Khái niệm đạo đức và hành vi đạo đức; Cấu trúc tâm lí của hành vi đạo đức Chương 5: Tâm lí học giáo dục tiểu họcKhái niệm đạo đức và hành vi đạo đức; Cấu trúc tâm lí của hành vi đạo đứcKhái niệm đạo đức và hành vi đạo đức; Cấu trúc tâm lí của hành vi đạo đứcKhái niệm đạo đức và hành vi đạo đức; Cấu trúc tâm lí của hành vi đạo đứcKhái niệm đạo đức và hành vi đạo đức; Cấu trúc tâm lí của hành vi đạo đứcKhái niệm đạo đức và hành vi đạo đức; Cấu trúc tâm lí của hành vi đạo đứcKhái niệm đạo đức và hành vi đạo đức; Cấu trúc tâm lí của hành vi đạo đứcKhái niệm đạo đức và hành vi đạo đức; Cấu trúc tâm lí của hành vi đạo đức
Trang 1Chương 5: Tâm lí học
giáo dục tiểu học
Khái niệm đạo
đức và hành vi
đạo đức
Cấu trúc tâm lí của hành vi đạo đức
Trang 21 Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã
hội qui định những nguyên tắc cơ bản trong đời
sống xã hội và mối quan hệ giữa cá nhân với
nhau, giữa cá nhân với xã hội Nó thường được
biểu hiện là những phẩm chất tốt đẹp của con
người do tu dưỡng và rèn luyện theo những
chuẩn mực xã hội, những tiêu chuẩn đạo đức của
nó
01 02 03 04 05 06
Trang 301 02 03 04 05 06
Đạo Đức
Được thể hiện ở các
quan niệm về thiện và
ác, lòng nhân ái, lương
tâm, lòng tự trọng,
nghĩa vụ, danh dự, lẽ
công bằng
Căn cứ vào những chuẩn mực đó,
người ta đánh giá hành vi của người khác và của chính mình Các chuẩn mực đạo đức có thể không được ghi thành văn bản pháp quy phạm nhưng chúng vẫn được mọi người thực hiện do sự thôi thúc của lương tâm cá nhân và dư luận
xã hội.
Trang 4 Hành vi là những cái biểu hiện ra bên ngoài (cử chỉ, động tác, lời nói, ánh mắt, vẻ mặt ) nhưng lại thống nhất với cấu trúc tâm lí bên trong của nhân cách, là sự thống nhất giữa hình thức bên ngoài và nội dung tâm lí bên trong.
Những nguyên tắc cơ bản trong đời sống xã hội và quan hệ người - người được thể hiện trong hệ thống các chuẩn mực đạo đức Hệ thống chuẩn mực đạo đức của một xã hội tồn tại dưới hai hình thức: hành vi đạo đức sống động của từng cá nhân cụ thể và trong nền văn hóa xã hội
Sự điều chỉnh hành vi của đạo đức mang tính tự nguyện và thường là yêu cầu cao của xã hội đối với con người Trong thực
tế, có những trường hợp hành vi của cá nhân tuy không vi phạm
về pháp luật nhưng có thể vẫn bị phê phán về mặt đạo đức.
Khái niệm hành vi đạo đức
Trang 5 Hành vi đạo đức là một loại
hành vi của con người Đó
là hành động tự giác được
thúc đẩy bởi động cơ có ý
nghĩa về mặt đạo đức
Hành vi đạo đức luôn diễn
ra hàng ngày, có thể trong
sinh hoạt, trong công việc,
có thể chỉ là những hành vi
nhỏ quen thuộc trong đời
sống thường ngày.
01 02 03 04 05 06
Trang 6Ví dụ về hành vi đạo đức:
+ Chào hỏi, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy cô, người lớn
tuổi,…
+ Đi trên đường thấy người gặp nạn giúp đỡ, hỏi han
+ Giúp bà cụ, trẻ nhỏ qua đường an toàn
+ Nhặt được của rơi trả lại cho chủ…
Đặc biệt, trong thời gian lũ lụt, dịch bệnh covid, …
chúng ta có thể thấy sự xuất hiện của hành vi đạo đức ở
khắp mọi nơi, lan toả sâu rộng như: Quyên góp, ủng hộ
từ thiện đồng bào vùng lũ; san sẻ đồ ăn, thức uống và
hỗ trợ những người gặp khó khăn khi cách ly…
01 02 03 04 05 06
Trang 7Về mặt tâm lí có ba tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của học sinh có là hành vi đạo đức
hay không:
Tính có ích của hành vi
Tính tự giác của
hành vi
Tính không vụ lợi của hành vi
01
02
03
Trang 8Tính tự giác của hành vi được thể hiện ở chỗ : Chủ thể
của hành vi đạo đức nhận thức được ý nghĩa , mục đích
hành vi của mình và chủ thể hoàn toàn hành động bởi
thúc đẩy của những động cơ chính nội tâm bản thân mình
Ví dụ nhặt được của rơi trả lại người mất của học sinh tiểu học chỉ được coi là hành vi đạo đức khi các em thực hiện hành vi trả tự nguyện chứ không phải do sự bắt buộc của người lớn hoặc thầy cô trong nhà trường
Trang 9Thể hiện ở chỗ hành vi đó có đem lại lợi ích , sự phát triển của tập thể và cộng đồng người hay không ? Đến mức độ nào ?
*Ví dụ hành vi giúp bạn khi bạn gặp khó khăn:
“ Tử và Hồng công nhau đi học” đem lại lợi ích , sự phát triển cho bạn bè, người xung quanh và đặc biệt có ích trong việc khẳng định một lẽ sống , một chuẩn mực đạo đức của xã hội
Trang 10Thể hiện ở chỗ , hành vi của con người vì xã hội , lấy lợi
ích xã hội làm trung tâm , biết cân đối giữa lợi ích của cá
nhân và xã hội
*Ví dụ:
Em Nguyễn Dân An mới chỉ 12 tuổi được thành phố Hà Nội biểu dương người tốt việc tốt, em
đã nhặt được một số tiền trị giá hơn 70 000
000 trong một lần đi học về Em không sử sử dụng số tiền mình nhặt được làm mục đích cá nhân hay vụ lợi, thay vào đó, em đã nỗ lực nộp
và gửi tới trường THCS nơi mình đang học để tìm ra người làm rơi.
Trang 112 Cấu trúc tâm lí hành vi đạo đức
Tri thức và niềm tin đạo đức
Động cơ và tình cảm đạo đức
Ý chí và thói quen đạo đức
Trang 12a Tri thức và niềm tin đạo đức
Tri thức đạo đức là sự hiểu biết của con người về những chuẩn mực đạo đức quy định hành vi của họ trong quan hệ với người khác, với cộng đồng.
Nhờ tri thức đạo đức mà con người biết được điều nào đúng, điều nào sai, điều nào nên làm và không nên làm
VD: Hành động chào hỏi
Nếu thiếu tri thức đạo đức thì con người dễ phạm sai lầm
VD: Thiếu sự hiểu biết về luật giao thông
Cần phân biệt giữa việc hiểu tri thức đạo đức với việc học thuộc các tri thức đạo đức
VD: Học sinh học thuộc khái niệm trung thực nhưng vẫn có
hành vi quay cóp
Trang 13Có tri thức đạo đức thôi chưa đủ đảm
bảo phải có hành vi đạo đức Con người
cần có niềm tin đạo đức Đó là sự tin
tưởng một cách sâu sắc của cá nhân
vào tính khách quan của các chuẩn mực
đạo đức và sự thừa nhận tính tất yếu
phải thừa nhận đầy đủ các chuẩn mực
ấy
Niềm tin đạo đức là cơ sở để bộc lộ những phẩm chất ý chí đạo đức tạo thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy hành động của con người: lòng dũng cảm (cứu người gặp nạn…), tính kiên quyết (đấu tranh chống thói hư tật xấu ),…
Trang 14b Động cơ và tình cảm đạo đức
Hành vi đạo đức luôn luôn được thúc đẩy bởi động cơ đạo đức và tình cảm đạo đức
Động cơ đạo đức là yếu tố bên trong thúc đẩy hoạt động của con người trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội Khi con người thực hiện các hành vi đạo đức thì thường xuất hiện sự rung cảm của cá nhân đối với hành vi của mình và của người khác
Sự rung cảm ấy (tích cực hoặc tiêu cực) là tình cảm đạo đức Nó trở thành một trong những động cơ thúc đẩy và điều chỉnh hành vi đạo đức
VD: + Anh bộ đội dũng cảm liều mình cứu em bé ra khỏi dòng nước xoáy (lòng nhân ái, lòng nhân đạo)
+ Học sinh học giỏi để làm vui lòng cha mẹ, thầy cô…
=> hình thành ở họ động cơ và tình cảm đạo đức trong cuộc sống
Trang 15c Ý chí và Thói quen đạo đức
Ý chí đạo đức là ý chí của con người hướng vào việc tạo ra các giá trị đạo đức, biểu hiện ở năng lực thực hiện các hành vi đạo đức đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn
VD: Khi gặp người bị nạn chúng ta có ý định giúp đỡ họ
Thói quen đạo đức là những hành vi đạo đức đã ổn định của con người, được thể hiện trong những tình huống muôn hình muôn vẻ, được xem như nhu cầu đạo đức
VD: thói quen chào hỏi
Muốn có thói quen đạo đức thì phải tổ chức cho học sinh hoạt động một cách có hệ thống các hành vi đạo đức trong các tình huống khác nha
Trang 16Mối quan hệ giữa các nhân tố của
cấu trúc hành vi đạo đức
Giữa các thành phần tâm lí trong cấu trúc
hành vi đạo đức có quan hệ chặt chẽ với
nhau, thể hiện: tri thức đạo đức là cơ sở
cho hành vi đạo đức, soi sáng con đường
dẫn đến mục đích của hành vi đạo đức,
tình cảm đạo đức là động lực để con
người lĩnh hội tri thức đạo đức và hình
thành thói quen đạo đức Ý chí và thói
quen đạo đức tạo nên sự thống nhất giữa
ý thức đạo đức và hành vi đạo đức
01 02 03 04 05 06
Trang 17Thank
you
01 02 03 04 05 06