8 phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở Tiểu học hoatieu.vn xin gửi tới bạn đọc bài viết 8 phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở Tiểu học để bạn đọc cùng tham khảo. Bài viết chỉ ra cách đối phó với học sinh cá biệt ở Tiểu học hiệu quả nhất, hoatieu.vn mong rằng nếu chúng ta quan tâm đúng mức và thực hiện tốt các giải pháp thì sẽ hạn chế đến mức tối đa số lượng học sinh cá biệt trong lớp học cũng như trong nhà trường. Mời bạn đọc cùng tham khảo chi tiết bài viết 8 phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở Tiểu học tại đây. Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả Quy trình dạy học cấp tiểu học Mẫu thời khóa biểu Học sinh cá biệt là gì? Học sinh cá biệt (HSCB) chỉ những học sinh hoang nghịch thường gây gỗ đánh nhau, bỏ giờ, trốn học, không chấp hành nội qui nhà trường … thêm vào đó là sự lôi kéo của bạn bè về phía mình nhằm thỏa mãn cá tính hoặc thỏa mản nhu cầu giải tỏa tâm lý bị ức chế về hoàn cảnh của bản thân mình. Đó là hiện tượng tâm lý ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nó dễ bị lôi cuốn làm cho học sinh dễ bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu dẫn đến tình trạng bỏ học giữa chừng và có nguy cơ phạm tội là nỗi day dứt của nhà trường, gia đình và xã hội. Rất nhiều yếu tố làm cho HS trở thành HSCB, nhưng chúng ta chỉ đề cập đến một số nguyên nhân tác động trực tiếp đến HS, làm nảy sinh những tư tưởng, tình cảm không lành mạnh làm ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và làm hạn chế đến năng lực học tập của các em. Xã hội phát triển theo cơ chế thị trường nó kéo theo một bộ phận không lành mạnh khác như dịch vụ giải trí không lành mạnh, phim ảnh bạo lực, tình cảm lứa đôi quá mức. Hiện nay, do sự quản lí không chặt chẽ của nhà nước, các dịch vụ bi a, internet, karaoke … được tổ chức gần trường học, lôi cuốn, hấp dẫn các em vào các trò chơi vô bổ. Các em lao vào các trò chơi đó dẫn đến bỏ giờ trốn học và những vi phạm khác. Đồng thời các kênh truyền hình chiếu một số bộ phim có mang những hình ảnh bạo lực làm cho các em dễ dàng bắt chước. Ngoài ra những tụ điểm ăn chơi hàng ngày nhan nhản, làm cho các em không tự chủ, tham gia không có ý thức dần dần tiêm nhiễm và trở thành HS hư. Thời gian HS học tập, sinh hoạt ở trường đều có sự quản lí hướng dẫn của GVCN, GVBM, cán bộ lớp, nhà trường, đó là điều kiện để các em học tập tốt và rèn luyện nhân cách. Nhưng phần lớn thời gian các em sinh hoạt là ở gia đình: tự học, lao động, vui chơi. Với thời gian đó đối với hầu hết HS đều có thời khóa biểu học tập ở nhà, ý thức được việc học tập ở nhà là thời gian giúp các em ghi nhớ lại bài cũ, luyện tập và nghiên cứu bài mới, chuẩn bị cho ngày học hôm sau, đồng thời tham gia giúp đỡ công việc gia đình. Đó là những HS thực sự tự giác trong học tập và được sự quản lí giáo dục của gia đình. Nếu các em chưa ý thức được việc học tập, đồng thời gia đình không quan tâm và không tạo điều kiện thì việc học tập của các em không đến nơi đến chốn, chất lượng bị ảnh hưởng, các em học tập yếu, thua bạn bè dẫn đến chán học, bỏ học. Phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở tiểu học hiệu quả 1. Không nên có cái nhìn kì thị với các em Đây là điều đầu tiên mà các thầy cô cần nắm rõ khi giáo dục các học sinh cá biệt. Là người giáo viên, chúng ta không nên có cái nhìn kì thị, thái độ khó chịu, ghét bỏ, coi thường hay mắng nhiếc học sinh cá biệt trước lớp. Không nên cố gắng dò xét chỉ để tìm thấy lỗi, hay thấy những mặt xấu của các em. Không nên gọi các em là học sinh cá biệt nhiều lần, đặc biệt là trước lớp, trước mặt người khác, đồng thời cũng đừng tách các em ra khỏi lớp hay cô lập các em trước lớp. Vì những điều này chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề mà thôi. Các thầy cô cũng nên biết rằng, ở độ tuổi tiểu học, các em vẫn chưa hình thành được nhân cách của mình, các em chỉ là những học sinh chưa ngoan và cần được giáo dục. Vậy nên, đừng kì thị các em vì các em luôn cần ta giúp đỡ. 2. Quan tâm và gần gũi hơn với các em Cái gì cũng có lý do của nó, không phải tự dưng khi sinh ra con người ta cũng đều trở nên xấu xa cả. Và đối với trường hợp của các em học sinh cá biệt cũng vậy, chắc chắn là vì nhiều yếu tố tác động nên mới khiến các em như thế. Các thầy cô cần tìm hiểu nguyên nhân, để từ đó đưa ra cách tiếp cận phù hợp cũng như có sự quan tâm và gần gũi hơn vì thấu hiểu về những chuyện mà các em gặp phải. Để thực hiện tốt điều này, chúng ta có thể chia học sinh cá biệt thành các nhóm sau: Cá biệt học lực yếu, vì các em bị mất kiến thức căn bản ở lớp dưới Cá biệt học yếu do các em được bố mẹ nuông chiều, ham chơi, lười học, không học bài, bị bạn xấu rủ rê sa đà Cá biệt học yếu do hoàn cảnh gia đình khó khăn Cá biệt học yếu do cha mẹ li hôn, thiếu thốn tình cảm gia đình Tóm lại, các thầy cô cần có sự quan tâm gần gũi, tìm hiểu rõ về các học sinh cá biệt. Vì đa số các em đều rất cần một điểm tựa tinh thần tin cậy để có thể bộc bạch, sẻ chia, cũng như tâm sự những khó khăn, những nỗi niềm riêng tư thầm kín. Thầy cô sẽ trở thành người bạn lớn của các em, luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu. Người GVCN nên biết lắng nghe những tâm sự của các em và cũng nên giữ kín những tâm sự đó để các em tin tưởng mà bộc bạch. Hãy nhìn các em bằng ánh mắt của người cha, sự nhân từ của người mẹ, sự gần gũi, cảm thông của những người anh người chị, sự thân thiết của những người bạn. 8 phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở Tiểu học 3. Nhẹ nhàng phân tích những ưu khuyết điểm của các em Thầy cô hãy nhẹ nhàng phân tích những ưu khuyết điểm, những đúng, sai trong nhận thức cũng như hành động của các em, để từ đó giúp các em nhận ra lỗi lầm của bản thân và tạo cho các em cơ hội, thiện chí sửa chữa, không tái phạm. Tuyệt đối không la mắng chửi bới các em, đừng biến lớp học trở thành “địa ngục” đối với các em học sinh cá biệt, đừng biến những giờ sinh hoạt hay giờ ra chơi thành một giờ “tổng sỉ vả” đối với các em, đừng để các học sinh nghĩ rằng cứ gặp thầy cô là lại sẽ bị la mắng, trách phạt, truy tội. Điều này rất dễ gây ra những tâm lý tiêu cực và khiến các em tệ hơn lúc trước. Khi cần, chúng ta có thể gặp riêng các em để nhắc nhở, trao đổi. 4. Tìm ra điểm mạnh để giúp các em phát huy nó Là một giáo viên chủ nhiệm, chúng ta đừng bao giờ để bụng những lỗi lầm của học sinh, đừng vội nhìn thấy hiện tượng mà đánh giá học sinh của mình chưa tốt. Dù là học sinh cá biệt và có khó giáo dục đến đâu đi chăng nữa thì bên trong các em vẫn luôn tiềm ẩn những nhân tố, những phẩm chất tích cực. Chúng ta hãy cố phát hiện ra những ưu điểm ẩn sâu trong mỗi em. Có thể là chính các em cũng không biết mình có những ưu điểm đó, vậy nên nếu có phương pháp đúng chúng ta hãy khơi gợi để làm thức tỉnh, khôi phục niềm tin cho các em để các em thấy rằng mình không hề kém cỏi, không phải là “thứ bỏ đi”, để từ đó vứt bỏ được sự tự ti, mặc cảm trong các em và chủ động hội nhập với các bạn trong lớp. Ngoài ra, điều này cũng sẽ giúp các em phát huy được điểm mạnh của mình, góp phần vào xây dựng tập thể vững mạnh, dần hình thành phẩm chất tự tin, kiên định trước tập thể cũng như khẳng định được khả năng của bản thân. 8 phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở Tiểu học 5. Tin tưởng vào sự nỗ lực của các em Các thầy cô hãy nhìn nhận vấn đề theo hướng tích cực, đừng nghiêm trọng hoá vấn đề mà hãy tạo cho các em một lối thoát, một cơ hội để bản thân có thể tự sửa chữa, xin đừng “mổ một con gà bằng một cái búa”. Hãy tin tưởng chờ đợi sự chuyển biến từ các em. Chúng ta không nên nóng vội, vì thầy cô càng nóng vội thì sẽ càng tạo áp lực lên các em, khiến các em càng bối rối, càng sa vào đối phó. Đồng thời, hãy trân trọng những tiến bộ của các em dù chỉ là chuyện nhỏ nhất, bởi đó là cả một sự nỗ lực, cố gắng rất lớn của các em. Đừng tiết kiệm lời khen, các thầy cô hãy biểu dương các em trước tập thể lớp, vì đối với các em một lời động viên, khen ngợi còn có giá trị hơn rất nhiều lần so với những bản kiểm điểm. 6. Thầy cô hãy cố gắng điềm tĩnh, biết tự kiềm chế Bản thân người thầy, người cô nào trong công tác chủ nhiệm cũng cần phải biết kiềm chế những cơn nóng giận của mình khi có học sinh vi phạm. Hãy luôn bình tĩnh trong mọi tình huống cho dù xấu nhất. Chắc chắn rằng sẽ có nhiều giáo viên bị stress khi chủ nhiệm phải một lớp học mà có quá nhiều học sinh cá biệt, ngày nào cũng bị thầy cô giám thi “kể tội” học trò của mình…Trong những tình huống như thế này, các thầy cô hãy cố gắng điềm tĩnh, biết tự kiềm chế vì học sinh cá biệt thực sự là một “thử thách” lớn đối với đức tính điềm tĩnh, tự kìm chế của bất cứ giáo viên nào. Chúng ta không nên nóng vội, không nên quá khắt khe hay xử lí mạnh tay bằng những hình thức kỉ luật nặng nề, không nên thành kiến với các em học sinh cá biệt, cũng như đừng nhắc đi nhắc lại nhiều lần lỗi vi phạm của các em, vì điều này sẽ dễ dẫn đến sự chai lì. 7. Giáo dục theo cách mềm dẻo linh hoạt nhưng lời nói phải đi đôi với việc làm Trong công tác chủ nhiệm, các thầy cô phải kiên quyết cứng rắn, lời nói phải đi đôi với việc làm. Tuyệt đối đừng hứa suông, một khi đã nói thì phải kiên quyết thực hiện cho bằng được, biết không làm được thì kiên quyết không nói. Chúng ta hãy vận dụng một cách linh hoạt theo phương châm “lạt mềm buộc chặt”, “mềm nắn rắn buông”. 8 phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở Tiểu học 8. Phối hợp chặt chẽ với gia đình Điều quan trọng trong công tác chủ nhiệm là giáo viên cần phối hợp một cách chặt chẽ với phụ huynh học sinh trong quá trình giáo dục các em. Lưu ý rằng: khi tiếp xúc với phụ huynh học sinh cá biệt cần tránh cho họ sự tổn thương cần thiết. Thường thì những học sinh cá biệt sẽ hoàn cảnh sống đặc biệt, do gia đình mâu thuẫn, cha mẹ hay cãi vã, hoặc là do các em thiếu thốn tình cảm, thiếu sự quan tâm cũng như chăm sóc từ cha mẹ và cũng có thể là do cha mẹ quá nuông chiều… với muôn ngàn lí do khác. Mặt khác, cha mẹ luôn coi con cái của mình là thứ quý giá nhất, cho dù chúng hư hỏng, khó dạy bảo đến đâu… Cho nên khi nghe tin có giáo viên đến nhà thăm, hay điện thoại báo tin là bản thân họ lại không muốn tiếp, không muốn nghe. Và nếu có tiếp hay nghe điện thoại của thầy cô thì cũng với thái độ bực dọc, thậm chí là bất cần, vì mấy ai thích nghe người khác kể tội con mình. Vì vậy, khi tiếp xúc với phụ huynh, giáo viên nên đặt vị trí của mình vào trong suy nghĩ, tình cảm của cha mẹ các em để phân tích, lí giải thiệt hơn. Hãy cố gắng tìm hiểu những khó khăn của các bậc phụ huynh trong việc quản lí, cũng như dạy dỗ con em mình để cùng nhau tìm biện pháp giáo dục tốt nhất. Một số biện pháp nhằm giáo dục HSCB Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường Để cho HS nắm bắt được việc đánh giá xếp loại hạnh kiểm (HK) tức là những chuẩn mực các em đạt được trong quá trình rèn luyện hạnh kiểm của mình, nhà trường cần phải thông báo cho các em biết được các mức độ xếp loại HK (tốt, khá, trung bình, yếu). Hiểu được thì các em sẽ tránh được vi phạm mà các em mắc phải, để rồi các em khỏi phải bị xếp loại HK yếu, khỏi phải liệt vào danh sách HSCB. Tổ chức cho HS thảo luận nội qui nhà trường và hướng dẫn cho các em thực hiện nội qui, có chế độ khen chê công bằng, khách quan. Trong buổi chào cờ đầu tuần, cần phải đánh giá nhận xét chu đáo, nêu gương người tốt, việc tốt để các em noi theo, hạn chế những vi phạm nội qui lớp học, trường học . Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt lớp Ngoài việc giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường, giờ sinh hoạt lớp (SHL) cũng rất quan trọng trong vấn đề này. Bởi vì thông qua giờ SHL, GVCN, CB lớp kịp thời uốn nắn những sai trái khuyết điểm của HS khi bị vi phạm, lấy tình cảm bạn bè, lấy nghĩa thầy trò làm cho các em thấy được khuyết điểm của mình. Đồng thời với sự chân thành của GVCN, HS trong lớp, HS khi vi phạm sẽ sớm nhận ra lỗi lầm của mình mà sửa chữa. Trong khi giáo dục các em, GVCN không nên nặng về kiểm điểm, phê bình, mà phải tìm ra và xác định đúng nguyên nhân đã tác động đến các em làm cho các em mắc sai lầm, vi phạm, vận dụng những điều khoản trong nội qui, trong qui định xếp loại làm cho các em thấy được việc vi phạm ở mức độ nào và nêu ra hướng cho các em khắc phục. Kết hợp với Hội Phụ huynh (PH) HS Hội PHHS là cầu nối giữa nhà trường, GVCN với gia đình HS. Tổ chức Hội ngoài việc giúp nhà trường xây dựng cơ sở vật chất còn góp phần cùng nhà trường giáo dục HSCB. Thường trực Hội PHHS giúp cho nhà trường, GVCN bằng cách tác động với PH để giáo dục HS từ chỗ bỏ học, trốn học đến đi học chuyên cần và học tập nghiêm túc. Mặt khác, TT Hội PHHS đã tác động đến gia đình các em để cha mẹ các em quan tâm và có trách nhiệm đối với con cái của họ hơn, từ đó sẽ hạn chế được HS hoang nghịch. Phối hợp với các Đoàn thể và các lực lượng khác trong xã hội Hiện nay ở nhiều địa phương đã hình thành các khu dân cư, thôn văn hóa. Đó là điều kiện tốt để các Đoàn thể cùng với nhà trường, qua đó giáo dục HS. Các Đoàn thể, chính quyền địa phương giúp cho các thành viên xây dựng gia đình văn hóa, hạn chế tình trạng cha mẹ bỏ mặc con cái đi làm ăn, những mối bất hòa trong gia đình dần dần chấm dứt, từ đó cha mẹ sẽ có điều kiện chăm sóc giáo dục con cái tốt hơn. Phương pháp kết bạn Thường lứa tuổi HS dễ bị ảnh hưởng những thói hư tật xấu nhưng cũng dễ tiếp thu những điều hay lẽ phải, dễ hòa mình vào những trò chơi có tính tập thể, tính giáo dục cao. Do đó GVCN nên phân công một nhóm bạn tốt, cùng hoàn cảnh, cùng sở thích, uớc mơ để sinh hoạt, học tập với đối tượng này dần dần lôi kéo các em hòa nhập vào các cuộc chơi bổ ích, từ đó xóa bỏ các mặc cảm là HS hư để rồi cùng với các thành viên trong lớp xây dựng tập thể vững mạnh. Mặt khác, thông qua nhóm bạn tốt, GVCN giao cho HSCB thực hiện một số công việc, tạo những điều kiện để những HS này hoàn thành và động viên khích lệ các em để các em xóa những tự ti, mặc cảm là HSCB để hòa mình với bạn bè. Ngoài ra có thể vận động gia đình của nhóm bạn tốt tham gia vào việc giúp đỡ những HS này bằng cách tạo cho các em tâm lý xem gia đình của bạn như gia đình mình, tạo điều kiện cho các em cùng tham gia học tập với con em mình để tách dần ra khỏi nhóm bạn chưa ngoan. Việc làm này cả là một cố gắng trong đó vai trò của GVCN rất quan trọng và sự tham gia của Hội PHHS là rất cần thiết. Phương pháp “lạt mềm buộc chặt” Tuổi mới lớn thì nghịch phá là chuyện khó tránh khỏi. Những biện pháp mạnh như kỷ luật hay lớn tiếng trách mắng, la rầy HS đôi khi sẽ không có tác dụng bằng sự mềm mỏng, kiên nhẫn. Ai cũng muốn mình là học sinh ngoan, giỏi nhưng vì lý do về gia đình, về tâm sinh lý và rất nhiều nguyên nhân khác dẫn đển những hành động tiêu cực của một vài bạn học sinh. Trước hết, thầy cô nên tìm hiểu rõ nguyên nhân và dùng sự mềm mỏng để cảm hóa học sinh của mình. Kết hợp kỷ luật và tình thương Đừng vì một vài biểu hiện nhất thời của học sinh mà gán ghép cho các em cái tên “học sinh cá biệt”. Bên cạnh đó, thầy cô giáo cũng cần chú ý đến tâm lý lứa tuổi của các em bởi “giai đoạn cấp 2, cấp 3 là giai đoạn khá nhạy cảm và có những rối loạn của tuổi dậy thì. Đôi khi những phản ứng nổi loạn là do các em không kiềm chế, kiểm soát được”. Cố PGSTS Văn Như Cương, hiệu trưởng Trường THPT Lương Thế Vinh Hà Nội đã từng nói rằng, thầy cô phải uốn nắn, định hướng ngay khi các em mắc những lỗi nhỏ để tránh dẫn đến việc xảy ra chuyện lớn rồi buộc lòng phải dùng biện pháp kỷ luật học sinh. PGS Văn Như Cương chia sẻ: “Kỷ luật là một hình thức giáo dục, không chỉ giáo dục học sinh vi phạm mà còn răn đe các em khác nữa. Tuy nhiên, kỷ luật là hình thức giáo dục cuối cùng bắt buộc phải dùng đến”. Giáo dục là một hoạt động đặc biệt bởi sản phẩm tạo ra là con người. Vì vậy vẫn nên dùng đến kỷ luật nhưng là kỷ luật kết hợp với tình yêu thương. Có như vậy thì người thầy mới không khắc những vết thương lên tinh thần của người học trò về sau này. Đừng làm các em học sinh rơi vào trạng thái thấy mình là kẻ cá biệt và cô độc trong lớp rồi nảy sinh những phản ứng tiêu cực như sợ hãi, tự ti. Mục đích của việc làm này là“giơ cao đánh khẽ” và với mong muốn giúp học sinh có kỷ luật tốt hơn. Đây có phải là cách tốt nhất để răn đe, giáo dục học sinh khi vi phạm, nhất là học sinh đang trong độ tuổi hình thành phát triển tâm lý. Phần lớn ngày nay, thời gian của các em học sinh ở trường nhiều hơn ở nhà. Trong trường, có thầy cô giáo dạy dỗ còn về nhà thì cha mẹ lo đi làm nên sẽ không thể dành thời gian nhiều để bảo ban các em. Vậy liệu khi đuổi học, có phải là gián tiếp đưa học sinh ra ngoài xã hội nhiều cạm bẫy, đẩy học sinh đến gần với những tệ nạn xã hội này không? Trong khi có nhiều cách có thể xử lý được như cảnh cáo trước toàn trường, đưa học sinh đó vào một nhóm giáo dục đặc biệt tại trường. Thực tế, đây không phải là cách xử lý mới khi học sinh vi phạm. Cách này đã được hình thành từ lâu trong hệ thống giáo dục của nước ta. Nhiều quan điểm ủng hộ cho rằng đây là cách để đe dọa các học sinh này tái phạm, nhưng liệu nó có mang phản ứng ngược. Cấp 2 và cấp 3 là độ tuổi nhạy cảm, việc đuổi học này thực tế chỉ răn đe được một ít, số còn lại mang tâm lý bất cần sau khi bị đuổi học. Và khả năng các em dễ tiếp cận với các thành phần xấu trong xã hội là rất cao. Chắc hẳn chúng ta ai cũng nhớ hai câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Chính vì vậy, mỗi khi dùng biện pháp mạnh với học sinh phạm khuyết điểm, những người có trách nhiệm nên cân nhắc hết sức kỹ lưỡng. Tham khảo thêm Mẫu biên bản chấm thi học sinh giỏi Mẫu biên bản chấm thi học sinh giỏi Biên bản chấm thi học sinh giỏi Mẫu biên bản về việc tổ chức kỳ thi học sinh giỏi Mẫu biên bản về việc tổ chức kỳ thi học sinh giỏi Biên bản về việc tổ chức kỳ thi học sinh giỏi Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả Bài khóa luận tốt nghiệp lớp quản lý giáo dục Đánh giá bài viết 37.937 Chia sẻ bài viết Chia sẻ bởi:Nguyễn Linh AnBan hành:Tổng hợpNgày: 15082018 Tải về Bạn có thể tải về tập tin thích hợp cho bạn tại các liên kết dưới đây. Phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở Tiểu học (tệp PDF) 10012018 10:57:51 CH 1. Lí do chọn đề tài: Giáo dục là nền tảng xây dụng xã hội,là tiền đề quy định sự phồn vinh của đất nước. trong sức mạnh đó của giáo dục thì ngoài sức mạnh của tri thức khoa học còn là sức mạnh của việc tạo lập nhân cách con người giáo dục tạo con người có đủ sức mạnh đủ tài để xây dựng đất nước . Việc dạy học sinh ở bậc tiểu học rất quan trọng trong quá trình giáo dục. tuy nhiên, cùng với sự phát triển như huyền thoại của đất nước với những thành tựu về khoa học công nghệ ,đó là thành quả của quá trình hội nhập với thế giới. Điều này dẫn đến mặt tích cực. Cùng với sự tiến bộ về mặt khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, giáo dục…nhưng cùng đưa đến những thách thức, trong đó giáo dục nói chung, giáo dục thế hệ trẻ nói riêng đang đứng trước những nguy cơ bị tệ nạn xã hội xâm lấn. Nền kinh tế thị trườngcũng làm thay đổi xã hội: Các bậc làm cha làm mẹ cuốn vào vòng xoay của cơ chế thị trường nên không quan tâm đến việc dạy dỗ, không quan tâm đến sự trưởng thành của con cái. Trên đây là những lí do dẫn đến học sinh cá biệt ngày càng nhiều. Ở bậc tiểu học với những độ tuổi khác nhau, hoàn cảnh sống khác nhau, nhận thức vấn đề còn non nớt, dễ bị chi phối bởi nhiều yếu tố tác động từ gia đình và xã hội, đặc biệt ở bậc học này với học sinh lớp 4 đang bắt đầu của sự nhận thức thế giới khách quan thì việc rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt là vấn đề hết sức quan trọng và có ý nghĩa. Là một giáo viên dạy tiểu học, tôi luôn lo lắng trăn trở với vấn đề làm sao để rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt có hiệu quả. Tôi mạnh dạn chon đề tài: “Biện pháp rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt” với mong muốn đưa những điều tôi tâm đắc đã được thử nghiệm trong quá trình giảng dạy lớp 4 để góp phần nhỏ bé của mình vào tiếng nói chung của sự nghiệp giáo dục nước nhà. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài. Giúp cho các em học sinh nắm vững các kiến thức cơ bản ở bậc tiểu học nói chung và kiến thức lớp 4 nói riêng. Đồng thời qua đó giáo dục, uốn nắn, bồi dưỡng, giáo dục các em từ những học sinh cá biệt, quậy phá, lười học… trở thành người có ích cho xã hội sau này. Xác định các nguyên nhân chính đã dẫn đến một số em có hành vi chưa đúng, chưa có động cơ học tập, có đạo đức phẩm chất chưa tốt…. Qua đó, giúp cho các em định hướng được hành vi, ý nghĩa của cuộc sống, đạt được hiệu quả trong học tập. 3. Đối tượng nghiên cứu: Các em học sinh thuộc dạng cá biệt trong lớp, có hành vi xấu, hay gây gỗ, chửi thề, nói tục, ý thức học tập không có, kết quả học tập yếu kém, lười học tập và không biết vâng lời thầy cố, bố, mẹ …. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu: – Tập trung nghiên cứu một số học sinh lớp 4D3 ở Trường Tiểu học …….. có hành vi đạo đức chưa tốt, kết quả học tập yếu kém, có thái độ không hợp tác. – Tìm hiểu gia cảnh của từng em học sinh cá biệt trong lớp, cùng gia đình theo dõi, nhắc nhở, giáo dục và tạo các điều kiện tốt nhất để các em học sinh đó tham gia học tập và các phong trào do lớp và nhà trường tổ chức. – Nắm được thực trạng của một số học sinh cá biệt lớp 4D3 ở Trường Tiểu học …….. , từ đó có phương pháp giáo dục, rèn luyện để tạo cơ hội cho các em tiến bộ hơn, học tập tốt hơn và trở thành học sinh có giáo dục, có trình độ, có phẩm chất đạo đức tốt. 5. Phương pháp nghiên cứu: – Định hướng nguyên nhân học sinh trở thành học sinh cá biệt. – Quan sát, theo dõi quá trình học tập và hoạt động của các em học sinh cá biệt trong lớp. ( trước, trong và sau áp dụng các biện pháp giáo dục). – Trao đổi trực tiếp với gia đình, phụ huynh của các em học sinh thuộc dạng cá biệt trong lớp 4D3, đề xuất những biện pháp áp dụng cho từng em học sinh. – Tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của từng học sinh để đưa ra biện pháp giải quyết. PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận : Hiện nay Đảng, nhà nước yêu cầu đổi mới trong sự nghiệp giáo dục để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chúng ta đang sống trong thời đại có sự tiến bộ mạnh mẽ về khoa học công nghệ, sự bùng nổ của thông tin toàn cầu. Việc này đặt ra cho từng con người phải phấn đấu nổ lực vươn lên trong cuộc sống để không lạc hậu với thời cuộc. Từng bước theo kịp tốc độ phát triển của thời đại. Đối với thế hệ trẻ trong nhà trường ngoài nhiệm vụ cung cấp kiến thức phổ thông cho học sinh Bậc tiểu học là bậc học nền tảng của hệ phổ thông, chính vì thế chúng ta cần phải coi trọng việc xây dựng và giáo dục đạo đức cho học sinh cá biệt để lớn lên các em sẽ sớm hoàn thiện mình hơn và trở thành một con người có ích cho xã hội. Để thực hiện được vấn đề này không phải dễ mà cần phải có một quá trình và dựa vào mỗi một giáo viên chúng ta. Việc dạy học và giáo dục con người vừa mang tính khoa học ,vừa mang tính sáng tạo và nghệ thuật.Đối tượng giáo dục của người giáo viên tiểu học là trẻ em. Sự phát triển của các em đang ở phía trước.Trong quá trình điều khiển sự phát triển của các em,người giáo viên cũng như những người lớn tuổi luôn luôn gặp và giải quyết các vấn đề,tình huống xảy ra. Quy trình sư phạm tổng thể là một quá trình diễn ra cùng lúc hai quá trình cơ bản khác: Đó là quá trình giáo dục và quá trình dạy học. Hai quá trình này luôn luôn tác động lẫn nhau, chúng có mối quan hệ biện chứng lâu dài và phức tạp. (theo tâm lí lứa tuổi tiểu học).Chính vì vậy, người giáo viên ngoài việc dạy học giúp học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản còn là một người mẹ hiền luôn tận tuỵ với những đứa con bé bỏng yếu ớt của mình. II.2. Thực trạng: Nhân cách của học sinh bậc tiểu học cũng chịu sự tác động rất lớn của xã hội. Cùng với xu thế hội nhập sự phát triển của thế giới, của đất nước bên cạnh quá trình hội nhập được tiếp cận với tinh hoa văn hóa nhân loại, sự phát triển của công nghệ thông tin,đưa vị thế nước ta ngày càng tiến gần hơn với đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc trên thế giới thì còn là sự xâm nhập của nền kinh tế thị trường kéo theo tệ nạn xã hội, văn hóa xấu…dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ tới việc giáo dục nhân cách con người Việt Nam, nhất là với thế hệ trẻ . Nếu như chúng có môi trường vui chơi, giải trí lành mạnh, được tiếp cận với những thông tin hữu ích thì các em sẽ trở thành người có nhân phẩm tốt. Để rèn luyện cho học sinh cá biệt đòi hỏi người giáo viên phải có bản lĩnh, tính dứt khoát, sự quan tâm đồng đều đến học sinh mình phụ trách. Bên cạnh đó người giáo viên còn phải có tấm lòng bao dung, nhân hậu, biết yêu thương học sinh như con mình . xem những hành vi, thái độ chưa đúng của học sinh là vấn đề cần giải quyết . người giáo viên có thái độ chuẩn mực nhẹ nhang nhắc nhở ,dìu dắt các em từng bước nhận thức vấn đề,cải thiện hành vi dần hoàn thiện bản thân. Việc áp dụng đề tài “Biện pháp rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt” theo tôi là việc cần thiết để hướng tới một nền giáo dục toàn diện, nhất là việc giáo dục học sinh cá biệt ở bậc Tiểu học đứng trước một số thực trạng : a. Thuận lợi – khó khăn. Thuận lợi: Trường Tiểu Học …….. Địa bàn dân cư đông kinh tế văn hóa xã hội phát triển mạnh. Nhà trường luôn được sự quan tâm của các cấp, đặc biệt là phụ huynh học sinh. Đa số các em học sinh trong lớp có ý thức tốt trong học tập và rèn luyện. Bản thân tôi đang được trực tiếp giảng dạy học sinh lớp 4 vì vậy tôi có điều kiện áp dụng, trải nghiệm và theo dõi thực tế hiệu quả của đề tài qua các đối tượng học sinh quen thuộc. Khó khăn: Học sinh với nhiều đối tượng khác nhau, nhiều hoàn cảnh sống khác nhau, chỗ ở rải rác ở các thôn buôn không tập trung. Một số gia đình không quan tâm đến việc giáo dục con em mà hoàn toàn phó mặc cho nhà trường. Bên cạnh đó nền kinh tế thị trường và xã hội có quá nhiều biến động. Tất cả những vấn đề trên là khó khăn cho việc thực hiện đề tài. b. Thành công – hạn chế . Thành công: Khi áp dụng đề tài “Biện pháp rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt” được đồng nghiệp và học sinh ủng hộ. Một số đối tượng đã được nhắc đến trong phần thực trạng có sự thay đổi trong quá trình học tập và rèn luyện. Hạn chế: Một số giáo viên chưa thực sự hiểu bản chất vấn đề để áp dụng đề tài. Số lượng học sinh chưa thực sự tiếp cận tốt với phương pháp giáo dục của giáo viên. b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp: Từ việc đánh giá thực trạng , nguyên nhân cơ sở lí luận liên quan đến đề tài, đặc biệt với đối tượng là học sinh lớp 4 cụ thể là lớp 4D3 do tôi trực tiếp giảng dạy tôi xin đề xuất một số nội dung và cách thức thực hiện giải pháp biện pháp như sau: Tôi sớm tìm hiểu và nắm được tình hình học sinh của lớp mình ngay từ đầu năm nhận lớp. Hiểu được từng đối tượng học sinh như: tính tình, sở thích,…và hoàn cảnh gia đình của mỗi em. Từ đó để có kế hoạch dạy học và giáo dục một cách cụ thể. Sự nhẹ nhàng ân cần quan tâm sẽ giúp giáo viên tiếp cận vối các em, hiểu rõ nguyên nhân hơn để tìm cách tháo gỡ những vướng mắc từ phía các em cũng như gia đình đưa ra biện pháp hưu hiệu để thay đổi sự phát triển nhân cách mới cho từng học sinh. Giáo viên không nên xúc phạm đến học sinh, gặp gỡ riêng để tâm sự với các em về cách nghĩ và sự mong muốn của mình từ các em. Quan tâm giúp đỡ là vấn đề quyết định của người giáo viên trong việc rèn luyện học sinh cá biệt. Tạo lòng tin cho các em không đem những điều tâm sự của các em ra làm trò đùa vui cười trước lớp. Quán triệt sự kì thị giữa học sinh trong lớp với các em, tạo cho các em môi trường tin yêu. Tạo sự tin tưởng cho học sinh chia sẻ với các em những vấn đề các em gặp rắc rối ở gia đình và xã hội bên ngoài. Thường xuyên chấm chữa bài để nắm bắt kết quả học tập của học sinh, kịp thời tuyên dương khen thưởng. Nắm thông tin cần thiết ở từng giai đoạn để xem xét kết quả và hướng tiến bộ của học sinh cùng bàn bạc với phụ huynh điều chỉnh những tồn tại mà học sinh còn mắc phải. Giáo viên phải biết động viên khen thưởng – phê bình kịp thời, chính xác sẽ tạo cho học sinh tính hăng say, tích cực tham gia vào các hoạt động của lớp cũng như của nhà trường. Với những vấn đề trên, nếu giáo viên áp dụng được sẽ rất dễ dàng tiếp cận và tìm hiểu mọi vấn đề phát sinh khi cần thiết. Bởi học sinh cá biệt thường có những biểu hiện chống đối hay biểu hiện “chơi ngông” với những người quan tâm không đúng mức hoặc quá mức tạo cho các em. Bản thân tôi thành công trong vấn đề nhìn nhận để tiếp cận với các em này thực ra các em đáng thương hơn là đáng ghét. Về phía học sinh: Giáo viên tỏ thái độ tin tưởng giao nhiệm vụ cho các em cá biệt về đạo đức, rèn luyện cho học sinh cá biệt về học tập mang tính vừa sức. Giáo viên khen ngợi học sinh có tiến bộ dù chỉ rất nhỏ nhưng hạn chế tối đa sự chỉ trích,chê bai trước đám đông hay tập thể. Những vấn đề tái phạm hay khiển trách chỉ tâm sự những mong muốn của mình với các em như một người bạn để các em thấy không bị xúc phạm xem đó như vấn đề bí mật và dần dần tự sửa đổi (với học sinh cá biệt sự chỉ trích hay trách phạt trước tập thể không làm hiệu quả điều mong muốn mà chỉ có tác dụng ngược lại). Không tỏ thái độ thương hại mà người giáo viên cần tỏ thái độ mong muốn sự hợp tác hay giúp đỡ của học sinh cá biệt đó đối với mình. Giáo dục học sinh trong lớp biết tôn trọng bạn bè. Phía gia đình: Tạo được mối quan hệ gần gũi với phụ huynh học sinh, để từ đó có được thông tin hai chiều giữa phụ huynh học sinh với giáo viên và ngược lại. Nắm bắt sự chuyển biến của học sinh từ phía gia đình, không nên áp đặt con em theo một chiều hướng bảo thủ,dành thời gian quan tâm chăm sóc con cái nhiều hơn với những đứa trẻ cá biệt về đạo đức cũng như đưa ra giải pháp giúp đỡ trẻ yếu kém trong học tập. Bởi giáo dục là vấn đề của cả gia đình nhà trường và xã hội. Các giải pháp chủ yếu: Trong năm học 20132014 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 4D3 Trường Tiểu học Dlieya. Đây là lớp mà các đối tượng học sinh ở rải rác các thôn, buôn : như thôn Trung Hòa nằm ngay trung tâm xã đối tượng là con gia đình buôn bán nhỏ nhà ở tạm bợ, thuê mướn, thôn Ea Kênh học sinh là dân tộc phía Bắc chuyển vào, Buôn Yun là buôn có hoàn cảnh khó khăn vùng III,chủ yếu là dân tộc Ê đê – bố mẹ đa phần ít học nên không quan tâm đến việc học hành của con cái. Ngoài ra còn có các buôn Yoh, buôn Kmang, buôn Yuk,riêng buôn Ksơr thành phần học sinh cá biệt về đạo đức cao, do ảnh hưởng một số thanh niên lêu lỏng. Từ những vấn đề trên cần có những giải pháp để uốn nắn: Xác định hoàn cảnh, lí do học sinh cá biệt vi phạm xây dựng biện pháp giáo dục: Xây dựng qui chế lớp học làm tiêu chí cho việc đánh giá cho toàn lớp học, theo dõi và đánh giá khách quan cho từng học sinh tạo tiền đề để học sinh cá biệt cảm nhận sự công bằng của giáo viên, đây là kim chỉ nam cho việc rèn luyện và giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung và học sinh cá biệt nói riêng. Bố trí chổ ngồi hợp lí tạo sự gần gũi giữa học sinh và giáo viên nhờ học sinh khá giỏi hỗ trợ về mặt học tập. Giao công việc học tập cho các em ở mức vừa phải không quá sức, tạo hứng thú tăng dần cho học sinh. Học sinh tự đánh giá mức độ tiến bộ cho nhau, cải thiện vấn đề tồn tại ở các em. Điển hình em Nguyễn Thành Lợi: có biểu hiện đầu năm không hợp tác trong học tập, hay bỏ học về giữa buổi và biểu hiện thái độ văng tục,xúc phúc phạm cô giáo. Qua nhiều lần tiếp xúc gia đình em Lợi đưa ra giải pháp vừa cương vừa nhu khuyến khích động viên kịp thời. Đến nay em đã có những biểu hiện tiến bộ không còn những hành vi trên và hòa nhập cùng tập thể xây dựng góp ý trong giờ học. Em Phạm Thị Anh Đào: lầm lì ít nói có thái độ không hợp tác thường xuyên không làm bài tập hay đưa ra hàng loạt lí do. Gia đình buôn bán ở chợ rất bận rộn việc quan tâm con cái chủ yếu bằng tiền nên việc học của em Đào ngày một yếu hơn. Tiếp xúc với gia đình đưa ra giải pháp. Qua một thời gian rèn luyện cùng sự giúp đỡ của bạn bè trong lớp Đào đã có những biểu hiện tích cực trong học tập, hòa đồng với bạn bè chào hỏi thầy cô và những người lớn tuổi. Nhóm yếu về học tập: Đa phần là con dân tộc Ê đê tại chỗ gia đình thuần nông hạn chế về ngôn ngữ học thức hạn chế, là con hộ nghèo, chủ yếu chỉ lo kiếm ăn không quan tâm đến việc dạy dỗ con cái.Thực hiện các biện pháp: – Giám sát việc học hành của các ở lớp và ở nhà, tổ trưởng kiểm tra sách vở bài tập các em hoàn thành chưa nếu vì chưa hiểu giáo viên giảng lại và giúp đỡ. – Giao nhiệm vụ cho học sinh khá giỏi giúp đỡ bằng hình thức thảo luận, tranh luận trách sự mặc cảm, tự ti. – Giáo viên khi giảng bài dành các câu hỏi dễ cho các em yếu để kích thích tích học tập tự lực, khen ngợi kịp thời tạo sự hưng phấn. Nhóm cá biệt về đạo đức: – Là các em vừa học yếu vừa mắc khuyết điểm về hành vi.cần đưa ra biện pháp giải quyết: – Phối hợp với gia đình để các em tránh tiếp xúc nhiều với những bạn không đi học, lêu lỏng những vấn đề xã hội như hút thuốc, uống rượu… – Cho các em đảm nhiệm vai trò,chức vụ trong lớp đưa các em hòa đồng cùng các bạn để học sinh cảm nhận mọi người tin yêu và cần mình.từ đó các em dần ý thức và tiến bộ. – Giáo viên tuyên dương khen thưởng kịp thời, cũng như nhắc nhở những vấn đề học sinh chưa tiến bộ trong mỗi trường hợp các em vừa mắc phải đối với học sinh dân tộc tiểu số giáo viên cần giúp các em phân biệt đúng sai. Bởi các em có thể chỉ là những hành vi bắt chước, đua đòi không phân biệt hay dở, đúng sai. – Đề ra cho mỗi học sinh cá biệt quy chế mới. Sau mỗi tuần sinh hoạt cho học sinh tự đánh giá, học sinh khác nhận xét sự tiến bộ, giáo viên nhận xét lại và nhận định tuyên dương. Từ đó các em tự nhận thức và dần tiến bộ. – Cùng với ân cần giúp đỡ các em tiến bộ giáo viên cần thể hiện tính cương quyết, dứt khoát nghiêm khắc phê bình những hành vi quá đà hoặc tái phạm, yêu cầu học sinh hứa hẹn về sửa đổi trong thời gian kế tiếp, ghi chép lại như bản cam kết danh dự để học sinh dựa làm tiêu chí phấn đấu. – Nêu một số gương mặt học sinh cá biệt phấn đấu tốt cho các em làm mục tiêu phấn đấu, qua đó thấy được bản than các em có giá trị cho gia đình cũng như cho xã hội. Trong mỗi giờ sinh hoạt mỗi ngày đầu giờ giáo viên giúp đỡ các em tháo gỡ những khó khăn trong học tập (bài tập khó giáo viên giảng lại) tiếp cận gần gũi là vấn đề then chốt trong việc rèn luyện học sinh cá biệt. Giao nhiệm vụ cho học sinh khá giỏi giúp đỡ các em hòa đồng với bạn bè (thông thường học sinh cá biệt hay bị bạn bè tách rời không tiếp cận hoặc sợ gặp phải phiền phức). Cùng với ân cần giúp đỡ các em tiến bộ giáo viên cần thể hiện tính cương quyết, dứt khoát nghiêm khắc phê bình những hành vi quá đà hoặc tái phạm, yêu cầu học sinh hứa hẹn về sửa đổi trong thời gian kế tiếp, ghi chép lại như bản cam kết danh dự để học sinh dựa làm tiêu chí phấn đấu. Nhờ phụ huynh giúp đỡ giám sát hành vi của các em ở nhà, ở môi trường xã hội, giám sát thời gian biểu của học sinh tránh lêu lỏng. 4 Kết quả thu được: Tính từ đầu năm áp dụng các biện pháp giáo dục nêu trên cho đến cuối học kỳ I năm học ……….., kết quả như sau: a. Nhóm học sinh cá biệt về học tập: Đầu năm có 14 em học lực loại yếu, đến hết học kỳ I chỉ còn 4 em chiếm tỉ lệ 12%, giảm 32,4 % so với đầu năm.đa phần các em đã có ý thức học tập, chăm chú nghe giảng, phát biểu trong giờ học, về nhà làm bài và học bài đầy đủ: ..… đến cuối kỳ I đã vươn lên ở mức học trung bình. Đa số các em đã biết thực hiện những phép tính toán cơ bản, đọc thông, viết đúng chính tả.Bên cạnh những tiến bộ vượt bậc vẫn còn những em yếu do tiếp thu chậm viết sai nhiều như em …… b. Nhóm học sinh cá biệt về đạo đức: – Đầu năm có 4 em, đến nay không còn em nào thuộc dạng cá biệt về đạo đức. Các em đã biết vâng lời, không còn nói tục, chửi thề tại trường học, không còn tình trạng đánh nhau. Một số em từ là học sinh có đạo đức kém biết chào hỏi thầy cô và người lớn tuổi, không còn hành vi lỗ mãng. Ví dụ : ……………. không còn thái độ bất kính thầy cô, tham gia nghiêm túc các nội quy của lớp, hòa đồng cùng bạn bè,được bạn bè tín nhiệm và bầu làm tổ trưởng phụ trách việc kiểm tra sách vở của cả tổ. – …… tiến bộ nhiều trong cách đọc, riêng em Đào viết chính tả tiến bộ vượt bậc. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận: Trong quá trình giảng dạy nhiều năm cũng như thời gian thực hiện đề tài hơn một học kì ,bản thân tôi tương đối thành công về mặt giáo dục đạo đức cho học sinh cá biệt. Các em có hành vi chưa tốt cơ bản đã tiến bộ rõ rệt,nhận thức đúng trong việc học tập và vui chơi, có tiến bộ trong các buổi học, xung phong phát biểu, trao đổi nói chuyện bạn bè có tính thân thiện và hòa nhã,cải thiện nhiều trong cách viết chính tả, đọc và làm toán. Tuy nhiên, việc giáo dục không phải là điều làm được trong thời gian ngắn mà cả một quá trình cần nhiều thời gian và công sức, phải phối kết hợp nhiều lực lượng và các thành phần cùng tham gia, phải biết kết hợp nhiều phương pháp để giáo dục học sinh. Để các em sẽ là chủ tương lai của đất nước theo lời Bác Hồ: “ Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang, sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ ở công học tập của các cháu” – Giáo viên chúng ta cần thường xuyên theo dõi, nhắc nhở, làm gương nhằm giúp các em hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống. Nếu bản thân giáo viên xem nhẹ những việc làm trên thì khó hình thành giáo dục học sinh cá biệt. Cần gắn liền từ gia đình – nhà trường – xã hội một cách hài hòa khắc phục từng bước khó khăn. – Với đề tài “Biện pháp rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt” tôi hy vọng sẽ góp phần nhỏ vào tiếng nói chung của giáo dục, hy vọng rằng giáo dục địa phương nói riêng và nền giáo dục nói chung sẽ toàn diện hơn… 2. Kiến nghị: – Mong được sự quan tâm của ban giám hiệu tổ bộ môn. – Đề tài áp dụng rộng rãi. – Mong được sự góp ý chân thành của đồng nghiệp để đề tài đạt hiệu quả cao trong quá trình áp dụng vào thực tiễn. Để đào tạo một con người tương đối hoàn thiện (có kiến thức và phẩm chất đạo đức tốt) tôi mong rằng Ban giám hiệu nhà trường, các cơ quan ban ngành cùng với hội cha mẹ học sinh quan tâm, tạo mọi điều kiện hơn nữa (về cả tinh thần và vật chất) cho chúng tôi thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn. BẤM VÀO ĐÂY ĐỂ TẢI FILE WORD CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM Bài giảng cùng khám phá trường học, môn TNXH lớp 1 sách Kết nốiBài giảng cùng khám phá trường học, môn TNXH lớp 1 sách Kết nối Giáo án Hoạt động trải nghiệm lớp 1 Chủ đề 4 tuần 3Giáo án Hoạt động trải nghiệm lớp 1 Chủ đề 4 tuần 3 Ba điều ước – Môn Tập đọc lớp 3 tuần 16Ba điều ước – Môn Tập đọc lớp 3 tuần 16 Bài thi số 1 – Giữa kì II môn Tiếng Việt lớp 4 (Phần viết)Bài thi số 1 – Giữa kì II môn Tiếng Việt lớp 4 (Phần viết) Giáo án Tiếng việt buổi 2 tuần 5 Sách Cánh diềuGiáo án Tiếng việt buổi 2 tuần 5 Sách Cánh diều Giáo án Tiếng Việt học kì II sách Kết nối. Tôi với các bạnGiáo án Tiếng Việt học kì II sách Kết nối. Tôi với các bạn BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ Hướng dẫn làm bài văn miêu tả cây cối Một số biện pháp dạy toán phép chia có dư ở tiểu học Lồng ghép một số trò chơi nhỏ trong bài dạy thể dục nhằm tạo hứng thú cho học sinh Lồng ghép một số trò chơi nhỏ trong bài dạy thể dục nhằm tạo hứng thú cho học sinh Sử dụng phương pháp nhóm đối với học sinh dân tộc thiểu số ở tiểu học Sử dụng phương pháp nhóm đối với học sinh dân tộc thiểu số ở tiểu học Vận dụng phương pháp rút về đơn vị để giúp học sinh yếu học tốt môn toán lớp 5 Vận dụng phương pháp rút về đơn vị để giúp học sinh yếu học tốt môn toán lớp 5 Rèn luyện kỹ năng viết bài văn miêu tả cho học sinh lớp 5 Rèn luyện kỹ năng viết bài văn miêu tả cho học sinh lớp 5 Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn địa lí ở Tiểu học Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN VÀ GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT”
PHẦN MỘT - PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Bất kì trong xã hội nào, nghề giáo cũng luôn được đề cao và quí trọng Đặc biệt là trong chế độ XHCN, nghề giáo lại càng được tôn vinh và được xem là một nghề cao quí trong các nghề cao quí khác Cái nghề “truyền chữ”, “trồng người” này lại không đơn giản, nhất là ở lứa tuổi của các em học sinh mới chập chững làm quen với mái trường, thầy cô, bạn bè… đó là học sinh bậc tiểu học Đây là là lứa tuổi rất nhạy cảm và rất quan
trọng để các em định hướng trưởng thành sau này Chính vì thế Bác Hồ đã nói “ Một
năm bắt đầu từ mùa xuân, một đời bắt đầu từ tuổi trẻ …” Vì vậy nếu không giáo
dục, không uốn nắn các em ngay từ đầu thì rất dễ để cho các em không nắm vững kiến thức, không làm chủ được bản thân và cũng sẽ khó trở thành người có tài, có đức phục
vụ cho đất nước sau này
Đối tượng học sinh cấp tiểu học ở những độ tuổi khác nhau cũng có nhiều dạng khác nhau: có nhiều em rất ngoan, hiền và biết vâng lời thầy cô giáo Nhưng cũng có một số
em thì ngang bướng, ngổ nghịch… Trong đối tượng học sinh này có một dạng gọi là
“học sinh cá biệt” Đó là loại học sinh luôn tạo ra nhiều sự phiền hà và bận rộn hơn cho
giáo viên Để đưa các em học sinh loại cá biệt này vào khuôn khổ không phải giáo viên nào cũng thành công trong việc giáo dục và giảng dạy
Chính vì lẽ đó, nên tôi chọn đề tài “ Phương pháp giáo dục học sinh cá biệt” này
để làm sáng kiến- kinh nghiệm cho bản thân cũng như cho các đồng nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu :
Giúp cho các em học sinh nắm vững các kiến thức cơ bản ở bậc tiểu học nói chung
và kiến thức lớp 5 nói riêng Đồng thời qua đó giáo dục, uốn nắn, bồi dưỡng, giáo dục các em từ những học sinh cá biệt, quậy phá, lười học… trở thành người có ích cho xã hội sau này
Xác định các nguyên nhân chính đã dẫn đến một số em có hành vi chưa đúng, chưa
có động cơ học tập, có đạo đức phẩm chất chưa tốt… Qua đó, giúp cho các em định
Trang 2hướng được ý nghĩa của cuộc sống, định hướng được hành vi và có động cơ học tập tốt hơn
1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
a Đối tượng nghiên cứu:
Các em học sinh thuộc dạng cá biệt trong lớp, có hành vi xấu, hay gây gỗ, chửi thề, nói tục, ý thức học tập không có, kết quả học tập yếu kém, lười học tập và không biết vâng lời thầy cố, bố, mẹ …
b Phạm vi nghiên cứu:
- Tập trung nghiên cứu một số học sinh lớp 5A ở Trường Tiểu học Lê Quý Đôn có hành vi đạo đức chưa tốt, kết quả học tập yếu kém, hay gây gổ
- Tìm hiểu gia cảnh của từng em học sinh cá biệt trong lớp, cùng gia đình theo dõi, nhắc nhở, giáo dục và tạo các điều kiện tốt nhất để các em học sinh đó tham gia học tập và các phong trào do nhà trường tổ chức
2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nắm được thực trạng của một số học sinh cá biệt lớp 5A Trường TH Lê Quý Đôn,
từ đó có phương pháp giáo dục, rèn luyện để tạo cơ hội cho các học sinh ấy tiến bộ hơn, học tập tốt hơn và trở thành học sinh có giáo dục, có trình độ, có phẩm chất đạo đức tốt
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Quan tâm, tìm hiểu nguyên nhân và lí do chính để trả lời cho câu hỏi : Vì sao các
em học sinh đó trở thành học sinh cá biệt ?
- Quan sát, theo dõi quá trình học tập và hoạt động của các em học sinh cá biệt trong lớp ( trước, trong và sau áp dụng các biện pháp giáo dục)
- Trao đổi trực tiếp với gia đình, phụ huynh của các em học sinh thuộc dạng cá biệt trong lớp 5A, đề xuất những biện pháp áp dụng cho từng em học sinh Tùy điều kiện thực tế mà xây dựng các phương án khác nhau để thực hiện
4 Nội dung của đề tài:
Liệt kê và xác định trong lớp có bao nhiêu học sinh cá biệt, phân loại từng
em thuộc dạng cá biệt nào như : học yếu kém, có đạo đức không tốt, hay gây gổ với bạn bè, cứng đầu ……
Trang 3Gồm 3 chương :
- Chương I : Cơ sở lý luận liên quan
- Chương II: Thực trạng của đề tài nghiên cứu
- Chương III : Biện pháp, giải pháp chủ yếu để thực hiện đề tài
PHẦN HAI NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
Chương I :
Cơ sở lý luận liên quan
1.Cơ sở lý luận :
Bất cứ một ai khi đã chọn ngành nghề cho mình thì đều xác định cái đích mình cần đạt đến Cái đích đó tưởng như rất gần, rất dễ thực hiện, nhưng trong thực tiễn không phải như vậy, mà nhiều khi để đạt được phải đổ nhiều mồ hôi, nước mắt và thậm chí cả tính mạng để đạt được nó
Cũng như mọi ngành nghề khác, nghề dạy học (hay thường gọi là ngành giáo) nhất là giáo viên dạy bậc tiểu học cũng không tránh khỏi những vấn đề nan giải ấy Khi
đã chọn cho mình cái nghề này, nó sẽ gắn bó với mình suốt cả cuộc đời, người giáo viên
sẽ sẵn sàng đón nhận bất cứ đối tượng học sinh nào để dạy dỗ cho các em trở thành người
có đức, có tài
Học sinh tiểu học ở lứa từ 10 đến 11 tuổi, các em rất nghịch, hiếu động, chưa làm chủ được bản thân, chưa nhận thức được điều gì là đúng và điều gì là sai, hay bắt chước
và chịu tác động của mọi việc xảy ra xung quan mình Chính vì thế, nếu môi trường tác động tốt thì các em sẽ có những hành vi và đạo đức tốt, còn ngược lại thì sẽ rất tồi tệ, có thể các em sẽ hư hỏng, dối trá, mất tư cách, đạo đức kém…
Tuy nhiên ở lứa tuổi này, các em cũng rất thích được tán dương, khen ngợi Vì vậy chúng ta cần những giải pháp thích hợp để giáo dục và định hướng đúng đắn cho các em học sinh trong các hoạt động giáo dục, học tập và vui chơi lành mạnh, phù hợp với lứa tuổi của các em Chúng ta không thể áp dụng cách thức giáo dục cho lớp mẫu giáo vào bậc tiểu học, cũng không thể áp dụng cách thức giáo dục cho bậc trung học vào học sinh tiểu học Có như vậy, chúng ta mới giáo dục học sinh ở bậc tiểu học phát triển một cách
Trang 4đúng nhất về nhân cách cũng như nhận thức của lứa tuổi mình, đặc biệt là các học sinh dạng cá biệt
Với học sinh dạng cá biệt, cần có những biện pháp riêng, phù hợp với hoàn cảnh của từng em, mà từ đó mới hướng các em đi vào nề nếp Muốn làm điều đó giáo viên cần phải có những hiểu biết nhất định về từng hoàn cảnh, từng nguyên nhân tạo nên những học sinh cá biệt đó và từ đó xây dựng các biện pháp riêng cụ thể áp dụng cho từng em học sinh cá biệt
2./- Cơ sở thực tiễn:
Trong quá trình giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm, bản thân cũng thường xuyên gặp những đối tượng học sinh cá biệt này Nếu không có biện pháp giáo dục hữu hiệu, các học sinh đó thường bỏ học giữa chừng hoặc có những biểu hiện chống lại thầy cô hoặc không nắm được kiến thức căn bản …… Để khắc phục được vấn đề này cần chú ý
2 vấn đề sau :
* Vấn đề thứ nhất : Phải xác định được vị trí và mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh trong quá trình dạy và học.
Phải xem học sinh là trung tâm của vấn đề, trong hoạt động dạy và học, bao giờ cũng nên xem việc giảng dạy và giáo dục chỉ là tác nhân, còn học sinh xuất hiện với tư cách là chủ thể được giáo dục Chúng hoàn toàn chủ động trong mọi công việc từ nhận thức tư duy, đến thái độ và hành vi ứng xử của chúng Giáo viên chỉ là người cố vấn, định hướng, dẫn dắt, chỉ bảo, nhắc nhở, động viên cho các em có được những nhận tức, tư duy
và hành vi ứng xử một cách đúng đắn, lễ phép
* Vấn đề thứ 2 : sự tác động của gia đình và xã hội với học sinh lứa tuổi bậc tiểu học :
Tục ngữ có câu “ Cha nào con nấy ”, đó là dấu ấn của tuổi thơ với hành vi ứng xử của cha, mẹ, nề nếp và gia phong của từng gia đình, đã tác động và ảnh hưởng đến nhân cách của học sinh ở lứa tuổi này Vì vậy tác động của người xung quanh, nhất là những người thường xuyên gần gũi chúng rất là quan trọng
Tuy nhiên, nhân cách của học sinh bậc tiểu học cũng chịu sự tác động rất lớn của xã hội Nếu như chúng bị lôi kéo bởi nhóm thanh niên hư hỏng khác, thì nhất định nhân cách của chúng cũng bị ảnh hưởng Nếu như chúng có môi trường vui chơi, giải trí lành
Trang 5mạnh, được tiếp cận với những thông tin hữu ích thì chúng sẽ trở thành người có nhân phẩm tốt
Chương II:
Thực trạng của đề tài nguyên cứu
1 Khái quát phạm vi:
- Học sinh cá biệt lớp 5A Trường TH Lê Quý Đôn, Năm học : 2012 -2013
- Tổng số học sinh cả lớp là 29 em
2.Thực trạng:
Qua thống kê và theo dõi trong lớp hiện nay có một số em học sinh thuộc dạng cá biệt và thuộc các dạng cá biệt như sau :
a/- Dạng cá biệt về học tập :
Đây là những học sinh lười học tập, không chịu lắng nghe giảng bài, thường vắng học và có kết quả học tập yếu, kém Kết quả khảo sát đầu năm gồm 15 em chiếm tỉ lệ là trên 51,7 % Đa số các em không đọc thông viết thạo, chưa thực hiện được các phép tính
cơ bản… Trong số đó có 7 em thuộc dạng cá biệt về học tập được theo dõi và chi tiết như sau :
toán
hiện phép tính
tính toán rất chậm
Trang 64 Trần Văn Cương Không biết tính toán, viết chậm không đúng
chính tả, đọc chậm
6 Y Báo Đọc quá chậm, viết sai từ, tính toán chưa
thạo
b- Dạng cá biệt về đạo đức :
Qua khảo sát từ đầu năm học 2012-2013, cả lớp có 4 em có đạo đức không tốt, chiếm tỉ lệ là : 13,8% Hầu hết các em này học kém, nói tục, chửi thề và rất hay đánh nhau với bạn bè trong lớp cũng như ở lớp khác Các em thường hay vắng học không lý
do, hỏi ít chịu trả lời… Trong đó có các em sau :
1 Hoàng Văn Quốc - Hay nghỉ học không có lí do
2 Y Báo – Hỏi ít chịu nói
3 Nguyễn Văn Tâm - hay đánh nhau với bạn
4 Trần Văn Cương - rất hung dữ, học yếu, không chịu vâng lời
3.Nguyên nhân của thực trạng:
Qua điều tra cũng như trao đổi với gia đình của từng học sinh, nguyên nhân khiến các em trở thành học sinh cá biệt của lớp là :
- Gia đình lo việc làm ăn , không dành thời gian lo cho con cái, khoán trắng sự giáo dục cho nhà trường
- Đa số các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, neo đơn Nhiều em là con đầu lòng phải phụ giúp cho cha mẹ trong việc đi làm nương rẫy, lo cho em còn nhỏ, đi mót
để mưu sinh…
- Ảnh hưởng phim ảnh không lành mạnh, vì tò mò, bị rủ rê từ những thanh niên ham chơi, lêu lỏng trong thôn xóm
Trang 7- Bị lôi cuốn bởi những phương tiện thông tin đại chúng, những tiêu cực và tệ nạn xã hội
- Bản thân bố mẹ không làm gương cho con cái noi theo
- Gia đình không hòa thuận
Chương III:
Biện pháp , giải pháp chủ yếu để thực hiện đề tài 1.Cơ sở đề xuất các giải pháp:
Căn cứ vào những thực trạng đã điều tra , cả những nguyên nhân dẫn đến thực trạng ấy Tôi nhận thấy rằng, bởi lẽ các em trở thành học sinh cá biệt như vậy là do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến những nguyên chính là do : hoàn cảnh gia đình, sự thờ ơ của xã hội và gia đình trong việc giáo dục và dạy dỗ các em Từ đó tôi
có cơ sở để đề xuất các giải pháp như sau:
a/- Về phía giáo viên :
+ Trước hết phải có cái “Tâm” Xuất phát từ chữ tâm ấy sẽ dễ dàng tiếp cận được các em học sinh, sự bao dung và sự chịu khó sẽ giúp cho giáo viên dễ dàng thuyết phục giáo dục được các học sinh cá biệt Cũng từ chữ tâm ấy, sẽ đẩy trách nhiệm, nghĩa vụ của giáo viên chủ nhiệm lên tầm cao hơn, từ đó trăn trở, suy nghĩ đưa ra biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng
+ Giáo viên phải tôn trọng học sinh dạng cá biệt này, dù các hành vi của chúng có thể gây xúc phạm đến danh dự của mình Đồng thời phải có lòng tin với các em, tin tưởng các em để giao một số công việc phù hợp của lớp cho các em phụ trách
+ Tuyệt đối, giáo viên không được xúc phạm danh dự đến các em học sinh trước tập thể lớp
+ Giáo viên phải chịu khó lắng nghe tâm sự của các em, thường xuyên quan tâm
và hỏi thăm, chăm sóc các em trong các điều kiện có thể Từ đó mới tìm hiểu được nguyên nhân chính dẫn đến sự cá biệt của các em mà tìm giải pháp cho phù hợp an ủi và động viên kịp thời các em khi phát hiện những bi kịch, chuyện buồn mà gia đình cũng như xã hội mang lại
Trang 8+ Giáo viên phải giữ được chữ tín đối với học sinh cả chuyên môn lẫn nhân cách sống Đã hứa làm việc gì thì phải làm đến nơi đến chốn
Với những vấn đề trên, nếu giáo viên áp dụng được sẽ rất dễ dàng tiếp cận và tìm hiểu mọi vấn đề phát sinh khi cần thiết Thực tế trong những năm qua, với những vấn đề
ấy, bản thân tôi đã được các em học sinh cá biệt phải tôn trọng Ban đầu các học sinh cá biệt sống rất tách rời tập thể, thấy cô giáo thì ghét cay, ghét đắng, xong dần dần, tôi đã giúp cho các em hiểu được vấn đề và hiện nay đa số các em sống rất gần gũi với lớp Đặc biệt bất kỳ chuyện gì xảy ra, dù lớn hay nhỏ các em này cũng đều tâm sự và chia sẻ với tôi từ niềm vui đến nỗi buồn Chính đều đó dần dần, tôi đã giúp các em tránh được tự
ti và mặc cảm ban đầu
b/- Về phía học sinh :
+ Giáo viên chủ nhiệm phải nắm được đặc điểm, hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình học sinh cá biệt Để từ đó cảm thông, tránh sự xúc phạm vô tình đến các em và đồng thời tạo nhiều điều kiện hơn để các em phát huy học tập và rèn luyện
+ Giáo viên phải tìm hiểu, khai thác những điểm tốt và điểm yếu cơ bản nhất của học sinh để tác động làm thay đổi tính cách của học sinh cá biệt
+ Giáo viên phải hiểu những suy nghĩ và những điều học sinh muốn Có như vậy mới giúp các em tháo gỡ được những điểm yếu của mình để đạt được điều mình mong muốn chính đáng
c:/- Phía gia đình :
Giữa nhà trường và gia đình phải có sự kết hợp chặc chẽ, sự kết hợp giáo dục này phải diễn ra thật tế nhị và thường xuyên Tránh những hành động nóng nảy của gia đình đối với học sinh như : đánh con khi nghe cô giáo đến thưa chuyện …
Phải thuyết phục được gia đình tạo mọi điều kiện tốt nhất để con, em mình học tập, đồng thời nhắc nhở phụ huynh phải thường xuyên quan tâm đến việc học của con em mình Gia đình phải xem việc giáo dục con em không phải là chỉ riêng nhà trường mà cần phải có một phần trách nhiệm rất lớn từ gia đình
2 Các giải pháp chủ yếu:
Trang 9Năm học 2012-2013 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 5A Trường Tiểu học Lê Quý Đôn Đây là lớp mà các đối tượng học sinh ở rải rác các thôn, buôn : như thôn 1,3 ,Buôn Knha Thôn này nằm cách không xa trường là mấy, nhưng do thôn toàn là người dân tộc thiểu số đời sống rất khó khăn , cha mẹ của các em ít được học hành nên việc học của các em chủ yếu dựa vào bản thân
Những giải pháp chủ yếu như sau :
a./- Tìm hiểu được căn nguyên của từng học sinh cá biệt :
Sau khi đã xác định được các đối tượng học sinh thuộc dạng cá biệt trong lớp cần tổ
chức theo dõi và đánh giá một cách khách quan, trung thực, đúng bản chất của vấn đề Liệt kê ra các nguyên nhân, các lý do mà các em thường vi phạm và mắc phải; liệt kê số lần các em vi phạm, sau mỗi lần đó đã có ai nhắc nhở, giáo dục chưa? Đã cho các em suy ngẫm về lỗi của mình và đã hứa khắc phục hay chưa ? cần phải ghi chép rõ ràng để làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp giáo dục
Trở lại với tình hình học sinh dạng cá biệt của lớp tôi đang chủ nhiệm, nổi lên có 4 học sinh rất cá biệt 4 em này vi phạm nhiều lần, nhắc nhở nhiều lần mà các em vẫn cứ tái phạm Qua tìm hiểu từ bạn bè và đặc biệt tôi đến từng nhà của từng học sinh tìm hiểu và trao đổi trực tiếp với phụ huynh của các em học sinh này, tôi có nhận xét :
Em :Nguyễn Văn Tâm : Đầu năm, em học rất yếu, lại hay thích đánh nhau, nói tục,
chửi thề Gia đình em về kinh tế tương đối ổn định, nên em thường trốn bố mẹ chơi game, bị bạn bè xấu rủ rê Nên tạo cho em tính cách rất giang hồ Sau khi trực tiếp trao đổi với gia đình và đưa ra các biện pháp áp dụng, kiên quyết Đến nay em Phông không những đã trở thành học sinh khá mà các tính xấu đã thay đổi, luôn giúp đỡ bạn bè khi gặp khó khăn, biết vâng lời, phát biểu bài sôi nổi
Em Trần Văn Cương là thuộc dạng rất cá biệt, tính cách rất nóng nảy, nói không
biết vâng lời, học rất yếu kém Gia đình em tương đối khá giả, nên em thường tụ tập đám bạn tiêu xài, chơi game… Bỏ bê việc học, thích đánh nhau Qua quá trình giáo dục, nay
em đã thay đổi cơ bản những tính xấu này, biết vâng lời, biết cố gắng học tập và đã vươn lên mức học trung bình
b./- Xây dựng biện pháp giáo dục cho từng đối tượng
Sau khi tìm hiểu nguyên nhân của từng đối tượng học sinh cá biệt, tôi đã đưa ra các phương án cụ thể cho từng em
Trang 10*/- Nhóm học yếu nhưng biết vâng lời, ham học hỏi :
( Như: em Quốc ,em Bắc …)
Với nhóm những học sinh cá biệt về học lực, những em này xét về gia cảnh thì khó khăn, các em không có thời gian học tập nên có kết quả học tập yếu kém Thực hiện các biện pháp như :
+ Phân công các bạn học khá hơn kèm cặp, cùng làm các bài tập ở nhà hoặc tập viết chính tả, tranh luận các từ sai
+Hàng ngày giáo viên cần giúp đỡ các em trong học tập, giảng lại những bài mà các
em chưa hiểu, giúp các em hoàn thành các bài tập bằng tự lực bản thân
+ Khi giảng bài thường chú ý và hỏi bài đến các đối tượng này, để theo dõi việc hiểu bài của các em mà giảng chậm hoặc giảng lại
+ Trao đổi với phụ huynh, nên giành thời gian cho các em học tập Bố trí cho các em
tổ chức đến nhà cùng nhau ôn tập và rèn luyện bài vở
*/- Nhóm các học sinh cá biệt về đạo đức :
( các em : Tâm, Cương, Y Báo…)
Đây là các em thường có học lực yếu, đi đôi với hành vi không tốt, thường ảnh hưởng đến sự học tập của lớp Biện pháp đưa ra :
+ Gặp riêng từng em, hỏi thăm việc học tập và gia đình của các em Sau đó phân tích những hành vi mà các em đã gây ra đúng sai như thế nào? Tìm hiểu lý do vì sao các
em đó lại có hành vi ấy ?
+ Gặp gia đình, trao đổi và thống nhất các biện pháp giáo dục như :
*/- Hạn chế cho các em tham gia vào các nhóm thanh niên hư hỏng ở địa phương cũng như không cho tham gia vào các tệ nạn như : đánh bài, uống rượu
*/- Thiết lập sổ theo dõi giữa gia đình và lớp Ngày nào giáo viên cũng đánh giá nhận xét việc học tập cũng như hành động của các em vào sổ gửi về cho bố mẹ Và đồng thời cũng lấy ý kiến từ gia đình để giáo viên có biện pháp giáo dục khác Từ đó gia đình luôn nắm bắt được tình hình học tập của con em mình, cùng với nhà trường kèm cặp học sinh tốt hơn
+ Giao cho các em một số nhiệm vụ ở lớp