Đại Đình là xã miền núi nằm ở phía Bắc của huyện Tam Đảo, tổng diện tích tự nhiên của xã là 3456,2 ha. Trong đó diện tích trồng trọt là 512ha, còn lại là đất đồi rừng, thổ cư và ao hồ. Phía Đông Bắc Đại Đình là dãy núi Tam Đảo hùng vĩ nằm án ngữ tạo nên ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Thái Nguyên, phía Tây Đại Đình giáp huyện Lập Thạch, phía Nam giáp các xã Đồng Tĩnh, Hoàng Hoa, Tam quan. Xã có tuyến đường tỉnh lộ 302 chạy qua, tạo thuận lợi cho Đại Đình trong quá trình giao lưu kinh tế, văn hóa – xã hội.
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
-
BÁO CÁO MÔN: PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG
Địa điểm: Thôn Giáp Giang - xã Đại Đình
- huyện Tam Đảo- tỉnh Vĩnh Phúc
Hà Nội 20
Trang 22
MỤC LỤC
Phần 1 HỒ SƠ CỘNG ĐỒNG 3
1.1 Vị trí địa lý 3
1.2 Địa hình 3
1.3 Khí hậu 3
1.4 Cảnh quan môi trường 4
1.5 Dân số, dân tộc 4
1.6 Khái quát tình hình kinh tế - văn hóa- giáo dục 5
1.7 Cơ sở hạ tầng, kĩ thuật 7
1.8 Bộ máy tổ chức và cơ cấu chính trị hiện hành 7
Phần 2 KHẢO SÁT CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG 9
2.1 Văn hóa truyền thống 9
2.2 Văn hóa hiện đại 10
Phần 3 ĐÁNH GIÁ NHU CẦU VĂN HÓA 12
Phần 4 KẾ HOẠCH XÂY DỰNG CÂU LẠC BỘ SOỌNG CÔ CHO NGƯỜI SÁN DÌU TẠI THÔN GIÁP GIANG- XÃ ĐẠI ĐÌNH- TAM ĐẢO- VĨNH PHÚC 16
4.1 Mục tiêu 16
4.2 Nguồn lực và trở ngại 16
4.3 Kế hoạch hành động 19
4.4 Chuẩn bị kinh phí ban đầu 21
PHỤ LỤC 22
Trang 3Đại Đình trước đây là cương vực của các làng Hữu Tài, Đại Điền, Suối Đùm, Lán Than, Sơn Thanh, Sơn Phong, Đông Lính, Sơn Đình, Ấp Đồn, Trại Mới, Đền Thỏng, Đông Lộ, Đồng Hội, Lõng sâu và Giáp Giang thuộc tổng Quan ngoại huyện Tam Dương Năm 1927 tổng Quan Ngoại thêm làng Quan Đình và Luận Phẩm tồn tại đến trước cách mạng Tháng 8/1945 Đến đầu năm 1946, theo chủ trương của Chính phủ cấp tổng bị bãi bỏ để lập Đại xã, vì vậy các làng thuộc tổng Quan Ngoại sáp nhập thành xã Đại Đình như ngày nay
1.1.2 Thôn Giáp Giang
Thôn Giáp Giang là một trong 15 thôn thuộc xã Đại Đình, có diện tích 45
ha với dân số 675 người
1.2 Địa hình
Thôn Giáp Giang có địa hình khá phức tạp, đa dạng, nhiều gò đồi
1.3 Khí hậu
Khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình 180C-190C, độ ẩm cao, quanh năm
có sương mù tạo cảnh quan đẹp Khí hậu tiểu vùng miền núi mang sắc thái của khí hậu ôn đới, tạo lợi thế trong phát triển nông nghiệp với các sản vật ôn đới
Trang 41.4.2 Thôn Giáp Giang
Tuy không nằm trên địa bàn thôn nhưng những đền, chùa và điểm du lịch như đền Trình, đền Bà Chúa Mán, Thiền viện Trúc lâm Tây Thiên cách thôn không xa, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân
1.5 Dân số, dân tộc
1.5.1 Xã Đại Đình
Toàn xã Đại Đình có 15 thôn, dân số là 10.003 nhân khẩu, có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống như: Kinh, Sán Dìu, Thái, Mường, Dao; có 02 đạo chính là Thiên Chúa giáo và Phật giáo, trong đó đạo Thiên Chúa chiếm 11,2% còn lại là đạo Phật
1.5.2 Thôn Giáp Giang
Thôn Giáp Giang là một trong số 15 thôn của xã Đại Đình, dân số 675 người, đây là thôn mà đa số là người dân tộc Sán Dìu
Đặc điểm dân số lao động trên địa bàn thôn Giáp Giang: dân số lao động dưới hình thức nông nghiệp bao gồm trồng cây lương thực và hoa màu trong đó
Trang 55
việc canh tác lúa được tiến hành trên ruộng bậc thang Bên cạnh đó lĩnh vực nông nghiệp không chỉ có hoạt động trồng trọt mà còn có sự kết hợp với hoạt động chăn nuôi Tỷ lệ người dân trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 65%, tỷ
lệ người dân ngoài lao động chiếm khoảng 35%
* Một số nét khái quát về dân tộc Sán Dìu:
Người Sán Dìu là một dân tộc ít người sinh sống ở miền trung du của một
số tỉnh miền Bắc Việt Nam Các tên gọi khác: Sán Déo,Trại, Trại Đất, Mán quần cộc, Mán váy xẻ
Dân tộc này thuộc về nhóm ngôn ngữ Hoa với dân số khoảng 126.237 người Dân tộc Sán Dìu được tạo lập từ thời nhà Minh tại Quảng Đông, Trung Quốc, sau đó dần dần di chuyển đến Việt Nam Dân tộc Sán Dìu chủ yếu sống ở miền trung du các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Hải Dương
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Sán Dìu ở Việt Nam có dân số 146.821 người, có mặt tại 56 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố trong đó người Sán Dìu cư trú tại Vĩnh Phúc là 36.821 người, chiếm 36% dân
số toàn tỉnh Vĩnh Phúc Cư trú rải rác quanh chân núi Tam Đảo, từ xã Ngọc Thanh (thị xã Phúc Yên) đến một số xã ở huyện Bình Xuyên, huyện Tam Đảo, Tam Dương tới Lập Thạch
1.6 Khái quát tình hình kinh tế - văn hóa- giáo dục
1.6.1 Kinh tế
1.6.1.1 Xã Đại Đình
Theo Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế- xã hội của xã Đại Đình năm 2014:
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng:
- Nông, lâm, thủy sản từ 39% xuống còn 34% , giảm 5% so với cùng kỳ
- Công nghiệp xây dựng từ 24%lên 26% tăng 2% so với cùng kỳ
- Thương mại – dịch vụ từ 37% lên 40% tăng 3% so với cùng kỳ
Đại Đình là xã có thế mạnh về chăn nuôi nhằm giải quyết việc làm , tăng thu nhập cho nhân dân
Trang 6Do có khu di tích danh thắng Tây Thiên nên đây là điều kiện rất thuận lợi
để Đại Đình triển khai các dịch vụ du lịch Hiện, toàn xã có trên 2.500 người làm dịch vụ, chiếm 25% dân số của địa phương Trong đó, có 20 hộ kinh doanh dịch vụ vận tải; hơn 200 hộ buôn bán vừa và nhỏ; 80 hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống; 30 hộ có nghề làm đồ thủ công phục vụ du lịch như: chuồn chuồn, sáo thổi, trồng cây phong lan, bán đồ lưu niệm phục vụ mùa lễ hội,
Về tài chính ngân sách: Xã tích cực khai thác các nguồn thu trên địa bàn Thu ngân sách năm 2014 là: 8.600 triệu đồng; chi ngân sách năm 2014 là: 8.500 triệu đồng
1.6.1.2 Thôn Giáp Giang
Cộng đồng người dân thôn Giáp Giang phần lớn tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp với hình thức canh tác chủ yếu tiến hành trên mô hình ruộng bậc thang Bên cạnh đó, hoạt động nông nghiệp không chỉ bao gồm hình thức sản xuất lúa, ngô cùng các loại rau màu mà còn đi kèm với hoạt động chăn nuôi
1.6.2 Văn hóa – xã hội
Tại xã Đại Đình, năm 2014 đã có 11 thôn đạt làng văn hóa, và có 82,85%
số hộ đạt gia đình văn hóa Tuy nhiên, thôn Giáp Giang chưa đạt được danh hiệu này
Năm 2015, theo báo cáo, từ đầu năm đến nay Ban chỉ đạo Xây dựng nông thôn mới (XDNTM) xã Đại Đình đã chủ động triển khai kế hoạch XDNTM năm 2015, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền vận động các ban ngành, đoàn thể,
Trang 77
các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia cho đến hết tháng 7/2015 xã Đại Đình đã thực hiện và đạt 11/19 tiêu chí Nông thôn mới
Về các tổ chức cộng đồng: Trên địa bàn thôn Giáp Giang chưa có những
tổ chức cộng đồng thực sự Hầu hết là những nhóm người có chung những sinh hoạt văn hóa tập thể với nhau mang tính tự phát
1.6.3 Giáo dục
- Đã phổ cập giáo dục trong toàn xã Hiện có 3 cấp học với 70 lớp; tổng số học sinh là 1822 em; tổng số giáo viên là 112 giáo viên Đến nay, xã đã có 3 trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1 Nhìn chung ngành giáo dục đã có nhiều chuyển biến tích cực
- Thôn Giáp Giang: cũng đã được phổ cập giáo dục trong toàn thôn
1.7 Cơ sở hạ tầng, kĩ thuật
Toàn bộ người dân trong thôn đều được phổ cập giáo dục
Được cung cấp đầy đủ điện phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất
Trạm y tế bảo đảm công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân Hệ thống mạng lưới điện được nâng cấp cải thiện
Hệ thống đường giao thông mới được bê tông hóa tại các trục chính của
xã Tuy nhiên, đường giao thông của người dân trong thôn Giáp Giang vẫn chưa được bê tông hóa, chưa được nâng cấp, hoàn thiện và vẫn còn thô sơ
1.8 Bộ máy tổ chức và cơ cấu chính trị hiện hành
Tổ chức bộ máy
- Bí thư Đảng ủy - Chủ tịch HĐND: Ông Diệp Ánh Nguyệt
- Phó Bí thư Đảng ủy: Ông Lý Văn Bằng
- Phó Chủ tịch HĐND: Ông Trần Quốc Bình
- Phó Chủ tịch UBND: Ông Hồ Văn Hải
- Phó Chủ tịch UBND: Ông Phạm Tùng Lâm
Cơ cấu chính trị hiện hành:
- Cấp xã: đã thiết lập được bộ máy chính quyền với đầy đủ các chức vụ của các cán bộ, các bộ phận trong đó đã xây dựng được Ban văn hóa xã
Trang 88
Đồng thời, đã xây dựng được các tổ chức chính trị xã hội như: Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Liên Đoàn lao động, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Nông dân
- Cấp thôn: cũng đã thiết lập được những bộ phận quản lý đời sống nhân dân nói chung cũng như đời sống văn hóa của nhân dân nói riêng
Trang 99
Phần 2 KHẢO SÁT CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG
2.1 Văn hóa truyền thống
Thôn Giáp Giang là thôn mà đại đa số là người dân tộc Sán Dìu nên cộng đồng cư dân nơi đây không thể không mang trong mình những giá trị văn hóa của người Sán Dìu
Văn hóa thơ ca dân gian phong phú, dùng thơ ca trong sinh hoạt hát đối nam nữ Soọng Cô rất phổ biến
Soọng cô là làn điệu dân ca đặc sắc của đồng bào dân tộc Sán Dìu, được lưu giữ hàng trăm năm trong kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian ở Vĩnh Phúc Hát Soọng Cô chủ yếu là phần đối đáp giao duyên, sau đó là phần hát trong đám cưới
Soọng Cô được hát theo sách, có bài bản sẵn Người đi hát phải thuộc sách hát Họ dẫn câu hát trong sách ra để hát đố, người đáp cũng trích ra những câu hợp cảnh, hợp tình để hát đáp câu hỏi Họ hát những câu hát nói về tình yêu lứa đôi, thiên nhiên, ca ngợi tình nghĩa thủy chung vợ chồng, ca ngợi công lao ông bà, cha mẹ, răn dạy con người sống có đức, có nhân, có hiếu,…Khi hát lên
có giọng điệu dặt dìu, réo rắt, lúc ngân cao, lúc trầm ấm làm say lòng người Trước kia vào mỗi dịp xuân về, thời điểm nông nhàn, lễ hội hay các đám cưới, hỏi thanh niên nam, nữ người dân tộc Sán Dìu thường rủ nhau đi hát Soọng Cô Qua mỗi làng họ dừng lại hát một đêm, hôm sau cùng rủ thanh niên nơi đó nhập vào đám hát đến các làng khác Có khi đám hát có tới vài chục người, kéo dài cả chục ngày rất sôi nổi Mỗi đêm hát đều có các bước: Chập tối hát gọi mời ngồi xuống chiếu, mời nước, mời trầu Nửa đêm là hát hỏi: hỏi về quê quán, gia sư, hát thăm dò, tìm hiểu nghề nghiệp, ý nguyện của nhau, … Canh ba chủ nhà mời
ăn lót dạ xôi hoặc chè… Sau đó, là hát chào, hát xin về, hát níu giữ nhau Sáng
ra thì họ vừa tiễn nhau ra cổng, vừa hát hẹn hò Từ những đêm hát mà có biết bao đôi trai gái đã bén duyên nhau Soọng Cô trong đám cưới thường do các cặp
Trang 10Trong đời sống tín ngưỡng cũng rất phong phú và đa dạng Họ đã sáng tạo ra rất nhiều tranh dân gian và tượng dân gian để phục vụ nhu cầu đời sống tâm linh
Tang lễ: người Sán Dìu Tam Đảo có phong tục “ nhất táng thiên thu” (người chết chỉ chôn một lần không cải táng như phong tục của người Kinh), do vậy, việc chăm sóc “ nhà của” của tổ tiên, ông bà, cha mẹ hàng năm rất được coi trọng Dịp thanh minh hàng năm sẽ có một ngày chính trước hoặc sau 3 ngày (lấy ngày chính hội làm mốc) người Sán Dìu sẽ tụ họp con cháu đi tảo mộ
2.2 Văn hóa hiện đại
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, người dân thôn Giáp Giang cũng tham gia vào quá trình hội nhập văn hóa, tiếp thu những giá trị văn hóa hiện đại Tuy nhiên, các hình thức ca nhạc, giải trí hiện đại này đang có xu thế lấn át những hình thức văn hóa truyền thống
Những hình thức sinh hoạt văn hóa hiện đại nói chung, những dòng nhạc hiện đại nói riêng không chỉ có những bài hát ca ngợi tình yêu quê hương đất nước mà còn có những bài hát ca ngợi tình yêu đôi lứa Với giai điệu ngọt ngào,
ca từ dễ hiểu, phong phú phù hợp với tâm lý của giới trẻ hiện nay; bên cạnh đó
là sự hòa nhập giữa cộng đồng người Kinh và đồng bào dân tộc Sán Dìu đã làm cho việc tiếp thu luồng văn hóa hiện đại thật sự dễ dàng, diễn ra nhanh chóng
Đó cũng là điều dễ hiểu Luồng văn hóa hiện đại này khi du nhập vào cộng đồng người dân tộc Sán Dìu đã phần nào tạo điều kiện giúp đồng bào có cơ hội tiếp xúc với xu thế hiện nay, giao lưu với những nét văn hóa mới, quan trọng hơn là nó đã góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần cho đồng bào
Trang 1111
Mặc dù có những giá trị tích cực trong việc đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của đồng bào nhưng đi kèm với nó là sự “lấn át” đối với điệu hát Soong Cô truyền thồng- vốn đã là tiếng nói riêng của đồng bào dân tộc Sán Dìu Việc tiếp thu những giá trị văn hóa hiện đại nhưng chưa có sự chọn lọc đúng mức đã đẩy điệu hát Soong Cô tới nguy cơ bị mai một, bị lãng quên Sự mai một này nếu không được ngăn chặn một cách nhanh chóng và kịp thời thì chắc chắn sẽ có nguy cơ bị lãng quên, làm mất đi một nét đặc trưng văn hóa của đồng bào dân tộc Sán Dìu nói riêng, ảnh hưởng đến kho tàng văn hóa phong phú, đa dạng của dân tộc Việt Nam nói chung
Việc tiếp thu những giá trị văn hóa hiện đại là vô cùng quan trọng nhưng cần có sự chọn lọc để một mặt có thể bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống mặt khác phát triển phát huy những giá trị văn hóa ấy đáp ứng xu thế của thời đại, tránh khỏi nguy cơ tụt hậu
Trang 1212
Phần 3 ĐÁNH GIÁ NHU CẦU VĂN HÓA 3.1 Thực trạng
3.1.1 Thực trạng điệu hát Soọng Cô tại Vĩnh Phúc :
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 26 câu lạc bộ hát Sọong cô, phân bố chủ yếu ở những địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc Sán Dìu sinh sống như: Xã Trung Mỹ huyện Bình Xuyên, xã Ngọc Thanh thị xã Phúc Yên và hầu khắp các
xã trên địa bàn huyện Tam Đảo Chiếm phần đông dân số là người Sán Dìu, Tam Đảo được coi là cái nôi của điệu hát Soọng cô Thế nhưng một thực tế hiện nay là thế hệ trẻ người Sán Dìu không còn mặn mà với làn điệu dân ca truyền thống của dân tộc mình Lo lắng nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng này bị mai một, các cụ cao niên trong thôn làng ở các xã như Yên Dương, Đại Đình, Hợp Châu, Minh Quang, Hồ Sơn đã thành lập các CLB Soọng cô nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Toàn huyện có 22 CLB Soọng cô, riêng xã Đạo Trù có 13 thôn dân cư thì tất cả các thôn đều có CLB Soọng cô thu hút sự tham gia nhiệt tình của trên 300 hội viên
bàn tỉnh Vĩnh Phúc còn gặp nhiều khó khăn Thực tế, các CLB văn hoá, văn nghệ còn gặp nhiều khó khăn như: một số CLB chưa xây dựng được kế hoạch nội dung hoạt động dẫn đến định kỳ sinh hoạt không đều, công tác xã hội hoá trong quá trình xây dựng và các hoạt động của các CLB này còn nhiều hạn chế, chưa khai thác được sức mạnh tổng hợp của toàn dân; chưa tự chủ được kinh phí hoạt động nên vẫn trông chờ sự bao cấp của Nhà nước
Năm 2003, xã Đạo Trù được Viện âm nhạc Quốc gia về tổ chức lớp học nhằm bảo tồn làn điệu soọng cô dành cho các em thiếu nhi, nhưng chỉ được một thời gian phải bỏ giữa chừng vì các em không đến học Nguyên nhân một phần
vì phần lớn thời gian các em phải đến trường, hơn nữa thời đại mới với nhiều nền văn hóa mới du nhập khiến các em không còn mặn mà với những bài hát truyền thống…”
Trang 1313
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, những năm qua, để bảo tồn và phát huy nét văn hóa độc đáo của làn điệu Soọng
cô, huyện Tam Đảo cũng đã có những hoạt động cụ thể Năm 2014, Phòng Văn hóa huyện đã thực hiện Đề án nghiên cứu và sưu tầm những lời hát soọng cô cổ, trang phục truyền thống, trang sức phục vụ cho biểu diễn, hiện nay, đang triển khai Huyện phối hợp với các xã thành lập các CLB soọng cô ở thôn dân cư, xây dựng quy chế hoạt động và tổ chức giao lưu văn hóa những dịp lễ, ngày kỉ niệm của dân tộc, đặc biệt là trong dịp Lễ hội Tây Thiên hàng năm Huyện cũng cung cấp một phần kinh phí, trang phục cho các CLB tham gia Lễ hội Tây Thiên, hay tổ chức đưa những nghệ nhân hát sọng cô tham gia “ngày hội văn hóa các dân tộc” ở các tỉnh miền Bắc để giới thiệu nét văn hóa đặc sắc người Sán Dìu huyện Tam Đảo với đồng bào các dân tộc anh em Huyện cũng khuyến khích các thành viên mỗi CLB tích cực truyền dạy lại cho con cháu trong gia đình, giúp các cháu nhỏ tìm hiểu những cái hay, cái đẹp trong văn hóa tinh thần
để bảo tồn làn điệu dân ca truyền thống đặc sắc của dân tộc
Bằng những hướng đi tích cực, những nét văn hóa độc đáo của làn điệu Soọng cô đang được nhân dân và chính quyền huyện Tam Đảo và những địa phương trên địa bàn tỉnh có đồng bào Sán Dìu sinh sống, nỗ lực gìn giữ Tuy nhiên, thực tế hiện nay, việc bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc trước sự tác động nhiều mặt của đời sống xã hội luôn là vấn đề khó, cần có thời gian lâu dài, đặc biệt phải có sự chung tay vào cuộc, góp sức của các cấp, các ngành chức năng
3.1.2 Thực trạng điệu hát Soọng Cô ở thôn Giáp Giang:
Theo chia sẻ của nhiều nghệ nhân cao tuổi, trăn trở lớn nhất của họ là thế
hệ trẻ hiện nay không còn say mê với làn điệu Soọng cô truyền thống, thậm chí tiếng “Mẹ đẻ” cũng đang mai một dần, những làn điệu soọng cô sẽ mất dần theo thời gian Bên cạnh đó, hát Soọng cô là một làn điệu dân ca đặc trưng của dân tộc Sán Dìu Tuy nhiên, hiện nay số người dân tộc Sán Dìu biết hát Soọng cô