1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Hoạt động của khu du lịch hồ khuân thần với phát triển du lịch bắc giang

54 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt Động Của Khu Du Lịch Hồ Khuân Thần Với Phát Triển Du Lịch Bắc Giang
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 519,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Du khách đến Khuôn Thần không chỉ được dạo chơi trên hồ bằng thuyền mà còn được ghé thăm các trang trại vườn cây ăn trái xanh tươi rộng ngút ngàn tầm mắt. Đây cũng là nơi cư trú, nuôi dưỡng và bảo tồn những giá trị văn hoá độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số như: người Sán Chí, Cao Lan, Tày, Nùng với những làn điệu dân ca tình tứ… Sau một hồi du ngoạn trên thuyền, du khách sẽ có cơ hội thưởng thức hương vị ngọt ngào của những đặc sản: mật ong, rượu tắc kè, hạt dẻ, vải thiều, hồng, na… của đồng bào các dân tộc như Kinh, Cao Lan, Tày, Sán Chí, Nùng.

Trang 1

MỤC LỤC

Mở đầu 2

1.Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích của đề tài 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Cấu trúc bài tiểu luận 5

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BẮC GIANG 6

1.1 Giới thiệu chung về tỉnh Bắc Giang 6

1.2 Những điểm mạnh- điểm yếu, cơ hội- thách thức của du lịch Bắc Giang 14

Chương 2 TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA KHU DU LỊCH HỒ KHUÔN THẦN ( HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG) 19

2.1 Tổng quan về huyện Luc Ngạn 19

2.2 Tổng quan về khu du lịch hồ Khuôn Thần 21

2.3 Thực trạng phát triển du lịch tại khu du lịch Hồ Khuôn Thần 30

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI KU DU LỊCH HỒ KHUÔN THẦN 36

3.1 Một số giải pháp phát triển du lịch ở khu du lịch hồ Khuôn Thần 36

- Bắc Giang - Hồ Khuôn Thần - Vườn cây ăn quả Lục Ngạn( 1 ngày) 36

- Bắc Giang - Rừng nguyên sinh Khe Rỗ - Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử - Hồ Khuôn Thần (Lục Ngạn) ( 02 ngày) 36

Các tour, tuyến ngoài tỉnh với các vùng lân cận: 37

3.2 một số kiến nghị 48

KẾT LUẬN 49

Tài liệu tham khảo 51

Phụ lục 52

Trang 2

Mở đầu

1.Lý do chọn đề tài

Nhắc Đến Bắc Giang quý khách thường liên tưởng đến một hình ảnh yên bình, nôi có con sông Cầu nước chảy lơ thơ, con sông Thương đôi dòng trong đục, nơi có những làn điệu quan họ thướt tha, ngọt ngào, sâu lắng Bắc Giang vinh dự được UNESSCO công nhận hai di sản phi vật thể là quan họ và ca trù Hình ảnh Bắc Giang còn gần gũi hơn với du khách với cây Dã Hương ngàn năm tuổi, chù Vĩnh Nghiêm là một trung tâm phật giáo lớn thời Trần, nơi lưu giữ kho mộc bản kinh phật vô giá, đình Lỗ Hạnh nơi được mệnh danh

là ngôi đình đệ nhất kinh Bắc… Đến với Bắc Giang du khách không khỏi vương vấn với hương vị rượu Làng Vân, sự ngọt ngào khó quên của vải thiều Lục Ngạn… Tất cả tạo cho Bắc Giang một vùng đất giàu bản sắc văn hóa, cả

về giá trị vật thể và phi vật thể Hơn nữa Bắc Giang có vị trí địa lý thuận lợi gần thủ đô Hà Nội, một trung tâm chính trị, văn hóa, xã hội của cả nước tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế và du lịch phát triển Tuy nhiên hiện tại so với các tỉnh lân cận khác, du lịch Bắc Giang còn phát triển khá khiêm tốn, nhiều tiềm năng du lịch chưa được khai thác hiệu quả, chưa tạo lập được vị trí trong bản đồ du lịch miền Bắc Việt Nam

Năm 2010 Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Bắc Giang tổ chức « du lịch Bắc Giang- tiềm năng và định hướng phát triển », nhằm khẳng định các tiềm năng du lịch và đưa du lịch trở thành ngành kinh tế uqan trọng cần được quan tâm, trong giai đoạn 2010-2015 định hướng đến năm 2020

Trong đó khu du lịch Hồ Khuôn Thần được đánh giá là có tiềm năng phát triển, là trọng điểm du lịch của tỉnh Khu du lịch Hồ Khuôn Thần với vị trí thuận lợi, giao thông thuận tiện, lại nằm ở vùng có đặc sản vải thiều Lục Ngạn nổi tiéng Bắc Nam Thắng cảnh hồ Khuôn Thần sẽ là điểm đến của du

Trang 3

khách thập phương Đến đây, du khách được ngắm cảnh và hòa mình vào thiên nhiên hoang dã giữa rừng đại ngàn ; du khách hòa mình vào thiên nhiên thơ mộng với những vườn vải thiều bạt ngàn ; hòa mình vào văn hóa các dân tộc thiểu số nơi đây cũng như thưởng thức những đặc sản nơi đây

Nằm yên ả, thanh bình và duyên dáng giữa ngút ngàn thông reo và trập trùng những dãy đồi vải thiều xanh miên man cùng khoảng trời trong xanh thoáng đạt in dấu mặt hồ trong biếc, đó là những điểm nhấn riêng có của hồ Khuôn Thần, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

Đến Khuôn Thần, du khách có thể thả hồn trên du thuyền cảm nhận sự

mênh mông, tĩnh lặng của mặt hồ, ngắm cảnh trời mây, non nước Đặc biệt, vào mùa mưa, du khách có thể quan sát nước chảy từ đỉnh đập Khuôn Thần

đổ ào ào xuống thung lũng ven hồ

Tại đây, du khách sẽ được đắm mình trong một cảnh sắc thiên nhiên còn hoang sơ, huyền ảo Được bồng bềnh trên những con thuyền dạo ngắm cảnh sắc trên mặt hồ Lên tới đỉnh đập nước hồ Khuôn Thần, du khách có thể quan sát một khung cảnh mênh mông, bao la thật hùng vĩ và thơ mộng, thấy được cảnh quan trùng điệp của núi rừng mờ xanh hùng vĩ

Du khách đến Khuôn Thần không chỉ được dạo chơi trên hồ bằng thuyền mà còn được ghé thăm các trang trại vườn cây ăn trái xanh tươi rộng ngút ngàn tầm mắt Đây cũng là nơi cư trú, nuôi dưỡng và bảo tồn những giá trị văn hoá độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số như: người Sán Chí, Cao Lan, Tày, Nùng với những làn điệu dân ca tình tứ… Sau một hồi du ngoạn trên thuyền, du khách sẽ có cơ hội thưởng thức hương vị ngọt ngào của những đặc sản: mật ong, rượu tắc kè, hạt dẻ, vải thiều, hồng, na… của đồng bào các dân tộc như Kinh, Cao Lan, Tày, Sán Chí, Nùng

Đến hồ Khuôn Thần, là đến với cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp, về với miền đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa Nếu có dịp nghé thăm

Trang 4

Khuôn Thần, chắc chắn du khách sẽ có những trải nghiệm lý thú, khó quên về mảnh đất, con người và vẻđẹp mộng mơ, sức hấp dẫn kỳ lạ của thiên nhiên hoang sơ, duyên dáng như cô gái xuân thì, quyến rũ giữa chốn sơn trang

Với những tiềm năng trên hồ Khuân Thần sẽ là điểm du lịch cuối tuần mới, hấp dẫn khách du lịch trong tương lai với loại hình du lịch nghỉ dưỡng,

du lịch dã ngoại và du lịch home-staying Tuy nhiên du lịch Bắc Giang nói chung và du lịch Khuân Thần nói riêng hiện vẫn chưa được khai thác và phát triển tương xứng với tiềm năng Vậy đâu là nguyên nhân và làm thế nào để có thể khai thác, phát triển các tiềm năng du lịch với mục tiêu “phát triển du lịch

bền vững” Với những trăn trở đó tôi chọn đề tài “Hoạt động của khu du lịch Hồ Khuân Thần với phát triển du lịch Bắc Giang” với mong muốn có

thể đóng góp một phần những suy nghĩ, định hướng và giải pháp để khu du lịch hồ Khuân Thần phát triển xứng đáng với tiềm năng

2 Mục đích của đề tài

Qua tiểu luận tôi muốn giới thiệu về khu du lịch Hồ Khuân Thần nhằm khẳng định tiềm năng, lợi thế trong phát triển du lịch, đồng thời phân tích thực trạng từ đố chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục

Đưa ra một số giải pháp xây dựng và phát triển khu du lịch Hồ Khuân Thần để có thể phát triển xứng đáng với tiềm năng của nó

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng là khu du lịch hồ Khuôn Thần được thực hiện trong phạm vi

xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vào thời gian năm 2013

4 Phương pháp nghiên cứu

• Phương pháp tổng hợp

• Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu

Trang 5

• Phương pháp bản đồ, biểu đồ

• Phương pháp thực địa

5 Cấu trúc bài tiểu luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của bài tiểu luận gồm những chương sau:

Chương 1: khái quát về tỉnh Bắc Giang

Chương 2: Tiềm năng du lịch của khu du lịch Hồ Khuôn Thần

Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển du lịch tại khu du lịch Hồ Khuôn Thần

Trang 6

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BẮC GIANG

1.1 Giới thiệu chung về tỉnh Bắc Giang

a Điều kiện địa lý tự nhiên

➢ Vị trí địa lý

Bắc Giang nằm ở tọa độ địa lý từ 21o07 phút đến 21o37 phút vĩ độ bắc;

từ 105o31 phút đến 107o02’ kinh độ đông, là tỉnh miền núi cách thủ đô Hà Nội 50km về phía Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị 110km về phía Nam, cách cảng Hải Phòng hơn 100km về phía Đông

+ Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn

+ Phía Tây và Tây Bắc giáp Hà Nội

+ Phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh Đến nay tỉnh Bắc Giang có 9 huyện và 1 thành phố Trong đó có 6 huyện miền núi và 1 huyện vùng cao( Sơn Động); 229 xã, phường, thị trấn

Bắc Giang có 1 trục giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thủy) quan trọng của quốc gia chạy qua

+ Đường quốc lộ 1A và đường sắt Hà Nội-Lạng Sơn ra cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng; các trục quốc lộ giao thông liên vùng như quốc lộ 31

+ Quốc lộ 37 nối Bắc Giang với Lạng Sơn, Móng Cái( Quảng Ninh)

+ Đường sắt Kép- Quảng Ninh

+ Đường thủy theo sông Thương, sông Cầu và sông Lục Nam

Bắc Giang nằm không xa các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Thành phố Bắc Giang là địa danh lịch sử, xưa thuộc Bộ Vũ Ninh- làtrấn thứ tư trong bốn kinh trấn và đứng đầu phía Bắc của quốc gia Đại Việt, có vị trí quân sự trọng yếu gắn liền với chiến thắng Xương Giang vẻ vang muôn

Trang 7

thủa còn truyền do nghĩa quân Lam Sơn- Nguyễn Trãi chỉ huy đã kết thúc 20 năm đô hộ của triều đại phong kiến nhà Minh

Vị trí địa lý đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế liên vùng, giao lưu kinh tế xã hội, trở thành một đầu mối kinh tế quan trọng về kinh tế quốc phòng và là ngã ba giữa miền đồng bằng phía Bắc, miền núi phía Đông Bắc và thông ra biển Vị trí này tạo cho Bắc Giang nhiều giá trị văn hóa, lịch

sử truyền thống đặc sắc, những gái trị và tiềm năng cho khai thác và phát triển

du lịch nói riêng và nền linh tế- xã hội của toàn tỉnh nói chung

➢ Đặc điểm địa hình

Địa hình Bắc Giang gồm 2 tiểu vùng miền núi và trung du có đồng bằng xen kẽ Vùng trung du bào gồm 2 huyện Hiệp Hòa và Việt Yên và thành phố Bắc Giang Vùng miền núi bao gồm 7 huyện: Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang Trong đó một phần các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Sơn Động là vùng núi cao

Với địa hình xen kẽ giữa trung du và miền núi với cảnh quan đẹp và hệ thống động thực vật khá đa dạng đem lại cho Bắc Giang nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng và sinh thái

➢ Khí hậu

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông Bắc, một năm có

4 mùa rõ rệt Mùa đông lạnh, mùa hè nóng, ẩm, mùa xuân, mùa thu khí hậu

ôn hòa Nhiệt độ 22- 23oC, độ ẩm dao động lớn, từ 73-87%

Nắng trung bình hàng năm từ 1.500- 1.700 giờ, thuận lợi cho phát triển các cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới và phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng

b Tài nguyên thiên nhiên

➢ Tài nguyên đất

Bắc Giang có 382.200 ha đất tự nhiên, bao gồm 123.000 ha đất nông

Trang 8

nghiệp, 110.000 ha đất lâm nghiệp, 66.500 ha đất đô thị, đất chuyên dùng và đất ở, còn lại khoảng 82.700 ha là các loại đất khác, trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm diện tích lớn hơn cả khoảng 63,13% diện tích tự nhiên Tỉnh Bắc Giang có nhiều điều kiện để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp

và thủy sản Quốc lộ 1A mới hoàn thành tạo ra quý đất lớn có nhiều lợi thế cho phát triển cong nghiệp- dịch vụ Đất nông nghiệp của tỉnh, ngoài thâm canh lúa còn thích hợp để phát triển rau, củ, quả cung cấp cho thủ đô Hà Nội

và các tỉnh lân cận

➢ Tài nguyên rừng

Đến hết năm 2005 Bắc Giang có 129.164 ha đất lâm nghiệp đã có rừng,

và gần 30.000 ha đất núi đồi có thể phát triển lâm nghiệp Trữ lượng gỗ có khoảng 3,5 triệu m3, tre nứa khoảng gần 500 triệu cây Ngoài tác dụng tàn che, cung cấp gỗ, củi, dược liệu, nguồn sinh thuỷ, rừng Bắc Giang còn có nhiều sông, suối, hồ đập, cây rừng nguyên sinh phong phú tạo cảnh quan, môi sinh đẹp và hấp dẫn

➢ Tài nguyên khoáng sản

Đến hết năm 2005 Bắc Giang đã phát hiện và đăng ký được 63 mỏ với

15 loại khoáng sản khác nhau bao gồm : than, kim loại, khoáng chất công nghiệp, khoáng sản, vật liệu xây dựng Phần lớn các khoáng sản này đã được đánh giá trữ lượng hoặc xác định tiềm năng dự báo

Tuy không có nhiều mỏ khoáng sản lớn nhưng lại có một số loại là nguồn nguyên liệu quan trọng để phát triển công nghiệp của tỉnh như mỏ than

đá ở Yên Thế, Lục Ngạn, Sơn Động có trữ lượng khoảng hơn 114 triệu tấn, gồm các loại than: antraxit, than gầy, than bùn Trong đó mỏ than Đồng Rì có trữ lượng lớn (107,3 triệu tấn) phục vụ phát triển quy mô công nghiệp trung ương Quặng sắt ước khoảng 0,5 triệu tấn ở Yên Thế Ngoài ra gần 100 nghìn tấn quặng đồng ở Lục Ngạn, Sơn Động; 3 triệu tấn cao lanh ở Yên Dũng

Trang 9

Khoáng sản sét cũng có tiềm năng lớn, sử dụng làm gạch ngói, với 16 mỏ và

chịu lửa ở Tân Yên, Việt Yên; sỏi, cuội kết ở Hiệp Hoà, Lục Nam

➢ Tài nguyên nước

Trên lãnh thổ Bắc Giang có 3 con sông lớn chảy qua, với tổng chiều dai

347 km, lưu lượng lớn và có nước quanh năm Ngoài ra còn có hệ thống ao ,hồ, đầm, mạch nước ngầm Lượng nước mặt, nước mưa, nước ngầm đủ khả năng cung cấp nước cho các ngành kinh tế và sinh hoạt

c Tình hình kinh tế- xã hội

và 1 thành phố ( 6 huyện miền núi, 1 vùng cao), toàn tỉnh có 230 xã, phường, thị trấn; dân số trên 1,6 triệu người ( đến hết năm 2007, có 90,8% dân số ở khu vực nông thôn; 9,2% ở thành thị ) và có 25 dân tộc

Năm 1997, Bắc Giang được tái lập với điểm xuất phát về kinh tế thấp, GDP bình quân đầu người 170USD, nền kinh tế thuần nông, cơ cầu kinh tế lạc hậu, tỷ trọng nông, lâm nghiệp chiếm 55%, công nghiệp còn nhỏ bé; cơ sở

hạ tầng kinh tế- xã hội yếu kém; lao động trong nông nghiệp chiếm tới gần 90%, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo lớn

Sau hơn 10 năm thành lập tỉnh, kinh tế Bắc Giang đã có bước phát triển khá; cơ cấu sản xuất chuyển biến tích cực, tỷ trọng sản xuất nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng sản xuất công nghiệp tăng lên

Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 10,2% Trong đó, nông lâm nghiệp tăng 3,2%, công nghiệp xây dựng tăng 23%, dịch vụ tăng 9,5% GDP bình quân đầu người đạt 410USD Trong đó cơ cấu sản phẩm, tỷ trọng sản xuất nông nghiệp chiếm 37%; công nghiệp- xây dựng chiếm 29%; dịch vụ chiếm 34%

Trang 10

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 700 tỷ đồng Tổng chi ngân sách là 3.044 tỷ đồng Nguồn cân đối từ Trung ương chiếm tỷ trọng lớn trong đảm bảo nhu cầu chi của tỉnh

d Tình hình an ninh quốc phòng

Tăng cường xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ thế trận Quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân, Quốc phòng với kinh tế xã hội Đẩy mạnh cơ sở xã, thị trấn, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu vững mạnh, toàn diện Giữ vững ổn định chính trị Không để xảy ra điểm nóng, đột xuất, bất ngờ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội Nâng cao chất lượng quốc phòng, thực hiện tốt công tác hậu phương quân đội

e Tiềm năng du lịch văn hóa và sinh thái- nghỉ dưỡng

Tài nguyên du lịch văn hóa: bao gồm hệ thống chùa chiền, các thành

cổ, các lễ hội tín ngưỡng gắn với các làng nghề thủ công truyền thống

Hệ thống di tích của toàn tỉnh Bắc Giang tính đến cuối năm 2007 có 2.237 di tích các loại(theo số liệu của Ban Quản lý di tích tỉnh Bắc Giang) Trong đó di tích đã được xếp hạng là 341 di tích, di tích cấp bộ là 108 di tích,

di tích cấp tỉnh là 233 di tích

Với hệ thống di tích Lịch sử-Văn Hoá Bắc Giang tự hào là nơi lưu giữ một tài nguyên lịch sử văn hoá với những trang sử hào hùng ghi lại tinh thần đấu tranh bất khuất, tự lập, tự cường của dân tộc trong thời kỳ dựng nước và giữ nước như di tích thành cổ Xương Giang( thế kỷ XV), thành cổ nhà Mạc(thế kỷ XVI-XVII) di tích khởi nghĩa nông dân Yên Thế (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) khu di tích Cách Mạng Hoàng Vân-Hiệp Hoà được mệnh danh là cái nôi của Cách mạng Việt Nam, nơi hoạt động bí mật của các

vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước trước Cách Mạng tháng 8 năm 1945

Trang 11

Bắc Giang còn được biết đến bởi các đình, chùa cổ kính như chùa Vĩnh Nghiêm hay còn gọi là chùa Đức La, trung tâm phật giáo thời Trần(thế kỷ XIII-XIV thuộc thiền phái Trúc Lâm) Xưa kia chùa thuộc xã Đức La, tổng Trí Yên, phủ Lạng Thương, xứ Kinh Bắc nay là thôn Quốc Khánh, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng Đã hơn 700 năm qua, chùa Vĩnh Nghiêm vẫn tồn tại với vai trò là trung tâm phật giáo, một thiền viện đào tạo các tăng ni nổi tiếng trên cả nước, ngày này và cho mai sau Chùa Đức La vẫn sẽ là chốn tổ, là đại danh lam để du khách bốn phương đến tham quan vãng cảnh rồi thắp hương

lễ phật Chùa Đức La ngoài chức năng thờ phật, tại chùa còn thờ 3 vị Trúc Lâm Tam Tổ, đó là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang Chùa Đức

La được Nhà nước xếp hạng di tích Lịch sử-Văn hoá năm 1964

Đình Lỗ Hạnh, đình thuộc xã Đông Lỗ huyện Hiệp Hoà Đình Lỗ Hạnh là một trong những di tích có niên đại cổ xưa nhất Bắc Giang(thế kỷ XVI) Du Khách đến với đình Lỗ Hạnh có thể tận mắt ngắm nhìn những bức chạm khắc vô cùng tinh sảo, đặc sắc và bức tranh có chủ đề “Bát Tiên”, bức tranh được làm bằng chất liệu sơn mài, đây là không chỉ là bức tranh quý hiếm còn lưu giữ cho đến ngày nay mà còn là một hiện vật rất có giá trị về mặt nghiên cứu trong chặng đường phát triển của nghệ thuật sơn mài Việt Nam Thật vậy nếu du khách đứng giữa lòng đình quan sát, chiêm ngưỡng các bức chạm khắc đó du khách cũng có thể cảm nhận được cuộc sống của một thời đại đã cách chúng ta hàng mấy trăm năm lịch sử Đình Lỗ Hạnh thờ Phương Dung công chúa và đức thánh Cao Sơn, đây là 2 vị thần có công giúp vua Hùng đánh giặc ngoại xâm Đình Lỗ Hạnh được Nhà nước ra quyết định công nhận là di tích Kiến Trúc- Nghệ thuật năm 1990

Cũng là một ngôi đình cổ, đìnhThổ Hà thuộc thôn Thổ Hà xã Vân Hà huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang, đình Thổ Hà là một ngôi đình cổ thứ hai ở Bắc Giang sau đình Lỗ Hạnh(thế kỷ XVII) Đình thờ thành hoàng làng là Lão

Trang 12

Tử và vị tổ nghề gốm Đào Trí Tiến, đình Thổ Hà là một công trình kiến trúc

có quy mô lớn, kết cấu kiến trúc tương đối hoàn chỉnh, thông qua nghệ thuật chạm khắc trong nội thất của ngôi đình cho biết đình thổ Hà được xây dựng

từ thời Lê Trung Hưng Đề tài thể hiện trên các cấu kiện kiến trúc chủ yếu là

đề tài tứ linh, tứ quý, rồng ổ, rồng mẹ con…Với những giá trị về lịch sử và giá trị về nghệ thuật kiến trúc vào năm 1962 đình Thổ Hà được Nhà nước xếp hạng là di tích Kiến trúc- Nghệ thuật

Đình Phương Lạn thuộc thôn Phương Lạn xã Phượng Sơn huyện Lục Nam được xem là ngôi đình có kiến trúc nghệ thuật đặc sắc nhất của thời Lê-Nguyễn(thế kỷ XVIII-XIX) Đình Phương Lạn được khởi dựng dưới chiều vua Vĩnh Thịnh thứ 17(1715), đây là ngôi đình có một quy mô kiến trúc hoành tráng, đặc biệt du khách tới tham quan đình Phương Lạn sẽ choáng ngợp bởi nghệ thuật chạm khắc gỗ vô cung điêu luyện của các nghệ nhân xưa, các bức chạm với nhiều đề tài khắc nhau thể hiện ở vì nóc, vì nách, kẻ, đầu dư….của ngôi đình, đình Phương Lạn thờ 2 vị thành hoàng làng là Cao Sơn

và Quý Minh, theo cứ liệu lịch sử thì đây là 2 thuộc tướng của thời Hùng Vương có công giúp Hùng Duệ Vương đánh tan quân Thục Năm 1995 đình Phương Lạn được Nhà nước xếp hạng là di tích Kiến trúc-Nghệ thuật

Đến với Bắc Giang du khách sẽ có dịp về thăm cụm di tích Tiên Lục thuộc xã Tiên Lục của huyện Lạng Giang Đây là một miền quên yên bình cổ kính, đẹp tựa như bức tranh quê hương Đó là quần thể di tích có cây đại thụ

dạ hương ngàn năm tuổi quanh năm toả bóng mát xuống ngôi đình Viễn Sơn,

đó là ngôi chùa thông toạ lạc trên đỉnh đồi thông xanh cao vút, đó là đầu đao cong vút của đình Cây Bàng đang lấp ló dưới bóng cây bàng cổ thụ Căn cứ vào lịch sử và nghệ thuật kiến trúc thì toàn bộ di tích Tiên Lục được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVIII(đình Viễn Sơn, chùa Thông, đền Thông, đình Cây Bàng), chùa Thông với chức năng thờ phật còn lại Đình Viễn Sơn, đình Cây

Trang 13

Bàng, đền Thông đều thờ chung hai vị thần Cao Sơn và Quý Minh Cùng với cây dã hương, cụm di tích Tiên Lục được Nhà nước xếp hạng là di tích Kiến Trúc- Nghệ thuật vào năm 1989

Bắc Giang vùng Kinh Bắc xưa còn nổi tiếng là miền quê có nhiều lễ hội đặc sắc như lễ hội Suối Mỡ diễn ra vào ngày 30 tháng 3 đến mồng 1 tháng 4

âm lịch hàng năm, lễ hội Yên Thế ngày 16 tháng 3 dương lịch, lễ hội chùa Đức La vào ngày 14 tháng 2 âm lịch hàng năm, lễ hội Y Sơn tổ chức 3 năm một lần vào các ngày 16, 17, 18 tháng giêng âm lịch, và tổ chức một năm một lần vào ngày 15 tháng giêng âm lịch hàng năm Lễ hội Bổ Đà diễn ra vào 16,17,18 tháng 2 âm lịch hàng năm Lễ hội Hoàng Hoa Thám diễn ra từ mồng

10 đến 15 tháng giêng âm lich hàng năm….ngoài ra tỉnh Bắc Giang còn rất nhiều lễ hội khác đang chờ đón du khách tìm đến

Tiềm năng du lịch sinh thái

Các danh thắng có thể khai thác, xây dựng thành những khu du lịch sinh thái lớn ở Bắc Giang gồm Hồ Cấm Sơn, Khuôn Thần (Lục Ngạn); Suối

Mỡ, suối Nước Vàng (Lục Nam); Khu du lịch Khe Rỗ, Đồng Thông, Tây Yên

Tử, hồ Khe Chão (Sơn Động)… đều là những thắng cảnh thiên nhiên đẹp nằm trong vùng khí hậu ôn hòa Hồ Cấm Sơn, Khuôn Thần, Khe Chão là những hồ nước đẹp rộng lớn, nằm giữa những dãy núi cao với những đảo thông, rừng cây và những đồi vải bạt ngàn xanh…Xung quanh các hồ là những bản làng người dân tộc thiểu số còn giữ được nhiều nét đẹp hoang sơ và những nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc của các tộc người Khu du lịch Khe Rỗ thuộc địa phận

xã An Lạc huyện Sơn Động nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử Ngoài hàng nghìn loài động thực vật quý hiếm đang được bảo tồn, Khe Rỗ còn nổi tiếng là nơi có cảnh sắc rất nguyên sơ, ẩn chứa nhiều điều du khách muốn khám phá Thác Ba Tầng (Khe Đin), thác Đồng Dương (An Lạc) lung

Trang 14

linh đẹp tựa như thác Bản Giốc thu nhỏ, hồ Vũng Tròn có nước trong vắt giữa rừng, nơi bạn có thể bơi lội thỏa thích

Du khách cũng có thể đến với Lục Ngạn đắm mình vào thiên nhiên hoang sơ của núi rừng, đến với những đồi bạt ngàn hoa vải trắng vào mùa xuân, hay những đồi vải đỏ rực vào mùa thu hoạch, những vườn hồng nhân hậu, vườn nhãn, táo, cam…để rồi thỏa thích khám phá cuộc sống của người nông dân nơi thôn dã và thả hồn theo những điệu hát soonghao của đồng bào các dân tộc ít người

1.2 Những điểm mạnh- điểm yếu, cơ hội- thách thức của du lịch Bắc

Giang

Trong phát triển du lịch, giá trị của tài nguyên du lịch đóng một vai trò quan trọng Tuy vậy đây không phải là yếu tố duy nhất Để phát triển du lịch một vùng, một địa phương cần có đủ các yếu tố thuận lợi, từ đường xá tiếp cận tới điểm du lịch tới các điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch Rộng hơn sự phát triển du lịch của một vùng còn phụ thuộc vào những điều kiện văn hóa, kinh tế, xã hội, chính sách phát triển du lịch của địa phương về du lịch và nhiều yếu tố khác

Một yếu tố không kém phần quan trọng đó là khả năng cạnh tranh của đối thủ cạnh tranh Trên khía cạnh phát triển du lịch và thu hút khách, du lịch Bắc Giang phải đối diện với việc cạnh tranh với các địa phương lân cận với các loại hình du lịch khác nhau Với loại hình sinh thái- nghỉ dưỡng, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hòa Bình đều là những điểm du lịch tiềm năng và thu hút được đông đảo khách du lịch Du lịch văn hóa( với lễ hội, tín ngưỡng, làng nghề…) đang phát triển mạnh ở Bắc Ninh, Hà Nội, Quảng Ninh Thế nhưng những tiềm năng du lịch của ácc địa phương lân cận cũng có thể trở thành một lợi thế khi Bắc Giang kết nối hiệu quả với hệ thống du lịch các tỉnh phía Bắc Sau

Trang 15

đây là khái quát về sức cạnh tranh của du lịch Bắc Giang qua điểm mạnh, điểm yếu cũng như những cơ hội, thách thức của du lịch Bắc Giang

Điểm mạnh

Bắc Giang nằm cách Hà Nội 50km trên quốc lộ 1A- tuyến giao thông chính của đất nước Đây là vị trí thuận lợi cho phép Bắc Giang có thể thu hút đối tượng kahsch du lịch cuối tuần, khách nghỉ dưỡng từ trung tâm Hà Nội

Vị trí này cũng cho phép thu hút khách du lịch các tuyến lên cửa khẩu Lạng Sơn và với vị trí liền kề các địa phương có điểm du lịch nổi bật như Quảng Ninh, Lạng sơn, Bắc Ninh, Hà Nôi cho phép tham gia vào việc liên kết, kết nối các điểm du lịch trong vùng

Là tỉnh có địa hình xen lẫn giữa miền núi và trung du, thích hợp cho phát triển một số loại hình du lịch như du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái, văn hóa… và các tài nguyên du lịch avưn hóa khác đa dạng: một số cụm như làng Vân- làng Thổ Hà- chùa Đức La có thể tạo thành chuỗi sản phẩm đặc sắc Việc kết nối các điểm du lịch này tạo khả năng phát triển tahnfh một sản phẩm du lịch độc đáo hoặc liên kết với các tuyến du lịch khác

Bên cạnh đó, lực lương lao động địa phương khá dồi dào, có khả năng đáp ứng cho việc phát triển dịch vụ trong tương lai và trật tự an toàn xã hội ở địa phương tốt, thái độ của dân cư ủng hộ cho việc phát triển du lịch

Điểm yếu

Bắc Giang so với các tỉnh lân cận, nguồn gái trị atì nguyên không nổi bật Các tài nguyên du lịch mang tính lịch sử không có ý nghĩa phản ánh một thời đại, một triều đại hay những dấu ấn quan trọng trong lihcj sử Việt Nam Tuy các giá trị về lối sống truyền thống ở làng nghề khá độc đáo nhưng chưa

đủ để thể hiện lối sống của một thời kỳ, một vùng miền

Các tài nguyên du lịch trong tỉnh nằm rải rác, khả năng liên kết thành một hệ thống nội tỉnh hạn chế Chỉ ngoại trừ một số cum như: Thổ Hà- Làng

Trang 16

Vân- chùa Đức La; Khuôn Thần- Suối Mỡ….Các sản phẩm hiện tại chủ yếu dựa vào giá trị cốt lỗi của tài nguyên, các sản phẩm phụ trợ được tạo ra còn khá hạn chế

Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vậ chất kỹ thuật chưa phát triển mạnh

Hệ thống đường xá nhiều nơi đang xây dựng, đường nhỏ, chất lượng đường chưa tốt Các điều kiện cơ sở hạ tầng tại các điểm du lịch cũng chưa phát triển Trong tỉnh hiện chỉ có 02 khách sạn 02 sao tại thành phố Bắc Giang, không có công ty lữ hành quốc tế

Chất lượng lao động hoạy động trong lĩnh vực du lịch tại Bắc Giang còn thấp, lao động đã qua đào tạo không nhiều Hiện trong tỉnh chỉ có đào tạo bậc trung cấp và hệ đào tạo anỳ cũng chưa phát triển

Định hướng phát triển du lịch ở địa phương chưa mạnh mẽ và rõ ràng Triển vọng và các định hướng về thị trường, sản phẩm, cụm sản phẩm và ácc biện pháp khuyến khích, quy hoạch, kích thích đầu tưu chưa rõ ràng

Hiện trạng liên kết phát triển du lịch với các địa phương lân cận còn yếu Việc liên kết này vẫn chỉ là manh nha do một số công ty du lịch thử nghiệm Chưa có những kế hoạch hành động cụ thể, nghiên cứu, xúc tiến phối hợp giữa các bên liên quan trong kế hoạch liên kết phát triển sản phẩm du lịch

Điều kiện kinh tế xã hội ở nhiều khu vực còn thấp Điều này hạn chế khả năng phát triển du lịch từ việc xây dựng cơ sở vật chất ký thuật đón khách, sáng tạo và phát triển các sản phẩm du lịch cho tới khả năng người dân tham gia vào hoạt động du lịch

Phụ thuộc vào các doạnh nghiệp ngoại tỉnh( chủ yếu là Hà Nội) về nguồn khách quốc tế Số lượng khách du lịch quốc tế đến Bắc Giang còn hạn chế hoặc được một số ít các công ty du lịch ở Hà Nội đưa về

Trang 17

Cơ hội

Hiện nay thị trường du lịch nội địa đang phát triển mạnh, đặc biệt là thị trường du lịch cuối tuần cho các thành phố lớn như Hà Nội, du lịch cho gia đình Đối tương khách du lịch tự đi du lịch bằng ô tô gia đình ngày càng tăng

và trở thành một đoạn thị trường du lịch mới, số lượng khách du lịch có kinh nghiệm, muốn tìm kiếm những điểm du lịch mới gia tăng cùng sự phát triển của du lịch Các đối tượng khách du lịch nội địa tại thành phố thường xuyên

đi du lịch có xu hướng tìm kiếm những điểm du lịch mới, nhất là những điểm

du lịch mới phát triển để có những trải nghiệm mới Những điểm du lịch mới

có cơ hội trở thành những điểm du lịch quen thuộc nếu duy trì được chất lượng phục vụ tốt

Với cuộc sống ngày càng hiện đại hóa thfi nhu cầu đa dnagj háo, dị biệt hóa các sản phẩm du lịch xuất hiện ở đối tượng khách du lịch quốc tế tới Việt Nam và mốt số đối tượng kahsch du lịch trẻ Những khách du lịch muốn tìm kiếm những điểm du lịch mới dẫn tới nhu cầu của các công ty du lịch phát triển thị trường mứoi và xu hướng phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng được chú trọng quan tâm Thay vì du lịch tham quan tìm hiểu như trước đây, một phân đoạn khách du lịch nội địa, nhất là khách du lịch tại Hà Nội có xu hướng chuyển sang tiêu thụ sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng Đây chính là cơ hội cho phát triển du lịch loại hình này

Cơ sở hạ tầng mặc dù còn hạn chế nhưng đang ngày càng phát triển, tạo điều kiện rút ngắn thời gian hành trình, cho phép khách du lịch di chuyển trên phạm vi rộng hơn Các sản phẩm du lịch liên kết giữa các địa phương, vùng miền có cơ hội phát triển

Thách thức

Đối với Bắc Giang, sự cạnh tranh nguồn khách của các địa phương lân cận là khá mạnh Các tỉnh có nhiều điều kiện và tiềm năng phát triển du lịch

Trang 18

như Bắc Nin, Quảng Ninh đẩy mạnh phát triển và đa dạng hóa sản phẩm du lịch trong khinhững tài nguyên du lịch ở những địa phương anỳ có giá trị lớn

và cạnh tranh về đầu tư cho phát triển du lịch ở miền Bắc khá mạnh Phát triển du lịch phụ thuộc nhiều vào khả năng của tư nhận Hiện tại các tỉnh miền Bắc cũng đang cnahj tranh mạnh nhằm thu hút vốn đầu tư cho phát triển du lịch

Bắc Giang là tỉnh miền núi với điều kiện kinh tế khó khăn Các điều kiện cơ

sở hạ tầng, kinh tế xã hội mang tính đột phá là thách thứuc lớn cho nền kinh

tế chung của Tỉnh chứ không riêng gì ngành du lịch Bên cạnh đó ý thức của người dân trong nuôi dưỡng các giá trị văn hóa địa phương và phát triển kinh

tế còn thấp kém Sự phát triển của nền kinh tế, công nghiệp, thương mại làm mai một môt phần nghề truyên fthống gắn liền với cảnh quan truyền thống

So với các tỉnh lân cận trong khu vực Đông Bắc, du lịch Bắc Giang còn chậm phát triển tài nguyên thì không ít nhưng sức cạnh tranh còn yếu sự cạnh tranh và liên kết trong phát triển du lịch tại vùng Đông Bắc đặt ra yêu cầu cần định vị sản phẩm du lịch Bắc Giang, tạo sản phẩm đặc trưng, gắn kết

và làm phong phú thêm các sản phẩm du lịch vùng Đông Bắc

Trang 19

Chương 2 TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA KHU DU LỊCH HỒ KHUÔN

THẦN ( HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG)

2.1 Tổng quan về huyện Luc Ngạn

Lục Ngạn là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, nằm trên Quốc lộ 31, cách thủ đô Hà Nội 91 km về phía đông bắc Huyện Lục Ngạn có quỹ đất dồi dào và màu mỡ nhất Bắc Giang với 20.773 ha đất nông nghiệp, 24.260 ha đất lâm nghiệp, 21.641 ha đất chuyên dùng và còn 33.002 ha đất chưa sử dụng Tại Lục Ngạn hiện có 11 dân tộc đang cư trú, trong đó dân tộc Kinh chiếm 52%

Huyện Lục Ngạn có 29 xã và 1 thị trấn, trong đó có 12 xã đặc biệt khó khăn Đất đai và tiểu vùng khí hậu của địa phương thích hợp cho phép phát triển nhiều loại cây ăn quả, đặc biệt là vải thiều, phát triển lâm nghiệp, trồng cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi đại gia súc và sản xuất vật liệu xây dựng

Nguồn nước ở đây khá phong phú, được cung cấp bởi 10 công trình trung thuỷ nông, 187 hồ đập nhỏ và sông Lục Nam chảy qua với chiều dài hơn 60km Lục Ngạn có hơn 24 vạn ha rừng, trong đó có gần 12 vạn ha rừng

tự nhiên và trên 12 vạn ha rừng trồng Trên địa bàn huyện có một số loại khoáng sản như quặng đồng, than mỏ, vàng sa khoáng Huyện có một di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng cấp quốc gia là Đền Hải, một di tích được xếp hạng cấp tỉnh là đền Khánh Vân Là huyện có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc có nét văn hoá riêng, bản sắc văn hoá mỗi dân tộc đang được tiếp tục giữ gìn và phát huy

Trang 20

Một số tiềm năng du lịch lớn:

Khu du lịch hồ Khuôn Thần với diện tích 2.700ha, có 1.000ha rừng và

hồ Khuôn Thần rộng 140ha, với trên 50 loài thực vật và 100 loài động vật sống ở khu vực này Tại đây có thể xây dựng khu du lịch sinh thái lý tưởng phục vụ khách tham quan, bơi lội, leo núi, câu cá, bơi thuyền thăm các đảo và thắp hương ở đền thờ Hồ Công Trạc - một vị tướng quân người dân tộc thiểu

số Trên đất Lục Ngạn, hồ Khuôn Thần nổi lên như một viên ngọc lấp lánh giữa vùng rừng núi mênh mang

Hồ Cấm Sơn có diện tích mặt nước 2.400ha, xung quanh là núi rừng

và các đồi vải mới trồng Phía giáp Lạng Sơn có núi đá vôi, nhân dân vùng xung quanh chủ yếu là dân tộc Nùng, Tày và Kinh Việc đi lại của đồng bào nơi đây chủ yếu bằng thuyền, nên cứ mỗi buổi sớm mai và chiều hoàng hôn lại có hàng trăm chiếc thuyền xuôi, ngược tạo nên một bức tranh sinh động, hữu tình Hồ Làng Thum có diện tích mặt hồ 126ha là nơi nuôi trồng thủy sản thuận lợi và vườn cây ăn quả xung quanh hồ rất phù hợp với du lịch tham quan

Đến Lục Ngạn, du khách sẽ muốn ghé thăm những vườn vải bạt ngàn với những chùm quả trĩu nặng, thơm hương và ngọt lịm nức tiếng Quả vải thiều không chỉ giúp xóa đói giảm nghèo mà còn góp phần tạo nên bản sắc độc đáo cho huyện Lục Ngạn Đặc biệt, gần đây, khi kinh tế du lịch phát triển, cây vải thiều đã trở thành một trong những sản phẩm du lịch tiên phong thu hút du khách về với Lục Ngạn Với du khách, vải thiều Lục Ngạn không chỉ là một loại đặc sản đơn thuần, mà qua đó, du khách còn có cơ hội tìm hiểu, khám phá thêm nhiều nét đẹp về văn hóa, lịch sử, con người, khí hậu, đất đai của miền đất giàu tiềm năng này Ngoài ra, Lục Ngạn còn có nhiều đặc sản nổi tiếng khác như: nếp cái hoa vàng Phì Điền, mỳ Chũ, gà đồi, rượu Kiên

Trang 21

Thành… góp phần tạo nên sự đa dạng và hấp dẫn cho sản phẩm du lịch địa phương

Lãnh đạo huyện Lục Ngạn xác định, phát triển du lịch dựa trên nguồn tiềm năng phong phú và hấp dẫn kết hợp với xây dựng kết cấu hạ tầng, đổi mới các phương thức hoạt động, đa dạng hóa các hoạt động vui chơi, giải trí

và dịch vụ du lịch Như vậy, ngoài việc phải có một quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm 2020, Lục Ngạn rất cần sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh, của Trung ương để tăng cường nguồn vốn ngân sách, xây dựng

cơ sở hạ tầng, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch và thực hiện thành công

đề án xây dựng huyện văn hóa tạo thêm tiền đề cho du lịch phát triển bền vững Đồng thời, việc chuẩn bị một đội ngũ cán bộ có nghiệp vụ du lịch (chú trọng cán bộ là người dân tộc, hiểu biết các yếu tố về dân tộc như: tiếng nói, hát các làn điệu dân ca dân tộc ), phát triển dịch vụ du lịch vùng sơn cước

và các loại hình vui chơi, giải trí, văn hóa, nghệ thuật truyền thống phục vụ du khách, và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc là một yêu cầu cấp thiết…

2.2 Tổng quan về khu du lịch hồ Khuôn Thần

a Vị trí địa lý

Nằm cách thành phố Bắc Giang khoảng 50 km và cách Hà Nội khoảng

100 km về phía Đông Bắc Cách Thị trấn Chũ 9km có đường nhựa đến nơi, với diện tích 140ha, 16,4 triệu m3 nước, có 5 đảo, trên đảo đã được trồng thông từ năm 1975 nay đã cao lớn và xanh tốt tạo ra bóng mát Xung quanh

hồ là đồi núi với 2.283 ha

Trong đó: đất có rừng là 800ha (rừng tự nhiên là 300ha, rừng trong

là 500ha) chủ yếu là thông trồng từ 1975 đến 1980, đất trống đồi núi trọc là

Trang 22

1.000ha, đất nông nghiệp 237ha, phía Bắc hồ là dãy núi cao bao bọc toàn bộ

hồ, ngọn cao nhất là 410,5m thoải dần về phía Nam

Độ cao trung bình là 150m, độ dốc trung bình là 15-220 Về thực vật khá phong phú, theo điều tra sơ bộ có trên 50 họ thực vật và trên 100 loài động vật sống ở khu vực này Dân số trong khu có khoảng 500 người/100 hộ, chủ yếu là dân tộc Sán Chỉ, ở thành 4 xóm: Khuôn Thần, xóm Hà, xóm Lâm Sinh và xóm Đèo Vụ Khuôn Thần Hồ Khuôn Thần đã được Tổng Bí thư Đỗ Mười chỉ đạo trực tiếp xây dựng theo dự án của Hoàng gia Thái Lan, để xây dựng thành một mô hình phát triển lâm nghiệp tổng hợp, hiện nay dự án vẫn đang được tiếp tục đầu tư

b Tiềm năng du lịch khu du lịch Khuôn Thần

➢ Tài nguyên du lịch tự nhiên

• Khí hậu:

Khu du lịch hồ Khuôn Thần nằm ở xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn Lục Ngạn nằm trọn trong vùng Đông Bắc Việt Nam nên chịu ảnh hưởng của vùng nhiệt đới gió mùa, trong đó có tiểu vùng khí hậu mang nhiều nét đặc trưng của vùng miền núi, có khí hậu tương tự các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên

- Bức xạ nhiệt trung bình so với các vùng khí hậu nhiệt đới, số giờ nắng bình quân cả năm là 1.729 giờ, số giờ nắng bình quân trong ngày là 4,4 giờ Với đặc điểm bức xạ nhiệt như vậy là điều kiện thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng

- Độ ẩm không khí trung bình là 81%, cao nhất là 85% và thấp nhất là 72%

- Gió bão: là vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, vào mùa đông tốc

độ gió bình quân 2,2m/s, mùa hạ có có gió mùa đông nam, là vùng ít chịu ảnh hưởng của bão

Trang 23

Đánh giá chung về điều kiện khí hậu thời tiết có thể thấy Lục Ngạn là vùng có lượng mưa thấp, ít sương muối, mưa xuân đến muộn hơn, ẩm độ không khí không quá cao, lượng bức xạ nhiệt trung bình, đó là những yếu tố thuận lợi tạo điều kiện cho cây ăn quả (nhất là vải thiều) đậu quả tốt hơn khi

ra hoa thụ phấn so với các huyện khác trong tỉnh Bắc Giang

Xét về đặc điểm khí hậu thì hồ Khuôn Thần có khí hậu thuận lợi cho hoạt động du lịch Đây là một trong những chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đánh giá, xếp loại các điểm du lịch hiện nay

• Địa hình

Huyện Lục Ngạn là một huyện miền núi địa hình chia cắt thành hai vùng

rõ rệt là vùng núi và vùng đồi thấp

Khu du lịch hồ Khuôn Thần nằm ở vùng có địa hình đồi núi thấp Đây

là loại địa hình phù hợp với loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch cuối tuần

Như vậy, lượng mưa lớn sẽ tập trung vào các tháng 6,7,8- là những tháng lòng hồ đầy nước Lưu vực hồ có khả năng chứa nước và giữ nước qua mùa khô Đánh giá chung đây là một quần thể du lịch nghỉ dưỡng khá đẹp về mọi mặt, cần có quy mô kiến trúc phù hợp….Do đó cần xem xét và điều chỉnh quy hoạch điểm du lịch nghỉ dưỡng này để tăng tỉ trọng đầu tư cho khu

du lịch hồ Khuôn Thần, đồng thời để nhằm tăng doanh thu về du lịch

Trang 24

➢ Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong sưốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch Theo đó tài nguyên du lịch nhận văn tại khu du lịch hồ Khuôn Thần là tất cả những gì con người tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu du lịch tại điểm du lịch hồ Khuôn Thần, có thể mở rộng ra là tất cả những gì con người tạo ra tại huyện Lục Ngạn và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch của du khách

- Di tích lịch sử văn hóa

Huyện Lục Ngạn là nơi có bề dày về truyền thống lịch sử- văn hóa với

01 di tích lịch sử cấp quốc gia (Đền Hả, Di tích lịch sử, được công nhận theo

QĐ số 154/QĐ ngày 25/1/1991, thuộc xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn); 40

di tích lịch sử cấp tỉnh Đây cũng là vùng đất có nhiều danh lam thắng cảnh có thể tạo nên những điểm tham quan du lịch hấp dẫn cho những ai muốn tìm hiểu về ngọn nguồn lịch sử Đó là ải Nội Bàng, ải Xa Lý, với các di tích và danh lam thắng cảnh đẹp như đền Từ Hả (đền Hả), đền Quan Quận, hồ Cấm Sơn, hồ Khuôn Thần và núi Am Vãi- nơi in dấu bàn chân Phật Nơi đây cũng

đã sản sinh ra những vị anh hùng dân tộc, đóng góp một phần không nhỏ trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược từ ngàn xưa Cũng từ truyền thống anh dũng bất khuất chống giặc ngoại xâm ấy, người dân các dân tộc sinh sống trên vùng đất Lục Ngạn đã lập nên các ngôi đình, đền, miếu để tưởng nhớ tới các chiến công của những người anh hùng dân tộc đã chiến đấu

vì độc lập tự do cho đất nước, từ Cao Sơn- Quý Minh- những vị tướng tài giỏi thời các vua Hùng, đến Thân Cảnh Phúc, Vi Hùng Thắng, Trần Hưng Đạo, Yết kiêu, Dã Tượng Đó là các cụm di tích đền, chùa Hả Hộ xã Hồng Giang, đền Tam Giang xã Mỹ An, đền Chể xã Phượng Sơn, đình Hạ Long xã Giáp Sơn, đình Trại Cống xã Kiên Lao, đình Cống Luộc xã Đèo Gia, đền Khánh

Trang 25

Vân thị trấn Chũ Các di tích đều đã được xếp hạng, đặc biệt đền Từ Hả xã Hồng Giang được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia

- Các lễ hội dân gian tiêu biểu của huyện Lục Ngạn

Trong các làng người Kinh của Lục Ngạn, mỗi làng đều có một ngôi đình và một ngôi chùa Đình là nơi nhân dân thôn xã thờ thành hoàng làng, những người có nhiều công lao với dân với nước trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ gìn độc lập dân tộc và những người có công lập làng, lập bản Chùa là nơi thờ phật và là nơi sinh hoạt tín ngưỡng Gắn liền với các thiết chế tôn giáo này là các lễ hội Tùy theo từng làng, các ngày tổ chức lễ hội có khác nhau bởi ngày mở hội của các làng thường đúng vào ngày sinh hoặc ngày hóa của thánh từng làng nhưng thường là vào các dịp xuân thu nhị kỳ Việc tổ chức lễ hội là để tỏ lòng tri ân với đức thánh đã phù hộ cho dân làng Những năm được mùa, làng mở hội to có tế lễ, rước sách linh đình và tổ chức nhiều trò chơi dân gian khiến cho mọi thành viên trong cộng đồng đều thấy vui vẻ thoải mái sau những ngày lao động vất vả và cực nhọc

Một lễ hội đình hay chùa của người Kinh thường bao gồm hai phần: phần lễ và phần hội Trong phần lễ, các cụ bản tự làm lễ tế thánh ở trong đình

và rước thánh tuần du địa hạt hay diễn tả lại một trận đánh, một trò hội nói về công tích của vị thánh mà làng tôn thờ Nếu là hội chùa thì thắp hương lễ phạt cầu an, mong muốn đức phật từ bi che chở cho mọi dòng tộc, mọi gia đình và các thành viên trong cộng đồng làng được an khang thịnh vượng, phong đăng hòa cốc Ngoài sân đình sân chùa là các hoạt động văn hóa thể thao lành mạnh và bổ ích Các trò chơi dân gian như: đu, đấu vật, kéo co được diễn ra vui vẻ Buổi tối, toàn dân trong vùng có hội lại được xem tuồng, chèo do làng đón từ các nơi khác ở dưới xuôi lên biểu diễn

Trang 26

Lễ hội Đền Hả

Được tổ chức vào ba ngày 6,7,8 tháng Giêng âm lịch hàng năm, trong các dịp hội người dân trong vùng tổ chức rước sách diễn lại sự tích của tướng quân Vũ Thành đánh giặc Trong 3 ngày hội ở đền Hả, mồng 8 là chính hội Tuy nhiên cả ba ngày đó các cụ bản tự đều tổ chức tế lễ ở đền và chùa Riêng ngày mồng 8 thì dân làng rước kiệu thánh ra bãi Dược và tổ chức tế lễ ở đó Cuộc rước được tiến hành từ giờ Mão đến hết giờ Ngọ của ngày mồng 8 tháng Giêng Đây thực chất là một sự mô phỏng diễn tả lại tích trò Vũ Thành cầm quân đánh giặc Cuộc rước ở lễ hội đền Hả là nét văn hóa độc đáo, tiêu biểu nhất của lễ hội và cũng là nét khác biệt của hội Từ Hả so với các lễ hội khác của tỉnh Bắc Giang Theo quy định, nghi thức rước thần ở Hả Hộ diễn ra theo các bước: Lễ giao tín (vào giờ Mão), lễ rước ra, lễ phù giá (vào giờ Tỵ),

lễ kỳ binh nhập trận, lễ tế ở bãi Dược, lễ vật thờ, lễ dân cỗ chay của các giáp;

lễ đảo cờ (2 lần bắt đầu vào giờ Ngọ), lễ hoàn cung, lễ mộc dục hóa thảo xá,

lễ chùa cầu siêu Ngoài phần lễ là phần hội, gồm các trò hội như múa sư tử, hát Sloong hao, Sli, Lượn, Sắng cộ, sịnh ca của đồng bào các dân tộc ít người Các trò chơi dân gian như: đu tiên, đá cầu chinh và các trò chơi mới như: võ dân tộc, bóng đá, bóng bàn, cầu lông Những hoạt động này nhằm thỏa mãn nhu cầu về tâm linh, nhu cầu văn hóa và qua đó giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào và tình đoàn kết dân tộc cho các thế hệ

Hội chùa Khánh Vân-Đền Quan quận

Hội chùa Khánh Vân gồm hai phần: Phần tế lễ rước sách và phần vui chơi, giải trí, biểu diễn tích trò Phần tế lễ do dân trong làng đảm nhiệm Làng

cử ra 4 ông cai đám mỗi ông cai đám ở một khoảnh, bốn ông cai đám có trách nhiệm về phần lễ hội trong ba ngày này

Ngày 18 tháng 2 làng mở cửa đền, chùa làm lễ tắm phật, lau chùi quét dọn chuẩn bị cho lễ hội; Ngày 19 tháng 2 làm lễ nhập tịch vào đám Làng cho

Trang 27

đóng kiệu ở trong đình để rước tế lễ làm lễ cầu đảo diễn tích trò và bơi trải trên sông; ngày 20 tháng 2 dã đám, dân làng dọn dẹp và đóng cửa đền Đội tế gồm 21 người lo việc tế lễ trong đền từ 10 giờ đến 11 giờ, trong lúc tế dân làng ra xem rất đông Trong phần tế lễ ngoài phần khấn nôm nói đến công lao của Vi Hùng Thắng và những người được thờ ở đền, dân làng còn tụng hết một quyển khoa cúng của đền Tế lễ xong dân làng tổ chức rước kiệu dương thần và âm thần do con cháu họ Vi ở xã Thanh Hải rước vì cụ tổ họ Vi chính

là Vi Hùng Thắng Địa điểm rước thần từ đền, chùa lên Nghè Mưa, một địa danh có truyền tích về quân dân nhà Trần đánh giặc Nguyên tại đây Năm nào trời hạn thì dừng kiệu làm lễ cầu mưa, sau đó tiếp tục hành rước qua cầu Hôi lên Bình Nội rồi lại trở về đền Khánh Vân Trong cuộc rước có nhiều đoạn đường " kiệu bay" Những trai kiệu " cứ rầm rập, rầm rập" đi như bay như có phép mầu nhiệm

Sáng ngày 19 tháng 2 tại khúc sông khu vực làng Hà Thị, dân làng tổ chức diễn lại tích trận thủy chiến trên sông Lục Nam Từ bến Thảo đến đền Khánh Vân, người ta sắp xếp khoảng 50 đến 60 thuyền chia làm hai phe: ta và giặc Phe giặc (quân Nguyên) mặc áo đen, phe ta mặc áo nâu đỏ đầu đội nón, trước ngực có gắn vòng chữ "Trần" Diễn lại tích trò thủy chiến trên sông là tượng trưng cho trận đánh giữa quân đội nhà Trần với quân Nguyên ở thế kỷ XIII diễn ra tại vùng đất này Diễn xong tích trò này làng đốt pháo, những thủy binh diễn trận được thưởng một mâm cỗ dọn cạnh đống lửa để họ vừa ăn vừa sưởi tránh rét

Trong ngày hội, tục lệ ở đây có làm cỗ tế thành hoàng, cỗ cho khách thập phương và dân làng ăn Cơm cỗ cho khách không quy định nhiều mâm hay ít mâm, ai đến gặp bữa thì đi ghi phiếu vào ăn Tục lệ này xưa nay vẫn thế vì đó chính là khao quân của nhà thánh

Ngày đăng: 18/12/2021, 15:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Địa lý hành chính kinh Bắc- Hội khoa học lịch sử- Sở VHTT Bắc Giang Khác
2. Hội văn nghệ dân gian Việt Nam- Tạp chí văn hóa nghệ thuật ăn uống số 4- 1998 Khác
4. Du lịch và kinh doanh du lịch- Trần Nhạn- NXB Văn hóa thông tin- 1995 Khác
5. Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch- Bùi Thanh Thủy- NXB Đại học quốc gia Hà Nội- 2009 Khác
6. Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam- Đặng Văn Luy Khác
7. Suối mỡ và sự phát triển du lịch Bắc Giang- Luận văn tốt nghiệp năm 2008 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w