyên tắc pháp chế xã
hội chủ nghĩa (Điều 7), nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13) và nguyên tắc xác định sự thậtcủa vụ án (Điều 15)
Thứ ba, bảo đảm quyền con người: không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội,
xử lý nghiêm mọi HVPT là nhiệm vụ quan trọng của pháp luật TTHS Bảo vệ quyền conngười là nghĩa vụ của nhà nước và Tòa án bảo vệ quyền con người đó bằng các quy địnhcủa pháp luật, trong đó có pháp luật TTHS Quy định về trả hồ sơ ĐTBS trong giai đoạnXXST góp phần bảo đảm không làm oan người vô tội cũng là góp phần bảo đảm quyền conngười
Thứ tư, góp phần phòng ngừa tội phạm: Việc áp dụng hình phạt phải trên cơ sở
xác định đúng đắng sự thật khách quan VAHS, không vi phạm trong quá trình giải quyếtVAHS thì tác dụng phòng ngừa mới phát huy hiệu quả Quy định về trả hồ sơ ĐTBS tronggiai đoạn XXST bảo đảm cho Tòa án có phán quyết đúng đắn về tội phạm và hình phạt, từ
đó tác động tích cực đến hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm [9,10]
Trang 8II QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN XĨT XỬ SƠ THẨM VỤ ÂN HÌNH SỰ
1 Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn chuẩn bị xĩt xử
1.1 Căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Theo Điều 280 BLTTHS năm 2015 vă TTLT số 02/2017, trong thời hạn CBXX,Thẩm phân ra quyết định trả hồ sơ cho VKS để ĐTBS nếu thuộc một trong câc trường hợpsau:
1.1.1 Khi thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 hoặc Điều 441 Bộ luật Tố tụng hình sự mă không thể bổ sung tại phiín tòa được
Chứng cứ lă những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật năy quyđịnh, được dùng lăm căn cứ để xâc định có hay không có hănh vi phạm tội, người thực hiệnhănh vi phạm tội vă những tình tiết khâc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ ân [2, Điều 86].Chứng cứ trong VAHS lă yếu tố quyết định để kết luận HVPT của bị can Trín thực tế, số
vụ Thẩm phân chủ tọa phiín tòa trả hồ sơ để ĐTBS về chứng cứ chiếm tỉ lệ chủ yếu
Để hiểu như thế năo lă câc chứng cứ mă khi xĩt thấy không thể bổ sung được tronggiai đoạn CBXX, Thẩm phân chủ tọa phiín tòa cần căn cứ văo quy định tại khoản 2 Điều 3
TTLT số 02/2017, bao gồm: (1) Có HVPT xảy ra hay không; (2) Thời gian, địa điểm vă những tình tiết khâc của HVPT; (3) Ai lă người thực hiện HVPT; (4) Có lỗi hay không có lỗi; (5) Có năng lực TNHS không; (6) Mục đích, động cơ phạm tội; (7) Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can, bị câo; (8) Đặc điểm về nhđn thđn của bị can, bị câo; (9) Tính chất vă mức độ thiệt hại do HVPT gđy ra; (10) Nguyín nhđn vă điều kiện phạm tội; (11) Những tình tiết khâc liín quan đến việc loại trừ TNHS, miễn trâch nhiệm hình sự, miễn hình phạt; (12) Chứng cứ khâc để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 85 BLTTHS mă thiếu chứng cứ đó thì không đủ căn cứ để giải quyết vụ ân; (13) Trường hợp
PNTM phạm tội 1
Ví dụ: TAND huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre trả hồ sơ vụ ân Trương Phúc H phạm tội
“Trộm cắp tăi sản” quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015 cho VKSND cùng cấp để yíucầu bổ sung chứng cứ mă tại phiín tòa không thể bổ sung được Trong vụ ân năy, bị hại lẵng Kha Vĩnh Đ khiếu nại về số lượng hải sản thực tế bị trộm cắp ít hơn số lượng tăi sản măVKS đê truy tố Đồng thời, ông Đ cung cấp tờ kí khai số lượng tăi sản do bị câo tự biết vă
2015.
Trang 9thừa nhận đã lấy trộm của ông, trong quá trình điều tra ông Đ đã giao nộp tờ khai trên choCQĐT nhưng ĐTV không làm rõ [14].
Lưu ý: Trong một số trường hợp, dù hồ sơ thiếu những chứng cứ nêu trên nhưng xét
thấy vẫn có thể tiến hành truy tố, xét xử được hoặc xét thấy việc trả lại hồ sơ cũng không
thể thu thập được chứng cứ đó thì Thẩm phán không trả hồ sơ ĐTBS Ví dụ: hiện trường vụ
án đã bị thay đổi do trời mưa, bão, lũ lụt,…nên không còn các dấu vết, vật chứng dẫn đếnkhông thể tìm lại được vật chứng đã mất Chỉ khi yêu cầu VKS bổ sung tài liệu chứng cứkhông được thì Thẩm phán mới xem xét đến các căn cứ trả hồ sơ để ĐTBS tại Điều 280BLTTHS
1.1.2 Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm
Theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 5 TTLT số 02/2017, Thẩm phán được phân côngchủ tọa phiên tòa trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp sau:
Một là, VKS truy tố về một hay nhiều tội, nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho
thấy hành vi của bị can hoặc bị cáo đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác Như vậy,điều
này được hiểu là bị can hoặc bị cáo bị VKS truy tố nhiều hành vi về một tội hay nhiều tộinhưng việc truy tố đó là chưa chính xác, cần phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung bằng quyếtđịnh khởi tố vụ án, khởi tố bị can về một hay nhiều tội khác mới được xác định
Hai là, ngoài HVPT mà VKS đã truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có
căn cứ để khởi tố bị can hoặc bị cáo về một hay nhiều tội khác Trong trường hợp này,Thẩm phán có trả hồ sơ ĐTBS hay không còn phụ thuộc vào việc một hay nhiều tội mớiđược phát hiện đó có liên quan đến HVPT đã truy tố hay không
1.1.3 Có căn cứ để cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can
Một là, ngoài bị can hoặc bị cáo đã bị truy tố, chứng cứ trong HSVA cho thấy trong
vụ án còn có người đồng phạm khác Về nguyên tắc, vụ án đồng phạm phải được giải quyếtmột lần mới đảm bảo xác định sự khách quan, toàn diện Vì vậy, nếu xét xử riêng lẻ thì sẽkhông thấy hết được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cũng như ápdụng các biện pháp TNHS không tương xứng với vai trò của từng người đồng phạm trong
vụ án
Trang 10Hai là, ngoài bị can hoặc bị cáo đã bị truy tố, chứng cứ trong HSVA cho thấy còn có
người phạm tội khác liên quan đến vụ án, nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can:Trong giai đoạn CBXX, nếu phát hiện có đủ căn cứ để xác định trong vụ án còn có ngườiđồng phạm khác (người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức) hoặc còn
có người liên quan khác tuy không là đồng phạm nhưng đã thực hành vi mà BLHS quy định
là tội phạm trong vụ án (người phạm tội “che giấu tội phạm”, “không tố giác tội phạm” hoặc
có hành vi “tiêu thụ tài sản” do người khác phạm tội mà có) và chưa được khởi tố bị can thìThẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền trả hồ sơ để ĐTBS
1.1.4 Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng
Khoản 2 Điều 4 BLTTHS năm 2015 quy định: Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
là việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do
Bộ luật này quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ngườitham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụán
Căn cứ này được quy định tại khoản 1 Điều 6 TTLT số 02/20172 Ngoài ra, khoản 2
Điều 6 của TTLT cũng quy định về trường hợp ngoại lệ: “Tòa án không trả hồ sơ ĐTBS khi
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi nhưng khi thực hiện điều tra, truy tố, xét xử thì họ đã đủ 18 tuổi”
Ví dụ: TAND tỉnh Hà Tĩnh trả hồ sơ vụ án Vũ Thị H bị VKS truy tố về tội “Tham ô
tài sản” theo Điều 353 BLHS để ĐTBS vì có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và nộidung vụ án Nguyên nhân là do tài liệu, chứng cứ kết luận tổng số tiền tham ô của bà Hchưa đầy đủ; việc giám định các chữ ký, tài liệu còn bị khiếu nại, thắc mắc; một số biên bảnhỏi cung không có luật sư tham gia; một số tài liệu thu giữ khi khám xét nhưng không đượcphản ánh đầy đủ trong HSVA; trách nhiệm của Chủ tịch xã chưa được xem xét Bên cạnh
đó, ĐTV chưa làm hết trách nhiệm trong việc thu thập chứng cứ ở giai đoạn điều tra, việcbàn giao hồ sơ từ cấp huyện lên cấp tỉnh không đầy đủ; KSV chưa sát sao thực hiện việckiểm sát ngay từ đầu nên không phát hiện được hồ sơ cần điều tra thêm những gì, thủ tục tốtụng ra sao [14]
2015.