1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

89 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tìm hiểu những vấn đề trên, tác giả đã tiến hành nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á dựa trên Khung phân tích CAMELS và Bộ chỉ

Trang 1

Nguyễn Công Tâm – MFB3 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Cơ sở hình thành luận văn

Hệ thống tài chính, phần lớn do các ngân hàng chi phối, luôn đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ 1997-1998 xuất phát từ châu Á rồi lan rộng và gây nên cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế trên toàn cầu đã cho thấy vai trò của hệ thống tài chính quan trọng như thế nào Do đó, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát lĩnh vực tài chính, tăng tính minh bạch và ổn định của hệ thống tài chính, cũng như tăng cường kỷ luật thị trường, từ năm 2001, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã xây dựng và phổ biến “Bộ chỉ số lành mạnh tài chính” (Financial Soundness Indicators - FSIs) Theo Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2011), bộ chỉ số này đo lường sự lành mạnh tài chính của mỗi quốc gia, có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, nhìn nhận chính xác thực trạng

và hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính mỗi quốc gia cũng như toàn cầu, đồng thời có vai trò lớn trong việc dự đoán, cảnh báo sớm và hoạch định chính sách, đưa ra các biện pháp quản lý hợp lý nhằm hạn chế những bất ổn, rủi ro có thể xảy ra, góp phần ngăn chặn, giảm thiểu hậu quả của khủng hoảng tài chính

Và mặc dù đã có những bài học đắt giá từ sau cuộc khủng hoảng 1997-1998 và tuân thủ khá chặt chẽ theo các chương trình giám sát của IMF và Ủy ban giám sát ngân hàng Basel, hệ thống ngân hàng các nước phát triển lại một lần nữa lung lay bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 Và sau cuộc khủng hoảng này, tính

an toàn và hiệu quả của những tập đoàn tài chính – ngân hàng đã bị đặt dấu hỏi lớn với sự sụp đổ của Lehman Brothers và sự suy yếu của rất nhiều tập đoàn tài chính – ngân hàng hùng mạnh tại Mỹ và trên khắp thế giới Riêng các ngân hàng tại khu vực Đông Nam Á đã không phải chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng này Tuy nhiên, có phải thật sự các ngân hàng tại khu vực này hoạt động an toàn và hiệu quả trong giai đoạn vừa qua hay chỉ hoàn toàn may mắn nhờ vào mức độ hội nhập chưa thật sự sâu vào thị trường tài chính quốc tế (trừ Singapore)? Những yếu tố nào đã tác động đến hiệu quả của các ngân hàng trong khu vực này?

Đối với Việt Nam, hệ thống tài chính của nước ta đã phát triển rất mạnh kể từ đầu thập niên 90 thế kỷ XX đến nay với sự ra đời và mở rộng liên tục của các ngân hàng và chi nhánh, đặc biệt là trong thời gian gần đây Nhiều ngân hàng thương mại

Trang 2

Nguyễn Công Tâm – MFB3 2

(NHTM) và tổ chức tín dụng đã phát triển lên mô hình tập đoàn, cung cấp gần như đầy đủ các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho khách hàng tổ chức và cá nhân (Vũ Đình Ánh, 2012) Mặc dù vậy, sự phát triển bùng nổ cả về quy mô và mức độ đa dạng của

hệ thống NHTM tại Việt Nam đã bắt đầu bộc lộ những mặt trái của nó trong khoảng thời gian vừa qua, đó là những nguy cơ rủi ro về thanh khoản, tín dụng,… gây tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Bên cạnh đó, mức độ minh bạch của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện đang ở mức rất thấp, thể hiện rõ nét nhất qua việc đến cuối năm 2011 nước ta vẫn chưa công bố bất kỳ chỉ số nào trong bộ chỉ số lành mạnh tài chính cho IMF Trong khi đó, sau khi vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009, ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á khác ngày càng vững mạnh, ổn định và hiệu quả Như vậy, với sự non trẻ của mình, các ngân hàng tại Việt Nam cần rút ra bài học gì từ các nước láng giềng để nâng cao hiệu quả, hạn chế những tác động xấu từ những rủi ro hiện hữu và tránh đi theo vết xe đổ của các tập đoàn tài chính – ngân hàng hùng mạnh trên thế giới?

Để tìm hiểu những vấn đề trên, tác giả đã tiến hành nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á dựa trên Khung phân tích CAMELS và Bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF Qua đó, mong muốn đem đến một cái nhìn tổng quát về hiệu quả hoạt động và các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại khu vực này từ trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 đến nay Từ đó, rút ra bài học cần thiết cho các ngân hàng tại Việt Nam, làm căn cứ để những cơ quan quản lý có thể hoàn thiện các chính sách, quy định và ban quản trị các ngân hàng điều chỉnh phương thức kinh doanh, cách thức quản trị, để các ngân hàng tại Việt Nam hoạt động minh bạch, hiệu quả và an toàn hơn

Theo đó, tác giả đã chọn đề tài “Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các

quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” cho luận văn Thạc sĩ

của mình

1.2 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi sau:

 Những yếu tố nào tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc

gia Đông Nam Á? Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này ra sao?

Trang 3

Nguyễn Công Tâm – MFB3 3

Bài học kinh nghiệm nào rút ra cho các ngân hàng tại Việt Nam?

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Để trả lời cho các câu hỏi trên, nghiên cứu tập trung vào các mục tiêu:

 Thứ nhất, xác định được các yếu tố tác động và mức độ tác động của các yếu tố

đó đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á

 Thứ hai, rút ra bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng tại Việt Nam

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Để nghiên cứu hiệu quả và các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, tác giả lựa chọn mỗi quốc gia 05 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) nội địa có tổng tài sản lớn nhất vào thời điểm cuối năm 2011 Các quốc gia được nghiên cứu bao gồm: Indonesia, Malaysia, Phillipines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2005-2011 Yếu tố tổng tài sản được sử dụng để làm tiêu chí lựa chọn mẫu nhằm phục vụ mục tiêu xem xét hiệu quả của các tập đoàn ngân hàng trong tình hình bùng nổ mô hình này trong thời gian qua Các ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài hay văn phòng đại diện của các ngân hàng nước ngoài cũng bị bỏ qua vì luôn có những ràng buộc nhất định của Chính phủ và các cơ quan quản lý đối với các loại hình ngân hàng này

về quy mô hay phạm vi hoạt động Ngoài Việt Nam, năm quốc gia còn lại được lựa chọn đưa vào nghiên cứu nhằm phục vụ mục tiêu rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam vì đây đều là những quốc gia có trình độ phát triển kinh tế và tài chính tương đương và cao hơn Việt Nam, do đó những quốc gia còn lại trong khu vực đã được bỏ qua, một phần cũng do sự hạn chế trong khả năng tiếp cận dữ liệu

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu định lượng Với phương pháp này, tác giả sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy bảng (Panel Regression) để xây dựng mô hình hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đặt

ra nhằm xem xét các yếu tố tác động và mức độ tác động của các yếu tố trên lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài nghiên cứu tìm hiểu hiệu quả hoạt động và các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTMCP tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Qua đó,

Trang 4

Nguyễn Công Tâm – MFB3 4

góp phần đem đến một cái nhìn tổng quát về hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại khu vực này, đồng thời so sánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại Việt Nam với ngân hàng tại các quốc gia còn lại trong khu vực Với bài học rút ra cho Việt Nam qua kết quả nghiên cứu thực nghiệm, hy vọng các cơ quan quản lý và những nhà hoạch định chính sách có thể phần nào căn cứ vào đó để hoàn thiện các chính sách, quy định và ban quản trị các ngân hàng điều chỉnh phương thức kinh doanh, cách thức quản trị, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động từng ngân hàng cũng như sự lành mạnh, an toàn cho ngành ngân hàng trong giai đoạn khó khăn hiện nay

1.7 Kết cấu đề tài

Đề tài nghiên cứu bao gồm 6 chương Sau khi giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu ở Chương 1, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu lý thuyết cơ sở về hiệu quả hoạt động của ngân hàng và trình bày ngắn gọn một số nghiên cứu trước cùng chủ đề

ở Chương 2 Chương 3 là những thông tin tổng quan về ngành ngân hàng tại khu vực Đông Nam Á và hiệu quả của chúng qua những giai đoạn đáng chú ý Những vấn đề liên quan đến dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu,… sẽ được trình bày chi tiết ở Chương 4 Chương 5 sẽ trình bày tóm tắt Kết quả nghiên cứu Và cuối cùng, Chương 6 sẽ bao gồm phần Kết luận, bài học rút ra cho Việt Nam, những hạn chế của đề tài và những đề xuất cho hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 5

Nguyễn Công Tâm – MFB3 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết về hiệu quả hoạt động của ngân hàng và các cơ sở khác làm nền tảng cho nghiên cứu Các yếu tố chính thường được cho là có tác động đến hiệu quả của ngân hàng cũng được tổng hợp và trình bày ngắn gọn Cuối cùng, tác giả đã tóm tắt lại một vài nghiên cứu thực nghiệm trước đây để có cái nhìn tổng quát hơn về việc chủ đề nghiên cứu đã được thực hiện tại các quốc gia và khu vực trên thế giới như thế nào

2.1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thông thường được đo lường bằng khả năng sinh lợi Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động hay khả năng sinh lợi của ngân hàng

cơ bản dựa trên 2 lý thuyết: lý thuyết quyền lực thị trường (MP – Market Power) và lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES– Efficient Structure)

Lý thuyết MP có hai hướng tiếp cận chính: lý thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP, Structure – Conduct - Performance) và lý thuyết quyền lực thị trường tương đối (RMP – Relative Market Power) Lý thuyết SCP cho rằng cấu trúc của thị trường quyết định hành vi của công ty và rằng hành vi quyết định kết quả trên thị trường, chẳng hạn như hiệu quả hoạt động, tiến bộ về kỹ thuật và tăng trưởng Đặc biệt, nhiều ngành có sự tập trung cao tạo ra những hành vi dẫn đến kết quả kinh tế nghèo nàn, đặc biệt là làm giảm sản lượng và hình thành giá cả độc quyền (Bain, 1951) Lập luận theo

lý thuyết SCP, thị trường ngân hàng càng tập trung thì lãi suất cho vay càng cao và lãi suất huy động càng thấp vì mức độ cạnh tranh bị giảm đi Theo Al-Muharrami và Matthews (2009), nghiên cứu theo lý thuyết SCP về hiệu quả các ngân hàng về tổng quát có thể được chia thành hai nhóm theo các biện pháp đo lường hiệu quả được sử dụng Nhóm đầu tiên sử dụng một số biện pháp đo lường giá cả một số sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cụ thể, trong khi thứ hai sử dụng một thước đo hiệu quả hoạt động, chẳng hạn như lợi nhuận trên tài sản hoặc vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, sử dụng mức giá của một hay vài sản phẩm ngân hàng duy để đo lường hiệu suất có thể bị sai lệch

do tính chất đa sản phẩm của một ngân hàng Biện pháp hiệu quả hoạt động thì có thể cung cấp nhiều thông tin hơn, nhưng cũng có thể giải thích khó khăn hơn vì sự phức tạp của các thủ tục kế toán (Al-Muharrami và Matthews, 2009) Một trường hợp đặc biệt của lý thuyết MP là lý thuyết quyền lực thị trường tương đối RMP, lý thuyết này

Trang 6

Nguyễn Công Tâm – MFB3 6

gợi ý rằng các công ty có thị phần lớn và các sản phẩm khác biệt có thể thực hiện quyền lực thị trường và kiếm lợi nhuận không cạnh tranh (Berger, 1995b) Chẳng hạn, một số ngân hàng lớn với ưu thế thương hiệu và chất lượng sản phẩm của mình có thể tăng giá sản phẩm, dịch vụ và thu được nhiều lợi nhuận hơn

Ở phía ngược lại, lý thuyết ES cho rằng mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường

và hiệu suất công ty được xác định bởi hiệu suất của công ty, hay nói cách khác, hiệu suất của công ty tạo nên cấu trúc thị trường Theo đó, các ngân hàng đạt lợi nhuận cao hơn là do chúng hoạt động hiệu quả hơn (Olweny và Shipho, 2011) Lý thuyết ES thường được đề xuất theo hai hướng tiếp cận khác nhau, tùy thuộc vào loại hiệu suất được xem xét Ở hướng tiếp cận theo hiệu quả X (X-Efficiency), các công ty hiệu quả hơn thường đạt được lợi nhuận cao và thị phần lớn hơn, bởi vì họ có khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất ở bất kỳ sản lượng đầu ra nào (Al-Muharrami và Matthews, 2009) Đối với hướng tiếp cận hiệu quả theo quy mô (Scale-Efficiency), mối quan hệ được mô tả ở trên được giải thích dựa trên quy mô Các ngân hàng lớn hơn có chi phí sản xuất thấp hơn, nhờ đó lợi nhuận cao hơn là nhờ vào tính kinh tế theo quy mô (Olweny và Shipho, 2011)

Bên cạnh 2 lý thuyết trên, lý thuyết về danh mục đầu tư cân bằng (Balanced Porfolio Theory) cũng đã được sử dụng để cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn trong việc nghiên cứu về hiệu quả hoạt động ngân hàng (Nzongang và Atemnkeng, 2006) Lý thuyết danh mục đầu tư cân bằng, đôi khi được gọi là lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại, cho rằng nhà đầu tư có thể tối thiểu hóa rủi ro thị trường cho một mức lợi nhuận

kỳ vọng thông qua việc tạo ra danh mục đầu tư đa dạng hóa Trong thực tế, nó tìm cách để đảm bảo rằng các khoản đầu tư được nắm giữ trong cùng một tài khoản không phải cùng thay đổi (tăng/giảm) theo một mô hình hay chiều hướng giống nhau Hiệu quả tổng thể của việc đa dạng hóa này là để giảm thiểu biến động của lợi nhuận kỳ vọng Theo đó, việc nắm giữ tối ưu từng tài sản trong danh mục đầu tư đa dạng là một hàm của các quyết định về chính sách được xác định bởi một số yếu tố như tỷ suất lợi nhuận trên toàn bộ tài sản trong danh mục đầu tư, rủi ro gắn liền với quyền sở hữu của mỗi tài sản và kích cỡ của danh mục đầu tư (Agu, 1992) Điều đó ngụ ý rằng việc đa dạng hóa danh mục đầu tư và các thành phần danh mục đầu tư mong muốn của các

Trang 7

Nguyễn Công Tâm – MFB3 7

NHTM là kết quả của các quyết định của ban quản trị ngân hàng (Nzongang và Atemnkeng, 2006)

Như vậy, có thể thấy lý thuyết MP cho rằng hiệu quả hoạt động của ngân hàng

là một hàm theo các yếu tố thị trường, trong khi lý thuyết ES và lý thuyết danh mục đầu tư lại cho rằng hiệu quả của ngân hàng chịu ảnh hưởng của hiệu quả nội bộ và các quyết định quản trị, tức các yếu tố bên trong Theo đó, nhiều nghiên cứu đã đựa dựa vào các lý thuyết trên để giới thiệu một số biến hữu ích đưa vào trong các mô hình đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, và phần lớn đều thừa nhận rằng hiệu quả hoạt động của ngân hàng là một hàm theo cả các yếu tố bên trong và bên ngoài (Olweny và Shipho, 2011) Tuy nhiên, không một nghiên cứu nào liệt kê đầy đủ hay khẳng định được có bao nhiêu yếu tố như vậy Đối với nghiên cứu này, tác giả sử dụng cả các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài để giải thích cho sự thay đổi trong hiệu quả hoạt động của ngân hàng, trong đó các yếu tố bên trong dựa trên nền tảng khung phân tích CAMEL và bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF

2.2 Khung phân tích CAMELS

Hiện nay, việc phân tích tình hình hoạt động và rủi ro của một ngân hàng thường được thực hiện bằng khung phân tích CAMELS CAMELS đã được áp dụng

từ những năm 1970 - là hệ thống xếp hạng, giám sát tình hình ngân hàng của Mỹ (Nguyễn Đức Tú, 2011) Khung phân tích CAMELS bao gồm 6 yếu tố: Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy), Chất lượng tài sản có (Asset Quality), Quản lý (Management), Thu nhập (Earnings), Thanh khoản (Liquidity) và Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (Sensitivity to Market Risk)

Rất nhiều các nghiên cứu đánh giá các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM trên thế giới dựa trên nền tảng của CAMELS (hoặc CAMEL) như nghiên cứu của Uzhegova (2010), Olweny và Shipho (2011),…và CAMELS cũng được Ủy ban giám sát ngân hàng Basel và Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đề xuất sử dụng (Baral, 2005) Nghiên cứu này cũng sử dụng CAMEL làm cơ sở cho mô hình

2.3 Bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF (FSIs)

Theo ngân hàng nhà nước Việt Nam (2011), bộ chỉ số lành mạnh tài chính do Quỹ tiền tệ quốc tế IMF xây dựng và ban hành nhằm giúp lành mạnh hóa hệ thống tài

Trang 8

Nguyễn Công Tâm – MFB3 8

chính, cũng như cảnh báo sớm những nguy cơ, rủi ro có thể xảy ra cho hệ thống tài chính của các quốc gia thành viên Bộ chỉ số này bao gồm 40 chỉ số tài chính, trong đó

có 25 chỉ số phản ánh tình hình tài chính của khu vực tổ chức nhận tiền gửi, bao gồm

12 chỉ số cốt lõi và 13 chỉ số khuyến khích; các chỉ số còn lại phản ánh tình hình tài chính của khu vực tổ chức tài chính khác, tổ chức phi tài chính, hộ gia đình; tình hình thanh khoản của thị trường và tình hình của thị trường bất động sản

Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng ta chỉ quan tâm đến nhóm 12 chỉ số cốt lõi cho các tổ chức nhận tiền gửi, vì đây là những chỉ số cơ bản và quan trọng nhất đối với các tổ chức nhận tiền gửi mà IMF đưa ra Nhóm chỉ số này là cơ sở để lựa chọn các biến đưa vào mô hình nghiên cứu

Bảng 2.1: Tổng hợp các chỉ số cốt lõi cho các tổ chức nhận tiền gửi

An toàn

vốn

1 Tỷ lệ vốn cấp 1 và cấp 2 so với tài sản điều chỉnh theo trọng số rủi ro

Chỉ số này đo lường tỷ lệ an toàn vốn của tổ chức nhận tiền gửi hay chính là đo lường khả năng đáp ứng đủ vốn của tổ chức này Chỉ số này cũng cho biết khả năng đối phó của tổ chức nhận tiền gửi trước các cú sốc

2 Tỷ lệ vốn cấp 1 so với tài sản điều chỉnh theo trọng số rủi ro

Là chỉ số đo lường sự an toàn vốn của tổ chức nhận tiền gửi dựa trên khái niệm cốt lõi

về vốn của Ủy ban Giám sát Ngân hàng

3 Nợ xấu ròng trên vốn

Chỉ số này đánh giá sự an toàn vốn của tổ chức nhận tiền gửi và là một chỉ báo quan trọng về năng lực vốn của tổ chức nhận tiền gửi trước những tổn thất do nợ xấu gây ra

tổ chức nhận tiền gửi, đồng thời, chỉ số này dùng để xác định độ rủi ro của tài sản trong danh mục cho vay

5 Tỷ trọng dư nợ theo lĩnh vực kinh tế so với tổng dư nợ

Đây cũng là chỉ số đánh giá chất lượng tài sản Chỉ số này cung cấp thông tin về sự phân bố của các khoản vay (bao gồm cả nợ xấu và khoản nợ trước khi khấu trừ các khoản dự phòng) đối với người cư trú và người không cư trú Thiếu sự đa dạng hóa trong danh mục cho vay sẽ là tín hiệu tồn tại

Trang 9

Nguyễn Công Tâm – MFB3 9

Đây là một chỉ số đánh giá về lợi nhuận của

tổ chức nhận tiền gửi và được dùng để đo lường hiệu quả trong sử dụng tài sản của họ

7 Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

Đây cũng là một chỉ số đánh giá về lợi nhuận của tổ chức nhận tiền gửi và được dùng để đo lường hiệu quả của tổ chức nhận tiền gửi trong việc sử dụng vốn

8 Thu nhập ròng từ lãi so với tổng thu nhập

Chỉ số này dùng để so sánh giữa thu nhập ròng từ lãi (thu nhập từ lãi trừ đi lãi phải trả)

và tổng thu nhập Trong trường hợp các tổ chức nhận tiền gửi có đòn bẩy thấp, thì chỉ

số này thường có xu hướng cao hơn

9 Chi phí ngoài trả lãi trên tổng thu nhập

Đây là một chỉ số về tỷ lệ lợi nhuận, dùng để

đo lường chi phí quản lý so với tổng thu nhập và đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn của các tổ chức nhận tiền gửi

cú sốc càng lớn và ngược lại

khoản trên nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này đo lường mức thanh khoản của tài sản so với nguồn vốn ngắn hạn và dùng

để đánh giá khả năng cân đối giữa tài sản và

nợ Đồng thời, chỉ tiêu này cũng cho biết khả năng đáp ứng việc rút vốn ngắn hạn của khách hàng mà không ảnh hưởng đến thanh khoản của tổ chức nhận tiền gửi

Đây là một chỉ số về độ nhạy của tổ chức nhận tiền gửi trước những biến động của thị trường, dùng để đánh giá nguy cơ rủi ro tỷ giá Chỉ số này cho biết khả năng cân đối giữa tài sản ngoại tệ và trạng thái vốn, dùng

để đánh giá nguy cơ rủi ro do biến đổi tỷ giá

Nguồn: IMF (2011), Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2011)

Trang 10

Nguyễn Công Tâm – MFB3 10

2.4 Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Có rất nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, có thể phân loại chúng thành hai nhóm: nhóm các yếu tố bên trong và nhóm các yếu tố bên ngoài Các yếu tố chính tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng tổng hợp từ nhiều nghiên cứu trước đây sẽ được trình bày bên dưới

2.4.1 Các yếu tố bên trong:

Các yếu tố bên trong là các yếu tố chịu sự tác động chính từ những quyết định

mang tính chủ quan của ban quản trị ngân hàng, bao gồm:

Quy mô ngân hàng: quy mô thường được sử dụng để xem xét tính kinh tế

theo quy mô trong ngành ngân hàng Quy mô ngân hàng ở đây có thể là quy mô về vốn, về tài sản,… Theo Olweny và Shipho (2011), quy mô lớn sẽ giúp các ngân hàng

có lợi thế trong việc giảm thiểu chi phí sản phẩm, nâng cao hiệu quả hoạt động nhờ vào tính kinh tế theo quy mô Gul và ctg (2011) tìm thấy bằng chứng cho rằng quy

mô tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động ngân hàng Olweny và Shipho (2011) cũng tìm thấy tác động tích cực của quy mô lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Trong khi đó, Athanasoglou và ctg (2005), Said và Tumin (2011) lại không tìm

thấy bằng chứng nào về tác động của quy mô lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Mức độ an toàn vốn: mức độ an toàn vốn của các ngân hàng hiện nay được

đánh giá qua tỉ lệ an toàn vốn (CAR) CAR thể hiện tỉ lệ vốn tự có so với tổng tài sản

đã điều chỉnh rủi ro để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng Các hoạt động của ngân hàng càng rủi ro thì càng cần tỉ lệ vốn tự có cao hơn để đảm bảo hoạt động và bù đắp kịp thời cho những rủi ro trên Hiện tại, các cơ quan quản lý ngành ngân hàng các nước luôn yêu cầu các ngân hàng phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu Hiệp ước vốn Basel II đang duy trì tỉ lệ này ở mức 8% trong khi ngân hàng nhà nước yêu cầu tỉ

lệ an toàn vốn tối thiểu cho các ngân hàng Việt Nam là 9% Các ngân hàng có tình trạng nguồn vốn an toàn được cho rằng có nhiều thời gian cũng như sự linh hoạt để đối phó với những vấn đề phát sinh hay tổn thất bất ngờ về vốn, tức ít chịu rủi ro hơn, nhưng sẽ mất đi cơ hội theo đuổi nhiều cơ hội kinh doanh hiệu quả Tuy nhiên, hầu hết các kết quả nghiên cứu đều cho thấy yếu tố an toàn vốn có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, chẳng hạn nghiên cứu của Berger (1995), Athanasoglou và ctg (2005), Sufian và Chong (2008) tại Mỹ, Hy Lạp và Kenya

Trang 11

Nguyễn Công Tâm – MFB3 11

Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là khả năng không chi trả được nợ của bên đi

vay đối với bên cho vay khi đến hạn phải thanh toán Mức độ rủi ro tín dụng phụ thuộc vào chất lượng tài sản mà ngân hàng nắm giữ (Olweny và Shipho, 2011), chất lượng tài sản càng cao thì rủi ro tín dụng càng thấp và ngược lại Bất kỳ một hợp đồng cho vay nào cũng có rủi ro tín dụng và bên cho vay luôn phải chịu rủi ro khi chấp nhận một hợp đồng cho vay Nếu ngân hàng chấp nhận nhiều khoản cho vay có chất lượng thấp, tức rủi ro tín dụng cao thì ngân hàng có khả năng phải đối mặt với tình trạng thiếu vốn, cùng với đó là doanh thu, lợi nhuận giảm sút, thậm chí phá sản Nhiều nghiên cứu trước đây đều tìm thấy tác động ngược chiều của rủi ro tín dụng lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng, chẳng hạn các nghiên cứu của Athanasoglou và tác giả (2005 và 2006) ở Hy Lạp và Đông Nam châu Âu, Sufian và Chong (2008) ở

Philippines,…

Chất lượng quản trị chi phí: chất lượng của công tác quản lý chính là chìa

khóa thành công không chỉ riêng ngành ngân hàng mà cho rất nhiều lĩnh vực khác Có rất nhiều thứ cần quản lý, trong đó việc kiểm soát chi phí hoạt động là một yếu tố liên quan chặt chẽ đến khái niệm quản lý hiệu quả và là yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động ngân hàng Ngân hàng nào kiểm soát tốt chi phí hoạt động thì lợi nhuận sẽ cao, hiệu quả hoạt động được cải thiện Kết quả nghiên cứu của Olweny và Shipho (2011) hay Athanasoglou và ctg (2005) ủng hộ quan điểm trên Tuy nhiên, nghiên cứu của Sufian và Habibullah (2009) tại Bangladesh lại cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa chi phí và hiệu quả hoạt động của ngân hàng với lập luận rằng: chi phí cho nhân viên càng cao, đặc biệt là cho bộ phận lãnh đạo, thì sẽ tạo ra động lực để họ làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn, tức năng suất lao động sẽ cao hơn, dẫn đến gia tăng

hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng không đủ khả

năng đáp ứng nhu cầu vốn khả dụng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là một trong những rủi ro lớn nhất của ngân hàng, nó tác động một cách tiêu cực đến sức khỏe và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Tuy nhiên, việc giữ cho thanh khoản luôn ở mức cao để giảm thiểu rủi ro thanh khoản cũng có mặt trái của nó, đó là

sự tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động ngân hàng vì phải tốn nhiều chi phí cơ hội Vì vậy, việc duy trì tình trạng thanh khoản ở mức độ nào để cân đối giữa rủi ro và

Trang 12

Nguyễn Công Tâm – MFB3 12

lợi nhuận của các ngân hàng là công việc thường xuyên và tốn nhiều công sức của các ngân hàng Nghiên cứu của Olweny và Shipho (2011) cho thấy ngân hàng có thanh khoản cao hơn sẽ có hiệu quả hoạt động cao hơn, tức tính thanh khoản tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động ngân hàng Athanosoglou và ctg (2006) lại tìm thấy tác động ngược chiều của thanh khoản lên hiệu quả hoạt động ngân hàng Trường hợp khác, Said và Tumin (2011) lại cho rằng thanh khoản không có tác động đáng kể đến

hiệu quả hoạt động của các ngân hàng

Chính sách lãi suất của ngân hàng: Trong quá trình hoạt động, các NHTM

phải thường xuyên điều chỉnh, cân đối giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay sao cho hợp lý, đem lại mức lợi nhuận phù hợp đồng thời vẫn giữ chân được khách hàng Chính sách lãi suất tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động của NHTM Mức lãi suất huy động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí vốn trong khi tiền lãi từ hoạt động tín dụng là nguồn thu nhập chủ yếu của NHTM Nghiên cứu của Bobáková (2003) đã cho thấy hiệu quả hoạt động của các NHTM chịu tác động bởi chính sách lãi suất và những nhà quản trị ngân hàng có thể điều chỉnh chính sách lãi suất để tăng

hiệu quả hoạt động của ngân hàng mình

Mức độ đa dạng hóa thu nhập: Trong những năm gần đây, các NHTM ngày

càng tạo ra được thu nhập từ nhiều hoạt động khác nhau chứ không còn gói gọn trong một vài hoạt động truyền thống nữa, đó gọi là sự đa dạng hóa thu nhập Khái niệm về

sự đa dạng hóa thu nhập bắt nguồn từ lý thuyết danh mục đầu tư, rằng tổ chức hoặc cá nhân có thể giảm thiểu rủi ro bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình Tuy nhiên, lợi ích đến mức nào của chiến lược này vẫn còn là đề tài gây tranh cãi Những người ủng hộ thì cho rằng việc đa dạng hóa sẽ đem đến nguồn thu nhập ổn định hơn

và tính kinh tế theo quy mô Bên phía phản đối thì lại cho rằng việc đa dạng hóa sẽ làm gia tăng chi phí hoạt động và việc quản lý sẽ phức tạp hơn Nghiên cứu của Sufian (2011) cho thấy mối tương quan thuận giữa thu nhập ngoài lãi và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Hàn Quốc, nghiên cứu của Oweny và Shipho (2011) cũng cho kết quả tương tự Trong khi đó, Kotrozo và Choi (2006) lại tìm thấy rằng ngân hàng nào đa dạng hóa hoạt động thì hiệu quả có xu hướng giảm so với các ngân hàng tập trung hơn vào các hoạt động của họ

Trang 13

Nguyễn Công Tâm – MFB3 13

Mạng lưới phân phối: Ngày nay, trong thời kỳ cạnh tranh ngày càng khốc liệt,

tương tự như doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác, các NHTM cũng phải xây dựng

và ngày càng mở rộng mạng lưới phân phối các sản phẩm, dịch vụ của mình Điều này vừa tạo ra thêm nhiều cơ hội để phát triển hoạt động cũng như gia tăng lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, vừa để đáp ứng một cách đa dạng nhu cầu của từng nhóm đối tượng khách hàng, giúp cải thiện hiệu quả ngân hàng Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Hirtle (2005) tại Mỹ trong giai đoạn 1995-2003 đã không tìm được bằng chứng cho thấy không có mối quan hệ giữa mạng lưới phân phối, đại diện bởi quy mô mạng lưới chi nhánh, và lợi nhuận của các ngân hàng, đồng thời các ngân hàng có quy mô mạng lưới cỡ vừa sẽ bất lợi hơn trong cạnh tranh

Năng suất lao động: Trong lĩnh vực ngân hàng, năng suất lao động chung

được biểu hiện ở doanh thu sản phẩm và dịch vụ mà ngân hàng cung cấp trong một

khoảng thời gian cụ thể hay trên số lượng lao động sẵn có Không riêng gì ngân hàng,

năng suất lao động là yếu tố quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp Năng suất lao động tăng lên thì sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí, từ đó làm tăng hiệu quả hoạt động Nghiên cứu của Athanasoglou và ctg (2005) đã tìm thấy tăng trưởng năng suất

có tác động tích cực và đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Với cách

đo lường năng suất bằng tổng doanh thu trên tổng số nhân viên, nghiên cứu trên cho thấy sự tăng trưởng năng suất cao hơn làm tăng hiệu quả hoạt động ngân hàng, hay nói cách khác, các ngân hàng có thể gia tăng hiệu quả hoạt động của họ bằng cách cải thiện năng suất lao động thông qua việc tuyển dụng lao động chất lượng cao và giảm

thiểu tổng số lao động

Tình trạng công nghệ thông tin: Trong những năm gần đây, việc các NHTM

đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp tiếp cận những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại Công nghệ thông tin là yếu tố đóng vai trò nòng cốt, là nhân tố tạo dựng một nền móng vững chắc giúp các ngân hàng đứng vững trong thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt Ngân hàng nào được trang bị tốt về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin

và chịu khó cập nhật công nghệ mới thường xuyên thì năng lực cạnh tranh và khả năng chiếm thị phần sẽ tăng lên đáng kể, giảm bớt được chi phí giao dịch, từ đó sẽ làm gia tăng hiệu quả hoạt động Sự gia tăng hiệu quả hoạt động ròng do có được lợi thế

Trang 14

Nguyễn Công Tâm – MFB3 14

chi phí và lợi thế cạnh tranh khi ngân hàng tập trung đầu tư vào công nghệ thông tin

đã được chứng minh qua nghiên cứu của Porter và Millar (1985)

2.4.2 Các yếu tố bên ngoài:

Thị phần: Lý thuyết quyền lực thị trường tương đối (RMP – Relative Market

Power) gợi ý rằng các công ty có thị phần lớn và các sản phẩm khác biệt có thể thực hiện quyền lực thị trường và kiếm lợi nhuận không cạnh tranh (Berger, 1995b) Các ngân hàng với ưu thế thương hiệu và thị phần lớn có thể tăng giá sản phẩm, dịch vụ và thu được nhiều lợi nhuận hơn Athanasoglou và ctg (2006), Kosak và Cok (2008) đều tìm thấy tác động cùng chiều của thị phần lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng các nước Đông Nam châu Âu Trong khi đó, nghiên cứu của Guru và ctg (2002) tại Malaysia lại không tìm thấy bằng chứng cho thấy có mối quan hệ giữa thị phần và

hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Mức độ tập trung thị trường: Căn cứ vào lý thuyết quyền lực thị trường

(MP), thị trường ngân hàng càng tập trung thì mức độ cạnh tranh càng giảm đi, và các ngân hàng với tính độc quyền cao có thể kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Nghiên cứu thực nghiệm của Nzongang và Attemnkeng (2006) đã cho thấy tác động cùng chiều của mức độ tập trung thị trường lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, kết quả trên đã ủng hộ cho lý thuyết SCP đối với thị trường ngân hàng ở Cameroon Athanosoglou và ctg (2006) cũng tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ tập

trung và hiệu quả hoạt động ngân hàng các nước Đông Nam Âu, đo lường bằng ROA

Lạm phát: Khi lạm phát trong nền kinh tế tăng cao, chẳng những lợi nhuận

của các doanh nghiệp mà cả lợi nhuận của ngân hàng cũng bị giảm sút Để đối phó với tình trạng lạm phát cao, thông thường các chính sách tài chính và tiền tệ thắt chặt sẽ được sử dụng, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến quy mô và hiệu quả huy động vốn của ngân hàng, làm tăng chi phí vốn của ngân hàng Bên cạnh đó, lạm phát cao đẩy lãi suất gia tăng, doanh nghiệp kinh doanh khó khăn hơn nên khả năng trả nợ ngân hàng cũng giảm, tức nợ xấu ngân hàng có xu hướng gia tăng Cuối cùng, lợi nhuận của ngân hàng giảm sút Đa phần các nghiên cứu thực nghiệm tìm thấy tác động ngược chiều của lạm phát lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đó là các nghiên cứu của Molyneux và Thornton (1992), Sufian và Chong (2008), Tuy nhiên, Athanosoglou và ctg (2006), Vong và Chan (2006) lại tìm thấy bằng chứng cho rằng lạm phát tác động

Trang 15

Nguyễn Công Tâm – MFB3 15

cùng chiều đến hiệu quả hoạt động ngân hàng tại các nước Đông Nam châu Âu và Ma Cau Họ cho rằng khi lạm phát cao, thu nhập của ngân hàng sẽ tăng nhanh hơn chi phí,

và do đó lợi nhuận gia tăng

Tăng trưởng kinh tế: Thông thường, khi nền kinh tế tăng trưởng cao, tình

hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sáng sủa hơn, do đó, khả năng thanh toán các khoản vay tăng lên làm giảm rủi ro tín dụng Bên cạnh đó, kinh tế tăng trưởng tốt khiến nhu cầu nhu cầu tín dụng tăng cao, nguồn tín dụng được quay vòng liên tục Những lý do trên khiến lợi nhuận ngân hàng gia tăng khi nền kinh tế tăng trưởng tốt, hay nói cách khác, do lĩnh vực ngân hàng khá nhạy cảm với sự phát triển chung của nền kinh tế nên hiệu quả hoạt động của ngân hàng chịu sự tác động cùng chiều từ sự tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu của Guru và ctg (2002), Gul và ctg (2011) tìm thấy tác động cùng chiều của tăng trưởng kinh tế lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng Trong khi đó, Vong và Chan (2006), Sufian và Chong (2008) lại không tìm ra bằng chứng nào cho thấy tăng trưởng kinh tế có tác động đến hiệu quả

hoạt động của ngân hàng tại Macao và Philippines

Lãi suất thị trường: Mức lãi suất huy động và lãi suất cho vay ảnh hưởng đến

thu nhập lãi thuần của ngân hàng, do đó tác động đến lợi nhuận ngân hàng Hai nhân

tố đó lại biến động theo mức lãi suất trên thị trường, do đó lợi nhuận ngân hàng cũng phụ thuộc vào lãi suất thị trường Ramlall (2009) cho rằng trong trường hợp lãi suất tăng, các ngân hàng ưu tiên tập trung vốn để cho vay nhiều hơn là đầu tư vào các chứng khoán thanh khoản Nếu chất lượng các khoản cho vay mới cao thì lợi nhuận ngân hàng gia tăng, hiệu quả hoạt động được cải thiện, và ngược lại Trong khi Molyneux và Thornton (1992) tìm thấy tác động cùng chiều của lãi suất lên hiệu quả hoạt động ngân hàng thì Naceur (2003) và Ramlall (2009) không tìm thấy mối quan

hệ giữa lãi suất và hiệu quả hoạt động ngân hàng

Tỷ giá: sự thay đổi của tỷ giá khiến cho giá trị các công cụ tài chính của ngân

hàng thay đổi, tuy nhiên lợi nhuận của ngân hàng tăng hay giảm còn tùy thuộc vào trạng thái ngoại hối của ngân hàng Do đó, để hạn chế rủi ro do tỷ giá gây ra, các ngân hàng cần chủ động và thường xuyên thực hiện nghiệp vụ dự báo xu hướng thay đổi của tỷ giá để điều chỉnh kịp thời trạng thái ngoại hối Abreu và Mendes (2001) đã không tìm thấy tác động của tỷ giá lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong nghiên

Trang 16

Nguyễn Công Tâm – MFB3 16

cứu của họ tại châu Âu Trong khi đó, nghiên cứu của Davydenko (2010) tại Ukraina lại tìm thấy tác động cùng chiều của tỷ giá lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng, và mối quan hệ trên được giải thích bởi khả năng dự đoán tốt chiều hướng biến động tỷ giá của những nhà quản trị ngân hàng, nhờ vậy mà thu nhập từ giao dịch ngoại hối gia tăng

Sự phát triển của thị trường chứng khoán: Ở các nước phát triển, thị trường

chứng khoán là nơi huy động vốn rất hiệu quả, không chỉ cho các ngân hàng mà còn

cả với những doanh nghiệp khác Thị trường chứng khoán càng phát triển thì ngân hàng càng dễ dàng hơn trong việc tăng vốn để phục vụ cho các mục tiêu hoạt động và phát triển của mình Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán càng phát triển thì mức độ minh bạch thông tin càng cao, giúp ngân hàng nhanh chóng quản lý và cập nhật thông tin tài chính cần thiết của các doanh nghiệp, đây là điều hết sức quan trọng trong việc

ra quyết định cho vay, giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả hoạt động cho ngân hàng Nghiên cứu của Sufian (2011) tại Hàn Quốc đã tìm thấy tác động cùng chiều của mức độ phát triển của thị trường chứng khoán lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, cho thấy trong giai đoạn nghiên cứu, thị trường chứng khoán Hàn Quốc là thị trường tương đối phát triển Các nghiên cứu khác của Naceur (2003),

Sufian và Chong (2008), Gul và ctg (2011) cũng cho kết quả tương tự

Tóm lại, bên trên chỉ là những yếu tố chính tác động đến hiệu quả hoạt động hay hiệu quả hoạt động ngân hàng, còn rất nhiều yếu tố khác không thể liệt kê đầy đủ hoặc nhìn thấy được Chiều hướng và mức độ tác động của từng yếu tố thay đổi theo từng khu vực, từng quốc gia, từng giai đoạn nghiên cứu

2.5 Một số nghiên cứu trước

Nghiên cứu của Athanasoglou và các tác giả (ctg.) (2006): Mục đích của

nghiên cứu này là để kiểm tra hiệu quả hoạt động của ngân hàng dựa trên tác động của các yếu tố nội tại, yếu tố ngành và yếu tố kinh tế vĩ mô, bằng cách sử dụng một bảng

dữ liệu không cân đối của các ngân hàng khu vực Đông Nam châu Âu (SEE) trong giai đoạn 1998-2002 Theo đó, nghiên cứu đã tiến hành ước lượng mô hình hồi quy dữ liệu bảng sử dụng 7 độc lập biến đại diện cho 7 yếu tố bên trong bao gồm Thanh khoản, Rủi ro tín dụng, Vốn, Quản trị chi phí, Quy mô, Sở hữu nước ngoài, Thị phần;

2 biến ngành: Chỉ số tái cấu trúc, Chỉ số Herfindahl-Hirschman; 2 biến vĩ mô: Lạm

Trang 17

Nguyễn Công Tâm – MFB3 17

phát và GDP bình quân đầu người, để đánh giá tác động của chúng đến hiệu quả hoạt

động ngân hàng, đo lường bằng ROA hoặc ROE

Các kết quả ước lượng cho thấy rằng, ngoài tính thanh khoản ra thì tất cả các yếu tố bên trong ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động ngân hàng Một kết quả quan trọng khác là mức độ tập trung có ảnh hưởng tích cực, cung cấp bằng chứng hỗ trợ cho lý thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP) Ngược lại, một mối quan hệ tích cực giữa việc tái cấu trúc ngân hàng và hiệu quả hoạt động đã không được tìm thấy Đối với các biến kinh tế vĩ mô, trong khi lạm phát tác động mạnh mẽ thì GDP bình quân đầu người lại không có tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng

Nghiên cứu của Sufian và Chong (2008) khảo sát các yếu tố quyết định đến

hiệu quả hoạt động ngân hàng tại Philippines bằng cách sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các bảng báo cáo tài chính hàng năm của các ngân hàng trong giai đoạn 1990-2005 và các

chỉ số kinh tế vĩ mô được thu thập từ nguồn dữ liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF

Nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật hồi quy tuyến tính để khảo sát tác động của 5 yếu tố bên trong bao gồm Quy mô, Rủi ro tín dụng, Mức độ đa dạng hóa thu nhập, Quản trị chi phí và Mức độ an toàn vốn; và 4 biến vĩ mô: Tăng trưởng kinh tế, Tăng trưởng cung tiền, Lạm phát và Mức vốn hóa thị trường lên hiệu quả hoạt động ngân hàng, đo

lường bằng ROA

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng Quy mô, Rủi ro tín dụng và Chi phí hoạt động tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động ngân hàng, trong khi Thu nhập ngoài lãi và Mức độ an toàn vốn có tác động cùng chiều Trong suốt giai đoạn nghiên cứu, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng lạm phát tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động ngân hàng, trong khi tác động của Tăng trưởng kinh tế, Tăng trưởng cung tiền và Mức vốn hóa thị trường chứng khoán không đáng kể đủ để giải thích cho sự thay đổi trong hiệu quả hoạt động ngân hàng

Nghiên cứu của Thangavelu và Findlay (2009) xem xét các yếu tố tác động

đến hiệu quả ngân hàng tại 06 quốc gia Đông Nam Á bao gồm: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 1998-2004 với mẫu dữ liệu của 600 ngân hàng, sử dụng kỹ thuật ước lượng bình phương tối thiểu hai giai đoạn (Two-Stage Least Square) với hướng tiếp cận những ảnh hưởng cố định và những ảnh hưởng ngẫu nhiên Nghiên cứu tập trung vào 03 khía cạnh: (i) các hoạt

Trang 18

Nguyễn Công Tâm – MFB3 18

động cụ thể của ngân hàng như hoạt động ngoại bảng (ii) sự tự do hóa tài chính thông qua việc tham gia và sở hữu của các tổ chức nước ngoài (iii) tác động của các quy định và sự giám sát các ngân hàng Các yếu tố được sử dụng để nắm bắt các hoạt động của ngân hàng bao gồm: An toàn vốn, Thanh khoản, Hoạt động ngoại bảng, Sở hữu nước ngoài, Tính đại chúng, Rủi ro đạo đức Để đo lường hiệu quả ngân hàng, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích bao số liệu (DEA – Data Envelopment Analysis)

Kết quả nghiên cứu cho thấy các hoạt động ngoại bảng có xu hướng làm giảm hiệu quả của ngân hàng Sự tham gia và sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng làm gia tăng hiệu quả ngân hàng Các quy định và việc giám sát các ngân hàng

là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả ngân hàng và sự ổn định của thị trường tài chính trong khu vực Đông Nam Á

Nghiên cứu của Gul và ctg (2011) về tác động của các yếu tố bên trong và

các chỉ số kinh tế vĩ mô đến hiệu quả hoạt động ngân hàng, với bộ dữ liệu của 15 NHTM lớn nhất Pakistan trong giai đoạn 2005-2009 Bằng phương pháp Tổng bình phương bé nhất, các tác giả đã điều tra tác động của Tài sản, Vốn vay, Vốn chủ sở hữu, Tiền gửi, Tăng trưởng kinh tế, Lạm phát và Mức vốn hóa thị trường lên các chỉ

số hiệu quả hoạt động chính: lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận trên vốn sử dụng (ROCE) và lãi ròng biên (NIM) một cách riêng biệt

Kết quả nghiên cứu cho rằng cả các yếu tố bên trong và bên ngoài đều là những yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động ngân hàng ở Pakistan Những ngân hàng có Vốn chủ sở hữu, Tổng tài sản, Khoản cho vay, Lượng tiền gửi và Mức vốn hóa thị trường lớn hơn và khi Tăng trưởng GDP và Lạm phát cao hơn sẽ được xem như an toàn hơn và do đó có lợi thế để tạo ra lợi nhuận cao hơn Giả thuyết 1 của nghiên cứu cho rằng các yếu tố kinh tế vi mô có tác động đáng kể tới hiệu quả hoạt động Trong khi đó, giả thuyết 2 cho rằng các yếu tố kinh tế vĩ mô bên ngoài ngân hàng có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động Và kết quả đã cho thấy rằng cả hai giả thuyết đều được chấp nhận và có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Pakistan

Trang 19

Nguyễn Công Tâm – MFB3 19

Nghiên cứu của Said và Tumin (2011) xác định mức độ đóng góp của các yếu

tố quyết định hiệu quả hoạt động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Malaysia

và Trung Quốc bằng mô hình hồi quy bảng với hướng tiếp cận các tác động cố định Các tác giả đã thu thập báo cáo tài chính năm của 4 NHTM nhà nước tại Trung Quốc

và 9 NHTM tại Malaysia từ bộ dữ liệu ngân hàng trong giai đoạn 2001-2007 Các yếu

tố được tác giả sử dụng trong mô hình bao gồm 5 yếu tố bên bên trong: Thanh khoản, Tín dụng, Vốn, Chi phí hoạt động, Quy mô; và 3 biến kiểm soát vĩ mô: GDP, Tỷ lệ lạm phát và Lãi suất để đánh giá ảnh hưởng của chúng đến biến phụ thuộc là hiệu suất

của ngân hàng, đo lường bằng ROAE và ROAA

Kết quả cho thấy, khi đo lường hiệu quả ngân hàng bằng ROAE:

• Đối với Malaysia: chỉ có duy nhất chỉ số tín dụng góp phần đáng kể (ngược chiều) vào hiệu suất của các NHTM, với độ tin cậy 5% Điều này cho thấy chỉ số tín dụng càng cao thì hiệu quả hoạt động càng thấp

• Đối với Trung Quốc: chỉ số vốn và chỉ số hoạt động góp phần đáng kể vào hiệu suất của các NHTM, với độ tin cậy 10% Điều này cho thấy không như các ngân hàng tại Malaysia, sức mạnh của vốn và chi phí hoạt động tác động đáng kể tới hiệu suất của các ngân hàng tại Trung Quốc

Khi đo lường hiệu quả ngân hàng bằng ROAA:

• Đối với Malaysia: chỉ số tín dụng, chỉ số vốn và chỉ số hoạt động ảnh hưởng đến hiệu suất của các NHTM, với độ tin cậy 5% Chỉ số vốn tác động cùng chiều trong khi 2 chỉ số còn lại tác động ngược chiều

• Đối với Trung Quốc: tác động ngược chiều của chỉ số tín dụng và chỉ số hoạt động cũng đúng đối với Trung Quốc Tuy nhiên, ảnh hưởng của chỉ số vốn lại không được tìm thấy

Trong cả 2 trường hợp, chỉ số thanh khoản và quy mô đều không có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các NHTM tại cả Malaysia và Trung Quốc

Tóm lại, có rất nhiều nghiên cứu định lượng về hiệu quả ngân hàng, kết quả của những nghiên cứu cho thấy các yếu tố quyết định hiệu quả ngân hàng khác nhau giữa các quốc gia và giữa các vùng trên thế giới Mỗi nghiên cứu có cách lựa chọn biến khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, đặc điểm của đối tượng nghiên

Trang 20

Nguyễn Công Tâm – MFB3 20

cứu hay khả năng thu thập dữ liệu Ở nghiên cứu này, cách thức lựa chọn biến có sự khác biệt so với các nghiên cứu trước Các yếu tố bên trong được đưa vào nghiên cứu

sẽ dựa trên khung phân tích CAMEL, trong đó các biến được sử dụng để đo lường các yếu tố này được lựa chọn từ các chỉ số cốt lõi trong bộ chỉ số lành mạnh tài chính do IMF ban hành Do đó, trong nghiên cứu này, có 02 biến mà tác giả chưa thấy xuất hiện trong nghiên cứu nào trước đây, tuy nhiên, tính đại diện và ý nghĩa của chúng cũng không khác biệt so với các biến tương ứng mà các nghiên cứu trước đã sử dụng Bên cạnh đó, ngoài sự khác biệt về cơ sở để lựa chọn biến, thì nghiên cứu này cũng sử dụng cách đo lường hiệu quả và phương pháp ước lượng khác hẳn so với nghiên cứu của Thangavelu và Findlay (2009) tại cùng 06 quốc gia Đông Nam Á đã nêu bên trên

Ở Chương 2, nghiên cứu đã tìm hiểu cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động của ngân hàng, bao gồm lý thuyết quyền lực thị trường (MP – Market Power) , lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES– Efficient Structure) và lý thuyết danh mục đầu tư cân bằng (Balanced Porfolio Theory) Chương 2 cũng đã trình bày về khung phân tích CAMEL

và Bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF, hai cơ sở rất quan trọng cho cấu trúc mô hình và việc lựa chọn các biến trong nghiên cứu này Việc thống kê các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng và sơ lược lại một số nghiên cứu thực nghiệm trước đây cũng đã được thực hiện và trình bày một cách ngắn gọn

Trang 21

Nguyễn Công Tâm – MFB3 21

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN

HÀNG TẠI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

Chương 3, nghiên cứu tập trung tìm hiểu thực trạng ngành ngân hàng tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á để thấy được bức tranh tổng quát về hiệu quả hoạt động và những nỗ lực của cơ quan quản lý cũng như ban quản trị các ngân hàng tại mỗi quốc gia như thế nào để xây dựng, củng cố hệ thống ngân hàng của mình

3.1 Tổng quan về lĩnh vực ngân hàng tại khu vực Đông Nam Á

Đông Nam Á bao gồm các quốc gia nằm ở phía Nam Trung Quốc, phía Đông

Ấn Độ và phía Bắc nước Úc Nó bao gồm 02 khu vực địa lý, lục địa châu Á và các quần đảo phía Đông và Nam châu Á Các quốc gia Đông Nam Á có mức độ và mô hình phát triển khác nhau Trong khu vực, Singapore là nước có nền kinh tế mạnh nhất

và hệ thống ngân hàng phát triển nhất Môi trường kinh doanh chuyên nghiệp, nền tảng kinh tế lành mạnh, một cơ cấu tổ chức quản lý và giám sát hiệu quả, cơ sở hạ tầng tuyệt vời, và một lực lượng lao động trình độ cao đã đảm bảo cho Singapore vị trí trung tâm tài chính của khu vực Lĩnh vực tài chinh của khu vực này là đầu tàu thúc đẩy sự tăng trưởng trong khu vực dịch vụ dựa trên hiệu quả hoạt động cao của các ngân hàng và thị trường chứng khoán (FinacleConnect, 2008)

Ngân hàng các nước Đông Nam Á hoạt động trong nền kinh tế phát triển nhanh trong nhiều năm liên tục và được đánh giá là khá an toàn Sau cuộc khủng hoảng kinh

tế châu Á 1997-1998 với những hậu quả nặng nề, quá trình cải cách triệt để đã giúp ngành ngân hàng khu vực này chuyển đổi một cách tích cực, và họ đã trở lại mạnh mẽ hơn, cạnh tranh hơn Gần đây nhất, họ đã vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 mà hầu như không bị tổn thương, trong khi hệ thống tài chính những khu vực phát triển khác lung lay dữ dội và phần nhiều trong số đó đến nay vẫn chưa thể hồi phục Trong hơn 2 năm qua, ngân hàng các nước Đông Nam Á đã hoạt động hiệu quả hơn hẳn các đối tác của họ ở các khu vực khác trên thế giới (Shameen, 2012)

Trang 22

Nguyễn Công Tâm – MFB3 22

3.2 Hệ thống ngân hàng các quốc gia Đông Nam Á và hiệu quả hoạt động 3.2.1 Indonesia

Indonesia là một trong ba nước Đông Nam Á chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997 Cuộc khủng hoảng này đã làm thay đổi cấu trúc nền kinh tế Indonesia và tác động tiêu cực đến lĩnh vực ngân hàng thông qua một chi phí tái cơ cấu hệ thống ngân hàng khổng lồ Hệ thống ngân hàng mới đi vào hoạt động với những yêu cầu nghiêm ngặt hơn về vốn và cơ chế giám sát chặt chẽ hơn, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng (Nguyen, 2009) Và chính những thay đổi trên là tiền đề để các ngân hàng Indonesia hoạt động hiệu quả như hiện nay

Bank Indonesia (BI) là ngân hàng trung ương của Indonesia, nó có một mục tiêu bao trùm là thiết lập và duy trì sự ổn định đồng Rupiah, đồng nội tệ của Indonesia Mục tiêu trên bao gồm hai thành phần: thứ nhất là duy trì sự ổn định của đồng Rupiah cho hàng hóa và dịch vụ, phản ánh qua tỷ lệ lạm phát; thứ hai là giữ sự

ổn định tỷ giá, phản ánh qua sức mạnh của đồng Rupiah so với các ngoại tệ khác (Bank Indonesia, 2012a) Nó có trách nhiệm giám sát, điều tiết hoạt động của các tổ chức tài chính, điều tiết thanh khoản các ngân hàng thông qua việc quy định tỷ lệ thanh khoản và tỷ lệ dự trữ tối thiểu (Nguyen, 2009)

Theo Bank Indonesia (2012b), chức năng của các ngân hàng Indonesia về cơ bản như là các tổ chức trung gian nhận tiền gửi từ các tổ chức/cá nhân thừa vốn và phân phối lại cho những tổ chức/cá nhân khác có nhu cầu Tính đến tháng 10/2011, hệ thống NHTM của Indonesia bao gồm 120 thành viên, trong đó có 4 NHTM quốc doanh và 116 NHTM tư nhân với hàng nghìn văn phòng rải khắp đất nước Có rất nhiều ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Indonesia, chẳng hạn Bank of Tokyo, Bank

of America, Swiss Bank, Hong Kong and Shanghai Bank,…

Trong hai năm qua, Bank Indonesia đã làm việc cật lực để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn cho ngành ngân hàng Indonesia thông qua việc thực hiện các chương trình dựa trên “Cấu trúc ngân hàng Indonesia” (API) API là một khuôn khổ cơ bản và toàn diện cho hệ thống ngân hàng Indonesia, nó phác thảo phương hướng, đề cương

và cơ cấu ngành ngân hàng trong 5-10 năm tới nhằm xây dựng một lĩnh vực ngân hàng lành mạnh, mạnh mẽ và hiệu quả để tạo sự ổn định cho hệ thống tài chính, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia (Bank Indonesia, 2012c) Nguyen (2009)

Trang 23

Nguyễn Công Tâm – MFB3 23

cũng cho biết, API phục vụ nhu cầu cho một phương hướng và chiến lược phát triển dài hạn cho ngành ngân hàng, trở thành một xu hướng toàn cầu và quá trình này cũng được thực hiện ở các nước khác như Malaysia, Thái Lan, Singapore, và Hồng Kông

Về hiệu quả, các ngân hàng Indonesia là những nhà cho vay hoạt động hiệu quả nhất châu Á, không riêng gì khu vực Đông Nam Á, trong những năm gần đây Chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, các NHTM tại Indonesia chỉ đạt tỷ suất lợi nhuận khiêm tốn trong những năm đầu sau khủng hoảng Tuy nhiên, nhờ động thái tái cơ cấu hệ thống ngân hàng triệt để cũng như sự ra đời của API vào năm 2004, các NHTM tại Indonesia đã dần đi vào hoạt động ổn định trở lại và cải thiện được hiệu quả rõ rệt qua từng năm Hoạt động trong một môi trường kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong những năm gần đây, các NHTM tại Indonesia

đã đạt được các mức tỷ suất lợi nhuận đáng mơ ước, với ROA trong 3 năm gần nhất đạt trên 2,5% và con số tương ứng với ROE là 25% (xem đồ thị 3.1 và 3.2)

Đồ thị 3.1: Lợi nhuận trên Tổng tài sản của các NHTM Indonesia

Nguồn: ADB, BI, BCTC các ngân hàng

Đồ thị 3.2: Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu của các NHTM Indonesia

Nguồn: ADB, BI, BCTC các ngân hàng

Trang 24

Nguyễn Công Tâm – MFB3 24

3.2.2 Malaysia

Cùng với Thái Lan và Indonesia, nền kinh tế Malaysia chịu ảnh hưởng nặng nề trong khu vực Đông Nam Á do cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997, đẩy Malaysia vào thời kỳ suy thoái đầu tiên sau nhiều năm Cuộc khủng hoảng này cũng

đã tác động mạnh đến ngành ngân hàng Malaysia thông qua chất lượng tài sản giảm sút và thua lỗ Thậm chí, một số NHTM tại Malaysia đã không thể tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình Hoạt động của các ngân hàng bị ảnh hưởng nặng nề, nợ xấu tăng nhanh (Desa, 2003) Các biện pháp cấp thiết đã được đưa ra ngay sau đó để cứu vãn tình hình Tỷ giá từ thả nổi chuyển sang cố định, neo chặt vào đồng USD (1 USD

= 3,8 Ringgit); Ủy ban tái cơ cấu nợ doanh nghiệp bắt tay vào xử lý các khoản vay của các công ty; các công ty chức năng thuộc Chính phủ giảm giá và mua lại các khoản nợ xấu từ các ngân hàng, đồng thời tái cơ cấu vốn cho chúng Nền kinh tế sau đó tăng trưởng với một tốc độ chậm hơn nhưng bền vững hơn, lĩnh vực tài chính đã trải qua quá trình chuyển đổi và tiến bộ đáng kể kể từ khi ra mắt chương trình Quy hoạch tổng thể ngành tài chính trong năm 2001, đặc biệt ngành ngân hàng đã trải qua quá trình tái

cơ cấu, hợp nhất và hợp lý hóa (Nguyen, 2009) Các ngân hàng được trang bị vốn tốt hơn và nợ xấu cũng bắt đầu được kiểm soát một cách chặt chẽ Các ngân hàng nhỏ, yếu kém được mua lại bởi các đối tác lớn Dần dà, lĩnh vực ngân hàng đã trở thành trụ cột quan trọng trong sức mạnh của nền kinh tế Malaysia

Bank Negara Malaysia (BNM) là ngân hàng trung ương của Malaysia BNM được thành lập vào ngày 26/1/1959 với mục đích chính là phát hành tiền tệ, hoạt động như một ngân hàng và cố vấn cho Chính phủ Malaysia các chính sách tiền tệ, đồng thời điều tiết trạng thái tín dụng của quốc gia Chính BNM đã phát động Kế hoạch kiểm soát lĩnh vực tài chính vào năm 2001 để cải tổ toàn bộ ngành tài chính sau cuộc khủng hoảng năm 1997 Tính đến cuối tháng 01 năm 2012, hệ thống ngân hàng tại Malaysia bao gồm 25 NHTM, 16 ngân hàng Hồi giáo, 05 ngân hàng Hồi giáo quốc tế

và 15 ngân hàng đầu tư Trong đó, 06 tập đoàn ngân hàng Malaysia đã hiện diện tại 19 quốc gia thông qua các chi nhánh, văn phòng đại diện, công ty con cũng như tham gia góp vốn và liên doanh với những tổ chức khác (Malaysia Investment Development Authority, 2012)

Trang 25

Nguyễn Công Tâm – MFB3 25

Bảng 3.1: Hệ thống ngân hàng tại Malaysia, tháng 02/2012

trong nước

Ngân hàng nước ngoài

Nguồn: Malaysia Investment Development Authority (2012)

Trong những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, các NHTM Malaysia, những tổ chức cung cấp vốn lớn nhất trong hệ thống ngân hàng tại nước này, đạt lợi nhuận rất cao nhờ sự phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn này Lợi nhuận trước thuế tăng trưởng từ 1,4 tỷ RM năm 1990 lên 6,2 tỷ RM vào năm 1996, tương ứng với ROA là 2% và ROE 27,5% Trong giai đoạn này, các NHTM cũng đã cam kết thực hiện một chương trình mở rộng để nâng cao sức mạnh và gia tăng hiệu quả hoạt động như là các tổ chức trung gian tài chính ở thị trường trong nước (Desa, 2003) Trong 02 năm khủng hoảng 1997-1998 sau đó, lợi nhuận hệ thống ngân hàng Malaysia sụt giảm trầm trọng với ROA ~ -0,9% và ROE ~ -12,3% Nhờ vào những biện pháp cấp thiết như đã đề cập ở phần trên, hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng dần được cải thiện, tuy với tốc độ không cao nhưng hết sức bền vững trong khoảng thời gian dài sau đó (xem đồ thị 3.3 và 3.4) Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu 2007-2008 dường như không ảnh hưởng đến lĩnh vực ngân hàng tại Malaysia, hay nói cách khác, lĩnh vực ngân hàng tại Malaysia đã đối mặt với cuộc khủng hoảng lần này với vị thế mạnh mẽ hơn hẳn so với khi gặp cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998 Bằng chứng là trong 02 năm diễn ra cuộc khủng hoảng, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại quốc gia này chẳng những không giảm đi mà còn tăng cao hơn những năm trước đó, với ROA đạt trung bình 1,5% và ROE là ~ 19% Mặc dù vậy, hệ thống ngân hàng Malaysia sau đó cũng phải chịu ảnh hưởng phần nào bởi sự

đi xuống chung của nền kinh tế thế giới, hậu quả của cuộc khủng hoảng trên, vào năm

2009 trước khi trở lại mạnh mẽ trong 02 năm gần nhất

Trang 26

Nguyễn Công Tâm – MFB3 26

Đồ thị 3.3: Lợi nhuận trên Tổng tài sản của các ngân hàng Malaysia

Nguồn: ADB, BNM, BCTC của các ngân hàng

Đồ thị 3.4: Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng Malaysia

Nguồn: ADB, BNM, BCTC của các ngân hàng

3.2.3 Philippines

Theo Bangko Sentral ng Pilipinas (2012b), ngành ngân hàng chi phối hệ thống tài chính của Philippines Ngành ngân hàng từ lâu đã được xem như là thành phần lớn nhất trong hệ thống tài chính Philippines và hầu như nó vẫn tiếp tục đóng vai trò nguồn cung cấp vốn chính cho khu vực tư nhân Hệ thống ngân hàng tại Philippines bao gồm các ngân hàng đa năng và NHTM, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng nông thôn

và các hợp tác xã tín dụng Các ngân hàng nông thôn và hợp tác xã tín dụng, thuộc sở hữu tư nhân và hợp tác xã, phục vụ rộng rãi cho nông dân và thương gia ở các khu vực nông thôn Các ngân hàng tiết kiệm và các ngân hàng phát triển tư nhân thì tập trung cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các NHTM có tất cả quyền hạn của ngân hàng tiết kiệm, chẳng hạn như khả năng mua bán ngoại tệ, hoạt động như một nhà môi giới cho khách hàng, tư vấn quản lý đầu tư,… và thực hiện các chức năng ngân hàng khác Trong khi đó, các ngân hàng đa năng lại có phạm vi các dịch vụ

Trang 27

Nguyễn Công Tâm – MFB3 27

ngân hàng bao quát nhất Bên cạnh quyền được thực hiện tất cả các dịch vụ của các loại hình ngân hàng khác, các ngân hàng đa năng cũng có khả năng quản lý các hoạt động đầu tư nhà ở, dù là trực tiếp hay gián tiếp thông qua một công ty con (Albert và

Trang 28

Nguyễn Công Tâm – MFB3 28

(d) hệ thống Đánh giá sức mạnh của sự hỗ trợ (SOSA) đánh giá một cách cụ thể sức mạnh của sự hỗ trợ từ ngân hàng mẹ đối với các chi nhánh (SEACEN, 2012)

Mặc dù không chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng năm 1997 như Insonesia, Malaysia và Thái Lan, nhưng lợi nhuận của các ngân hàng Phillippines cũng sụt giảm đáng kể Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các NHTM giảm từ 16,34% trong năm 1996 xuống còn 12,42% trong năm 1997 và tuột dốc không phanh xuống còn 6,6% vào cuối năm 1998 Đến tháng 3 năm 1999, con số còn lại chỉ là 1,69% Tương tự như vậy, lợi nhuận trên Tổng tài sản (ROA) cũng giảm từ 2,16% trong năm 1996 xuống 1,66% vào năm 1997 và giảm sâu xuống 0,28% vào tháng 3 năm 1999 Tuy nhiên, các nhà phân tích và Chính phủ Philippines đều đồng ý rằng hệ thống ngân hàng tại nước này đã nỗ lực xoay sở để tồn tại trong cuộc khủng hoảng trên mà hầu như không bị tổn thương, và đã không có một cuộc khủng hoảng ngân hàng diễn ra ở Philippines (Bautista, 2000) Mặc dù vậy, một cuộc cải cách toàn diện trong hệ thống ngân hàng đã được thực hiện, bao gồm việc nâng cao yêu cầu vốn tối thiểu nhằm mục đích củng cố hệ thống giám sát, cũng như bảo vệ sự lành mạnh tài chính của hệ thống ngân hàng (Albert và Ng, 2012) Trong khoảng thời gian sau đó, ngành ngân hàng Philippines đã có những chuyển biến tích cực nhờ vào các biện pháp hữu hiệu của công cuộc cải cách Đỉnh cao là vào năm 2006 và 2007, tỷ suất lợi nhuận

ấn tượng mà ngành ngân hàng Philippines đạt được lần lượt là 1,3% với ROA và 10,6%÷10,7% với ROE trước khi giảm xuống một chút do ảnh hưởng phần nào của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008

Đồ thị 3.5: Lợi nhuận trên Tổng tài sản của các NHTM Philippines

Nguồn: ADB, BSP, BCTC của các ngân hàng

Trang 29

Nguyễn Công Tâm – MFB3 29

Đồ thị 3.6: Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu của các NHTM Philippines

Nguồn: ADB, BSP, BCTC của các ngân hàng

3.2.4 Singapore

Singapore là quốc gia có nền kinh tế mạnh nhất và hệ thống ngân hàng phát triển nhất trong khu vực Đông Nam Á Môi trường kinh doanh chuyên nghiệp, nền tảng kinh tế lành mạnh, một cơ cấu tổ chức quản lý và giám sát hiệu quả, cơ sở hạ tầng tuyệt vời, và một lực lượng lao động trình độ cao đã đảm bảo cho Singapore vị trí trung tâm tài chính của khu vực (FinacleConnect, 2008) Hệ thống ngân hàng của Singapore là một trong những hệ thống lành mạnh nhất trên thế giới Ngành ngân hàng được tham gia vào một loạt các dịch vụ tài chính bao gồm hoạt động cho vay và nhận tiền gửi truyền thống, cũng như các hoạt động ngân hàng đầu tư (Nguyen, 2009)

Cơ quan quản lý tiền tệ Singapore (Monetary Authority of Singapore - MAS) là ngân hàng trung ương và Cơ quan quản lý tài chính của quốc gia này MAS được thành lập dựa trên Luật cơ quan tiền tệ Singapore 1970, và đi vào hoạt động vào ngày 1/1/1971 Nó quản lý các chính sách tiền tệ, kiểm soát dự trữ ngoại hối quốc gia và giám sát các tổ chức cũng như toàn bộ thị trường tài chính Singapore MAS theo đuổi mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế không lạm phát và một trung tâm tài chính lành mạnh và sôi động (Monetary Authority of Singapore, 2012a) Tính đến tháng 6 năm

2012, hệ thống ngân hàng Singapore bao gồm: 122 NHTM, trong đó 6 ngân hàng trong nước và 116 ngân hàng nước ngoài; 46 ngân hàng đầu tư và 38 văn phòng đại diện của các ngân hàng khác

Trang 30

Nguyễn Công Tâm – MFB3 30

Nguồn: Monetary Authority of Singapore (2012b)

Cũng theo MAS (2012c), các NHTM ở Singapore được cấp phép hoạt động và

bị chi phối bời Luật ngân hàng Chúng có thể thực hiện các nghiệp vụ của ngân hàng thông thường Bên cạnh các nghiệp vụ NHTM, bao gồm nhận tiền gửi, cung cấp dịch

vụ thanh toán qua séc và cho vay,… các ngân hàng này cũng có thể thực hiện bất kỳ hoạt động kinh doanh nào được quy định hoặc cấp phép bởi MAS, bao gồm dịch vụ tư vấn tài chính, môi giới bảo hiểm và các dịch vụ trên thị trường vốn Các NHTM và văn phòng đại diện của chúng không được cấp phép một cách riêng biệt để thực hiện các hoạt động như vậy, mà phải tuân theo các thủ tục hướng dẫn kinh doanh quy định tại Luật cố vấn tài chính (FAA), Luật bảo hiểm (IA), Luật chứng khoán và hàng hóa giao sau (SFA)

Khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 lan rộng, nền kinh tế Singapore bị ảnh hưởng nhẹ và rơi vào một cuộc suy thoái ngắn hạn Tuy nhiên, chỉ trong vòng chưa đầy một năm, với những chính sách kịp thời và hiệu quả của Chính phủ và MAS, nền kinh tế Singapore đã hoàn toàn hồi phục và quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng quen thuộc Thị trường tài chính Singapore, vốn do ngành ngân hàng chi phối, vẫn hoàn toàn khỏe mạnh (IMF, 2004) Lợi nhuận sau thuế trên Tổng tài sản (ROA) bình quân của các ngân hàng trong nước vẫn được duy trì trên 1% trong giai đoạn 1999-2002

Trang 31

Nguyễn Công Tâm – MFB3 31

Đồ thị 3.7: Lợi nhuận trên tổng tài sản của các NHTM Singapore

Nguồn: ADB, MAS, BCTC của các ngân hàng

Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại Singapore vẫn tiếp tục được cải thiện và

ổn định cho đến trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 Sau đó, trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng lần này, ngành ngân hàng Singapore bị ảnh hưởng nặng nề Tập đoàn DBS của Singapore, ngân hàng lớn nhất Đông Nam Á tính theo tài sản, đã phải cắt giảm 6% lực lượng lao động của mình, tương đương 900 nhân viên, vào cuối tháng 11 năm 2008 (Nguyen, 2009) Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng giảm sút rõ rệt trong 2 năm 2008 và 2009, trước khi bắt đầu phục hồi trở lại vào năm

2010 (xem đồ thị 3.8)

Đồ thị 3.8: Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các NHTM Singapore

Nguồn: ADB, MAS, BCTC của các ngân hàng

Trang 32

Nguyễn Công Tâm – MFB3 32

3.2.5 Thái Lan

Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998 đã bắt nguồn từ Thái Lan khi mức độ nguy hiểm của các khoản nợ xấu tại nước này gia tăng đến mức tạo cơ hội cho những nhà đầu cơ tiền tệ trên khắp thế giới ồ ạt tấn công đồng Bath Thái Đến năm

2003, mặc dù có lợi nhuận trở lại nhưng các ngân hàng của Thái Lan phải tiếp tục đấu tranh với những di chứng của cuộc khủng hoảng tài chính dưới hình thức các khoản thua lỗ không nhận thấy được và việc thiếu vốn Vì vậy, chính phủ đã xem xét nhiều hình thức cải cách khác nhau, bao gồm cả việc thiết lập một cơ quan quản lý tài chính hợp nhất để “giải phóng” cho Ngân hàng trung ương Thái Lan tập trung vào các chính sách tiền tệ Ngoài ra, chính phủ Thái Lan còn nỗ lực tăng cường sức mạnh cho khu vực tài chính thông qua việc sáp nhập các NHTM, ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng nước ngoài Cụ thể, Kế hoạch tái cấu trúc lĩnh vực tài chính của chính phủ, lần đầu tiên được giới thiệu vào đầu năm 2004, đã mang đến việc giảm thuế cho các tổ chức tài chính tham gia vào các thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A), đã được các chuyên gia nước ngoài đánh giá là thành công (Federal Research Division, 2007)

Bank of Thailand (BOT) là ngân hàng trung ương của Thái Lan Luật ngân hàng Thái Lan được ban hành ngày 28/4/1942 trao quyền cho BOT chịu trách nhiệm thực hiện tất cả các chức năng của ngân hàng trung ương BOT bắt đầu đi vào hoạt động vào ngày 10/12/1942 Luật Ngân hàng Thái Lan sau đó được sửa đổi để nhấn mạnh trách nhiệm xã hội của BOT, tạo ra một cơ chế tự bảo vệ chống lại các cuộc khủng hoảng kinh tế, cũng như thiết lập quy trình ra quyết định của BOT để đảm bảo một sự quản trị tốt và minh bạch trong tổ chức (Bank of Thailand, 2012) Đến nay, hệ thống ngân hàng Thái Lan bao gồm 06 ngân hàng nhà nước đặc thù, 14 NHTM Thái Lan, 01 ngân hàng bán lẻ, 01 ngân hàng con (nước ngoài), 15 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 30 văn phòng đại diện của các ngân hàng nước ngoài

Do quy mô tài sản và thị phần lớn, các NHTM Thái Lan được xem như những

tổ chức kinh doanh quan trọng và có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của quốc gia này Chính phủ Thái Lan cũng sử dụng các NHTM như là công cụ chính để điều hành chính sách tiền tệ và cân đối nền kinh tế một cách thích hợp (Chompukum, 2011) Giai đoạn cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Thái Lan khá thấp nhưng được cải thiện dần cho đến trước cuộc khủng

Trang 33

Nguyễn Công Tâm – MFB3 33

hoảng tài chính năm 1997-1998 Cuộc khủng hoảng này đã khiến cho lợi nhuận của các ngân hàng Thái Lan sụt giảm trầm trọng, đặc biệt là trong giai đoạn 1997-2000 lợi nhuận ròng của các ngân hàng Thái Lan đều là con số âm, trước khi bắt đầu có dấu hiệu phục hồi vào năm 2001

Giai đoạn giữa 02 cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998 và 2007-2008, sau khi hồi phục và đạt tỷ suất lợi nhuận cao nhất vào năm 2004 với ROA đạt 1,2% và ROE đạt 16,8%, hiệu quả hoạt động của các NHTM Thái Lan lại bước vào một chu kỳ giảm sút Đỉnh điểm là vào năm 2007, năm mà cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu

nổ ra Khi đó, cú sốc lớn thứ hai trong vòng 10 năm đã khiến cho các NHTM Thái Lan hầu như đánh mất tất cả những thành tựu mà họ đã gầy dựng lại trước đó với ROA chỉ còn 0,1% và ROE xấp xỉ 1,2% Tuy nhiên, với những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc tuân thủ Kế hoạch kiểm soát lĩnh vực tài chính lần I (giai đoạn 2004-2008), chỉ trong vòng 01 năm sau đó, họ đã cho thấy thực lực về vốn và lợi nhuận bất chấp những thách thức lớn lao của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Và Kế hoạch kiểm soát lĩnh vực tài chính lần II (giai đoạn 2010-2014) ra đời sau đó đã tiếp tục củng cố, tăng cường hiệu quả, sức mạnh cho cả hệ thống tài chính Và các NHTM đã đạt được mức sinh lợi cao và ổn định trong 04 năm gần nhất (xem đồ thị 3.9 và 3.10)

Đồ thị 3.9: Lợi nhuận trên Tổng tài sản của các NHTM Thái Lan

Nguồn: ADB, BOT, BCTC của các ngân hàng

Trang 34

Nguyễn Công Tâm – MFB3 34

Đồ thị 3.10: Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu của các NHTM Thái Lan

Nguồn: ADB, BOT, BCTC của các ngân hàng

Đồ thị 3.11: Thống kê số lượng ngân hàng tại Việt Nam đến 31/12/2011

Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2012)

Trang 35

Nguyễn Công Tâm – MFB3 35

Trong vài năm trở lại đây, mặc dù kinh tế nước ta chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh cũng như tiếp cận nguồn vốn nhưng lợi nhuận của khối ngân hàng vẫn luôn ở mức cao, trừ năm 2008 Tuy nhiên, lợi nhuận cao đó chỉ ở con số tuyệt đối, nếu đánh giá dựa vào mức tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) hay lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) thì vẫn thấp hơn các ngành nghề kinh doanh khác trong nền kinh tế (Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, 2012) Đó là chưa kể đến một phần lợi nhuận của các NHTM là lợi nhuận “ảo” nhờ vào các thủ thuật đảo nợ, đưa nợ lãi vay hợp đồng trước vào vốn vay lần sau, mua bán nợ,…

Đồ thị 3.12 cho thấy, trong giai đoạn 2005-2007, hiệu quả của các NHTM Việt Nam ngày càng tăng tương ứng với thời kỳ kinh tế tăng trưởng cao (tăng trưởng GDP đều trên 8%) Sang năm 2008, chịu ảnh hưởng phần nào của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, hiệu quả của các NHTM Việt Nam sụt giảm Sau khi phục hồi trong năm 2009, hiệu quả của các ngân hàng tại đây bước vào giai đoạn đi xuống do bắt đầu phải đối mặt với những hậu quả của sự tăng trưởng bùng nổ trong khoảng thời gian dài

Đồ thị 3.12: Hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam

Nguồn: Tổng hợp

Những diễn biến thực tế trong thời gian qua cho thấy hệ thống NHTM tại Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều rủi ro và yếu kém Đó là những rủi ro về vốn, nợ xấu, thanh khoản,…Và việc trong những năm qua Việt Nam đặt nặng mục tiêu tăng trưởng nhanh, trong khi các NHTM vẫn là trung tâm của hệ thống tài chính tại Việt Nam, vô hình chung đã đẩy hệ thống NHTM đến tình trạng phát triển một cách mất cân đối,

Trang 36

Nguyễn Công Tâm – MFB3 36

dẫn đến hoạt động kém hiệu quả, lợi nhuận bắt đầu giảm sút trong 2 năm gần nhất (xem đồ thị 3.12) Như vậy, chính những rủi ro nội tại trong hệ thống NHTM lẫn những tác động từ chính sách điều tiết vĩ mô của chính phủ đã tạo ra những rủi ro lên

hệ thống ngân hàng (ADB, 2011)

Việc đi sâu vào các vấn đề trên sẽ được thực hiện tại Chương 6 với sự kết hợp giữa kết quả nghiên cứu và thực trạng của ngành ngân hàng Việt Nam hiện nay để rút

ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Đồ thị 3.13: Nợ xấu hệ thống ngân hàng Việt Nam đến tháng 06/2011

Nguồn: VCBS (2011)

Đồ thị 3.14: Thống kê hệ số CAR của một số ngân hàng Việt Nam năm 2010

Nguồn: Bloomberg, VCBS (2011) tổng hợp

Trang 37

Nguyễn Công Tâm – MFB3 37

Ở Chương 3, trước hết nghiên cứu đã tìm hiểu tổng quan, sơ lược về lĩnh vực ngân hàng ở khu vực Đông Nam Á Tiếp đến, nghiên cứu đi sâu tìm hiểu từng hệ thống ngân hàng của 06 quốc gia, bao gồm: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam Trong đó, hiệu quả của ngân hàng tại mỗi quốc gia được trình bày khá rõ nét cho từng giai đoạn tương ứng với phạm vi nghiên cứu của

đề tài, kể cả giai đoạn trước đó để có cái nhìn tổng quát hơn Qua đó có thể thấy trong điều kiện bình thường, các ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á hoạt động khá hiệu quả Kể cả khi xảy ra khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu 2007-2009, các ngân hàng tại khu vực này mặc dù cũng phải gánh chịu những tác động tiêu cực, tuy nhiên mức độ an toàn và hiệu quả vẫn nổi trội hơn phần lớn các khu vực khác trên thế giới nhờ vào những nỗ lực thực sự của các cơ quan quản lý và những nhà quản trị ngân hàng, bên cạnh lợi thế may mắn nhờ vào sự hội nhập chưa sâu vào hệ thống tài chính quốc tế Ngoại trừ Indonesia, Thái Lan và Việt Nam, nhìn chung hiệu quả của các tập đoàn ngân hàng lớn tại các quốc gia còn lại đều thấp hơn mức trung bình của thị trường trong giai đoạn nghiên cứu Điều đó cho thấy, với những thị trường mới nổi như tại Indonesia, Thái Lan và Việt Nam, các tập đoàn ngân hàng tập trung vào thị trường trong nước và đạt được lợi nhuận cao nhờ vào lãi ròng mạnh mẽ do hoạt động trong nền kinh tế phát triển cao và lợi thế quy mô Trong khi đó, do thị trường trong nước đã gần như bão hòa, các tập đoàn ngân hàng lớn tại Singapore và Malaysia đã bắt đầu tìm kiếm cơ hội khác bằng cách vươn ra tầm khu vực, và họ vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt hơn nên hiệu quả sinh lợi không ấn tượng Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009, ngân hàng tại các quốc gia trong khu vực đã hồi phục nhanh chóng nhờ những nỗ lực lành mạnh hóa và đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng, ngoại trừ Việt Nam

Trang 38

Nguyễn Công Tâm – MFB3 38

CHƯƠNG 4: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ở Chương 2 và 3, nghiên cứu đã trình bày cơ sở lý thuyết nền tảng, sơ lược qua một số nghiên cứu trước đây tại một số quốc gia và vũng lãnh thổ, đồng thời cho thấy một cách tổng quát nhất về lĩnh vực ngân hàng tại khu vực Đông Nam Á và hiệu quả hoạt động của ngân hàng từng quốc gia được nghiên cứu Chương 4 sẽ tập trung vào phần dữ liệu và phương pháp nghiên cứu được sử dụng để giải quyết các vấn đề và câu hỏi nghiên cứu được đặt ra

4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu và cách thức lấy dữ liệu

Để nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng các quốc gia Đông Nam Á, tác giả lựa chọn mỗi quốc gia năm NHTMCP nội địa có tổng tài sản lớn nhất vào thời điểm cuối năm 2011 Các quốc gia được nghiên cứu bao gồm: Indonesia, Malaysia, Phillipines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2005-2011 Dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo thường niên của các ngân hàng sẽ được sử dụng để tính toán các chỉ số đại diện cho các yếu tố bên trong Các chỉ số ngành và vĩ mô được thu thập từ nguồn dữ liệu được công bố rộng rãi trên trang web của Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng hàng phát triển châu Á (ADB)

Mẫu nghiên cứu bao gồm 28 ngân hàng với tổng cộng 196 quan sát cho dữ liệu bảng cân bằng Dữ liệu bảng (Panel Data) bao gồm các quan sát về các đơn vị riêng

lẻ, hay các đơn vị theo không gian trong một số thời đoạn (Gujarati, 2004) Dữ liệu bảng được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm gần đây là vì nó có rất nhiều ưu điểm như: cung cấp nhiều thông tin hơn, biến thiên ít hơn, ít có sự đa cộng tuyến giữa các biến số, bậc tự do cao hơn, và hiệu quả hơn; cho phép kiểm soát sự khác biệt không quan sát được giữa các thực thể, ví dụ như khác biệt văn hóa giữa các quốc gia hay sự khác biệt về triết lý kinh doanh giữa các công ty; cho phép kiểm soát các biến không quan sát được nhưng thay đổi theo thời gian (chính sách quốc gia, thỏa thuận quốc tế); cho phép xây dựng và nghiên cứu các mô hình phức tạp hơn, ví dụ như tính kinh tế do quy mô hay thay đổi công nghệ,…(Baltagi, 2005)

Các báo cáo tài chính hợp nhất được sử dụng để xem xét một cách toàn diện hơn hiệu quả hoạt động của các ngân hàng hiện đại Ngày nay, phần lớn các ngân

Trang 39

Nguyễn Công Tâm – MFB3 39

hàng đều phát triển theo hướng tập đoàn đa ngành nghề, ngân hàng mẹ ngoài ngành nghề kinh doanh chính của mình là ngân hàng còn đầu tư vào rất nhiều công ty con, công ty liên doanh/liên kết trong cùng lĩnh vực ngân hàng hoặc nhiều lĩnh vực khác như chứng khoán, bảo hiểm hay bất động sản,… Vì vậy, nếu chỉ sử dụng báo cáo tài chính riêng thì sẽ không thấy được toàn bộ tình hình tài chính cũng như tình hình kinh doanh thực sự của ngân hàng, và báo cáo tài chính hợp nhất sẽ đáp ứng được mục tiêu trên Khi sử dụng báo cáo tài chính hợp nhất của 28 ngân hàng trong bộ dữ liệu, tác giả đã thực hiện việc điều chỉnh các chỉ tiêu về lợi nhuận, tổng tài sản và vốn chủ sở hữu về đúng những gì thuộc về các cổ đông của ngân hàng mẹ để số liệu sử dụng được chính xác và hợp lý

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu định lượng Với phương pháp này, tác giả sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy bảng (Panel Regression) để xây dựng hai mô hình hồi quy bội và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đặt ra nhằm tìm ra các yếu tố tác động và xem xét mức độ tác động của các yếu tố được chọn lên hiệu quả ngân hàng Hướng tiếp cận những ảnh hưởng cố định (Fixed Effects) và những ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effects) cũng sẽ được sử dụng để tìm ra mô hình ước lượng phù hợp nhất cho bộ dữ liệu Trình tự các bước chi tiết của phương pháp sẽ được trình bày bên dưới

4.3 Xây dựng mô hình nghiên cứu

4.3.1 Phân tích sơ bộ dữ liệu

Dữ liệu sau khi được nhập vào phần mềm thống kê sẽ được kiểm tra lại để phát hiện và xử lý những điểm bất thường hay thiếu sót của tập dữ liệu Dữ liệu bị thiếu có thể làm giảm độ chính xác thống kê và mức độ giải thích của mô hình Theo đó, trước khi sử dụng dữ liệu để ước lượng mô hình, một việc làm rất quan trọng là phải thực hiện một số phân tích sơ bộ, cụ thể là thực hiện các thống kê mô tả để phát hiện những

lỗi do đánh máy, dữ liệu dị biệt (outlier - những dữ liệu có giá trị quá lớn hoặc quá

nhỏ), Bảng thống kê mô tả này sẽ bao gồm các thông tin cơ bản như tên biến, số quan sát, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất,…

Trang 40

Nguyễn Công Tâm – MFB3 40

Sau khi lập bảng thống kê miêu tả, việc cần làm tiếp theo là xem xét mức độ tương quan giữa các cặp biến độc lập với nhau Ma trận hệ số tương quan sẽ giúp ta thực hiện việc này Nếu cặp biến độc lập nào có hệ số tương quan cao thì nhiều khả năng sẽ gây ra hiện tượng đa cộng tuyến Theo Gujarati (2004), nếu hệ số tương quan giữa hai biến độc lập vượt quá 0,8 thì mô hình hồi quy sẽ gặp vấn đề đa cộng tuyến nghiêm trọng Vì vậy, một trong hai biến sẽ bị loại ra khỏi mô hình hồi quy ngay từ đầu nếu cặp biến độc lập nào có hệ số tương quan lớn hơn 0,8 để giảm thiểu nguy cơ

đa cộng tuyến cho mô hình

4.3.2 Ước lượng mô hình hồi quy và kiểm định các giả thuyết

Đây là bước quan trọng nhất trong quy trình xử lý dữ liệu Do dữ liệu được sử dụng là dữ liệu bảng nên theo Gujarati (2004), việc ước lượng mô hình bằng hồi quy OLS theo cách thông thường sẽ không hợp lý và thiếu hiệu quả vì bỏ qua đặc điểm riêng biệt của từng cá nhân, thực thể và do đó sẽ bóp méo mối quan hệ thực tế giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập Thay vào đó, hướng tiếp cận những tác động cố định (FE - Fixed Effects) và những tác động ngẫu nhiên (RE - Random Effects) sẽ được sử dụng để ước lượng mô hình

a) Mô hình những tác động cố định (FEM – Fixed Effects Model) hay mô hình biến giả bình phương tối thiểu (LSDV - Least Square Dummy Variables)

Thực ra, mô hình LSDV là sự kết hợp giữa hồi quy OLS và các biến giả tung

độ gốc khác biệt Theo Gujarati (2004), hướng tiếp cận của mô hình này dựa trên việc xem xét đến đặc điểm của từng công ty hay đơn vị chéo theo không gian, tức tung độ gốc giữa các công ty hay đơn vị chéo là khác biệt nhau Sự khác biệt trên có thể đến từ các đặc điểm riêng biệt của từng công ty như triết lý kinh doanh hay cách thức quản

lý Để xem xét vấn đề này, kỹ thuật biến giả sẽ được sử dụng, cụ thể là các biến giả theo đơn vị chéo Theo đó, mô hình sẽ có dạng như sau:

ROAit = β0i + β1LNTAit + β2CARit + β3NPL/TLit + β4IM/GIit+ β5NIE/GIit + β6LDRit +

β7RGDPit + β8INFit + β9SPREADit + uit

ROAit = α1 + α2D2i + α3D3i + … + α27D27i + α28D28i + β1LNTAit + β2CARit +

β3NPL/TLit + β4IM/GIit + β5NIE/GIit + β6LDRit + β7RGDPit + β8INFit +

β9SPREADit + uit

Ngày đăng: 17/12/2021, 16:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng hợp các chỉ số cốt lõi cho các tổ chức nhận tiền gửi - Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 2.1 Tổng hợp các chỉ số cốt lõi cho các tổ chức nhận tiền gửi (Trang 8)
Đồ thị 3.2: Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu của các NHTM Indonesia - Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
th ị 3.2: Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu của các NHTM Indonesia (Trang 23)
Đồ thị 3.1: Lợi nhuận trên Tổng tài sản của các NHTM Indonesia - Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
th ị 3.1: Lợi nhuận trên Tổng tài sản của các NHTM Indonesia (Trang 23)
Bảng 3.1: Hệ thống ngân hàng tại Malaysia, tháng 02/2012 - Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 3.1 Hệ thống ngân hàng tại Malaysia, tháng 02/2012 (Trang 25)
Đồ thị 3.4: Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng Malaysia - Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
th ị 3.4: Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng Malaysia (Trang 26)
Đồ thị 3.3: Lợi nhuận trên Tổng tài sản của các ngân hàng Malaysia - Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
th ị 3.3: Lợi nhuận trên Tổng tài sản của các ngân hàng Malaysia (Trang 26)
Sơ đồ 3.1: Hệ thống ngân hàng Philippines - Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Sơ đồ 3.1 Hệ thống ngân hàng Philippines (Trang 27)
Đồ thị 3.5: Lợi nhuận trên Tổng tài sản của các NHTM Philippines - Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
th ị 3.5: Lợi nhuận trên Tổng tài sản của các NHTM Philippines (Trang 28)
Đồ thị 3.6: Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu của các NHTM Philippines - Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
th ị 3.6: Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu của các NHTM Philippines (Trang 29)
Bảng 3.2: Hệ thống ngân hàng Singapore, tháng 06/2012 - Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 3.2 Hệ thống ngân hàng Singapore, tháng 06/2012 (Trang 30)
Đồ thị 3.7: Lợi nhuận trên tổng tài sản của các NHTM Singapore - Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
th ị 3.7: Lợi nhuận trên tổng tài sản của các NHTM Singapore (Trang 31)
Đồ thị 3.9: Lợi nhuận trên Tổng tài sản của các NHTM Thái Lan - Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
th ị 3.9: Lợi nhuận trên Tổng tài sản của các NHTM Thái Lan (Trang 33)
Đồ thị 3.10: Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu của các NHTM Thái Lan - Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
th ị 3.10: Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu của các NHTM Thái Lan (Trang 34)
Đồ thị 3.11: Thống kê số lượng ngân hàng tại Việt Nam đến 31/12/2011 - Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
th ị 3.11: Thống kê số lượng ngân hàng tại Việt Nam đến 31/12/2011 (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w