Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt; Nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng; Chia đôi tài sản chung là thửa đất 496 bằng hiện vật, khôn
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Mã số hồ sơ : LS.DS 07/B4.TH4_DA1/HNGĐ Diễn lần :
Ngày diễn :
TRANH CHẤP
LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN
Nguyên đơn: HOÀNG THỊ HẢO (NGUYỄN THỊ HẢO)
Bị đơn: NGUYỄN VĂN NGUYỆT
Vai trò của luật sư:
LUẬT SƯ ĐẠI DIỆN CHO NGUYÊN ĐƠN
Họ và tên :
Ngày sinh :
Trang 2MỤC LỤC
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN VÀ KẾT QUẢ NGUYÊN CỨU HỒ SƠ 1
1 Đương sự tham gia tố tụng 1
2 Tóm tắt nội dung 1
3 Luật áp dụng để giải quyết vụ án 2
4 Quan hệ pháp luật tranh chấp 2
5 Đánh giá điều kiện khởi kiện 2
5.1 Quyền khởi kiện vụ án 2
5.2 Thẩm quyền giải quyết của toà án 2
5.3 Thời hiệu khởi kiện 2
5.4 Thủ tục tiền tố tụng 2
6 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 2
7 Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 2
II DỰ KIẾN KẾ HOẠCH HỎI 3
1 Hỏi nguyên đơn – chị Hoàng Thị Hảo 3
2 Hỏi bị đơn – anh Nguyễn Văn Nguyệt 3
3 Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị Thoa 3
4 Hỏi người làm chứng 4
III DỰ THẢO BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN 5
IV NHẬN XÉT VỀ VIỆC ĐÓNG VAI TẠI PHIÊN DIỄN ÁN 10
Trang 3I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN VÀ KẾT QUẢ NGUYÊN CỨU HỒ SƠ
1 Đương sự tham gia tố tụng
Nguyên đơn: (Chị) Hoàng Thị Hảo
Bị đơn: (Anh) Nguyễn Văn Nguyệt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
(Bà) Nguyễn Thị Thoa và (Ông) Nguyễn Văn Cang;
UBND Thành phố Hải Dương, đại diện
2 Tóm tắt nội dung
Ngày 26/03/1999, chị Hoàng Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách (nay là Thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương Việc kết hôn này dựa trên sự tự nguyện của 2 người
Sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, hai người sống ly thân hơn 01 năm kể từ năm 2014
Ngày 02/01/2016 chị Hảo khởi kiện vụ án ra Toà án nhân dân Thành phố Hải Dương và vụ án được thông báo thụ lý ngày 10/01/2016
Về con chung: 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/01/2000) và Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/06/2007)
Kể từ khi ly thân, cháu Nhi đang sống cùng chị Hảo Cháu Nhi có đơn đề nghị được ở với mẹ (BL 30)
Kể từ khi ly thân, cháu Đức Anh sống cùng anh Nguyệt Cháu Đức Anh có đơn dề nghị ở với mẹ, sau làm đơn đề nghị ở với bố (BL 31-32)
Về tài sản chung:
Chị Hảo xác định:
+ Nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Tài sản gắn liền trên đất bao gồm: 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m3;
+ 1965m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại: Bãi Nam, khu 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, Tp Hải Dương để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng Sau, anh Nguyệt và chị Hảo làm đơn đề nghị Tòa án không giải quyết về tài sản này
Anh Nguyệt xác định:
+ Không có tài sản chung là thửa đất số 496;
Trang 4+ Tài sản chung chỉ bao gồm 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m3
Về nợ chung: Khoản nợ đối với ngân hàng Agribank: nợ gốc 20.000.000 và số tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán hợp đồng Đã hoàn thành trả vào 28/06/2016
và ngân hàng Agribank đã hoàn trả lại GCNQSDĐ đối với thửa đất 496 (BL 148-154)
Sau nhiều phiên hoà giải không thành, ngày 03/08/2017 Toà án nhân dân Thành phố Hải Dương đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo Quyết định số: 73/2017/QĐST-DS
3 Luật áp dụng để giải quyết vụ án
Luật hôn nhân gia đình năm 2014 (Luật HNGĐ 2014) và các văn bản hướng dẫn
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) và các văn bản hướng dẫn
4 Quan hệ pháp luật tranh chấp
Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn;
Tranh chấp nuôi con chung;
Tranh chấp chia tài sản chung
5 Đánh giá điều kiện khởi kiện
5.1 Quyền khởi kiện vụ án
Chị Hoàng Thị Hảo có quyền khởi kiện vụ án theo quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015
5.2 Thẩm quyền giải quyết của toà án
Vụ án thuộc trường hợp yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 2 Điều 29 BLTTDS 2015
Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37
Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nơi bị đơn cư trú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39
Từ các căn cứ trên Toà án có thẩm quyền giải quyết cấp sơ thẩm đối với tranh chấp này là Toà án nhân dân TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương
5.3 Thời hiệu khởi kiện
Trang 5Vụ án này không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015
5.4 Thủ tục tiền tố tụng
Theo quy định tại Điều 52 Luật HNGD 2014, không bắt buộc phải có thủ tục hoà giải trước khi nộp đơn khởi kiện ra toà trong vụ án này
6 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt;
Nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng;
Chia đôi tài sản chung là thửa đất 496 bằng hiện vật, không yêu cầu giải quyết các tài sản còn lại
7 Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Các chứng cứ ban đầu chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp bao gồm:
Bản sao sổ hộ khẩu gia đình số 270056469 (BL 05-07) – xác minh tư cách cá nhân của chị Hảo
Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/03/1999 (BL 02) – hôn nhân giữa anh Nguyệt và chị Hảo là tự nguyện và đúng pháp luật;
Bản sao Giấy khai sinh cháu Nhi số 73 quyển số 2014 và cháu Nguyễn Đức Anh
số 38 quyển số 2007 (BL 03-04) – chứng minh về con chung;
Đơn đề nghị của cháu Nhi (BL 30) – chứng minh mong muốn được ở với mẹ của cháu Nhi;
Đơn đề nghị của cháu Đức Anh (BL 31) – chứng minh mong muốn được ở với mẹ của cháu Đức Anh;
Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496 đứng tên anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Hoàng Thị Hảo (BL 08-11) – chứng minh về tài sản chung
Trang 6II DỰ KIẾN KẾ HOẠCH HỎI
Mục đích: Làm sáng tỏ các sự việc, đồng thời chứng minh yêu cầu của Nguyên đơn - chị Hoàng Thị Hảo là có căn cứ và hợp pháp
1 Hỏi nguyên đơn – chị Hoàng Thị Hảo
Chị Hảo cho biết, tại sao chị lại quyết định ly hôn?
Chị cho biết, hiện tại chị đang làm công việc gì? Ở đâu? Mức thu nhập là bao nhiêu?
Kể từ khi ly thân, chị sống ở đâu? Cùng với ai?
Kể từ khi ly thân, chị có gặp cháu Đức Anh không?
Ai là người kê khai để cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 496?
Kể từ khi biết anh chị được cấp GCNQSDĐ, có ai có ý kiến gì không? Có tranh chấp gì không?
Trong quá trình ở trên diện tích đất, anh chị đã tôn tạo và xây dựng những gì? Có
ai có ý kiến gì không?
2 Hỏi bị đơn – anh Nguyễn Văn Nguyệt
Anh Nguyệt cho biết, anh có thường xuyên chơi bài, uống rượu không?
Anh cho biết, trong thời gian hôn nhân, anh có từng có hành vi đánh chị Hảo không?
Kể từ khi ly thân, cháu Đức Anh có được gặp mẹ không? Cháu được gặp mẹ mấy lần?
Việc anh chị được cấp GCNQSDĐ, có ai có ý kiến gì không? Có tranh chấp không?
3 Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị Thoa
Bà có biết việc anh Nguyệt và chị Hảo được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số
496 không?
Việc vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo xây nhà trên thửa đất số 496, bà có ý kiến gì không?
Từ lúc vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo được cấp GCNQSDĐ đến trước khi ly thân, bà có ý kiến gì không?
Từ năm 1999 đến nay, bà có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất đối với thửa đất này không?
4 Hỏi người làm chứng
Hỏi ông Bích – công chức địa chính xã Thượng Đạt
Trang 7 Sau khi vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo được cấp GCNQSDĐ, UBND xã có nhận được bất kỳ ý kiến, thư khiếu nại nào không?
Ông cho biết, có tranh chấp gì đối với thửa đất số 496 không?
Hỏi ông Tư – cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt
Ông cho biết, việc anh Nguyệt đánh và không cho cháu Đức Anh gặp chị Hảo có được nhiều người biết không?
Trang 8III DỰ THẢO BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN LUẬN CỨ
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn chị Hoàng Thị Hảo
trong vụ án dân sự sơ thẩm “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản”
– CHỦ TOẠ - THẨM PHÁN … – ĐẠI DIỆN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TP HẢI DƯƠNG
Kính thưa Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện kiểm sát và các vị Luật sư đồng nghiệp,
Tôi là Luật sư … thuộc Văn phòng Luật sư …, Đoàn Luật sư …, hôm nay đến đây tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Hoàng Thị Hảo - là nguyên đơn trong vụ án dân sự sơ thẩm “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản” với bị đơn là anh Nguyễn Văn Nguyệt
Vụ án hiện đang được TAND TP Hải Dương tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm theo hồ sơ thụ lý số 02/TB-TLVA ngày 10 tháng 1 năm
2016 Nay được đem ra xét xử theo Quyết định số 73/2017/QĐST-DS, ký ngày ngày 03 tháng 08 năm 2017
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành và qua diễn biến thực tế của phiên tòa hôm nay, tôi trình bày quan điểm bảo vệ cho nguyên đơn như sau:
Về yêu cầu ly hôn:
Chị Hoàng Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn hợp pháp với nhau trên cơ sở tự nguyện theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 26/03/1999 Tuy nhiên, chỉ sau 02 năm, đời sống hôn nhân của anh Nguyệt và chị Hảo đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn
Theo như lời trình bày của cả hai bên thì quan hệ hôn nhân của vợ chồng anh Nguyệt và chị Hảo đã mâu thuẫn đến mức đỉnh điểm, không thể hòa giải được Hai anh chị đã ly thân từ ngày 14/12/2014 Từ đó đến nay, chị Hảo xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa Vì vậy, chị Hảo có mong muốn được ly hôn với anh Nguyệt Anh Nguyệt cũng xác
Trang 9nhận không còn tình cảm vợ chồng và cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị Hảo
Do vậy, có thể khẳng định rằng hôn nhân của hai bên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt
được Do vậy, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật
HNGĐ 2014 và các chứng cứ tại hồ sơ cũng như ý chí của hai bên tại phiên tòa
hôm nay, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyệt và chị Hảo
Về việc nuôi con chung:
Đối với cháu Nguyễn Thị Nhi
Cháu Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04/01/2000, là con chung của anh Nguyệt và chị Hảo trong thời kỳ hôn nhân
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyệt và chị Hảo đã đạt được thỏa thuận về việc chị Hảo sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nhi, thể hiện tại các biên bản hòa giải (BL 115-120, 138-142, 175-177)
Đồng thời, cháu Nhi cũng có đề nghị được ở với mẹ thông qua Đơn đề nghị (BL 30) và xét khả năng kinh tế cũng như các yếu tố khác của chị Hảo thì có thể đáp ứng tốt việc nuôi dạy cháu Nhi
Đối với cháu Nguyễn Đức Anh
Cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/06/2007, là con chung của anh Nguyệt
và chị Hảo trong thời kỳ hôn nhân, tính đến thời điểm hiện tại cháu Đức Anh đã trên 07 tuổi
Thứ nhất, theo đơn đề nghị (BL 31) và Biên bản lấy lời khai (BL 166), có thể thấy
được nguyện vọng của cháu Đức Anh, “nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu xin được ở với mẹ cháu” Hiện nay cháu Đức Anh đang trong độ tuổi phát triển nhận thức của trẻ nhỏ là độ tuổi khá nhạy cảm về dễ bị ảnh hưởng về tâm lý và tính cách Trong bối cảnh cha mẹ ly hôn, việc cháu được ở cùng với mẹ và chị gái sẽ tốt hơn cho cháu và bản thân cháu cũng
đã thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ tại biên bản lấy lời khai của Quý tòa ngày 05/07/2016 (BL 166) có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thoa là bà nội của cháu
Thứ hai, về vấn đề kinh tế và khả năng nuôi dưỡng, hiện nay, chị Hảo đang sống ở
nhà mẹ đẻ và có công việc với mức lương khá và nơi ở ổn định, cùng với đó là sự giúp
đỡ của mẹ ruột chị trong việc trông nom, nuôi dạy các cháu Điều này thể hiện ở phần xét hỏi tại phiên tòa ngày hôm nay, biên bản lấy lời khai của chị Hảo (BL 108-109) Nói cách khác, chị Hảo hoàn toàn có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu Đức Anh
Ngoài ra, trong thời gian qua khi cháu Đức Anh ở với bố, anh Nguyệt đã không cho
Trang 10chính quyền và bà con hàng xóm láng giềng đều biết và ông Đỗ Văn Tư - cán bộ tư pháp
xã Thượng Đạt cũng đã xác nhận thực tế này thông qua biên bản xác minh ngày 09/03/2016 (BL 73-74) Như vậy, nếu như anh Nguyệt được giao nuôi cháu Đức Anh thì sau khi ly hôn, quyền được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đức Anh
của chị Hảo theo khoản 2 Điều 83 Luật HNGĐ 2014 không được bảo đảm.
Như vậy, việc chị Hảo yêu cầu nuôi cả 2 con chung là cháu Nhi và cháu Đức Anh và không cần cấp dưỡng là hoàn toàn phù hợp với các quy định pháp luật cũng như thực tế hiện tại và mong muốn của cháu Đức Anh và cháu Nhi Tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử
căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Hảo.
Về việc yêu cầu chia đôi tài sản chung:
Tài sản chung yêu cầu phân chia sau khi ly hôn của anh Nguyệt và chị Hảo chỉ có ngôi nhà và các công trình phụ nằm trên thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
Thứ nhất, vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo được ông bà Cang – Thoa cho thửa đất số
496 để xây nhà và sinh sống
Chị Hảo và anh Nguyệt đều thống nhất rằng anh chị đã được bố mẹ chồng là bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang cho vợ chồng xây dựng nhà và công trình phụ để ra ở riêng từ năm 1999 sau khi kết hôn Điều này cũng đã được thể hiện qua Biên bản lấy lời khai của ông Ông Đỗ Văn Tỏ (BL 69-70), là anh em trong họ với anh Nguyệt xác nhận cùng với Biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Giới (BL 67-68) và một số thợ khác đã xây nhà và công trình phụ cho hai vợ chồng năm 1999
Thứ hai, thửa đất này đã được cấp GCNQSDĐ cho hai vợ chồng chị Hảo và anh
Nguyệt từ năm 2005 một cách hợp pháp và trong suốt thời gian đó đến này không hề phát sinh bất kỳ tranh chấp nào
Ngày 31/12/2005, UBND huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương đã cấp cho anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Hoàng Thị Hảo GCNQSDĐ đối với thửa đất số 496,
tờ bản đồ số 1, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt Công văn ngày 10/6/2016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường UBND TP Hải Dương (BL 133-134) đã xác nhận với Quý tòa về việc cấp GCNQSDĐ cho thửa số 496 nói trên cho anh Nguyệt và chị Hảo trong khuôn khổ cấp đồng loạt cho cả 30 hộ dân trong xã Thượng Đạt bảo đảm đúng quy định của pháp luật và không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSDĐ này của anh Nguyệt, bà Thoa và ông Cang
Tại buổi hòa giải ngày 19/5/2016 do Quý tòa thực hiện (BL 115-120) , bà Thoa nêu rằng đã biết việc anh Nguyệt và chị Hảo được cấp GCNQSĐ và bà Thoa và mọi người trong gia đình không ai có ý kiến phản đối hay thắc mắc gì, không ai
Trang 11tranh chấp gì Bên cạnh đó, tại biên bản xác minh ngày 23/6/2016 (BL 163-164) ông Bích cán bộ địa chính xã Thượng Đạt xác nhận kể từ khi được cấp GCNQSDĐ đến nay anh Nguyệt và chị Hảo sử dụng đất ổn định không có tranh chấp với các hộ giáp ranh cũng như với ông Cang, bà Thoa và các thành viên khác trong gia đình anh Nguyệt không có bất kỳ ý kiến nào
Công văn ngày 10/6/2016 (BL 133-134) nói trên của Phòng Tài nguyên và Môi trường cũng nêu rõ ông Cang, bà Thoa đã biết việc anh Nguyệt chị Hảo được cấp GCNQSDĐ nhưng tất cả đều không có ý kiến về việc cấp GCNQSDĐ nêu trên và các thành viên trong gia đình ông Cang, bà Thoa không ai có tranh chấp hay ý kiến phản đối gì
Như vậy, các tài liệu và chứng cứ nêu trên cho thấy rõ ràng rằng bà Thoa và ông
Cang đã giao lại toàn bộ thửa đất số 496 cho vợ chồng chị Hảo và anh Nguyệt sau khi hai người kết hôn năm 1999 Hai vợ chồng đã xây dựng một nhà 18m2 lợp ngói kiên cố, 1 gian bếp và nhà vệ sinh, 1 giếng khơi và 1 bể xây gạch xi măng trên thửa đất này Bà Thoa, ông Cang và các thành viên trong gia đình anh Nguyệt đều biết việc xây dựng này
và không ai có ý kiến gì
Thứ ba, trong thời gian sống trên thửa đất số 496, chị Hảo góp công tôn tạo cho thửa
đất cùng anh Nguyệt
Lúc ban đầu thửa đất này là đất thùng vũng sâu (đất ao) mới chỉ được san lấp được một phần để xây nhà và công trình phụ Hai vợ chồng chị Hảo và anh Nguyệt hàng năm
đã bỏ công sức và tiền ra tôn tạo mảnh đất mới được như hiện nay Tại bản xác minh của Quý tòa ngày 9/3/2016 (BL 75-76), ông Nguyễn Văn Bích, cán bộ địa chính xã Thượng Đạt đã xác nhận rằng thửa đất này trước đây là thùng vũng
Và tại biên bản lấy lời khai của Quý tòa ngày 9/3/2016 (BL 71-72), ông Đỗ Văn Tạo
là hàng xóm của hai vợ chồng đã nêu rõ tại thời điểm năm 2002 chị Nguyệt và anh Hảo
đã ở trên thửa đất được một thời gian và khi đó diện tích thùng vũng chiếm khoảng ¾ thửa đất, ông Tạo đã giúp phun bùn bồi lắp và đến năm 2004 có thấy hai vợ chồng tiếp tục đắp thêm cho thửa đất thùng vũng này
Trong quá trình ở từ năm 1999, chị Hảo và anh Nguyệt đã có nhiều công tôn tạo để biến thửa đất thùng vũng này thành đất ở như hiện nay Kể từ khi được cấp GCNQSDĐ năm 2005 đến khi có việc ly hôn của chị Hảo và anh Nguyệt đã hơn
10 năm, vợ chồng chị Hảo và anh Nguyệt đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai,
ổn định, gia đình bà Thoa, ông Cang cũng không ai có khiếu nại gì về việc cấp đất, xây nhà này Điều đó thể hiện ý chí của gia đình bà Thoa, ông Cang là đã cho vợ