Các chức năng của quản trị Chúng ta vừa nói rằng quản trị là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện nhằm duy trì và tạo điều kiện cho những tập thể con người gọi là các tổ chức h
Trang 1-
Trang 2http://www.ebook.edu.vn 2
Trang Mục lục 2
Giới thiệu môn học Quản trị học 3
Bài 1: Đại cương về Quản trị và Quản trị học 9
Bài 2: Nhà quản trị 21
Bài 3: Khái quát về lí thuyết quản trị hiện đại 35
Bài 4: Chức năng hoạch định của nhà quản trị 65
Bài 5: Các khái niệm căn bản về tổ chức 78
Bài 6: Các mô hình bộ máy tổ chức 91
Bài 7: Chức năng lãnh đạo của nhà quản trị 112
Bài 8: Chức năng kiểm tra của nhà quản trị 131
Bài 9: Ra quyết định 147
Bài 10: Truyền thông trong quản trị 159
Bài 11: Tóm lược toàn môn học 175
Tài liệu tham khảo 183
Trang 3http://www.ebook.edu.vn 3
PHẦN MỞ ĐẦU
Đây là tài liệu hướng dẫn học tập môn Quản trị học, được biên
soạn chủ yếu để giúp các bạn theo học chương trình đào tạo từ xa,
không thể đến lớp nghe giảng, có thể tự học Tài liệu cũng có thể được
dùng cho các bạn sinh viên học tập trung để ôn tập, nắm vững các
kiến thức cốt lõi của môn Quản trị học
Quản trị học là một môn học cần thiết cho con người khi kết hợp
nhau trong một tổ chức, để cùng làm việc vì những mục tiêu chung
Mục tiêu đó có thể là kinh tế, giáo dục, y tế hay xã hội; và các tổ chức
đó có thể là một cơ sở sản xuất, một công ty kinh doanh, một cơ quan
nhà nước làm công việc hành chính hoặc một tổ chức cung cấp dịch
vụ không kinh doanh như trường học hay bệnh viện
Với những mức độ khác nhau, tất cả chúng ta đều đang làm những
hoạt động quản trị: trong cương vị làm chủ một gia đình, làm chủ một
cơ sở kinh doanh, hay phụ trách một phòng, một ban, thậm chí một tổ
trong một cơ quan hay công ty Các em học sinh trong trường phổ
thông, các bạn sinh viên trong trường Đại học cũng làm những hoạt
động quản trị khi làm lớp trưởng hoặc trong Ban cán sự lớp
Trong kinh nghiệm đó, có bạn làm rất thành công, công việc
chung được hoàn thành tốt, được sự quí mến, tuân phục và hợp tác vui
vẻ của đồng sự Cũng có bạn ít may mắn hơn, vì trong cương vị phụ
Trang 4http://www.ebook.edu.vn 4
trách đơn vị, bạn đã không hoàn thành được mục tiêu chung, các đồng
sự thiếu hợp tác và tệ hại hơn nữa là đơn vị bạn cơ hồ muốn tan rã
Đối với các bạn thành công, người ta gọi đó là những nhà quản trị
giỏi Đối với các bạn không thành công, người ta gọi đó là những nhà
quản trị kém hay là người không biết quản trị
Tài liệu hướng dẫn học tập này là dành cho tất cả các bạn, những
người đang làm quản trị hoặc sẽ làm quản trị, trong lĩnh vực kinh
doanh hay không kinh doanh
MỤC TIÊU CỦA MÔN HỌC
Mục tiêu của môn học này là nhằm cung cấp cho các bạn những
kiến thức và kỹ năng căn bản về việc quản trị một đơn vị Một số
những kiến thức này có thể không mới mẻ đối với các bạn Trong
trường hợp đó, mục tiêu của môn học là nhằm giúp các bạn hệ thống
hóa những điều đã biết qua thực tế, để làm cơ sở cho việc tiếp tục
nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn
Tuy Quản trị học là môn học dành cho tất cả các loại tổ chức trong
xã hội, nhưng vì quyển sách này được biên soạn dành cho sinh viên
Kinh tế – Quản trị kinh doanh nên phần trình bày của chúng tôi sẽ lấy
nhiều ví dụ trong lĩnh vực kinh doanh để minh họa
Về tên gọi của môn học, ở nước ngoài, người ta gọi là
Management Chúng tôi tạm dùng từ Việt là Quản trị học Có nơi, có
lúc, có người gọi là Khoa học Quản trị, Khoa học Quản lí, hay Quản
trị Kinh doanh Vì môn học Management mới được chính thức đưa
vào giảng dạy tại cấp Đại học của chúng ta trong thời gian gần đây,
việc dịch ra tiếng Việt các từ chuyên môn gốc tiếng Anh, kể cả nhan
Trang 5http://www.ebook.edu.vn 5
đề của môn học, còn khác biệt nhau nhiều giữa các giảng viên Chúng
tôi không đoan quyết từ nào là chính xác nhất, nhưng chọn từ Quản trị
học, mà không chọn các từ Khoa học Quản trị, Khoa học Quản lí và
Quản trị Kinh doanh vì các lý do sau đây:
Thứ nhất, mặc dù hai từ quản trị và quản lí hiện nay vẫn còn được
dùng trong những hoàn cảnh khác nhau, về cơ bản hai từ này đều chỉ
một nội dung giống nhau Trường hợp này cũng tương tự như hai từ
Management và Administration trong tiếng Anh
Thứ hai, Khoa học Quản trị hay Khoa học Quản lí đã được trường
phái Lí thuyết Định lượng trong Quản trị dành để gọi lí thuyết của họ;
và lí thuyết đó không phải là toàn bộ các vấn đề quản trị
Thứ ba, Quản trị kinh doanh được dịch từ tiếng Anh, Business
Administration, nên dùng để chỉ ngành học về kinh doanh, bao gồm
nhiều môn học như Quản trị học, Marketing, Kế toán, Quản trị tài
chính, v.v… hơn là để chỉ một môn học
NỘI DUNG CỦA TÀI LIỆU
Môn Quản trị học có thời lượng 45 tiết giảng Nội dung môn học
được trình bày thành 10 bài như sau:
Bài 1: Đại cương về Quản trị và Quản trị học
Bài 2: Nhà quản trị
Bài 3: Tổng quan về các lí thuyết hiện đại
Bài 4: Chức năng hoạch định của nhà quản trị
Bài 5: Những khái niệm căn bản về tổ chức
Trang 6http://www.ebook.edu.vn 6
Bài 6: Các mô hình bộ máy tổ chức
Bài 7: Lãnh đạo và động viên
Bài 8: Chức năng kiểm tra của nhà quản trị
Bài 9: Ra quyết định
Bài 10: Truyền thông trong quản trị
Bố cục của mỗi bài gồm có: mục tiêu, nội dung chính, tóm tắt, câu
hỏi và trả lời câu hỏi Ngoài ra còn có bài ôn tập toàn môn học Sau
khi học xong 10 bài, các bạn hãy dành 5 tiết để ôn tập lại toàn bộ nội
dung môn học
CÁCH THỨC SỬ DỤNG TÀI LIỆU
Mỗi bài có thể học trong 4 tiết, các bạn nên chia thành hai buổi tự
học Buổi đầu, các bạn đọc kỹ, đọc chậm để tiếp thu nội dung chính và
tóm tắt Gấp sách lại, các bạn hãy tự mình nhắc thầm nội dung đã học,
để thông tin lắng đọng thành kiến thức Qua hôm sau, các bạn hãy
dành 2 tiết để đọc câu hỏi ôn tập và tự làm bài, nhớ đừng vội xem gợi
ý trả lời Sau khi làm bài xong (cố gắng viết ra giấy, hãy dùng một tập
vở 100 trang để làm bài hoặc đánh máy vi tính nhưng nên in ra), thấy
không còn phải bổ sung, sửa chữa gì nữa mới xem hướng dẫn trả lời
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tham khảo về Quản trị học bằng tiếng Anh hiện có trong
các thư viện Đại học là khá nhiều, các bạn đọc thêm quyển nào cũng
được vì về nội dung cơ bản, tất cả các sách giáo khoa đều giống nhau
Trang 7http://www.ebook.edu.vn 7
Qua kinh nghiệm giảng dạy, nhóm biên soạn tài liệu này khuyên các
bạn tìm đọc sách giáo khoa Quản trị học (Management) của các tác
giả là giáo sư Đại học Mỹ vì hành văn dễ hiểu, các ví dụ minh hoạ
quen thuộc và in ấn đẹp
Tài liệu tham khảo tiếng Việt cũng có nhiều, hầu hết được biên
soạn theo sách Mỹ Cũng có quyển hay và cũng có quyển dịch không
trong sáng nên khó đọc Các bạn cứ mạnh dạn đọc, theo phương châm
“đãi cát lấy vàng” Nếu phân vân các bạn liên hệ với nhóm tác giả tài
liệu này để được tư vấn nên hay không nên tham khảo một tài liệu nào
đó mà các bạn tìm được
Vì thực chất của quản trị là làm việc cùng với nhiều người khác
trong cùng một tổ chức để hoàn thành mục tiêu, nhà quản trị cần nhiều
kiến thức về nhiều ngành khác nhau Để có các kiến thức đó, các bạn
nên tranh thủ đọc thêm nhiều sách khác nhau mà không nên dựa hoàn
toàn vào một cuốn sách Có thể nói rằng, nhà quản trị giỏi phải là
người có kiến thức rộng, và lịch lãm trong quan hệ với con người Tất
cả những gì giúp cho các bạn trở thành người có kiến thức rộng và
lịch lãm, đều đáng để các bạn tiếp thu
Ngoài sách giáo khoa, các bạn cũng nên đọc thêm các sách viết về
kinh nghiệm quản trị thực tế của các công ty thành công trên thế giới
Các bạn cũng nên thường xuyên đọc báo hàng ngày và báo chuyên
ngành kinh tế Việt Nam toàn quốc và tại địa phương nơi bạn đang cư
trú và làm việc Có rất nhiều bài phóng sự, bài giới thiệu, bài thông tin
về các kinh nghiệm quản trị ở các cơ sở kinh doanh hoặc không kinh
doanh mà chúng ta học được rất nhiều; rất sinh động và rất mới mẻ
Trang 8http://www.ebook.edu.vn 8
Trong quá trình tự học, nếu các bạn có những vấn đề không thể tự
giải đáp được, các bạn có thể vào mạng Internet, đến trang Web của
trường có địa chỉ:
http://www.ou.edu.vn Sau khi vào được trang này, các bạn hãy đến mục e–learning, vào
“Diễn đàn tư vấn học tập” của Khoa Kinh tế – Quản trị kinh doanh để
trao đổi cùng các bạn đồng học và các giảng viên trong Ban tư vấn
học tập
Cuối cùng, các bạn nhớ dùng tài liệu học tập này với tinh thần phê
phán Hãy mạnh dạn suy nghĩ ngược lại hoặc tìm ý tưởng bổ sung cho
những điều được trình bày trong tài liệu này và gởi cho nhóm tác giả
các suy nghĩ đó để trao đổi, cùng giúp nhau học
TRAO ĐỔI VỚI NHÓM BIÊN SOẠN
Nhóm tác giả của tài liệu này hoan nghênh và rất mong muốn
được hợp tác, giúp đỡ các bạn tự học Các bạn có thể liên lạc với
nhóm tác giả qua địa chỉ Email:
prof-tuan@yahoo.com
Chúc các bạn thành công !
Trang 9http://www.ebook.edu.vn 9
BÀI 1
Bài đầu tiên này chủ yếu nói về hai khái niệm quản trị và quản trị
học Vì vậy, trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu quản trị là gì, khi nào
thì chúng ta làm việc quản trị, những công việc nào là công việc quản
trị và ý nghĩa của việc quản trị là gì ? Bài này cũng đề cập đến sự ra
đời và tính chất của quản trị học
MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, các bạn phải biết được:
Quản trị nghĩa là gì?
Khi nào thì người ta làm việc quản trị
Việc quản trị có những nội dung nào?
Hiệu quả là gì?
Sự phát triển của quản trị học
Trang 10http://www.ebook.edu.vn 10
NỘI DUNG CHÍNH
Khái niệm Quản trị
Quản trị là một danh từ khó định nghĩa Hầu như mỗi người, khi
nói về quản trị, đều có một định nghĩa của riêng mình
Ngay đến các nhà thực hành quản trị, mặc dù đã có những kinh
nghiệm giống nhau về nội dung Quản trị, khi được yêu cầu định nghĩa
quản trị, thì cũng phát biểu rất khác nhau Nhiều nhà quản trị người
Pháp thích nói : “Quản trị là tiên liệu” Các nhà quản trị người Mỹ
nhấn mạnh đến vấn đề quan hệ con người thường định nghĩa quản trị
là “đạt mục tiêu thông qua và cùng với người khác”, trong lúc các nhà
quản trị thích áp dụng các công cụ toán học thường tâm đắc với định
nghĩa “Quản trị là ra quyết định”
Trong giới khoa học và giảng dạy người ta cũng không có một sự
thống nhất
Koontz, O’ Donnell và Weihrich trong giáo trình “Những vấn đề
cốt yếu của quản lí” 1, định nghĩa: Quản trị là thiết lập và duy trì một
khung cảnh nội bộ trong đó mỗi con người làm việc chung theo tập
thể có thể hoạt động một cách có hiệu quả nhằm thành đạt mục tiêu
chung
Stephen Robbins, giáo sư Quản trị học quen thuộc từ thập niên 80
của thế kỷ trước, trong tác phẩm gần đây (2004) định nghĩa:
1 Bản dịch của Vũ Thiếu và các tác giả khác Những vấn đề cốt yếu của Quản lý, Nhà
xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1992 Quyển I, trang 19
Trang 11http://www.ebook.edu.vn 11
“ Quản trị là tiến trình hoàn thành công việc một cách hiệu quả và
đạt kết quả thông qua và cùng với người khác”2
Gareth R Jones và Jennifer M George, hai tác giả trẻ gần đây cho
rằng:
“Quản trị là hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra tài nguyên
nhân sự và các tài nguyên khác nhằm hoàn thành có kết quả và có hiệu
quả các mục tiêu của tổ chức”3
Chúng ta có thể căn cứ vào các định nghĩa đó để đưa ra định nghĩa
sau đây:
Quản trị là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con
người kết hợp nhau trong các tổ chức nhằm thành đạt những mục tiêu
chung
Với định nghĩa này, chúng ta muốn xác định rằng những hoạt
động quản trị là những hoạt động chỉ phát sinh khi con người kết hợp
với nhau thành tổ chức Nếu mỗi cá nhân tự mình hoạt động, sống một
mình như Rô – bin – sơn trên hoang đảo, thì không có hoạt động quản
trị Nhưng chỉ cần hai người quyết tâm kết hợp với nhau vì những mục
tiêu chung, thì sẽ phát sinh nhiều hoạt động mà lúc còn sống và làm
việc một mình, chưa ai có kinh nghiệm Ví dụ, sự phân công, người
nào làm việc nào Các hoạt động quản trị không những phát sinh khi
con người kết hợp thành tổ chức, mà lại còn cần thiết Bởi vì, nếu
không có những hoạt động đó, mọi người trong tổ chức sẽ không biết
làm gì, làm lúc nào, hoặc sẽ làm một cách lộn xộn, giống như hai
2 Stephen P Robbins và David A Decenzo, Fundamentals of Management , New Jersey :
Pearson – Prentice Hall, 2004, trang 6
3 Gareth R Jones và Jennifer M George, Essentials of Contemporary Management,
Boston : McGraw Hill, 2003, trang 4
Trang 12http://www.ebook.edu.vn 12
người cùng khiêng một khúc gỗ, thay vì cùng bước về một hướng thì
mỗi người lại bước về mỗi hướng khác nhau
Những hoạt động khiến hai người cùng khiêng khúc gỗ đi về một
hướng, là những hoạt động quản trị Trong bộ Tư bản, Mác có đưa
một hình ảnh rất hay về hoạt động quản trị Đó là những hoạt động
của người chỉ huy một dàn nhạc Người này không đánh trống, không
chơi đàn, chỉ dùng tay chỉ huy mà tạo nên bản giao hưởng
Các chức năng của quản trị
Chúng ta vừa nói rằng quản trị là những hoạt động cần thiết phải
được thực hiện nhằm duy trì và tạo điều kiện cho những tập thể con
người gọi là các tổ chức hoạt động, hướng về mục tiêu chung
Những hoạt động đó có thể tập trung trong một số những công
việc chính Đó là, dự trù các hoạt động mà đơn vị sẽ phải thực hiện, tổ
chức bộ máy, quản trị lao động, kiểm tra thành quả… Cách nói thông
thường hiện nay là các chức năng quản trị, để chỉ những nội dung của
hoạt động quản trị
Có bốn chức năng quản trị là : hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và
kiểm tra
Hoạch định, hay làm kế hoạch, là chức năng đầu tiên trong tiến
trình quản trị Công tác này bao gồm việc xác định mục tiêu hoạt động
của tổ chức, xây dựng chiến lược tổng thể nhằm hướng dẫn hành động
hướng về mục tiêu, và thiết lập hệ thống các kế hoạch hoạt động cụ
thể
Tổ chức là chức năng thứ hai của quản trị Các nhà quản trị phải
thiết kế cơ cấu của tổ chức Công tác này bao gồm việc xác định
những việc phải làm, những ai sẽ phải làm việc đó, các công việc sẽ
Trang 13http://www.ebook.edu.vn 13
được phối hợp với nhau như thế nào, những bộ phận nào cần phải
được thành lập, thiết lập mối quan hệ về công việc, quyền hành và
trách nhiệm giữa các bộ phận
Chức năng quản trị thứ ba liên quan đến con người trong tổ chức
Đó là việc lãnh đạo con người, động viên họ làm tốt công việc
Chức năng cuối cùng của quản trị là kiểm tra Công tác kiểm tra
bao gồm việc xác định thành quả, so sánh thành quả thực tế với thành
quả đã được xác định và tiến hành các biện pháp sửa chữa nếu có sai
lệch, nhằm bảo đảm tổ chức đang đúng hướng để hoàn thành mục
tiêu
Ý nghĩa của hoạt động quản trị: gia tăng hiệu quả
Khi con người hợp tác với nhau trong một tổ chức để cùng nhau
làm việc, người ta có thể tự phát làm những việc cần làm, theo cách
suy nghĩ riêng của mỗi người Lối làm việc chung như thế cũng có thể
đạt được kết quả, hoặc cũng có thể không
Nhưng nếu người ta biết tổ chức hoạt động và các việc quản trị
khác, thì triển vọng đạt kết quả sẽ chắc chắn hơn Đặc biệt quan trọng,
không phải chỉ là việc đạt kết quả mà sẽ còn là ít tốn kém thì giờ, tiền
bạc, nguyên vật liệu và nhiều loại phí tổn khác
Khi chúng ta so sánh giữa kết quả đạt được với những chi phí đã
tốn kém, chúng ta có khái niệm hiệu quả Hiệu quả cao khi kết quả
nhiều hơn so với chi phí; và hiệu quả thấp khi chi phí nhiều hơn so với
kết quả đạt được
Mối quan hệ giữa chi phí (C) và kết quả (K) để xác định hiệu quả
(H) có thể được diễn tả bằng công thức sau:
Trang 14http://www.ebook.edu.vn 14
C
K
H =
Để gia tăng H, người ta có thể làm hai việc là tăng K hoặc giảm
C Những hoạt động có thể làm tăng kết quả hoàn thành và cắt giảm
chi phí (về nguyên liệu, lao động, tiền bạc vv…) là những hoạt động
quản trị
Ví dụ : Gia tăng thêm 5% số lượng sản phẩm tạo ra với mức chi
phí sản xuất không thay đổi bằng cách giảm lượng phế liệu rắn từ
khâu cán ép phim
Như thế, không biết cách quản trị thì cũng có thể đạt được kết quả,
nhưng nếu xem xét đến chi phí, thì sẽ thấy quá nhiều Tức là có kết
quả, mà không có hiệu quả
Trong hoạt động kinh tế, nhất là trong một nền kinh tế thị trường
có cạnh tranh, người ta phải tìm cách hạn chế chi phí và gia tăng kết
quả, tức là phải luôn luôn tìm cách gia tăng hiệu quả Cho dù không có
nhu cầu cạnh tranh phải giảm chi phí để gia tăng hiệu quả, sự gia tăng
hiệu quả luôn luôn là điều cần thiết đối với mọi tổ chức để tồn tại và
phát triển Có thể nói rằng lý do tồn tại của hoạt động quản trị chính là
vì muốn có hiệu quả; và chỉ khi nào người ta quan tâm đến hiệu quả
thì người ta mới quan tâm đến hoạt động quản trị
Tính phổ biến của chức năng quản trị
Tính phổ biến của quản trị có nghĩa là không có sự khác nhau
trong chức năng của nhà quản trị cấp cao so với nhà quản trị cấp thấp
(ví dụ: giữa Tổng Giám đốc với Tổ trưởng); không có sự khác nhau
trong chức năng của nhà quản trị một tổ chức của nhà nước với nhiệm
vụ của nhà quản trị một tổ chức của tư nhân; không có sự khác nhau
Trang 15http://www.ebook.edu.vn 15
trong chức năng của nhà quản trị một đơn vị kinh doanh kiếm lời so
với nhà quản trị một đơn vị phục vụ công ích không tính lợi nhuận;
không có sự khác nhau trong chức năng của nhà quản trị một tổ chức
trong ngành nghề này so với nhà quản trị một tổ chức thuộc ngành
nghề khác; và cũng không có sự khác nhau trong chức năng của một
nhà quản trị Mỹ so với một nhà quản trị Việt Nam
Tuy nhiên, phổ biến không có nghĩa là đồng nhất Vì mỗi loại,
mỗi cấp tổ chức đều có những đặc điểm riêng về môi trường, xã hội,
ngành nghề, quy trình công nghệ v.v…, nên các hoạt động quản trị
cũng có những điểm khác nhau Nhưng những điểm khác nhau đó là
khác nhau về mức độ phức tạp, về thời gian dành cho mỗi chức năng,
về phương pháp thực hiện, chứ không khác nhau về bản chất và các
chức năng quản trị
Trong một công trình nghiên cứu đã trở thành kinh điển từ năm
1965 nhưng 40 năm sau vẫn còn được trích dẫn, Mahoney đã cho biết
các nhà quản trị cấp thấp dành nhiều thời gian nhất cho chức năng
lãnh đạo (51%) trong lúc nhà quản trị cấp cao dành vị trí thứ nhất cho
chức năng tổ chức (36%)
Hai mươi năm trước đây (năm 1984), Paolillo4 nghiên cứu về hoạt
động của các nhà quản trị theo các vai trò đã cho thấy nhà quản trị các
cơ sở kinh doanh nhỏ làm nhiều nhất vai trò phát ngôn thay mặt cho tổ
chức, trong lúc nhà quản trị các cơ sở kinh doanh lớn lại làm nhiều
nhất vai trò phân phối tài nguyên.5
Quản trị học
4 Stephen Robbins, sách đã dẫn, trang 10
5 Stephen Robbins, sách đã dẫn, trang 12
Trang 16http://www.ebook.edu.vn 16
Quản trị học là khoa học, mới xuất hiện trong chương trình Đại
học trên thế giới chưa đến 100 năm tính đến hôm nay, có đối tượng
nghiên cứu là công việc quản trị trong các tổ chức; tổng quát hoá các
kinh nghiệm tốt thành nguyên tắc và lí thuyết áp dụng cho mọi hình
thức quản trị tương tự Quản trị học cũng giải thích các hiện tượng
quản trị và đề xuất những lí thuyết cùng những kỹ thuật nên áp dụng
để giúp nhà quản trị hoàn thành nhiệm vụ và qua đó giúp các tổ chức
hoàn thành mục tiêu
Quản trị học tập trung nghiên cứu các hoạt động quản trị thực
chất, tức là những hoạt động quản trị có ý nghĩa duy trì và tạo điều
kiện thuận lợi cho tổ chức hoạt động Trong lúc không nghiên cứu các
hoạt động quản trị chức năng, quản trị học cung cấp các khái niệm cơ
bản làm nền tảng cho việc nghiên cứu các môn học về quản trị chức
năng như quản trị sản xuất, quản trị tiếp thị, quản trị nhân viên, quản
trị hành chánh, quản trị nhà nước v.v…
Quản trị học là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu cụ
thể, có phương pháp phân tích và có lí thuyết phát xuất từ các cuộc
nghiên cứu Quản trị học cũng là một khoa học liên ngành, vì nó sử
dụng nhiều tri thức của nhiều ngành học khác nhau như kinh tế học,
tâm lý học, xã hội học, toán học, thống kê v.v…
Quản trị học là một khoa học, nhưng sự thực hành quản trị là một
nghệ thuật Nhà quản trị phải hiểu biết lí thuyết quản trị, nhưng để có
thể quản trị hữu hiệu, nhà quản trị phải biết linh hoạt vận dụng các lí
thuyết vào những tình huống cụ thể
TÓM TẮT
Trang 17http://www.ebook.edu.vn 17
1 Quản trị (hay Quản lí) là những hoạt động cần được thực hiện khi
con người kết hợp với nhau trong tổ chức để cùng nhau hoàn thành
các mục tiêu chung
2 Có nhiều cách định nghĩa Quản trị, tùy theo vấn đề hay khía cạnh
mà người định nghĩa muốn nhấn mạnh
3 Các hoạt động quản trị có thể được tập hợp thành bốn chức năng
chính là : hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra
4 Hoạch định bao gồm việc xác định mục tiêu của tổ chức, xây dựng
chiến lược tổng thể nhằm hướng dẫn hành động hướng đến việc hoàn
thành mục tiêu, và thiết lập những kế hoạch hành động cụ thể trong
khuôn khổ của chiến lược ấy
5 Chức năng tổ chức của quản trị bao gồm việc xác định những công
việc cần làm, ai sẽ phải làm những công việc đó, các công việc đó sẽ
được phối hợp với nhau như thế nào, những bộ phận nào cần phải
được thành lập, và thiết lập mối quan hệ về công việc, quyền hành và
trách nhiệm giữa các bộ phận đó
6 Đối với nhân viên, nhà quản trị làm chức năng lãnh đạo, tức là chỉ
cho mọi người thấy tầm nhìn rõ ràng để vươn tới, vai trò của họ trong
việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức và động viên họ làm việc với
nhiệt tình và năng lực cao nhất
7 Trong chức năng kiểm tra, nhà quản trị đo lường thành quả đạt
được, so sánh với mục tiêu đã đề ra ; và tiến hành biện pháp sửa chữa
nếu có sai lệch giữa mục tiêu với thành quả
8 Quản trị tốt giúp các tổ chức đạt được hiệu quả, tức là đạt kết quả
với chi phí thấp
Trang 18http://www.ebook.edu.vn 18
9 Các chức năng quản trị là phổ biến đối với mọi nhà quản trị, không
phân biệt cấp bậc của nhà quản trị, quy mô lớn nhỏ của tổ chức, ngành
nghề hoạt động, mục tiêu lợi nhuận hay phục vụ công ích, và điều
kiện chính trị – xã hội của môi trường
10 Quản trị học là một khoa học, nhưng thực hành quản trị phải khéo
léo vận dụng theo đặc điểm của tình hình thực tế Điều này được gọi
là nghệ thuật quản trị
CÂU HỎI Câu hỏi tự luận
1 Giải thích ý nghĩa các câu định nghĩa quản trị của các nhà thực
hành quản trị ở Pháp và ở Mỹ
2 Trình bày nội dung các chức năng quản trị
3 Hiệu quả là gì?
4 Giải thích tính phổ biến của quản trị
5 Giải thích “Quản trị là khoa học và nghệ thuật”
Câu hỏi trắc nghiệm
1 Nếu không có một mục tiêu rõ ràng để theo đuổi, tổ chức không có
lí do để tồn tại
2 Các tổ chức có thể hoạt động tốt dù có hay không có quản trị
Trang 1910 Các chức năng quản trị trong trường đại học khác với các chức
năng quản trị trong công ty kinh doanh
HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI Câu hỏi tự luận
Trang 20http://www.ebook.edu.vn 20
1 “Quản trị là tiên liệu”: nhà quản trị phải biết dự báo tương lai và có
biện pháp đối phó, khai thác tốt tương lai đó
“Quản trị là đạt mục tiêu thông qua và cùng với người khác” nhấn
mạnh đến vai trò lãnh đạo, động viên, phối hợp hoạt động của mọi
người làm việc chung
“Quản trị là ra quyết định” nhà quản trị phải đưa ra những quyết
định đúng thì tổ chức mới thành công
2 Trả lời theo mục II (Các chức năng hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và
kiểm tra)
3 Hiệu quả là khái niệm dùng khi so sánh kết quả đạt được với chi phí
đã bỏ ra, có thể diễn tả theo công thức:
H (hiệu quả) =
H sẽ tăng khi K gia tăng hoặc khi C giảm
4 Trả lời theo mục IV (Các chức năng quản trị là phổ biến trong mọi
tổ chức, không phân biệt quy mô, ngành nghề, mục tiêu và môi trường
xã hội của tổ chức)
5 Trả lời theo mục V (Quản trị học là một khoa học, nhưng sự thực
hành quản trị phải linh động tùy đặc điểm của tổ chức và môi trường)
Câu hỏi trắc nghiệm
K (kết quả)
C (chi phí)
Trang 21http://www.ebook.edu.vn 21
Trang 22http://www.ebook.edu.vn 22
BÀI 2
Các tổ chức không thể hoạt động nếu không có những người làm
các công việc quản trị Chúng ta gọi họ là những nhà quản trị Trong
bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu nhà quản trị là ai ; trong một tổ chức có
những cấp quản trị nào ; họ cần có những kỹ năng nào, và phải làm
những vai trò gì trong nhiệm vụ quản trị Sau cùng, chúng ta cũng sẽ
nhắc đến những thách đố trong thời đại hiện nay đối với nhà quản trị
trong các tổ chức
MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, các bạn phải biết:
Phân biệt nhà quản trị với người thừa hành
Các cấp bậc quản trị trong một tổ chức
Kỹ năng của các cấp quản trị
Vai trò của nhà quản trị theo Mintzberg
Những thách đố trong hiện tại đối với các nhà quản trị
Trang 23http://www.ebook.edu.vn 23
NỘI DUNG CHÍNH
Khái niệm nhà quản trị
Con người tham gia trong một tổ chức có thể được chia thành 2
loại (1) những người thừa hành và (2) những nhà quản trị
Người thừa hành là những thành viên trong tổ chức có nhiệm vụ
phải trực tiếp làm một công việc nhất định và không có trách nhiệm
giám sát công việc của người khác Người y tá chăm sóc bệnh nhân
trong bệnh viện, người nhân viên bán hàng, người thợ sửa cơ khí trong
nhà máy, là những người thừa hành Trái lại, những thành viên được
gọi là nhà quản trị là những người chỉ huy hoạt động của người khác
Các nhà quản trị cũng có thể tự họ làm một việc nhất định nào đó (ví
dụ họ cũng trực tiếp săn sóc bệnh nhân, bán hàng hay trực tiếp sửa
máy), tuy nhiên vì họ có trách nhiệm chỉ huy giám sát những người
khác, nên họ là những nhà quản trị
Ngoài vai trò chỉ huy, giám sát nhân viên dưới quyền, nhà quản trị
còn có quyền sử dụng các loại tài nguyên khác trong tổ chức mà họ
phụ trách và chịu trách nhiệm đưa tổ chức đó hoàn thành mục tiêu
chung
Người ta thường chia các nhà quản trị trong một tổ chức thành 3
cấp: (1) các nhà quản trị cấp cơ sở cũng thường gọi là tổ trưởng, đốc
công, cai thợ v.v… (2) các nhà quản trị cấp trung thường mang chức
danh trưởng phòng, trưởng ban, cửa hàng trưởng, quản đốc phân
xưởng, trưởng khoa v.v… và (3) các nhà quản trị cấp cao như Hiệu
trưởng, giám đốc, tổng giám đốc, giám đốc điều hành, chủ tịch hội
đồng quản trị v.v…
Trang 24http://www.ebook.edu.vn 24
Nhà quản trị cấp cơ sở là những nhà quản trị ở cấp bậc cuối cùng
trong hệ thống cấp bậc của các nhà quản trị trong cùng một tổ chức
Với tư cách là nhà quản trị, nhiệm vụ của họ là hướng dẫn, đốc thúc,
điều khiển nhân viên trong các công việc hàng ngày để hoàn thành
mục tiêu chung của cả tổ chức Tuy nhiên, nhà quản trị cấp cơ sở cũng
thường là người trực tiếp tham gia các công việc sản xuất kinh doanh
cụ thể như các nhân viên khác dưới quyền họ
Nhà quản trị cấp trung là một khái niệm rộng, dùng để chỉ những
cấp chỉ huy trung gian, đứng trên các nhà quản trị cấp cơ sở và ở dưới
các nhà quản trị cấp cao Với cương vị này, họ quản trị các nhà quản
trị cấp cơ sở thuộc quyền So với chức năng của nhà quản trị cấp cơ
sở, nhà quản trị cấp trung có chức năng thực hiện các kế hoạch và
chính sách của tổ chức, phối hợp công việc của các đơn vị cơ sở hoàn
thành mục tiêu chung
Nhà quản trị cấp cao là nhóm nhỏ các nhà quản trị ở cấp bậc tối
cao trong tổ chức, chịu trách nhiệm về thành quả cuối cùng của tổ
chức Chức năng của các nhà quản trị cấp cao là xây dựng chiến lược
hành động, duy trì và phát triển tổ chức
Kỹ năng của nhà quản trị
Dù là ở cấp bậc nào, tất cả mọi nhà quản trị đều phải thi hành các
hoạt động quản trị như nhau Trong bài 1, chúng ta đã nói về nội dung
các hoạt động quản trị đó và một cách tổng quát, có thể xếp vào bốn
lĩnh vực: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra
Để có thể hoàn thành các công việc đó, các nhà quản trị phải có
những kỹ năng cần thiết Các nhà nghiên cứu quản trị cho rằng mỗi
nhà quản trị đều cần phải có 3 loại kỹ năng là :
(1) Kỹ năng chuyên môn kỹ thuật
Trang 25http://www.ebook.edu.vn 25
(2) Kỹ năng về nhân sự
(3) Kỹ năng nhận thức, phân tích sự việc (tư duy)
Kỹ năng kỹ thuật là những khả năng cần thiết để thực hiện một
công việc cụ thể; hay nói cách khác, là trình độ chuyên môn nghiệp
vụ Ví dụ: soạn thảo và đánh máy văn bản, thao tác sản xuất trên máy,
chích thuốc và chăm sóc bệnh nhân, làm sổ sách kế toán, đứng lớp
giảng dạy, khám bệnh và kê toa v.v… Nhà quản trị có được trình độ
chuyên môn nghiệp vụ qua việc theo học ở trường hay các lớp bồi
dưỡng
Kỹ năng nhân sự liên quan đến khả năng cùng làm việc, động viên
và điều khiển con người và tập thể trong xí nghiệp, dù những người đó
là thuộc cấp, đồng nghiệp ngang hàng hay cấp trên Kỹ năng nhân sự
là tài năng đặc biệt của nhà quản trị trong việc quan hệ với người khác
để nhằm tạo thuận lợi và thúc đẩy sự hoàn thành công việc chung
Một vài kỹ năng nhân sự cần thiết cho nhà quản trị là biết cách thông
đạt hữu hiệu (viết và nói), có thái độ quan tâm tích cực đến người
khác và khung cảnh làm việc, xây dựng không khí hợp tác giữa mọi
người cùng làm việc chung, và biết cách động viên các nhân viên dưới
quyền
Kỹ năng tư duy đòi hỏi nhà quản trị phải hiểu rõ mức độ phức tạp
của hoàn cảnh, và biết cách giảm thiểu sự phức tạp đó xuống một mức
độ có thể đối phó được Kỹ năng tư duy là cái khó tiếp thu nhất, được
đào tạo tại trường lớp, tích lũy qua kinh nghiệm, và quan trọng đặc
biệt đối với các nhà quản trị cấp cao
Trong lúc tất cả các nhà quản trị đều phải có đầy đủ ba loại kỹ
năng trên đây, hiển nhiên là tầm quan trọng của mỗi loại kỹ năng tùy
theo cấp bậc của nhà quản trị trong tổ chức Nói chung, kỹ năng kỹ
Trang 26http://www.ebook.edu.vn 26
thuật giảm dần sự quan trọng khi lên cao dần trong hệ thống cấp bậc
của các nhà quản trị Ở cấp quản trị thấp, kỹ năng kỹ thuật là cần thiết
vì ở cấp này nhà quản trị làm việc chặt chẽ với tiến trình sản xuất là
nơi mà tài năng kỹ thuật là đặc biệt quan trọng Kỹ năng tư duy, trái
lại, rất cần thiết đối với nhà quản trị cấp cao, bởi lẽ những kế hoạch,
chính sách và quyết định ở cấp này đòi hỏi nhà quản trị phải có năng
lực hiểu biết mức độ ảnh hưởng của một sự thay đổi trong lĩnh vực
này đối với nhiều lĩnh vực khác trong tổ chức Kỹ năng nhân sự, là
cần thiết đối với nhà quản trị ở mọi cấp, vì nhà quản trị nào cũng phải
làm việc với con người
Tỉ trọng của mỗi loại kỹ năng đối với từng cấp quản trị có thể
được diễn tả qua biểu đồ sau đây:
Biểu đồ 1
Tỉ trọng của các loại kỹ năng đối với các cấp quản trị
Kỹ năng Kỹ năng Kỹ năng
tư duy nhân sự kỹ thuật Nhà quản trị
30% 40% 30%
20% 40% 40%
Trang 27http://www.ebook.edu.vn 27
Vai trò của nhà quản trị
Trong thực tiễn hoạt động, nhà quản trị phải làm nhiều loại công
việc khác nhau, thậm chí phải ứng xử theo những cách khác nhau đối
với cấp trên, với cấp dưới, với khách hàng, với cơ quan chủ quản, với
các cổ đông sở hữu cổ phần, với quần chúng và xã hội, v.v…
Henry Mintzberg của trường Đại học Harvard đã nghiên cứu
những hoạt động bình thường của nhà quản trị và cho rằng mọi nhà
quản trị đều phải thực hiện 10 loại vai trò khác nhau Mười loại vai trò
đó có thể tập trung trong ba nhóm lớn là (1) các vai trò quan hệ con
người, (2) các vai trò thông tin, và (3) vai trò quyết định
a) Các vai trò quan hệ với con người
Vai trò đầu tiên trong loại này là vai trò đại diện, hay tượng trưng,
có tính chất nghi lễ trong tổ chức
Vai trò thứ hai là vai trò của người lãnh đạo, đòi hỏi nhà quản trị
phải phối hợp và kiểm tra công việc của nhân viên dưới quyền
Vai trò thứ ba trong loại vai trò quan hệ với con người là vai trò
liên lạc, quan hệ với người khác, ở trong hay ngoài tổ chức, nhằm góp
phần hoàn thành công việc được giao cho đơn vị của họ
b) Các vai trò thông tin
Trước hết, nhà quản trị có vai trò thu thập và tiếp nhận các thông
tin liên quan đến tổ chức và đến hoạt động của đơn vị
Nhà quản trị đảm nhiệm vai trò thu thập bằng cách thường xuyên
xem xét, phân tích bối cảnh chung quanh tổ chức để nhận ra những tin
tức, những hoạt động và những sự kiện có thể đem lại cơ hội tốt hay
sự đe dọa đối với hoạt động của tổ chức Công việc này được thực
Trang 28http://www.ebook.edu.vn 28
hiện qua việc đọc báo chí, văn bản và qua trao đổi, tiếp xúc với mọi
người
Vai trò thông tin thứ hai của nhà quản trị là phổ biến những thông
tin liên hệ đến người có liên quan, có thể là thuộc cấp, người đồng cấp
hay thượng cấp
Ví dụ: trưởng phòng nhân sự gửi văn bản đến các phòng ban về
việc nhân viên tiến hành tự đánh giá hiệu quả làm việc theo thông lệ
hằng năm
Vai trò thông tin sau cùng mà nhà quản trị phải đảm nhiệm là vai
trò của người thay mặt tổ chức để cung cấp thông tin cho các bộ phận
trong cùng một đơn vị, hay cho các cơ quan bên ngoài Mục tiêu của
sự thay mặt phát biểu này có thể là để giải thích, bảo vệ hay tranh thủ
thêm sự ủng hộ cho tổ chức
Ví dụ: Giám đốc tài chính báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
của công ty trong năm vừa qua trong kỳ họp Đại hội cổ đông được tổ
chức hàng năm
c) Các vai trò quyết định
Loại vai trò cuối cùng của nhà quản trị gồm 4 vai trò : vai trò
doanh nhân, vai trò người giải quyết xáo trộn, vai trò người phân phối
tài nguyên và vai trò nhà thương thuyết
Vai trò doanh nhân xuất hiện khi nhà quản trị tìm cách cải tiến
hoạt động của tổ chức hoặc đưa ra ý kiến mới về sản phẩm, về quy
trình, về nghiệp vụ v.v… Việc này có thể được thực hiện bằng cách áp
dụng kỹ thuật mới hoặc nâng cấp điều chỉnh kỹ thuật đang áp dụng
Trang 29http://www.ebook.edu.vn 29
Trong vai trò người giải quyết xáo trộn, nhà quản trị là người phải
kịp thời đối phó với những biến cố bất ngờ nhằm đưa tổ chức sớm trở
lại sự ổn định
Khi nhà quản trị ở trong tình huống phải quyết định nên phân phối
tài nguyên cho ai, cho đơn vị nào và với số lượng bao nhiêu, thì đó là
lúc nhà quản trị đóng vai trò nhà phân phối tài nguyên Tài nguyên đó
có thể là tiền bạc, thời gian, quyền hành, trang bị, hay con người
Thông thường, khi tài nguyên dồi dào, mọi nhà quản trị đều có thể
thực hiện vai trò này một cách dễ dàng Nhưng khi tài nguyên khan
hiếm, quyết định của nhà quản trị trong vấn đề này sẽ khó khăn hơn,
vì có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động của các đơn vị và của
toàn thể tổ chức
Cuối cùng nhà quản trị còn đóng vai trò của một nhà thương
thuyết, đàm phán thay mặt cho tổ chức trong quá trình hoạt động để
ký kết các hợp đồng cần thiết
Mintzbeg cũng cho rằng sự phối hợp cũng như tầm quan trọng của
các vai trò này thay đổi tùy theo quyền hành và cấp bậc của nhà quản
trị trong tổ chức
Tuy nhiên, dù có thể có vai trò được nhấn mạnh hơn vai trò khác
do tính chất của công việc, nhà quản trị nào cũng nhiều ít đảm nhiệm
các vai trò trên đây
Những khó khăn cho các nhà quản trị hiện đại
Thế giới hiện nay thay đổi nhanh chóng so với thời gian trước đây
về rất nhiều phương diện, như phát triển khoa học kỹ thuật, hội nhập
kinh tế thế giới, thế cân bằng chính trị toàn cầu, giao lưu văn hóa
Trang 30http://www.ebook.edu.vn 30
v.v… Điều này khiến các nhà quản trị trong mọi tổ chức, ở khắp mọi
nơi, ở mọi ngành nghề đều phải thực hiện các chức năng và vai trò của
mình với nhiều khó khăn hơn, để vượt qua nhiều thách đố hơn so với
các nhà quản trị tiền nhiệm của họ
Theo các tác giả Gareth Jones và Jennifer George, bốn thách đố
lớn đang gây sức ép mạnh trên các nhà quản trị hiện nay là : (1) phải
xây dựng cho tổ chức của mình một lợi thế cạnh tranh, (2) phải duy trì
các chuẩn mực đạo đức trong hoạt động, (3) phải quản trị một lực
lượng lao động đa dạng và (4) phải tận dụng công nghệ thông tin một
cách hữu hiệu trong hoạt động quản trị
1 Xây dựng lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh là khả năng của một tổ chức vượt trội hơn các
tổ chức khác, nhờ sản xuất ra những sản phẩm hay dịch vụ hợp nhu
cầu của thị trường Lợi thế cạnh tranh được tạo ra bằng hiệu quả cao
hơn, chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt hơn, xử lí công việc nhanh
hơn, linh hoạt hơn, sáng tạo hơn và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của
khách hàng
2 Duy trì các chuẩn mực đạo đức
Mọi nhà quản trị thường chịu sức ép từ nhiều người, nhiều phía
như các cổ đông, các chủ sở hữu công ty, nhân viên, khách hàng v.v…
để thỏa mãn nhu cầu về quyền lợi của những người này Sức ép có
mặt tích cực là thúc đẩy các nhà quản trị làm việc tốt hơn Nhưng,
nhiều lúc sức ép khiến các nhà quản trị phải làm những điều sai lầm
để đạt mục tiêu ; như mua nguyên liệu xấu để giảm chi phí, làm hàng
đẹp về hình thức nhưng kém chất lượng, hoặc hối lộ viên chức nhà
nước để có hợp đồng Những việc đó được xem là “vô đạo đức” và
nhà quản trị nghiêm túc không được làm
Trang 31http://www.ebook.edu.vn 31
Khi nhà quản trị làm những hành vi “vô đạo đức”, họ có thể đem
lại lợi ích trước mắt cho một vài đối tượng nào đó, nhưng về lâu dài
chính tổ chức và những người có liên quan ở bên trong cũng như bên
ngoài tổ chức sẽ chịu thiệt hại
3 Quản trị một lực lượng lao động đa dạng
Một khó khăn nữa mang tính chất thách đố đối với mọi nhà quản
trị hiện đại là lực lượng lao động mà họ quản trị càng ngày càng đa
dạng về giới tính, về sắc tộc, về ý thức chính trị, về tôn giáo, về trình
độ giáo dục, về giá trị văn hóa v.v… Và họ phải đối xử một cách công
bằng không có phân biệt đối xử với tất cả mọi người dưới quyền Luật
pháp và xã hội nói chung luôn luôn ủng hộ người lao động và đứng về
phía họ trong mọi tranh chấp với nhà quản trị
4 Sự phát triển và nhu cầu tận dụng công nghệ thông tin
Sự phát triển nhanh chóng và lớn mạnh của công nghệ thông tin
tác động đến nhiều mặt của đời sống và thế giới hiện đại Các nhà
quản trị cũng không thể đứng ngoài sự tác động đó của công nghệ
thông tin Công nghệ thông tin làm cho người bên ngoài dễ dàng hiểu
biết khá rõ về nội bộ tổ chức của nhà quản trị, làm gia tăng sự hiểu
biết của nhân viên khiến nhân viên có thêm quyền lực đối với cấp trên
của họ Nhưng công nghệ thông tin cũng giúp các nhà quản trị thực
hiện các chức năng của họ hiệu quả hơn, với kết quả tốt hơn, nhờ hiểu
rõ hơn các cơ hội của thị trường và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách
hàng Ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi lĩnh vực hoạt động của
tổ chức để gia tăng hiệu quả trở thành một thách đố quan trọng đối với
các nhà quản trị ngày nay
Trang 32http://www.ebook.edu.vn 32
TÓM TẮT
1 Nhà quản trị là người có quyền chỉ huy, giám sát công việc của
những người khác Họ cũng có quyền sử dụng mọi tài nguyên trong tổ
chức mà họ quản trị để hoàn thành mục tiêu chung Họ là người chịu
trách nhiệm cuối cùng về các mặt hoạt động và kết quả hoạt động của
tổ chức
2 Các nhà quản trị trong cùng một tổ chức được chia thành ba cấp:
cấp cao, cấp trung và cấp cơ sở Mỗi cấp quản trị có nhiệm vụ khác
nhau đối với tổ chức
3 Để hoàn thành tốt các chức năng và nhiệm vụ của mình, các nhà
quản trị đều cần phải có 3 loại kỹ năng là tư duy, nhân sự và kỹ thuật
Nhưng tỉ trọng của mỗi loại kỹ năng đó không đồng nhất đối với mỗi
cấp quản trị vì nhiệm vụ của họ khác nhau
4 Mintzberg cho rằng các nhà quản trị đều phải thực hiện mười vai
trò khác nhau, được tập trung trong 3 nhóm là: vai trò quan hệ với con
người; vai trò thông tin và vai trò quyết định
5 So với các nhà quản trị của khoảng 10 năm trước đây, các nhà quản
trị hiện nay phải đối phó với nhiều khó khăn và thách đố hơn Jones và
George tổng hợp các khó khăn đó thành 4 loại là (1) phải gia tăng lợi
thế cạnh tranh; (2) phải duy trì các chuẩn mức đạo đức; (3) phải quản
trị một lực lượng lao động đa dạng và (4) phải tận dụng hữu hiệu sự
phát triển của công nghệ thông tin
Trang 33http://www.ebook.edu.vn 33
CÂU HỎI Câu hỏi tự luận
1 Nhà quản trị là ai? Họ có quyền và trách nhiệm gì?
2 Nhà quản trị cần phải có những kỹ năng nào?
3 Trình bày các vai trò của nhà quản trị theo Mintzberg
4 Phân biệt hai khái niệm: nhà quản trị và doanh nhân theo
Mintzberg
5 Theo Jones và George, để tạo được lợi thế cạnh tranh, nhà quản trị
ngày nay phải tập trung vào những việc gì?
Câu hỏi trắc nghiệm
1 Các tổ chức có thể hoạt động tốt dù có hay không các nhà quản trị
2 Nhà quản trị nên có khả năng làm việc giỏi hơn nhân viên
3 Dù có liên quan trực tiếp hay không, nhà quản trị phải chịu trách
nhiệm về những gì xảy ra trong tổ chức của mình
4 Các nhà quản trị hiện đại nên quan tâm đến sự đến sự gia tăng lợi
nhuận hơn là đáp ứng yêu cầu của khách hàng
Trang 34http://www.ebook.edu.vn 34
5 Kỹ năng chuyên môn (kỹ thuật) là yêu cầu quan trọng nhất về kỹ
năng của nhà quản trị cấp cao
6 Nhà quản trị giỏi đồng thời cũng là nhà thương thuyết, đàm phán
giỏi
7 Nhà quản trị hiện đại vừa phải quan tâm đến lợi nhuận, vừa phải
quan tâm đến các chuẩn mực đạo đức
Trang 35http://www.ebook.edu.vn 35
HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI Câu hỏi tự luận
1 Xem nội dung “Khái niệm nhà quản trị” Cần liên hệ thực tế, đưa
ra ví dụ về những nhà quản trị, tổ chức của họ, mục tiêu hoạt động,
các loại tài nguyên có thể sử dụng, vấn đề trách nhiệm của nhà
quản trị v.v…
2 Xem nội dung “Kỹ năng của nhà quản trị”
3 Xem nội dung “Vai trò của nhà quản trị”: nêu rõ 10 loại vai trò và
nội dung công việc của từng vai trò
4 Xem nội dung “Vai trò của nhà quản trị”
5 Xem nội dung “Những khó khăn cho các nhà quản trị hiện đại”
Câu hỏi trắc nghiệm
Trang 36http://www.ebook.edu.vn 36
BÀI 3
Sự tập trung nghiên cứu về Quản trị học với tư cách một khoa học
riêng biệt và đặc thù có thể được xem là sản phẩm của thế kỷ hiện đại
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng nguồn gốc của khoa học
trẻ trung này là các tác phẩm của F Taylor cùng các đồng nghiệp của
tác giả này trong phong trào quản trị khoa học được phát triển trong
đầu thế kỷ XX Từ đó đến nay, đã có rất nhiều lí thuyết quản trị, xuất
phát từ nhiều ngành khoa học khác nhau như tâm lí học, xã hội học,
kinh tế học, chính trị học, toán học v.v… cố gắng giải thích các khía
cạnh khác nhau trong công tác quản trị và đề xuất những cơ sở lí
thuyết giúp nhà quản trị biết cách sử dụng một cách hợp lí các tài
nguyên trong tổ chức nhằm hoàn thành mục tiêu với hiệu quả cao
Những lí thuyết quản trị đó có thể tạm xếp vào ba nhóm chính là :
– Lí thuyết cổ điển về quản trị
– Lí thuyết tâm lí xã hội trong quản trị
– Lí thuyết định lượng về quản trị
Nội dung của bài này giới thiệu khái quát các lí thuyết nói trên và
bắt đầu bằng cái nhìn tổng quan về các lí thuyết quản trị trước phong
trào quản trị khoa học của Taylor, sự khởi đầu của lí thuyết hiện đại
Trang 37http://www.ebook.edu.vn 37
MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, các bạn sẽ biết :
Lí thuyết quản trị trước thế kỷ XX
Lí thuyết Cổ điển về quản trị
Lí thuyết tâm lí xã hội trong quản trị
Lí thuyết Định lượng về quản trị
NỘI DUNG CHÍNH
Lí thuyết quản trị trước phong trào quản trị khoa học
Ở phương tây, những ý kiến về quản trị áp dụng trong kinh doanh
chỉ bắt đầu manh nha xuất hiện từ khoảng thế kỷ XVII, khi hoạt động
thương mại đã phát triển khá mạnh ở vùng Địa trung hải Trước đó,
trong thời Trung cổ, lí thuyết quản trị chưa được phát triển, vì đơn vị
sản xuất kinh doanh vẫn chỉ đóng khung trong phạm vi gia đình Dần
dần, khi hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển nhiều hơn, thì nhu
cầu về quản trị đầu tiên mà người ta nhận thấy là ghi chép các hoạt
động giao dịch kinh doanh Để thỏa mãn nhu cầu đó, Paciolo đã đề
xuất phương pháp kế toán kép vào năm 1494 Tuy nhiên, sự quan tâm
đến quản trị cũng chỉ dừng lại ở đó
Đến thế kỷ XVIII, là thời kỳ có những phát minh mới tạo nên
cuộc cách mạng công nghiệp trong đó đặc biệt là sự ứng dụng động
lực máy hơi nước Việc sản xuất được chuyển từ gia đình đến một
khung cảnh mới là nhà máy Đây là một tổ chức sản xuất có những
đặc điểm khác với tổ chức sản xuất tại gia đình Máy móc nhiều hơn,
công nhân đông hơn và không có quan hệ ruột thịt, hoạt động sản xuất
Trang 38http://www.ebook.edu.vn 38
và kinh doanh cũng lớn hơn Tuy nhiên, khung cảnh sản xuất mới
cũng chưa có tác động lớn đến sự phát triển của lí thuyết quản trị Lí
do là trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, chủ nhân
của nhà máy tự mình đứng ra điều khiển hoạt động sản xuất và thường
họ không phân biệt chức năng của người sở hữu chủ với chức năng
của người quản trị Sự chú ý cũng chỉ tập trung vào khía cạnh kỹ thuật
của sản xuất hơn là vào các nội dung của hoạt động quản trị thực chất
(hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra)
Sự phát triển càng ngày càng lớn mạnh của hoạt động sản xuất
khiến vốn càng ngày trở thành một nhu cầu bức thiết Nhu cầu hút
nhiều vốn để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất đã đưa đến việc áp dụng
ngày càng nhiều các hình thức tổ chức công ty kinh doanh, đặc biệt là
công ty cổ phần (Corporation) Đó là một đơn vị có pháp nhân riêng,
có thể bán cổ phần cho nhiều người để huy động một số vốn lớn Do
có quá nhiều người góp vốn, nhiều chủ sở hữu của vốn đã không thể
trực tiếp tham gia quản trị Đến lúc này, có thể nói rằng sự phân biệt
giữa chức năng của người chủ sở hữu và người quản trị đã trở nên rõ
rệt Chính sự phân biệt này đã tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu
tập trung vào các hoạt động quản trị một cách mạnh mẽ hơn
Cho đến năm 1832, ở châu Âu đã có nhiều nhà khoa học và những
người trực tiếp quản trị các cơ sở sản xuất bắt đầu quan tâm đến việc
cải tiến hoạt động quản trị Trong những nhà chủ trương cải cách xã
hội đã góp phần vào việc cải tiến quản trị xí nghiệp ở châu Âu trong
thế kỷ XIX, có thể kể đến Robert Owen Với tư cách là người quản trị
một xí nghiệp lớn về dệt ở Tô Cách Lan, Robert Owen đã tìm cách cải
thiện điều kiện làm việc và điều kiện sống cho công nhân Xét về
phương diện quản trị học, việc làm của Robert Owen cũng đã đặt ra
một vấn đề mới cho các nhà quản trị quan tâm Đó là mối quan hệ
Trang 39http://www.ebook.edu.vn 39
giữa điều kiện làm việc và điều kiện sống của công nhân với thành
quả của xí nghiệp
Tóm lại, cho đến cuối thế kỷ XIX, các nỗ lực nghiên cứu và đưa
ra những lí thuyết quản trị nhằm giúp nâng cao hiệu quả của công tác
quản trị còn ở tình trạng mới mẻ, bất thường và không có một công
trình tổng hợp nào về những nguyên tắc và kỹ thuật quản trị một cách
đầy đủ Sự chú ý về quản trị cũng chỉ tập trung chủ yếu vào khía cạnh
kỹ thuật của sản xuất là chính Truyền thống chú trọng vào mặt kỹ
thuật của sản xuất sẽ được kế tục với Frederick Taylor vào những năm
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Nhưng Taylor sẽ trở thành người đặt
nền móng đầu tiên cho quản trị học hiện đại vì đã biết chú ý đến
những khía cạnh khác của hoạt động quản trị
Lí thuyết cổ điển về quản trị
Mặc dầu càng ngày càng có nhiều lí thuyết mới về quản trị, những
lí thuyết cổ điển về quản trị vẫn giữ một vị trí xứng đáng trong quản
trị học hiện đại Nhiều kỹ thuật tổ chức và quản trị kinh doanh ngày
nay vẫn áp dụng các nguyên tắc của lý thuyết quản trị cổ điển Thậm
chí, các lí thuyết mới về quản trị cũng chịu ảnh hưởng một cách có ý
thức hoặc không có ý thức của những lí thuyết quản trị cổ điển
Lí thuyết cổ điển về quản trị bao gồm hai lí thuyết chính Một là
“Lí thuyết quản trị một cách khoa học” ở Hoa kỳ với Frederick Taylor
và các cộng sự viên Hai là “Lí thuyết quản trị hành chính” xuất hiện
vài năm sau với Henry Fayol ở Pháp, Max Weber ở Đức, Chester
Barnard, Luther Gulick và Lynda Urwick ở Anh và Hoa kỳ
1 Lí thuyết Quản trị một cách khoa học
Trang 40http://www.ebook.edu.vn 40
Thuật ngữ “Quản trị một cách khoa học” (Scientific Management)
được một người ủng hộ lí thuyết của Taylor là Louis Brandeis sử
dụng lần đầu tiên trong một báo cáo trước Ủy ban Thương mại Liên
Bang Hoa Kỳ vào năm 1910 Một năm sau, thuật ngữ đó được chính
Taylor sử dụng để đặt tên cho tác phẩm của mình với nhan đề là các
nguyên tắc Quản trị một cách khoa học, xuất bản năm 1911 Từ đó
đến nay, thuật ngữ này được dùng để chỉ các ý kiến của một nhóm các
tác giả ở Hoa kỳ, mà đứng đầu là Frederick Winslow Taylor (1856 –
1915) muốn nâng cao hiệu quả quản trị bằng cách trình bày các biện
pháp để tăng năng suất lao động của công nhân Tên tuổi của Taylor
được gắn liền với lí thuyết quản trị khoa học, và vì lí thuyết quản trị
khoa học là nỗ lực đầu tiên của con người trình bày một cách có hệ
thống những nguyên tắc cơ bản để quản trị các cơ sở sản xuất, trong
thế giới phương tây, người ta đã gọi Taylor là cha đẻ của quản trị học
Lí thuyết quản trị một cách khoa học vì vậy, cũng còn được gọi bằng
những tên khác như lí thuyết Taylor, chủ nghĩa Taylor v.v…
a) Frederick Winslow Taylor (1856 –1915)
Taylor là một kỹ sư cơ khí, xuất thân từ công nhân và trở thành kỹ
sư trải qua vừa làm vừa học ban đêm Trong quá trình làm việc trong
một nhà máy luyện cán thép, Taylor đã có nhiều cơ hội để quan sát
thực tế quản trị trong nhà máy Qua các kinh nghiệm đó, Taylor đã
cho rằng có 2 nguyên nhân chính khiến năng suất lao động của công
nhân thấp và vì năng suất lao động thấp nên sự quản trị đã kém hiệu
quả
Hai nguyên nhân khiến năng suất lao động kém là:
Công nhân không biết phương pháp làm việc
Công nhân làm việc thiếu nhiệt tình và hăng hái