Nam Cao kể về cuộc sống chân thực, trần trụi như nó vốn có: chuyện một thằng say rượu, chuyện kình nhau giữa các phe cánh, chuyện yêu đương của những kẻ gàn dở… Nhưng đọc và ngẫm lại nhữ
Trang 1TÔN NGỌC MINH QUÂN 1
Về nhân vật Chí Phèo – GS Nguyễn Hoành Khung
Chí Phèo là kết tinh những thành công của Nam Cao trong đề tài nông dân và là một kiệt tác trong nền văn xuôi trước Cách mạng Khác với đa số truyện ngắn khác, Chí Phèo vừa phản ánh xã hội nông thôn trên bình diện đấu tranh giai cấp vừa thể hiện vấn đề con người bi tha hóa Qua hình tượng Chí Phèo, một hình tượng nông dân lưu manh hóa, Nam Cao không những đã miêu tả sâu sắc, cảm động cuộc sống đày đọa của người nông dân bị đè nén bóc lột đến cùng cực, mà còn dõng dạc khẳng định nhân phẩm của họ trong khi bị xã hội vùi dập đến mất cả hình người, tính người
1 Trong làng Vũ Đại, Chí Phèo là một “thằng cùng hơn cả thằng cùng”, không cha không mẹ, không thân thích họ hàng, không nhà không cửa, không tấc đất cắm dùi…; cả đời Chí Phèo “chưa bao giờ được chăm sóc bởi một bàn tay đàn bà” đến nỗi mơ ước đuợc chung sống với một người phụ nữ xấu đến “ma chê quỷ hờn” cũng không đạt được, Chí Phèo sống cuộc sống tối tăm của một con vật và chết cái chết thê thảm của một con người Số phận khốn khổ ấy của Chí Phèo cũng chính là số phận của cả một lớp người cố cùng dưới đáy xã hội nông thôn Việt Nam
cũ
Từ tuổi thơ “bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ” đén tuổi thanh niên “làm canh điền cho ông
Lý Kiến”, Chí Phèo sống cuộc sống lao động cực khổ của người cố nông ở nông thôn Quãng đời lương thiện ấy chấm dứt khi Chí bị lão Lý Kiến cho giải lên huyện rồi đi ở tù
Sau 7,8 năm biệt tích trở về Chí đã hoàn toàn thay đổi Hắn trở nên xa lạ với dân làng Vũ Đại và cũng xa lạ với bản thân Hắn không còn là ngưòi nông dân lao động nữa mà phần tử bị loại ra khỏi xã hội loài người Dù vậy, hình tượng Chí Phèo không phải là ngẫu nhiên, cá biệt Xã hội thực dân, phong kiến trước đây không hiếm những trường hợp người lao động bị đè nén bóc lột đến cùng cực đã quay lại chống trả bằng con đường lưu manh Bá Kiến đẩy Chí vào nhà tù (giai cấp địa chủ phong kiến còn chỗ nào là chỗ dựa tốt hơn bộ máy cai trị của “nhà nước bảo hộ”trong việc đàn áp nông dân!); nhà tù thực dân, cái nhà tù đã bắt giam người ta lúc lương thiện và thả ra khi trở thành hung ác – đã giết chết cái phần người của Chí, biến Chí thành Chí Phèo, một người nông dân hiền lành thành một con thú dữ Hiện tượng bi thảm ấy là có quy luật, tính phổ biến trong cái xã hội ăn thịt người đó Trong nhiều truyện ngắn khác của Nam Cao, ta đã gặp những họ hàng xã của Chí Phèo : Trạch Văn Đoành (Đôi móng giò), cu Lộ (Tư cách mõ)… và ngay trong Chí Phèo là Năm Thọ, Binh Chức, những tiền bối gần gũi của hắn Chí Phèo chết, nhưng hiện tượng Chí Phèo phải chăng sẽ hết? Nghe tin Chí Phèo chết, Thị Nở “nhìn nhanh xuống bụng”và bỗng
“thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không xa nhà cửa và vắng người lại qua…” Câu chuyện kết thúc ở đó Sau này Thị Nở có tìm đến cái lò gạch cũ và cho ra đời một Chí Phèo con để “nối nghiệp” bố hay không, điều đó chưa chắc, nhưng có một điều chắc là : hiện tượng Chí Phèo chưa hết chừng nào bọn địa chủ còn tác quái trên đầu dân lành không cho ai được sống “Tre già măng mọc, có bao giờ hết những thằng du côn!” Sức mạnh phê phán của Chí Phèo trước hết là đã vạch ra thật hùng hồn cái quy luật tàn bạo, khủng khiếp trong xã hội thực dân phong kiến đó
Đi vào cuộc đời người nông dân lưu manh hóa – vừa tiêu biểu cho số phận cực khổ của người nông dân bị
đè nén bóc lột vừa tiêu biểu cho sự tha hoá phổ biến trong xã hội tàn phá tâm hồn con người – ngòi bút Nam Cao
đã đạt tới một sức mạnh phê phán mãnh liệt, sâu sắc, ít có
2 Nhưng giá trị độc đáo của Chí Phèo không phải chỉ ở đó Vẽ nên hình ảnh người nông dân lưu manh đầy thú tính, Nam Cao không hề bôi nhọ nông dân mà trái lại, đã đi sâu vào đời sống tâm hồn của nhân vật để khẳng định nhân phẩm đẹp đẽ của người nông dân ngay trong khi họ bị rạch nát cả bộ mặt người, giết chết tâm hồn người
Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã loé sáng như một tia chớp trong chuỗi ngày tăm tối dằng dặc của Chí Phèo Thị Nở không phải đã khơi dậy bản năng sinh vật ở gã đàn ông Chí Phèo mà sự săn sóc giản dị, đầy ân tình cùng tình thương yêu mộc mạc chân thành của người đàn bà khốn khổ ấy đã khiến bản chất người lao động lương thiện trong Chí Phèo thức dậy Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, Chí Phèo lại mới nghe thấy tiếng chim hót vui vẻ, tiếng cười nói vui vẻ của mấy người đi chợ về, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá… Những âm thanh quen thuộc trong cuộc sống lao động xung quanh ấy hôm nào chả có, nhưng hôm nay bỗng vang động sâu xa trong lòng Chí Phèo như là tiếng gọi tha thiết của sự sống vẳng đến đôi tai lần đầu tiên tỉnh táo của anh Chí Phèo ăn bát cháo hành từ tay Thị
Nở và bỗng nhận ra rằng cháo hành ăn rất ngon Hương vị cháo hành hay hương vị của tình yêu thương chân thành cảm động , của hạnh phúc giản dị mà thấm thía, lần đầu tiên Chí Phèo được hưởng ? Lần đầu tiên Chí Phèo
“mắt ươn ướt nước” và cười cái cười “nghe thật hiền” Giờ đây Chí Phèo mới trở lại là mình, anh rưng rưng và bẽn
Trang 2TÔN NGỌC MINH QUÂN 2
lẽn khi trở về với cuộc sống con người Anh tha thiết được trở lại với xã hội loài người, anh “thèm lương thiện, muốn làm hòa với mọi người biết bao !”
Lòng yêu thương, cái tình người cảm động đã thức dậy trong Chí Phèo, phần sâu kín nhất trong tâm hồn, cái bản chất đẹp đẽ của người nông dân lao động bị che lấp, vùi dập bao nhiêu lâu vẫn không tắt Xưa kia, Chí Phèo
đã từng ước mơ mọt cuộc sống hạnh phúc giản di trong lao động Tuy còn trẻ trung nhưng, anh cũng phân biệt được tình yêu chân chính và thói dâm dục xấu xa : bị gọi lên bóp chân cho “bà ba”, “anh chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì” Bản chất lương thiện , trong trắng của người nông dân trong Chí Phèo đã bị bọn cường hào và nhà tù thực dân ra sức bóp chết Chí Phèo đã không chịu trách nhiệm về tội lỗi của mình “Trần trụi giữa bầy sói”, anh không thể hiền lành, mà muốn sống anh phải cướp giật, đâm chém, ăn vạ Muốn thế phải liều lĩnh gan góc; những thứ ấy Chí Phèo tìm ở rượu Và Chí Phèo luôn say, “hắn say thì hắn làm bất cứ thứ gì người ta sai hắn làm” Chí Phèo gây tội ác một cách vô ý thức, linh hồn của anh đã bi cướp đi rồi
Nhưng hôm nay Chí Phèo không say Tình yêu đã thức tỉnh anh và hé mở cho anh con đường trỏ lại làm người Anh hồi hộp hi vọng Nhưng con đường ấy đã bị chặn đứng : bà cô Thị Nở không cho phép cháu bà “đâm đầu đi lấy một thằng (…) chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ !” Mọi người đã quên coi Chí Phèo như một con vật và không công nhận anh là con người từ lâu lắm rồi Thế là Chí Phèo rơi vào một bi kịch tâm hồn đau đớn, bi kịch của con người bi cự tuyệt không được làm người Chí Phèo uống và “ôm mặt khóc rưng rưng” Anh lại xách dao đi, và như mọi lần, vừa đi vừa chửi
Nhưng bước chân của Chí Phèo hôm nay không hẳn là bước chân của kẻ say Anh đến thẳng nhà của lão
Bá Kiến chứ không rẽ vào nhà của Thị Nở Có thể vì anh say nên quên dự tính lúc ra đi và đi theo thói quen Nhưng đúng hơn là anh đã đi theo sự thôi thúc và lòng căm thù giai cấp vẫn âm ỉ chưa tắt trong đáy khối óc u tối dày đặc nay đã bùng lên Quằn quại đau khổ vì tuyệt vọng, Chí Phèo càng thấm thía tội ác đã cướp quyền làm người, cướp
cả hình người, hồn người của mình Trước Bá Kiến, Chí Phèo đã “chỉ tay vào mặt” lão, dõng dạc đòi quyền làm người Lưỡi dao căm thù của Chí Phèo đã vung lên
Không phải là một vụ giết người mới của Chí Phèo lưu manh mà đây là hành động lấy máu rửa thù của người nông dân cung khổ đã uất ức vung lên, vùng lên một cách cô độc, tuyệt vọng, manh động Giết chết kẻ thù, Chí Phèo cũng “chỉ còn một cách” kết liễu cuộc đời mình Ý thức nhân phẩm đã trở về Chí Pheo không bằng lòng trở lại cuộc sống thú vật nữa Trước đây, để bám lấy sự sống, Chí Phèo đã bán linh hồn cho quỷ; giờ đây, linh hồn
ấy đã trở về, Chí Phèo lại phải thủ tiêu cuộc sống của mình !
Chí Phèo đã chết Chết vì không tìm ra đường sống Kẻ thù đã bị đền tội, “tre già măng mọc, thằng ấy chết còn thằng khác”.Cuôc sống vẫn tối sầm
Qua Chí Phèo, Nam Cao như đã mơ hồ cảm thấy cái khốc liệt của mối mâu thuẫn giai cấp ngàn đời giữa nông dân và địa chủ không gì có thể xoa dịu, cái sức mạnh ghê gớm của mối căm thù giai cấp đang âm ỉ trong lòng trật tự phong kiến nông thôn, càng nén xuốngthì càng bùng nổ không gì có thể dập tắt
(In trong Lịch sử văn học Việt Nam, tập V, phần II (1930 – 1945), NXB Giáo dục, 1978)
Tiểu luận:So sánh Chí Phèo của Nam Cao và AQ Chính truyện của Lỗ Tấn
SO SÁNH VỀ MẶT NỘI DUNG GIỮA “CHÍ PHÈO” VÀ “AQ CHÍNH TRUYỆN”
Học viên Thực hiện: Nguyễn Văn Thông K15 Khi học văn học So sánh, tiếp xúc với nhà văn Lỗ Tấn, tôi thấy được sự đồng điệu giữa Lỗ Tấn của Trung Quốc với nhà văn hiện thực Việt Nam Nam Cao Hai nhà văn của hai đất nước, hai thế kỷ, khác nhau
cả về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ… nhưng lại cùng nhìn nhận về xã hội đương thời, về hình tượng người nông dân quen thuộc với những nỗi bi kịch cùng cực gần giống nhau, đặc biệt là người nông dân trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Đại diện cho hình tượng người nông dân ấy là hai nhân vật điển hình AQ (AQ chính truyện của Lỗ Tấn) và Chí Phèo (Chí Phèo của Nam Cao)
Bước ra từ hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam và Trung Quốc đang là nước thuộc địa nửa phong kiến Chí Phèo và AQ chính truyện đều tố cáo bọn địa chủ phong kiến áp bức bóc lột người nông dân về vật chất lẫn tinh thần
Trang 3TÔN NGỌC MINH QUÂN 3
Địa chủ Cố Triệu, Cố Tiền… Bá Kiến, Đội Tảo…
Nông dân AQ, Cu Dê, Vương Râu, Xồm… Binh Chức, Chí Phèo, Năm Thọ… Qua ngòi bút của Nam Cao và Lỗ Tấn, “tấm màn sân khấu” của bọn địa chủ (Cố Triệu, Cố Tiền, Bá Kiến, Đội Tảo…) bị tháo xuống; những mánh khóe, tiểu xảo của kẻ bóc lột bị vạch trần Còn trơ lại là những con người khốn khổ sống dưới đáy xã hội (Binh Chức, Chí Phèo, Năm Thọ, AQ, Cu Dê…)
AQ chính truyện phê phán cuộc cách mạng tư sản nửa vời Đó là thứ cách mạng không đúng chất “cách mạng”, cách mạng đến mà kẻ sợ, người hoang mang, duy chỉ có AQ là phấn khởi AQ cho rằng cách mạng là cướp của nhà giàu làm lợi cho mình, là “làm giặc” Chính vì hiểu sai hai từ “cách mạng” mà người nông dân này đã nhận một kết quả bi thảm Đây là bóng dáng của cách mạng Tân Hợi 1911 – Cuộc cách mạng không triệt để Lỗ Tấn phê phán cách mạng nửa vời minh chứng cho một tư tưởng cách mạng dân chủ mới, Lỗ Tấn muốn thức tỉnh người nông dân về tư tưởng cách mạng thật sự
Chí Phèo tuy ra đời sau AQ chính truyện 20 năm nhưng vẫn chưa thấy rõ chất đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân Có lẽ, Nam Cao chỉ là trí thức yêu nước, chuộng dân, chứ tư tưởng cách mạng chưa hoàn toàn xuất hiện Do đó, dẫn đến những điểm tương đồng, cũng không ít nét riêng biệt cho hai nhân vật AQ và Chí Phèo
1 Chí Phèo và AQ chính truyện đều lên án bọn phong kiến địa chủ và đồng cảm với thân phận người nông dân
Cả hai tác phẩm đều lên án sự áp bức bóc lột về mặt vật chất, thân xác cùng sự đầu độc đè nén về mặt tinh thần của bọn địa chủ phong kiến đối với người nông dân Những bộ “mặt người dạ thú” như Bá Kiến, Đội Tảo, như
Cố Triệu, Cố Tiền… đã bị lật tẩy khi chúng giở hết mọi mánh khoé, tiểu xảo của những kẻ lọc lõi, già đời ra để cai trị, bóc lột những con người khốn khổ sống ở tầng lớp dưới đáy của xã hội Nam Cao và Lỗ Tấn đều bộc lộ tấm lòng đau đớn của mình trước những số phận của người nông dân Cuộc đời những Binh Chức, Chí Phèo, Năm Thọ, những
AQ, Cu D, Vương Râu Xồm… mà hai ông miêu tả khiến mọi người không khỏi chạnh lòng
Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử xã hội của hai nước Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn này rơi vào tình trạng vừa thuộc điạ vừa phong kiến, nông dân bị bần cùng, còn giai cấp thống trị lại ra sức càn quét, bóc lột Hơn nữa ở đây còn thể hiện sự gặp gỡ ngẫu nhiên giữa hai tâm hồn, nhân cách lớn - Nam Cao và Lỗ Tấn, hai nhà văn hiện thực và nhân đạo chủ nghĩa đã khiến cho nội dung hai tác phẩm có sự tương đồng
2 Riêng AQ chính truyện còn phê phán cuộc cách mạng tư sản nửa vời:
Sự kiện “cách mạng” mà Lỗ Tấn miêu tả trong tác phẩm đã làm người dân Làng Mùi không khỏi ngỡ ngàng Cách mạng đến không ai biết, thực chất cuộc cách mạng này là gì không ai hay, cách mạng đến người sợ kẻ hoang mang, riêng chú AQ rất hồ hởi, phấn khởi muốn đi làm “cách mạng”, vì chú cho rằng làm “cách mạng” tức là “làm giặc”, mà làm giặc tức là được đi cướp của cải của nhà giàu về cho mình Sự xuất hiện của cách mạng nửa vời và
sự thiếu hiểu biết về cách mạng của người nông dân đã mang lại một kết quả thảm hại
Đây là bóng dáng cuộc cách mạng Tân Hợi (1911), một cuộc cách mạng tư sản nửa vời chưa từng có ở Việt Nam, cho nên cũng không thể nào có được sự phản ánh trong “Chí Phèo” nhưng đó chỉ là một mặt của vấn đề Ở đây còn phải xét đến nguyên nhân ở chủ quan nhà văn Đầu những năm 20 của thế kỷ này, tuy chưa là người Mác Xít theo đường lối cách mạng, nhưng Lỗ Tấn đã là người có tư tưởng cách mạng dân chủ mới Bản thân việc ông phê phán tính chất nửa vời của cuộc cách mạng Tân Hợi, chứng tỏ ông có tư tưởng cách mạng triệt để, ông phê phán cái lối hiểu dớ dẩn của AQ về cách mạng, chứng tỏ ông mong muốn giác ngộ người nông dân có tư tưởng cách mạng thật sự Trái lại, Nam Cao chỉ là một trí thức văn nghệ sĩ yêu nước, yêu dân, chứ hoàn toàn chưa có tư tưởng cách mạng Phải nêu ra điều này mới có thể giải thích rằng ở Việt Nam tuy không có cuộc cách mạng tư sản nhưng sau khởi nghĩa Yên Bái, lại có cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, khởi nghĩa Bắc Sơn, Đô Lương, khởi nghĩa Nam Kỳ v.v…
Ra đời sau “AQ chính truyện” 20 năm, “Chí Phèo” vẫn không có chút bóng dáng nào về cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân
SO SÁNH GIỮA HAI ĐIỂN HÌNH CHÍ PHÈO VÀ AQ
1 Chí Phèo và AQ đều có cuộc sống bần cùng, tính cách mâu thuẫn và tha hoá
a) Cuộc sống bần cùng
Cả AQ và Chí Phèo đều có chung một thân phận khổ cực Cả hai đều chịu nhiều đau khổ về cuộc sống vật chất và tinh thần Chí Phèo thì bị bỏ rơi ở bên một cái lò gạch bỏ hoang, không cha, không mẹ, không họ hàng nhà
Trang 4TÔN NGỌC MINH QUÂN 4
cửa… AQ lớn lên “hành trạng” trước kia cũng không rõ, thân phận cũng chẳng còn ai, không có gì ngoài bản thân
Cả hai đều phải sống bằng nghề đi làm thuê, chịu nhiều tủi cực Với thân phận nghèo hèn muốn yên phận để làm mướn kiếm ăn, nhưng số phận cả hai cũng không yên ổn Chí Phèo gặp Thị Nở cuộc đời hoá ra càng trở nên bi kịch
và sống vật vã trong cơn đau bị cự tuyệt quyền làm người AQ hy vọng một sự đổi đời, khi cách mạng đến, nhưng thực tế đã đi ngược lại với mong muốn của y
b) Tính cách mâu thuẫn, tha hoá
Cuộc sống của Chí Phèo và AQ luôn bị động vì hoàn cảnh đưa đẩy Chính vì thế tính cách AQ và Chí Phèo hoàn toàn không bình thường, nó mâu thuẫn và tha hoá Một Chí Phèo lương thiện là vậy, nay trở thành “con quỷ dữ” côn đồ, lưu manh Một Chí Phèo, một thời ý thức về nhân phẩm rõ ràng Nay bỗng trở nên hoàn toàn vô thức trong mọi hoạt động của mình Một Chí Phèo dương dương tự đắc, bỗng chốc lại trở nên lo lắng sợ sệt trước con cáo già Bá Kiến v.v… Một AQ dở dở ương ương, lúc thế này lúc thế kia, lúc khôn lúc dại Lúc vênh vênh đi bắt nạt
kẻ yếu lúc lại rụt cổ trước kẻ mạnh Lúc tự cao, nhưng có lúc lại tự ti, lúc lại tỏ ra mình có những suy nghĩ rất phong kiến nhưng có lúc lại thả mình sống theo bản năng v.v…
Xã hội phong kiến, thuộc địa không những áp bức bóc lột về mặt vật chất, thân xác mà còn đầu độc và đè nén về mặt tinh thần đối với người nông dân cùng khổ, làm cho tính cách của họ trở nên méo mó Đây là sự gặp gỡ giữa Nam Cao và Lỗ Tấn trong việc xây dựng về những điển hình về người nông dân
2 Phép “thắng lợi tinh thần” - Ý nghĩa khái quát riêng có ở điển hình AQ
Tuy có một cuộc sống bần cùng, luôn thua thiệt nhưng AQ đã tạo cho mình một ảo giác thắng lợi, mà trong bất cứ một thực tế nào y cũng là người chiến thắng Y sung sướng vì luôn cho mình hơn tất cả mọi người về tất cả mọi mặt trong cuộc sống, nào là gia thế hơn, con cái hơn, hiểu biết cũng nhiều hơn Thật ra, cuộc sống của y rất bi đát, y tồn tại và luôn hớn hở nhờ phép “thắng lợi tinh thần”
Phê phán cái “thắng lợi” ở điển hình AQ, nhà văn Lỗ Tấn đã khái quát từ quá khứ đau thương trong lịch sử Trung Quốc Từ xã hội tư hữu phong kiến, từ chế độ đẳng cấp tôn pháp đến sự thất bại nhưng không cam chịu của triều đình Mãn Thanh - Một căn bệnh lan tràn đến quy mô toàn dân vì “tư tưởng thống trị thời đại là tư tưởng của giai cấp thống trị”, như ý Mác nói
Tóm lại, Chí Phèo và AQ đều là điển hình cho người nông dân lạc hậu tha hoá Nhưng bộc lộ “phép thắng lợi tinh thần”, AQ còn mang tính chất điển hình cho mặt trái của dân tộc Trung Hoa, nhất là trong thời kỳ thuộc địa
SO SÁNH MỘT SỐ BIỂU HIỆN NGHỆ THUẬT GIỮA HAI TÁC PHẨM Nếu sự tương đồng và khác biệt về nội dung và nhân vật điển hình trong “Chí Phèo” và “AQ chính truyện”
là gắn bó chặt chẽ với nhau, thì sự giống nhau và khác nhau về mặt nghệ thuật giữa hai tác phẩm tuy cũng có liên quan với những mặt nói trên, nhưng cũng mang tính chất tương đối độc lập của nó
1 Những mặt tương đồng
a) Giọng điệu khách quan lạnh lùng
Xuyên suốt toàn bộ tác phẩm “Chí Phèo” và “AQ chính truyện”, một cảm nhận bao trùm về lối trần thuật trong mỗi tác phẩm là: giọng điệu khách quan lạnh lùng nhưng chan chứa tình cảm chủ quan của tác giả
Nam Cao kể về cuộc sống chân thực, trần trụi như nó vốn có: chuyện một thằng say rượu, chuyện kình nhau giữa các phe cánh, chuyện yêu đương của những kẻ gàn dở… Nhưng đọc và ngẫm lại những chuyện đó, ta thấy nhà văn kể không phải chỉ để kể, mà qua những câu chuyện tưởng như vặt vãnh đời thường lại là chuyện về một chế độ xã hội mà ở đó nhân quyền không được tôn trọng, nó bị giẫm đạp, xúc phạm như đối xử với con vật Lời trần thuật của người kể chuyện như một “ống kính” quay hình ảnh về những hành vi của “con quỷ dữ” làng
Vũ Đại: rạch mặt, ăn vạ, cướp của, đốt quán, làm tay sai cho địa chủ làm những việc bất lương… Lời trần thuật khách quan khiến người đọc có cảm giác ghê sợ, nhưng đó là cảm giác do ý đồ sáng tạo của nhà văn mang lại
Cũng phong cách đó, ta bắt gặp ở nhà văn Lỗ Tấn trong “AQ chính truyện” kể về cuộc đời chú AQ sống vô nghĩa bằng những hành động và suy nghĩ ngớ ngẩn của mình Người kể chuyện dường như không có ý định bênh vực một chút gì cho con người của y: tên y, bộ dạng y, con người y, thân phận y, tính cách y v.v… tất cả đều bộc lộ sự thảm hại Nhưng đấy không phải là mục đích của ông Với lối trần thuật khách quan, ông muốn phơi bày nhược điểm của con người và xã hội Trung Quốc Ý đồ nghệ thuật đã giúp ông thành công khi sử dụng lối trần thuật khách quan lạnh lùng như ẩn chứa những yêu thương và căm giận bên trong
b) Ngôn ngữ cá tính hoá
Trang 5TÔN NGỌC MINH QUÂN 5
Nam Cao và Lỗ Tấn đã sử dụng ngôn ngữ cá tính hoá của nhân vật rất đặc sắc Lời đối thoại của nhân vật cho ta thấy tính cách nhân vật nổi lên rất rõ
Chí Phèo lúc còn hầu hạ nhà chủ, hầu như tác giả không miêu tả một lời nói của nhân vật, điều đó đã phản ánh sự nhẫn nại, cam chịu của kiếp người nông dân nô lệ Nhưng sự thay đổi tính cách của Chí sau khi ra tù đã bộc
lộ rõ khi hắn cất tiếng ăn vạ, kêu làng, đốt nhà, cướp của… phẩm chất hiền lành biến mất, thay vào đó là lời lẽ của
kẻ lưu manh, côn đồ Nhưng trước Bá Kiến, hắn vẫn bộc lộ bản chất nô lệ khi xưng hô rất tử tế
Trong “AQ chính truyện”, Lỗ Tấn cũng đặc biệt chú ý đến từng lời nói nhân vật, qua đó làm nổi lên tính cách của chú AQ lúc bị thua trước đối thủ mạnh, luôn giở giọng cầu hoà Nhưng trước kẻ yếu đuối, hay với người cùng thân phận y lại lên giọng chửi bới rất khinh thị Vú Ngò chỉ nói có hai câu, nhưng chính Vú đã làm bộc lộ tính
“ngồi lê đôi mách” của mình v.v…
2 Những điểm khác biệt
a) Trần thuật tuyến tính và phi tuyến tính
Tác phẩm “AQ chính truyện” được trần thuật theo một trình tự nhất định, nhân vật xuất hiện và sau đó là những hành động, sự kiện diễn ra nói chung theo trình tự trước sau
Với “Chí Phèo” cách trần thuật của Nam Cao có khác Hình ảnh đầu tiên không phải là hình ảnh bắt đầu,
mà cốt truyện hiện ra trong sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại của nhân vật
Mỗi nhà văn chọn cho mình một lối trần thuật riêng Lỗ Tấn trần thuật theo trình tự thời gian, còn Nam Cao ông không tuân theo lối trần thuật truyền thống Nhưng cả hai cách trình bày đều làm nổi bật giá trị nội dung của tác phẩm
b) “Vẽ rồng điểm mắt” và khắc hoạ tỉ mỉ
Nếu như Nam Cao không hề bỏ qua một chi tiết nhỏ nào khi khắc hoạ ngoại hình nhân vật: Như bộ dạng Chí sau khi ra tù, gương mặt xấu xí đến kinh hồn của Thị Nở, thì Lỗ Tấn với bút pháp “vẽ rồng điểm mắt” chỉ miêu
tả vài nét sơ lược giàu tính biểu trưng, như miêu tả ngoại hình AQ, Lỗ Tấn chỉ miêu tả chiếc đuôi sam và đặc biệt
là cái sẹo Miêu tả ngoại hình Vương Râu Xồm, nhà văn chú ý đến mớ râu xồm có ý nghĩa tượng trưng nhất đối với
y v.v… Nhưng tất cả sự miêu tả những chi tiết chọn lọc, điển hình đó đều toát lên tính cách nhân vật
c) Mô tả tâm lý và mô tả hành động
Ngòi bút Nam Cao luôn hướng vào khai thác, soi sáng thế giới bên trong trong con người nhân vật, mọi tâm trạng, suy nghĩ của Chí luôn được nhà văn thể hiện dưới dạng nội tâm, con người và tính cách của hắn chủ yếu bộc
lộ qua tâm lý Nhưng với nhân vật của Lỗ Tấn, chúng thường bộc lộ qua hành động AQ bộc lộ tính cách của mình qua những hành động của y: đánh nhau, chửi rủa, lườm nguýt…
Tóm lại: Với những đặc điểm như trần thuật theo thời gian tuyến tính, “vẽ rồng điểm mắt”, mô tả hành động, “AQ chính truyện” gần giống với lối văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc Trái lại, với lối trần thuật phi tuyến tính, khắc hoạ tỉ mỉ, mô tả tâm lý, “Chí Phèo” gần với lối văn xuôi thế giới thế kỷ XX hơn Trên một ý nghĩa nhất định, cách viết của Nam Cao hiện đại hơn Điều này không phải ngẫu nhiên Một điều không phải là không có ý nghĩa gì, nếu chúng ta nhớ rằng, cách nhau 34 tuổi, Lỗ Tấn đã bước vào tuổi trưởng thành ngay từ cuối thế kỷ XIX, còn Nam Cao sống trọn trong nửa đầu thế kỷ XX “Chí Phèo” được Nam Cao viết sau “AQ chính truyện” sau 20 năm,
có điều kiện nhiều hơn khi tiếp cận với lối viết hiện đại Mặt khác Trung Quốc với di sản văn hoá, văn học hết sức
đồ sộ với những thành tựu vô cùng rực rỡ đã trở thành niềm tự hào của dân tộc Trung Hoa Bởi vậy những mẫu mực trong văn hoá cổ điển đã trở thành áp lực rất lớn đối với nhiều nhà văn Trung Quốc nói chung, nhà văn Lỗ Tấn nói riêng, cho nên sự ảnh hưởng của nghệ thuật văn xuôi tự sự truyền thống đối với sáng tác của Lỗ Tấn là điều dễ hiểu Trái lại, thành tựu về văn xuôi tự sự trung đại ở Việt Nam chủ yếu là chữ Hán không gây áp lực gì đối với văn xuôi tự sự quốc ngữ vào đầu thế kỷ XX trên quá trình hiện đại hoá nhanh chóng Nam Cao lại thuộc thế hệ sau, vừa được thừa hưởng tính chất hiện đại đó, vừa có nhiều điều kiện học tập, tiếp thu văn xuôi tự sự thế giới khoảng giữa thế kỷ XX
Cần lưu ý thêm rằng, Lỗ Tấn không những là nhà sáng tác mà còn là nghiên cứu văn học sử nhất là về tiểu thuyết, cho nên thừa hưởng được lối viết tinh hoa truyền thống là không có gì lạ Cố nhiên Lỗ Tấn cũng là người tiếp xúc với nền văn học nước ngoài, nhưng chủ yếu là cuối thế kỷ XIX như GôGôn; Sêkhốp, Tôn Xtôi, trong đó có một phần không nhỏ là những nhà thơ lớn như Pêtôghin, Mickêvit, v.v… còn việc ông rất chú ý đến tác giả Xô Viết như M.Goorki, đến Phêđêép v.v… nhưng đó chủ yếu là để khơi nguồn những tư tưởng của tình cảm mới, chứ không phải để hấp thụ nghệ thuật tự sự hiện đại
Trang 6TÔN NGỌC MINH QUÂN 6
Tóm lược một cách hết sức vắn tắt thì “Chí Phèo” và “AQ chính truyện” đều là những kiệt tác viết về số phận người nông dân lạc hậu, tha hoá trong xã hội phong kiến thuộc địa và nửa thuộc địa Nhưng trong “AQ chính truyện” còn phê phán cuộc cách mạng tư sản nửa vời, điều này có căn nguyên chủ yếu ở hiện thực khách quan Về mặt điển hình hoá, Lỗ Tấn tỏ ra càng sâu sắc hơn, vì ông không những là nhà văn, mà còn là nhà nghiên cứu văn học sử, hơn nữa là nhà tư tưởng Tuy nhiên, về nghệ thuật viết truyện, Nam Cao có phần hiện đại hơn
Cấu trúc nhân vật qua tác phẩm Chí Phèo- Nam Cao
1 Nhân vật trung tâm trong tác phấm
Trong tác phẩm Chí phèo- Nam Cao ta thấy có rất nhiều nhân vật được xây dựng như: Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến, vợ Bá Kiến, bà cô của Thị Nở,… Nhưng nhân vật trung tâm, “vai chính” đậm nét ở đây là Chí Phèo Tác phẩm Chí Phèo được đổi tên 3 lần, ban đầu tác phẩm có tên Cái lò gạch cũ, với tên gọi đầu tiên này đã nói lên hoàn cảnh ra đời của Chí Phèo "Cái lò gạch cũ" là hình ảnh mở đầu và kết thúc tác phẩm, nó là chi tiết không thể thiếu và gắng liền với số mệnh của Chí Phèo Với tên gọi này thì giá trị hiện thực của tác phẩm thêm sâu sắc và sinh động Tác phẩm được đổi tên lần hai sau khi được in thành sách (1941), nhà xuất bản tự đổi tên tác phẩm với nhan đề Đôi lứa xứng đôi Với tên gọi này, sẽ hướng người đọc tới mối tình giữa Thi Nở và Chí Phèo, dẫn người đọc thấy ra sự tàn ác của làng Vũ Đại và Bá Kiến đối với Chí Phèo và nêu cao sự gặp gỡ của Chí Phèo với Thị Nở đã làm thay đổi vận mệnh cuộc đời Chí Nhưng tên gọi này vẫn không đủ nói lên giá trị hiện thực và làm
lu mờ đi nhiều giá trị quan trọng khác trong tác phẩm
Và sau cùng nhà văn Nam Cao đã quyết định đổi tên thành Chí Phèo, lấy tên gọi nhân vật chính của câu chuyện Với nhan đề này thì mọi giá trị của tác phẩm đều hiện hữu, bởi tựa đề đã đề cập tới một thân phận cụ thể, số phận ấy mang cả giá trị hiện thực lẫn giá trị nhân đạo
Xung quanh tác phẩm Chí Phèo với bao là nhân vật, có thể nói những nhân vật được xem là khơi nguồn, làm nên “chuyện”, rồi tạo sự kịch tính, sự xung đột trong tác phẩm được đẩy lên cao trào như: Bá Kiến hay vợ Bá Kiến Hoặc nhân vật được nhắc đến chỉ sau Chí Phèo đó là Thị Nở, Thị Nở được nhắc đến trong tác phẩm như “đồng hình”, “đồng dạng” với Chí Phèo và là nhân vật quan trọng, điểm nhấn trong tác phẩm, chính Thị Nở đã đẩy cuộc đời Chí một ngã rẽ khác, một kết cục khác… Thị Nở xứng đáng là nhân vật tiêu biểu Thế nhưng, tất cả chi tiết trên, những nhân vật đó không thể che lấp hay thay vị trí hình ảnh Chí, rất riêng của Chí Phèo trong tác phẩm Nhân vật Chí là nhân vật trung tâm, là “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại và cũng thật táo bạo khi cho Chí Phèo là “một thiên thần” trong vô số các nhân vật trong tác phẩm Nhân vật Chí không thể là điểm nhấn, cũng không phải chi phối tác phẩm,… nhưng là quyết định của tác phẩm, có Chí Phèo, có cuộc đời của Chí thì mới có tác phẩm Vì thế không có
sự bất ngờ khi Nam Cao chọn lấy tên nhân vật làm nhan đề cho tác phẩm của mình Chí Phèo và nhân vật trung tâm là Chí
2 Bối cảnh xã hội
Tác phẩm đã đem lại cho người đọc một hiện thực mạnh mẽ, một bức tranh đen tối, bế tắc của nông thôn Việt Nam trước cách mạng Tháng Tám Xã hội giai đoạn 1930- 1945 rối ren, nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ dưới ách thống trị thực dân phong kiến và sự mâu thẫn giữa các giai cấp Đặc biệt là mâu thuẫn giữa giai câp vô sản và địa chủ phong kiến Trong tác phẩm Chí phèo, Nam Cao đã khám phá một hiện thực riêng biệt của mình, không chỉ phê phán xã hội thực dân phong kiến, thế lực thống trị xã hội , yêu thương cảm thông cho những con người bị vùi dập, chà đạp trong xã hội mà còn suy ngẫm hiện thực của một con người, khi không còn là chính mình, không còn
xã hội thừa nhận là con người thông qua bối cảnh xã hội như thế Cái xã hội đức trị và trọng danh phẩm đã không
có xuất hiện trong làng Vũ Đại trong tác phẩm Chí phèo của Nam Cao thay vào đó là tầng lớp thống trị quành hành
và tầng lớp bị trị luôn bị tha hóa Do vậy tôn ty, thứ bậc trong cái làng nôn thôn này đã không còn ,chữ lễ- nghĩa cũng mất huống chi là chữ nhân và chữ tình “Xã hội làng Vũ Đại là một xã hội bị tha hóa toàn thể (tha hóa vì quyền lực, tha hóa vì cùng cực, cùng đường, tha hóa vì bản thân) Quan hệ xã hội ở đây là quan hệ giữa các đơn vị đã bị tha hóa (cá nhân với cá nhân, nhóm loại với nhóm loại) Làng Vũ Đại không nhiều các kiểu loại người, các thành phần và
sự tiếp xúc, quan hệ giữa chúng không phong phú, vì vậy đời sống tinh thần, đời sồng tâm hồn của các cá nhân ở đây cũng đơn giản, nghèo nàn” (Các mối quan hệ xã hội trong làng Vũ Đại- Thái Nguyên 1991)
3 Tác động xã hội đến từng nhân vật trong tác phẩm
3.1 Nhân vật Chí Phèo
Trang 7TÔN NGỌC MINH QUÂN 7
Trong tác phẩm, có thể nói nhân vật bị hệ lụy và ảnh hưởng nặng nề nhất của xã hội bấy giờ chính là Chí Phèo“cái đầu trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn…hai mắt gườm gườm trông gớm chết” Là nhân vật trung tâm, Chí Phèo như bị tha hóa, do thúc bách của xã hội và là nạn nhân của chế độ cường quyền từ một nông dân chân chất trở thành con “quỷ dữ” khiến mọi người khiếp sợ và tránh xa “để tác quái cho bao nhiêu dân làng”, “hắn đạp đổ bao nhiêu sự nghiệp làm tan nát biết bao gia đình, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người” Như là một nhân chứng sống động tố cáo thực dân phong kiến đã cướp mất đi quyền làm người, quyền được hạnh phúc trong xã hội bấy giờ Bởi bàn tay tội ác của những kẻ như Bá Kiến đã tước đoạt vĩnh viễn con-người-lương thiện của Chí ngày xưa Nhưng trong hình hài quỷ dữ, vẫn ẩn náu giấc mơ ngày nào, dù chỉ nhớ lại một cách lờ mờ “hình như…” cũng
đủ khẳng định cho sức phản kháng của lương thiện trước tội ác của Chí
3.2 Nhân vật Bá Kiến và vợ Bá Kiến
Khi ta nói xã hội đương thời này đã thúc đẩy, dẫn đến Chí Phèo rơi vào cảnh bi kịch thì không quên đến nhân vật được cho là đại diện của thế lực cường quyền đó là Bá kiến và vợ Bá Kiến Được xem là bộ mặt của xã hội thực dân phong kiến, Bá Kiến xứng đáng được gọi là nhân vật điển hình cho những bất cập, tồn tại có trong xã hội thực dâng phong kiến Xấu xa, gian manh, đê hèn, bóc lột, tàn bạo,… những phẩm chất đó được Bá Kiến thể hiện trọn vẹn qua suy nghĩ, hành động, lối sống của mình qua tác phẩm Sự gian manh nham hiểm của Bá Kiến được thể hiện qua cách dùng người như là một công cụ “không có những thằng đầu bò thì lấy ai để trị những thằng đầu bò?” hay sự ném đá giấu tay, lọc lừa một cách xảo quyệt “hay ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi dắt nó lên
để nó đền ơn Hay đập bàn ghế, đòi cho được năm đồng nhưng được rồi thì vất trả năm hào” Vợ Bá Kiến thì luôn hiện thân cho tầng lớp thống trị, luôn đàn áp và cướp đi quyền tự do của người khác Vậy nhân vật Bá Kiến và vợ
là hiện thân cho xã hội thực dân phong kiến hay chính xã hội đó tạo nên con người thâm độc như vợ chồng nhà
Bá trở thành bộ máy càng quét dân nghèo như thế…? Chỉ biết Bá Kiến và vợ hội tụ đủ tất cả tinh thần của chế độ
cũ đương thời
3.3 Nhân vật Thị Nở
Nhắc đến nhân vật Chí Phèo ta không quên một nhân vật nổi trội, mà ai cũng quan tâm và có cái nhìn đầy thương cảm không ai khác chính là nhân vật Thị Nở Thị Nở được Nam Cao nhắc đến như một “hiện tượng lạ” của làng Vũ Đại vậy! Dung nhan của Thị là những đường nét tự nhiên, thô mộc đến mức dị hợm: trên một khuôn mặt ngắn ngủn, có cái mũi “vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành” và một đôi môi “cũng cố to cho không thua cái mũi” hơn nữa, lại dày và có “màu thịt trâu xám ngoách” Toàn bộ “nhan sắc” của Thị Nở được Nam Cao tóm lại trong một nhận xét là “xấu đến ma chê quỷ hờn” Ông sẵn sàng viết cho nhân vật này “người ta không
ai sợ kẻ khác phạm đến cái xấu, cái nghèo, cái ngẩn ngơ của mình, mà thị lại chỉ có ba cái ấy” Nhưng ẩn sau vẻ xấu xí, khiến mọi người chê cười đó lại có tấm lòng bao dung, hiền hậu Là người đàn bà đó có đủ đức tính của một người tình tuyệt vời, một người vợ tảo tần và có trái tim người mẹ độ lượng Thị có đầy đủ phẩm chất của một người bình thườn: biết lo toan, thương hại, có phút “lườm”, “e lệ” Thị Nở là nhân vật hiện thân cho sự khao khát hạnh phúc, hạnh phúc gia đình và có một tình yêu đích thực
3.4 Nhân vật bà cô Thị Nở
Bên cạnh nhân vật Chí Phèo, Thị Nở và Bá Kiến thì còn có một hình tượng nhân vật điển hình nữa mà ta vẫn ít nhắc tới Sự xuất hiện của nhân vật này là một bước ngoặt đối với sự chuyển biến của câu chuyện cũng như đối với cuộc đời, số phận của nhân vật trung tâm Chí Phèo Hơn nữa, nhân vật này còn mang tính điển hình rất rõ nét
đó là nhân vật bà cô Thị Nở Là một nhân vật phụ, ngay cả tên cũng không, nhưng bà cô Thị Nở là nhân vật điển hình cho người nông dân ở “làng Vũ Đại ngày ấy” nói riêng và làng quê nông thôn Bắc Bộ trước Cách mạng 1945 nói chung Đó là một xã hội bị tha hóa toàn Nghiêm trọng nhất, đó là xã hội sống trong những định kiến nghiệt ngã Chính định kiến đó đã làm Chí và Thị Nở không đến được với nhau, nên duyên vợ chồng
4 Mối quan hệ giữa các nhân vật với nhân vật trung tâm
4.1 Bá Kiến- Chí Phèo
Đúng như vậy, mâu thuẫn được nảy sinh từ đây, Nam Cao đã trực tiếp để nỗi bi kịch cho Chí Phèo Chí Phèo bị tha hóa và từ chối làm người cũng vì mối quan hệ “kẻ thù” với Bá Kiến Trong tác phẩm cả ba lần Chí đến nhà Bá Kiến đều mang theo vũ khí để được ăn vạ và xin tiền uống rượu Và cả ba lần thì đều thấy được sự lố bịch và dối trá của Bá Kiến, mâu thuẫn ngày càng cao và xung đột ngày càng ngay gắt Chính Bá kiến là nguyên nhân dẫn đến
sự tha hóa của Chí và làm cho Chí Phèo từ chối quyền làm người Và dường như mâu thuẫn, xung đột này không cân sức, đỉnh điểm và cao trào hơn cả khi Chí Phèo giết Bá Kiến và Chí cũng tự xác Nói cách khác Bá Kiến đã “sinh ra” một “con quỷ dữ” làng Vũ Đại và giết đi con một người, một người sắp làm cha như Chí Phèo Bá Kiến- Chí Phèo
Trang 8TÔN NGỌC MINH QUÂN 8
đã chết thật chăng, hay chỉ là cái chết tạm thời…? đâu đó xã hội này còn đầy rẫy những sự bất công,… vì Bá kiến- Chí Phèo chính là mối quan hệ giữa những tầng lớp nông dân nghèo và bọn thống trị, thực dân phong kiến của xã hội đương thời
4.2 Thị Nở- Chí Phèo
Mối quan hệ “thiên duyên tiền định” này đã làm thay đổi cuộc đời của Chí và Bá Kiến Với Nam Cao, tình yêu không đi liền với sự lý tưởng, với sự hâm mộ sùng bái người yêu mà bắt đầu chỉ thuần tuý là bản năng Nam Cao
đã hợp nhất hài hòa tình yêu của họ giữa tinh thần và thể xác Đây cũng là sự hồi sinh của tinh thần nhờ tình yêu
và sự gắn kết hai “thân xác” tưởng như đã chết Nó đã cải hóa, tái sinh Chí Phèo, tình yêu cho Chí Phèo và Thị Nở
ý thức về chính mình Tình yêu cũng làm tăng thêm “chiều dài” cho cuộc đời Chí Trước đây Chí Phèo vô cảm, vô tâm, không có ý thức về chính bản thân nhưng nay Chí có cả quá khứ, hiện tại và tương lai Với những kỷ niệm yêu thương đầm ấm, mùi hương từ bát cháo hành và những săn sóc ân cần của Thị Nở, làm Chí cũng ngủi lòng Chí Phèo cũng từng mơ tới cảnh bình yên với chồng cày thuê , vợ dệt vải… hắn còn sợ già, sợ cô độc và muốn làm hòa với mọi người, muốn làm người lương thiện Tất cả là hệ quả của tình yêu đem lại, nó khắc họa một bức tranh toàn vẹn về cô độc của Chí Phèo và Thị Nở trước khi yêu và được yêu Chính tình yêu đã bù đắp khiếm khuyết trong tâm hồn, tái sinh một cuộc đời và làm giàu có đời sống nội tâm của nhân vật Chí và Thị
4.3 Bà cô Thị Nở- Chí Phèo
Bà cô Thị Nở là nhân vật được nhà văn kể sau, nhưng vẫn quan trọng và gắng liền với định mệnh của Chí Phèo sau này Bà cô không chồng trong truyện, xét ở phương diện nào đó, có thể xem là một điển hình, là đại diện cho định kiến xưa của mỗi gia đình, là tàn dư của chế độ phong kiến Nhưng ở nhân vật này cũng có những điểm làm cho người đọc phải xót xa, đáng thương hơn là đáng ghét Nam Cao cũng đã viết “cũng có lẽ tủi cho thân bà Bà nghĩ đến cái đời dằng dặc của bà, không có chồng Bà thấy chua xót lắm…” Chỉ có thế, ta cũng hiểu hết được nỗi đau thân phận phụ nữ không chồng trong xã hội cũ Chính định kiến của bà cô Thị Nở mà đã làm cho mối nhân duyên này không đến được với nhau Cái định kiến hẹp hòi về nguồn gốc, gia cảnh, về những quãng đời u ám của Chí Phèo, có một sức mạnh ghê gớm, như bức tường vô hình muốn ngăn cách họ Làm sao bà cô Thị Nở có thể chấp nhận một đứa con hoang, không cha không mẹ, chuyên sống bằng rạch mặt ăn vạ như Chí Phèo hay có chăng xã hội ấy, làng Vũ Đại đó đang muốn ruồng bỏ một con người vốn đang sống, đang hiện diện giữa một cộng đồng người như thế Làng Vũ Đại là một điển hình cho làng quê nông thôn miền Bắc trước 1945 Cái làng quê nghèo nàn,
tù túng và đầy những định kiến hẹp hòi, lạc hậu ấy, nhân vật bà cô Thị Nở được Nam Cao xây dựng thành công mang giá trị điển hình rõ nét Bà cô Thị Nở, hay nói khác đi chính định kiến xã hội đương thời đã làm thay đổi hành động của Chí, suy nghĩ của Chí, và cái chết của Chí nữa, một cái chết không cần gươm dao và vũ khí…
5 Tổng kết
Chí Phèo là một kiệt tác bất hủ bởi nó chứa đựng trong đó là tư tưởng, tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc mà người đọc rút ra được từ những trang sách giàu tính nghệ thuật của Nam Cao Sự kết hợp giữa giá trị hiện thực sắc bén và giá trị nhân đạo cao cả đã làm cho tác phẩm Chí Phèo bất tử, mãi mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ trong tâm hồn người đọc mọi thời đại
Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo
A-Tác giả
Nam Cao (1915-1951) là một trong những nhà văn Việt Nam tiêu biểu nhất thế kỷ 20[cần dẫn nguồn] Nhiều truyện ngắn của ông được xem như là khuôn thước cho thể loại này Đặc biệt một số nhân vật của Nam Cao trở thành những hình tượng điển hình, được sử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày
Tiểu sử
Nam Cao tên thật Trần Hữu Tri [1], giấy khai sinh ghi ngày 29 tháng 10 năm 1917, nhưng theo người em ruột của ông là Trần Hữu Đạt thì ông sinh năm 1915[cần dẫn nguồn] Quê ông tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam - nay là xả Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam[cần dẫn nguồn] Ông đã ghép hai chữ của tên tổng và huyện làm bút danh: Nam Cao[cần dẫn nguồn]
Xuất thân từ một gia đình bậc trung Công giáo, cha Nam Cao là ông Trần Hữu Huệ, thợ mộc, làm thuốc,
mẹ là bà Trần Thị Minh làm vườn, làm ruộng và dệt vải Nam Cao học sơ học ở trường làng Đến cấp tiểu học và bậc trung học, gia đình gửi ông xuống Nam Định học ở trường Cửa Bắc rồi trường Thành Chung Nhưng vì thể chất yếu, chưa kịp thi Thành Chung ông đã phải về nhà chữa bệnh, rồi cưới vợ năm 18 tuổi
Trang 9TÔN NGỌC MINH QUÂN 9
Nam Cao từng làm nhiều nghề, chật vật kiếm sống và đến với văn chương đầu tiên vì mục đích mưu sinh Năm 18 tuổi vào Sài Gòn, ông nhận làm thư ký cho một hiệu may, bắt đầu viết các truyện ngắn Cảnh cuối cùng, Hai cái xác Ông gửi in trên Tiểu thuyết thứ bảy, trên báo Ích Hữu các truyện ngắn Nghèo, Đui mù, Những cánh hoa tàn, Một bà hào hiệp với bút danh Thúy Rư Có thể nói, các sáng tác "tìm đường" của Nam Cao thời kỳ đầu còn chịu ảnh hưởng của trào lưu văn học lãng mạn đương thời
Trở ra Bắc, sau khi tự học lại để thi lấy bằng Thành chung, Nam Cao dạy học ở Trường tư thục Công Thành, trên đường Thụy Khuê, Hà Nội Ông đưa in truyện ngắn Cái chết của con Mực trên báo Hà Nội tân văn và
in thơ cùng trên báo này với các bút danh Xuân Du, Nguyệt
Năm 1941, tập truyện đầu tay Đôi lứa xứng đôi, tên trong bản thảo là Cái lò gạch cũ, với bút danh Nam Cao do NXB Đời mới Hà Nội ấn hành được đón nhận như là một hiện tượng văn học thời đó[cần dẫn nguồn] Sau này khi in lại, Nam Cao đã đổi tên là Chí Phèo Phát xít Nhật vào Đông Dương, trường bị trưng dụng, Nam Cao thôi dạy học
Rời Hà Nội, Nam Cao về dạy học ở Trường tư thục Kỳ Giang, tỉnh Thái Bình, rồi về lại làng quê Đại Hoàng Thời kỳ này, Nam Cao cho ra đời nhiều tác phẩm Ông in truyện dài nhiều kỳ Truyện người hàng xóm trên Trung Bắc Chủ nhật, viết xong tiểu thuyết Chết mòn, sau đổi là Sống mòn Tháng 4 1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc và là một trong số những thành viên đầu tiên của tổ chức này[cần dẫn nguồn]
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, rồi ông được cử làm Chủ tịch xã của chính quyền mới ở địa phương[cần dẫn nguồn] Ông cho in truyện ngắn Mò sâm banh trên tạp chí Tiên Phong
Năm 1946, Nam Cao ra Hà Nội hoạt động trong Hội Văn hóa Cứu quốc Tiếp đó, ông vào miền Nam với tư cách phóng viên Tại Nam Bộ, Nam Cao viết và gửi in truyện ngắn Nỗi truân chuyên của khách má hồng trên tạp chí Tiên Phong, in tập truyện ngắn Cười ở NXB Minh Đức, in lại tập truyện ngắn Chí Phèo Ra Bắc, Nam Cao nhận công tác ở Ty Văn hóa Hà Nam, làm báo Giữ nước và Cờ chiến thắng của tỉnh này Mùa thu năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc Ông là thư ký tòa soạn báo Cứu quốc Việt Bắc, viết Nhật ký ở rừng Tại chiến khu, năm 1948 Nam Cao gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam
Năm 1950 Nam Cao chuyển sang làm việc ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm việc trong toà soạn tạp chí Văn nghệ Tháng 6, ông thuyết trình về vấn đề ruộng đất trong hội nghị học tập của văn nghệ sỹ, sau đó ông được cử làm Ủy viên tiểu ban văn nghệ của Trung ương Đảng Trong năm đó, ông tham gia chiến dịch biên giới
Tháng 5 1951, Nam Cao và Nguyễn Huy Tưởng về dự Hội nghị văn nghệ Liên khu 3, sau đó hai nhà văn cùng vào công tác khu 4 Nam Cao trở ra tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp, vào vùng địch hậu khu 3 Ông
có ý định kết hợp lấy thêm tài liệu cho cuốn tiểu thuyết sẽ hoàn thành
Năm 1951, trong chuyến công tác tại tỉnh Ninh Bình, Nam Cao bị quân Pháp phục kích bắt được và xử bắn[cần dẫn nguồn]
Năm 1956, tiểu thuyết Sống mòn của ông được xuất bản lần đầu [2]
Ông có một vợ và năm người con, trong đó một người đã mất trong nạn đói năm 1945[cần dẫn nguồn] Đầu năm 1996, một chương trình mang tên "Tìm lại Nam Cao" được Hiệp hội Câu lạc bộ UNESSCO Việt Nam tổ chức với quy mô chưa từng có gồm 35 đơn vị tham gia như Bộ Lao động Thương binh - Xã hội, Hội Nhà văn Việt Nam, Báo Nhân dân Điều đặc biệt là trong đó có sự góp mặt của 7 nhà ngoại cảm mà Liên hiệp khoa học công nghệ tin học ứng dụng (UIA) đã đứng ra mời họ tham gia chương trình "Tìm lại Nam Cao"[cần dẫn nguồn] Kết quả sau gần nửa thế kỷ nằm hiu quạnh trong nấm mồ vô danh, cuối cùng Nam Cao đã về yên nghỉ vĩnh hằng nơi quê nhà (xã Hoà Hậu, Lý Nhân, Hà Nam)
B- Tác phẩm
Kịch: Đóng góp (1951)
Tiểu thuyết: Truyện người hàng xóm (1944) - Báo Trung văn Chủ nhật
Sống mòn (viết xong 1944, xuất bản 1956)[3], ban đầu có tên Chết mòn - Nhà xuất bản Văn Nghệ
Và bốn tiểu thuyết bản thảo bị thất lạc: Cái bát, Một đời người, Cái miếu, Ngày lụt
Truyện ngắn
Ba người bạn
Bài học quét nhà
Bẩy bông lúa lép
Cái chết của con Mực
Cái mặt không chơi được Chuyện buồn giữa đêm vui Cười
Con mèo
Con mèo mắt ngọc Chí Phèo (1941) Đầu đường xó chợ Điếu văn
Đôi mắt (1948) Đôi móng giò Đời thừa (1943) Đòn chồng
Trang 10TÔN NGỌC MINH QUÂN 10
Những trẻ khốn nạn
Nụ cười Nước mắt Nửa đêm
Phiêu lưu Quái dị Quên điều độ Rình trộm Rửa hờn Sao lại thế này?
Thôi về đi Trăng sáng (1942) Trẻ con không được ăn thịt
chó Truyện biên giới Truyện tình
Tư cách mõ
Từ ngày mẹ chết Xem bói
Ngoài ra ông còn làm thơ và biên soạn sách địa lý với Văn Tân Địa dư các nước Châu Âu (1948), Địa dư các nước châu Á, châu Phi (1949), Địa dư Việt Nam (1951)
C-PHÂN TÍCH TÁC PHẨM "CHÍ PHÈO" CỦA NHÀ VĂN NAM CAO.( bài 1)
Vấn đề cần triển khai về "Chí Phèo" :
- Bi kịch không được làm người lương thiện, bị hủy hoại cả nhân tính lẫn nhân hình
- Bá Kiến : Tội ác với những thủ đoạn thâm độc, tinh vi
- Chí Phèo : nhân vật không tính cách, bi kịch xuất hiện khi gặp Thị Nở
- Thị Nở : khát vọng : tình yêu < > hạnh phúc > làm người
"người đàn bà đẹp trong lốt xấu xí" - hiện thân của khát vọng.)
- Xung đột mang ý nghĩa điển hình, cuộc đấu tranh xã hội không khoan nhượng
- Tâm hồn nhân hậu của Nam Cao và thái độ bi quan trước hiện thực của nhà văn
I Đặt vấn đề :
* Cách 1 :Những năm 40 của thế kỷ, trên văn đàn hiện thực Việt Nam , Nam Cao nổi bật với những trang viết khai phá sâu sắc bi kịch của những kiếp người khổ đau trong bóng đêm của xã hội cũ Những cuộc đời lầm than đi vào trang sách của Nam Cao đã sống mãi với thời gian Gắn những nhân vật của mình vào không khí ngột ngạt tối tăm của chế độ thực dân phong kiến, nhà văn đã lột trần bộ mặt tàn bạo của giai cấp thống trị, cảm thương sâu sắc nổi đau của con ngưòi Tấm lòng nhà văn hướng về cuộc sống lầm than cơ cực của người nông dân, phát hiện trong những quẩn quanh bế tắc là bi kịch khủng khiếp hủy hoại cả nhân tính lẫn nhân hình Chí Phèo, sáng tác đầu tiên của Nam Cao ra mắt người đọc từ tháng 2 năm 1941, đã có sức tố cáo bộ mặt vô nhân của
xã hội và phản ánh bế tắc cùng cực của người nông dân Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, những trang viết sâu sắc đầy tình người vẫn sống mãi, gợi nhớ một quá khứ tủi nhục đau thương của dân tộc
* Cách 2 : Tiếng chửi của một thằng say đã mở đầu cho thiên truyện ngắn đặc sắc "Chí Phèo" của Nam Cao Nhà văn đã mở ra một cuộc đời đầy bi kịch của một Chí Phèo - thù hận với tất cả : cuộc đời - xã hội - con người và ngay cả bản thân, một Chí Phèo triền miên trong những cơn say, mất cả lương tri, trên hành trình dài đằng đẵng của một kiếp sống không ra sống, trong không gian tăm tối ngột ngạt của xã hội Việt Nam đêm trước của cách mạng Nhà văn đã dẫn dắt người đọc vào một cuộc đời đau khổ và kết thúc trong cái vòng luẩn quẩn bế tắc Để khi gấp trang sách lại, trái itm mỗi người vẫn còn thổn thức những buồn thương đau đớn trước bi kịch khó tin của những người không được làm người lương thiện trong xã hội cũ
II Giải quyết vấn đề :
A Tổng : (bao quát tinh thần của tác phẩm)
1 Sức hấp dẫn của tác phẩm không chỉ do tài năng của Nam Cao đã tạo dựng được cốt truyện theo kết cấu rất hiện đại, mà trước hết xuất phát từ sự quan tâm sâu sắc của nhà vănvới đồng loại của mình Đằng sau lối kể chuyện lạnh lùng tỉnh táo là cả một trái tim nhân hậu đằm thắm đối với người nông dân - những người sống cùng tác giả Những vấn đề Nam Cao đề cập trong tác phẩm đâu chỉ là cái nhìn sắc sảo, cách phân tích hiện thực tinh tế, mà còn gắn với quan niệm của nhà văn về cuộc sống, sáng lên tình cảm gắn bó, yêu thương trân trọng tất
cả những giá trị cao đẹp gắn với con người của nhà văn
Trang 11TÔN NGỌC MINH QUÂN 11
2 Ánh sáng của tình người nhân hậu ấy đã giúp nhà văn phát hiện ra nguyên nhân của những tấn bi kịch đời người trong xã hội cũ, thắp sáng lên khát vọng mãnh liệt muốn trở về cuộc sống lương thiện Nhưng trong bóng đêm dày đặc của xã hội cũ, ánh sáng ấy đã tắt ngấm với bao buồn thương bế tắc, trước khi ánh sáng của một ngày mới bừng lên quét sạch bóng đêm Tuy vậy, ngọn lửa của khát vọng làm người vẫn âm ỉ nhức nhối trong từng câu chữ Nam Cao
3 Bi kịch của Chí Phèo chỉ thật sự bắt đầu cùng với lần tỉnh rượu đầu tiên của nhân vật, chứa đựng tất cả sóng gió đi qua cuộc đời Chí Phèo, sau đêm trăng huyền thoại - cái đêm "trăng rắc bụi trên sông và sông gợn biết bao nhiêu vàng" - đã đem đến cho Chí một người đàn bà đích thực trong cái lốt xấu xí "ma chê, quỷ hờn" : Thị Nở
B Phân : (cảm nhận chi tiết - phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật) :
* Khoảnh khắc bi kịch của Chí Phèo
1/ Cùng với ánh sáng cuả một ngày mới, lần đầu tiên Chí Phèo nhận biết được những âm thanh đời
thường : "Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ Tiếng anh thuyền chài
gõ mái chèo đuổi cá" Cả một đoạn văn được viết bằng giọng điệu trữ tình tha thiết đã khắc họa rõ nét sự hồi sinh của tâm-hồn-người trong con-quỷ-dữ của làng Vũ Đại thật cảm động Một cảm-giác-người đã thức tỉnh lý trí, nối kết quá khứ với hiện tại, một thời yên bình xa xưa và trước mắt là tuổi già, đói rét và ốm đau và cô độc
2/ Hiện tại lay thức lương tâm thành tiếng thở dài não nuột "Chao ôi là buồn!" Một nỗi buồn đáng quý, bởi nó đã khơi lại những giấc mơ giản dị của một thời lương thiện: "Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏmột con lợn nuôi để làm vốn liếng Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm" Chao ôi là buồn! Vì mãi mãi cái ước mơ về hạnh phúc nhỏ nhoi ấy không bao giờ thành hiện thực, bởi bàn tay tội ác của những kẻ như Bá Kiến đã tước đoạt vĩnh viễn con-người-lương thiện của Chí ngày xưa Nhưng trong hình hài quỷ dữ, vẫn ẩn náu giấc mơ ngày nào, dù chỉ nhớ lại một cách lờ mờ "hình như…" cũng đủ khẳng định cho sức phản kháng của lương thiện trước tội ác Để khi hồi sinh thì không thể nào các thế lực hắc ám có thể bóp chết được lương tâm bé bỏng ấy
3/ Phút lóe sáng của tâm hồn đã giúp nhân vật ý thức nỗi đau của một kẻ cô đơn giữa đồng loại của mình :
"Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già củ hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau" Nam Cao đã diễn tả đặc sắc và độc đáo giờ phút bừng thức của nhân vật, bằng lối văn đặc tả sự
"bâng khuâng" trong tâm hồn Chí Phèo Phút ban đầu ấy, quá khứ mơ hồ, hiện tại mơ hồ, tương lai mờ mịt đều nằm trong hai chữ "hình như…" Ở đó le lói ngọn lửa của một trái tim Người
4/ Thị Nở xuất hiện cùng nồi cháo hành đã thổi bùng ngọn lửa mong manh ấy, đem đến cho trái tim Chí Phèo những nhịp đập đầu tiên của cảm giác tình yêu Ngòi bút phân tích tâm lý của Nam Cao hết sức tinh tế và nhạy cảm khi mô tả quá trình về lại với cõi người của Chí Phèo : bắt đầu từ ranh giới mong manh "hình như mắt ươn ướt" như một tiếng khóc chào đón cuộc đời mới, cho đến khi Chí Phèo gặp nụ cười Thị Nở là lúc tình yêu bắt đầu lên tiếng - giúp nhân vật ý thức đầy đủ về quãng đời đã qua Bát cháo thứ nhất là ý thức về Tình Yêu và Dục Vọng Bát cháo thứ hai là niềm sám hối về tội ác, mở ra khát khao hướng thiện mãnh liệt "Trời ơi, hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn" Cùng với niềm khát khao
ấy, Chí Phèo đã trở lại với bản chất của anh Chí ngày xưa : hiền lành, lương thiện Con đường trở về được hứa hẹn bằng nụ cười tin cẩn của Thị Nở ,làm nở ra nụ cười Chí Phèo Từ tiếng khóc đến nụ cười, Chí Phèo đã thật sự vươn dậy cùng khát vọng làm người
* Thị Nở :
1/ Tình yêu và niềm tin mà Chí Phèo có được bắt đầu từ Thị Nở - nhân vật đẹp nhất của tác phẩm Có thể những chi tiết mô tả ngoại hình Thị Nở làm nguời đọc nhớ nhiều và ấn tượng mạnh về người đàn bà nhan sắc xấu nhất trong lịch sử vă nhọc Và những kẻ vô tâm, chỉ quan tâm hình thức câu khách rẻ tiền mà thờ ơ trước nỗi đau đồng loại mới cười cợt , gán ghép cho tác phẩm tên gọi sống sượng "Đôi lứa xứng đôi" Người đàn bà Nam Cao tạo ra để ban tặng cho Chí Phèo để giúp hắn trở lại làm người nếu là một mỹ nhân thì mới là điều lạ Vẻ đẹp của Thị Nở không nằm trong hình thức mà bộc lộ ngay trong những nét "dở hơi" ngược với quan niệm xã hội
2/ Người đàn bà đó có đủ đức tính của một người tình tuyệt vời, một người vợ tảo tần và có trái tim người
mẹ bao dung, độ lượng Trong cuộc gặp gỡ tình yêu Thị Nở - Chí Phèo, Nam Cao đã lột tả những vẻ đẹp ấy thông
Trang 12TÔN NGỌC MINH QUÂN 12
qua những chuyển biến tâm trạng Chí Phèo : người đàn bà đích thực đối lập với "con quỷ cái" bà Ba, "hắn muốn làm nũng thị như với mẹ" Thị Nở có đầy đủ phẩm chất của một người bình thường : biết lo toan, thương hại, có phút "lườm", "e lệ" trong cảm giác tình yêu và trên tất cả là tiếng cười tin cẩn như một phép màu giải thoát cho con người thoát ra mặc cảm tội lỗi Có thể nói Nam Cao đã xây dựng nhân vật Thị Nở bằng bút pháp hiện thực trữ tình để gửi gắm niềm tin của chính ông vào bản chất hướng thiện của con nguời Thực tế trong đời có lẽ khó kiếm
ra người nào hội tụ những cái xấu nhường ấy và đẹp nhường ấy Nhưng cuối cùng Thị Nở vẫn phải trở về với mảnh đất hiện thực - nơi Thị có một bà cô già năm mươi tuổi chưa chồng, để được nghe lời phán xét tương lai cho mối tình Chí Phèo - Thị Nở Nhân vật vẫn không có phép màu như trong cổ tích để có thể kéo hẳn Chí Phèo ra khỏi hình hài lốt quỷ để hoà nhập vào cuộc sống thân thiện của loài người, bởi bản thân Thị Nở cũng bị cả xã hội kia xem như "con vật ghê tởm nhất" Ta chợt nhận ra : cái gọi là hạnh phúc ở đời không dành sẵn cho những người như Chí Phèo - Thị Nở, đó là thông điệp đầy phẫn uất của Nam Cao Tuy căm uất dâng tràn nhưng vẫn phải
cố nén xuống trong giọng văn tỉnh rụi - bản lĩnh nhà văn đã không để ông can thiệp vào số phận nhân vật của mình một cách thô bạo, Nam Cao muốn những nguời đọc có lương tri phải thấu hiểu những khoảnh khắc xung đột của Thị Nở, của Chí Phèo sau giờ phút "thị trút vào mặt hắn nguyên vẹn lời bà cô" Đó là khoảnh khắc nẻo về của Chí đã bị chặn đứng bởi những định kiến xã hội về một con người đã có quá nhiều vết đen trong quá khứ - một kẻ "không cha không mẹ", chỉ có mỗi một "nghề rạch mặt ăn vạ" Đôi khi những định kiến thật tàn nhẫn, nó tước đoạt cơ hội cuối cùng của Chí Phèo trở lại cuộc sống bình thường
* Nỗi đau Chí Phèo :
1/ Trong giờ phút tột cùng đau đớn của một người tuyệt vọng, nhà văn đã để nhân vật có những khoảnh khắc tâm trạng thật khó quên : "Hắn ngẩn người ra rồi chợt hiểu", "hắn sửng sốt đứng lên gọi Thị lại…" Chỗ dựa cuối cùng để Chí tưởng có thể đứng vững trên hành trình trở lại cõi người giờ đây không còn nữa! Ta có thể nhận
ra nỗi bàng hoàng đến ê chề của Chí Tất cả đều sụp đổ, hắn trở về với cuộc sống đầy bóng tối của mình Nhưng điều không bình thường là ngay trong giờ phút ấy, "hắn thoáng hít thấy hơi cháo hành" - hơi cháo tình người đích thực mà Chí đã được ban tặng từ Thị Nở
2/ Lại rượu, lại say, Chí muốn mượn rượu để quên đi thực tại, trở về với cuộc sống u mê lẫn lộn thật giả tốt xấu trắng đen thiện ác của loài quỷ dữ Nhưng lương tri đã hồi sinh Hơi cháo hành cứ lẫn cùng men rượu Tiếng khóc bật ra "Hắn ôm mặt rưng rức khóc" Chưa khi nào, Chí lại phải chịu đựng sự giằng xé của lương tâm
dữ dội như vậy Chí đang phải đối diện với chính mình, trong sự phán xét nghiêm khắc của lương tâm
3/ Tưởng chừng tội ác đã thắng thế khi trong hơi rượu, Chí lại xách dao ra đi, miệng lảm nhảm ý định
"đâm chết cả nhà con đĩ Nở" Nhưng hơi cháo hành đã quyện vào trong tâm hồn Chí, để giờ đây, tội ác không còn
có thể sai khiến được hành động của anh Phần người còn lại đã chiến thắng chất quỷ dữ, để sau bao nhiêu năm lầm lỡ, giờ đây Chí nhận rõ mặt kẻ thù, hành động có vẻ vô thức đã báo hiệu cho một tiềm thức sâu thẳm của người lương thiện trong Chí Con quỷ dữ đích thực đã tước đoạt cả nhân tính lẫn nhân hình của Chí là Bá Kiến
* Bá Kiến :
1/Bản lĩnh của một nhà văn và khả năng nhận thức sâu sắc thực tại xã hội đã giúp Nam Cao phác họa chân dung của giai cấp bóc lột một cách đầy đủ nhất so với các nhà văn đương thời Bá Kiến được đặt vào một vị trí trang trọng trong xã hội, khi nhà văn phác họa nên một lai lịch của một kẻ già đời trong nghề bóc lột : gia đình bốn đời làm tổng lý, bản thân Bá Kiến từng là lý trưởng, chánh tổng; cha truyền con nối trong thủ đoạn đè đầu cưỡi cổ người khác Những kẻ như thế, vẫn được gọi bằng ông, bằng cụ một cách tôn kính Uy quyền của Bá Kiến không phải chỉ bó hẹp trong phạm vi của một làng, mà "cụ Bá" là "bá hộ, tiên chỉ, chánh hội đồng kỳ hào, huyện hào, Bắc Kỳ nhân dân đại biểu " - đại biểu cho cả một bộ máy thống trị tay sai thực dân Một nhân vật như thế, không thể là một kẻ hợm hĩnh và ngu dốt như Nghị Quế (Tắt đèn - Ngô Tất Tố) hay chỉ có tàn bạo và tham lam như Nghị Lại (Bưóc đường cùng - Nguyễn Công Hoan)
2/ Nam Cao đã phác họa bản chất Bá Kiến bằng những chi tiết khó quên từ bên ngoài đến bên trong : cụ
Bá có tiếng quát rất sang để "nắn gân người khác", có nụ cười Tào Tháo giòn giã và "bản thân cụ cũng tự hào hơn đời cái tiếng cười ấy" Bên trong vẻ sang trọng là một con quỷ dâm ô, có tới bốn bà vợ mà còn đi cướp vợ người - khi còn làm lý trưởng đã không bỏ lỡ cơ hội ve vãn vợ Binh Chức Nhưng điều nguy hiểm nhất ở Bá Kiến là tội ác
Trang 13TÔN NGỌC MINH QUÂN 13
đã được hắn nâng lên thành một nghệ thật cai trị kẻ khác : "mềm nắn, rắn buông", "dùng thằng đầu bò trị thằng đầu bò", "nắm lấy đứa có tóc", đặc biệt là những thủ đoạn rất nham hiểm :"Hãy vất người ta xuống sông rồi hãy vớt nó lên để cho nó đền ơn, hãy đập bàn đập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi hãy vất trả lại năm hào vì "thuơng anh túng quá"" Chưa một nhà văn nào lại giúp người đọc hình dung ra tội ác đáng sợ đến ghê tởm như Nam Cao Với tất cả các thủ thuật trị người ấy, Bá Kiến quả là một kẻ "khôn róc đời" và đã phá tan cơ nghiệp của biết bao gia đình, đập nát hạnh phúc của bao nguời Đáng sợ nhất là chính những nạn nhân của Bá Kiến lại
bị hắn biến thành công cụ đắc lực của tội ác: Năm Thọ, Binh Chức - với bản tính lưu manh và đỉnh điểm là Chí Phèo - đã thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại
3/ Để Chí Phèo đến nhà Bá Kiến vào chính giờ phút "cụ Bá" đang ghen với lũ trai trẻ vì "bà Tư phốp pháp, hai má hây hây…" và cụ đang có ý định "bỏ tù hết mấy thằng trai trẻ", đoạn văn quả có thể làm chúng ta bật cười
vì sự ghen tuông của một ông lão đã ngoài sáu mươi, nhưng ta bỗng giật mình vì chứng tích của sự ghen tuông đáng buồn cười ấy bỗng hiện ra : một thằng điên, một thằng say, một con quỷ dữ của làng Vũ Đại, sẵn sàng đâm chém bất cứ ai - ngày xưa nó cũng là một thằng trai trẻ…
* Cuộc đụng đầu Chí Phèo - Bá Kiến :
Tình huống tất yếu phải xảy đến đã được Nam Cao dày công chuẩn bị cho nhân vật của mình Khi sự thâm hiểm
và tàn bạo đã bị bóc trần, khi những "tiếng cười và tiếng quát rất sang" của cụ Bá không còn nắn gân người khác như mọi khi đuợc nữa, đó cũng là khoảnh khắc thức tỉnh lương tri của một con người Chí Phèo trong cơn say có những hành động thật đáng sợ Nhưng có một điều, tiếng nói vang lên "dõng dạc" lại là của một con người hoàn toàn tỉnh táo, của một anh Chí đang đòi lại quyền "làm người lương thiện" đã bị bọn cường hào như Bá Kiến tước đoạt Sự thật được nói lên, khiến Bá Kiến phải run sợ, "dịu giọng" để lảng tránh Mặt nạ rơi xuống, Bá Kiến hiện nguyên hình là con quỷ dữ nham hiểm và hèn nhát đang cố trốn chạy sự trừng phạt của lương tri thức tỉnh Nam Cao đã để cho Chí trong giờ phút ấy cất lên những lời đau đớn : " Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để mất những vết mảnh chai trên mặt này?" Đó là nỗi đau đớn của một người đã bị chặn mất nẻo về với thế giới thân thuộc của Con Người, bởi những định kiến khắt khe của xã hội Muốn trở về, Chí "chỉ còn một cách" là giết chết con quỷ dữ trong chính anh Giờ phút Chí vung dao lên kết liễu đời Bá Kiến là hành động tất yếu phải xảy đến, sau đó chính anh phải tự sát đã là một câu trả lời của Nam Cao giải đáp rõ nguyên nhân bi kịch của người nông dân nghèo trong xã hội cũ - sự bế tắc, quẩn quanh vẫn đè nặng lên cuộc sống của họ
* Điều còn lại sau hai cái chết :
Không dừng lại sau hành động nhân vật đâm chết kẻ thù và tự hủy chính mình, Nam Cao đã dành khúc vĩ thanh
để nói lên thái độ của mọi người sau hai cái chết bất ngờ Cuộc sống vẫn tiếp diễn, những phe cánh cường hào hí hửng vì loại được đối thủ mạnh mà không tốn công đổ sức Cũng có nghĩa là làng Vũ Đại vẫn như xưa, vẫn cái cảnh đám cường hào chức dịch "hè nhau bóc lột con em đến tận xương tủy và nhè từng chỗ hở của nhau để trị" Một màu xám ảm đạm vẫn bao trùm lên cuộc sống, nó khiến những người lương thiện phải lo âu "tre già măng mọc, thằng ấy chết, còn thằng khác…" Và như vậy, cái chết của Chí Phèo - Bá Kiến thật vô nghĩa
Nhưng vẫn có một người nghĩ khác mọi người : Thị Nở Chỉ có mình Thị còn lóe lên trong tâm tư hình ảnh của một con người "hiền như đất" Suy nghĩ ấy như một niềm an ủi cho vong linh Chí Phèo, ít ra cũng còn có một người thừa nhận anh là người trong thẳm sâu lốt quỷ Người ta chỉ thật sự chết khi bị cuộc đời lãng quên, chối bỏ Chí vẫn sống trong tâm hồn người đàn bà đích thực của cuộc đời anh Có thể nhận ra ở chi tiết này thái độ chiêu tuyết cho nhân vật của chính Nam Cao, là niềm tin vào sự bất diệt của chất người sẽ không bao giờ bị hủy diệt
C Hợp:
Chi tiết cuối cùng của tác phẩm lại là hình ảnh "cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người qua lại…" là một ám ảnh về nỗi buồn nhân sinh của Nam Cao Nơi đó, thằng bé Chí đã từng bị vứt vào đời, bị cuộc đời chối bỏ Trong cái nhìn của Nam Cao ,chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc : nếu không thay đổi thực tại, sẽ lại tiếp tục những bi kịch quẩn quanh không lối thoát của con người Thị Nở có thể chấp nhận Chí Phèo, nhưng không thể đối mặt với thành kiến, với tập tục của làng xã Bi kịch chửa hoang phải bỏ làng đi của con gái Tự Lãng vẫn còn đó Cái lò gạch cũ là chứng tích của bao số phận bất hạnh, như là bản cáo trạng về một xã hội thù địch với những khát vọng làm người lương thiện, không thừa nhận tình người tình yêu vượt qua khuôn phép Nam
Trang 14TÔN NGỌC MINH QUÂN 14
Cao đã kết thúc tác phẩm bằng nỗi buồn dằng dặc của những kiếp người mà ngay lúc ra đời đã là một sự vô nghĩa
lý Trong hoàn cảnh hiện thực lúc bấy giờ, chúng ta không thể trách thái độ bi quan của nhà văn trước hiện thực Nhưng bản thân sự việc ấy đã gợi lên suy nghĩ nung nấu trong lòng độc giả về sự cần thiết phải thay đổi hoàn cảnh để tránh cho con người khỏi sa vào vòng luẩn quẩn Đó cũng là ý nghĩa xã hội tích cực của tác phẩm Chí Phèo
III Kết thúc vấn đề :
Đọc Chí Phèo, ta càng trân trọng tấm lòng đối với con người của nhà văn Nam Cao, hiểu được thái độ dũng cảm đối mặt hiện thực của một người cầm bút chân chính Tác phẩm chính là minh chứng cho một quan niệm sáng tác đúng đắn của nhà văn, để "người gần người hơn" Có lẽ xuất phát từ tấm lòng ấy, tác phẩm vẫn sống mãi trong lòng bao thế hệ độc giả
Phân tích CHí Phèo - Nam Cao ( Bài 2)
GS.Phong Lê I.Tìm hiểu chung:
1.Tác phẩm: Nam cao đặt tên cho tác phẩm này là Cái lò gạch cũ, 1941 đổI lạI là Đôi lứa xứng đôi, 1945 sửa lạI là Chí Phèo, in trong tập Luống cày
2.Tóm tắt :
* Sống lương thiện, nghèo khổ: Ngày khi chào đờI, Chí Phèo bị bỏ rơi trong một cái lò gạch cũ Được dân làng nuôi, Chí Phèo lớn lên như một loài cây dạI, tuổI thơ hết đi ở nhà này lạI đi ở cho nhà nọ, tuổI thanh niên ra sức làm thân trâu ngựa cho nhà lí Kiến Vì một chuyện ngờ ghen vớ vẫn lí Kiến đã nhẫn tâm đẩy Chí Phèo vào tù
* Bị tha hoá: Sau bảy, tám năm biệt tích, Chí Phèo trở về làng, hoàn toàn biến đổI nhân hình lẫn nhân tính, làm tay sai của bá Kiến và trở thành con quỷ của làng Vũ Đại Anh sống triền miên trong những cơn say, không ý thức được hành động tàn ác của chính mình: Chí Phèo đã bị biến chất, tha hoá hoàn toàn
* Rơi vào bi kịch và vùng lên để thoát khỏI bi kịch: Cho nên khi Chí Phèo gặp thị Nở trong một cơn ốm và anh được thị Nở chăm sóc Tình cảm chân thật của Thị Nở đã khơi dậy ý thức và lương tâm của Chí Phèo Anh nghĩ rằng thị Nở cảm thông được vớI mình thì ngườI khác cũng có thể chấp nhận mình, nên mong được làm hoà vớI mọI người Bản chất tốt đẹp của ngườI lao động trong Chí Phèo vốn tiềm tàng, nay có cơ hộI tỉnh thức, anh muốn làm ngườI lương thiện
* Chí Phèo lạI rơi vào bế tắc và thảm kịch xảy ra: Chí Phèo tha thiết muốn trở về vớI mọI ngườI, nhưng tất
cả làng Vũ ĐạI đều sợ hãi và xa lánh anh Thị Nở lạI “cắt đứt” vớI Chí Phèo Anh lạI rơi vào tình thế hoàn toàn tuyệt vọng và bỗng nhận ra kẻ đã cướp quyền làm ngườI của mình là bá Kiến Thảm kịch xảy ra : anh đâm chết
* Tha hoá : là biến đổI thành cái khác Trong truyện Chí Phèo, tình trạng con ngườI bị tha hoá có thể hiểu
ở hai phương diện Một là không được sống như bản chất ngườI của mình: Chí Phèo vốn là một nông dân lương thiện mà phảI sống như một con quỷ dữ của làng Vũ Đại Hai là những sản phẩm do mình tạo ra lạI trở thành xa
lạ, thậm chí thù địch vớI chính mình: những ngườI nông dân như Chí Phèo đã xây dựng nên làng Vũ ĐạI cần lao
và lương thiện, nhưng cái làng ấy không chấp nhận Chí Phèo quay về, thậm chí còn thù ghét và sợ hãi anh (khi Chí Phèo chết, cả làng cảm thấy mừng rở)
* Bi kịch : ở đây chỉ con ngườI rơi vào một tình huống bi thảm, không lốI thoát, nhưng ngườI ta chỉ cảm thấy tình huống đó khi ý thức được Chí Phèo tuy bị tha hoá từ lâu, nhưng trước khi gặp thị Nở, anh sống triền miên trong những cơn say và chưa thấy mình khổ, nghĩa là chưa thật sự có bi kịch nộI tâm Cho đến lúc bị ốm,
Trang 15TÔN NGỌC MINH QUÂN 15
gặp thị Nở, Chí Phèo tỉnh ra, mớI ý thức được tình trạng tha hoá của mình và bi kịch bắt đầu diễn ra trong đờI sống nộI tâm của anh
2.Phân tích cụ thể :
a.Giá trị tố cáo hiện thực – nhât vật bá Kiến:
* Trong truyện Chí Phèo, Nam Cao có phân tích các quan hệ xã hộI nông thôn miền Bắc nước ta trước Cách mạng tháng Tám 1945 Quan hệ đó gồm hai mâu thuẫn :
o Mâu thuẫn thường xuyên trong nộI bộ bọn cường hào, địa chủ thống trị Bọn chúng như một đàn cá tranh mồi MồI thì ngon và bè nào cũng muốn ăn, do đó, chúng luôn luôn rình cơ hộI để trị nhau, muốn cho nhau lụn bạI để cườI lên đầu lên cổ nhau Mâu thuẫn khá phổ biến, gay gắt ngày có liên quan đến số phận những binh Chức, Năm Thọ, đặc biệt là Chí Phèo
o Mâu thuẫn giai cấp đốI kháng giữa bọn địa chủ cường hào thống trị vớI ngườI nông dân lao động bị áp bức bóc lột được tác giả tập trung thể hiện một cách sâu sắc
* Nhân vật tiêu biểu cho gia cấp thống trị là bá Kiến được Nam Cao vạch trần bộ mặt tàn ác, xấu xa của hắn Đây là một tên cường hào cáo già trong “nghề” thống trị dân đen, được khắc hoạ qua những chi tiết ngoạI hình thật độc đáo, từ giọng quát rất sang, lốI nói ngọt nhạt đến cái cườI Tào Tháo Bằng cách để nhân vật độc thoạI, tự phơi ra những tính toán, thủ đoạn, âm mưu thâm độc trong việc đàn áp, thống trị tầng lớp nông dân, tác giả đã lột trần bản chất gian hùng của bá Kiến : mềm nắn rắn buông, sợ kẻ cố cùng liều thân, bám thằng có tóc, một ngườI khôn ngoan thì chỉ bóp đến nửa chừng, ngấm ngầm đẩy ngườI ta xuống sông, nhưng rồI lạI dắt nó lên
để nó đền ơn… Bản chất gian hùng ấy của bá Kiến tập trung đầy đủ trong cái cách đốI xử của hắn vớI Chí Phèo
b.Giá trị nhân đạo – nhân vật Chí Phèo :
* Trước hết, Chí Phèo là một sản phẩm của tình trạng áp bức bóc lột ở nông thôn nước ta trước Cách mạng tháng Tám 1945 Đó là hiện tượng ngườI lao động lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh dần dần bị tha hoá Vì hờn ghen vớ vẫn Lí Kiến đẩy anh canh điền vào nhà tù Nhà tù thực dân đã tiếp tay lão cường hào thâm độc để giết anh chết phần “ngườI” trong con ngườI Chí Phèo, biến Chí thành Phèo, biến ngườI nông dân lương thiện thành quỷ dữ Chi tiết kết thúc tác phẩm đầy ngụ ý, biết đâu lạI chẳng có một “Chí Phèo con” bước từ cái lò gạch cũ vào đờI để “nốI nghiệp bố” Hiện tượng Chí Phèo chưa thể hết khi xã hộI tàn bạo vẫn không cho con ngườI được sống hiền lành, tử tế, vẫn còn những ngườI dân lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh, tộI lỗi Sức mạnh phê phán, ý nghĩa điển hình của hình tượng Chí Phèo chính là vạch ra được cái quy luật tàn bạo, bi thảm này trong cái xã hộI tốI tăm của nông thôn nước ta thờI đó
* Nam Cao đã cho thấy tất ca nỗI thống khổ ghê gớm của nhân vật Chí Phèo NỗI thống khổ đó không phảI
là không nhà không cửa, không cha không mẹ, không họ hàng thân thích… mà chính là Chí Phèo bị xã hộI vằm nát cả một mặt ngườI, cướp đi linh hồn ngườI, phảI sống kiếp sống tốI tăm của con vật lạ Đó chính là nỗI thống khổ của cá thể sinh ra là ngườI nhưng lạI không được làm ngườI và bị xã hộI từ chốI, xua đuổI Tình trạng bi thảm này được tác giả minh chứng trong đoạn mở đầu giớI thiệu một chân dung, một tính cách “hấp dẫn”, vừa
hé cho thấy một số phận bi đát Dù say rượu đến điên khùng, Chí Phèo vẫn như cảm nhận thấm thía “nông nỗI” khốn khổ của thân phận mình Anh chửI trờI, chửI đờI rồI chuyển sang chửI tất cả làng Vũ ĐạI, cuốI cùng anh chửI thằng cha con mẹ nào đẻ ra cái thằng Chí Phèo Không ai chửI lạI anh vì rất đơn giãn là không ai coi anh như con người
* Nam Cao có vài cái nhìn đầy chiều sâu nhân đạo khi đi vào nộI tâm nhân vật để phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện của những con ngườI khốn khổ Chí Phèo đến vớI thị Nở trong một đêm trăng say rượu Như điều kì diệu là thị Nở không phảI chỉ khơi dậy bản năng ở gã đàn ông say, mà lòng yêu thương mộc mạc chân thành, sự chăm sóc giản dị của ngườI đàn bà khốn khổ ấy đã làm thức tỉnh Chí Phèo Trong tâm hồn tưởng chừng như chai đá thậm chí bị huỷ hoạI của Chí Phèo, phần bản chất lương thiện ngày thường bị lấp đi vẫn le lói một ánh sáng lương tri, sẽ bừng sáng lên lúc gặp cơ hội Lúc được thị Nở chăm sóc, Chí Phèo thật sự ngạc nhiên vì xưa nay, nào có thấy ai tự nhiên cho cái gì, mà hắn phãi doạ nạt hay là giật cướp mớI có được Lần đầu tiên khi tỉnh giấc, anh bâng khuâng nghe tiếng chim hót (…) tiếng cườI nói của những ngườI đi chợ, thì niềm
Trang 16TÔN NGỌC MINH QUÂN 16
ao ước có một gia đình nho nhỏ trỗI dậy trong lòng anh Nam Cao viết : “… hắn có thể tìm bạn được, sao lạI chỉ gây kẻ thù ? (…) Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà vớI mọI ngườI biết bao!”
* Còn thị Nở, một ngườI phụ nữ bị ngườI làng xa lánh như tránh một con vật nào rất tởm, khi được yêu thương thì tình yêu làm cho có duyên, chị biết lườm, biết thẹn thùng, tiếng “vợ chồng” thấy ngường ngượng mà thinh thích Nam Cao tự hỏI : “Đó vẫn là điều mong muốn âm thầm của con ngườI khốn nạn ấy chăng?”
* VớI một tình cảm nhân đạo sâu sắc, Nam Cao đã phát hiện phần sâu kín đang âm ỉ cháy trong tâm hồn của kẻ bị tha hoá là Chí Phèo, của kẻ u mê là thị Nở : họ luôn tha thiết mong được thương yêu được cảm thông và được sống hoà nhập vớI mọI người
* Nhưng con đường trở lạI làm ngườI lương thiện vừa mở ra trước mắt Chí Phèo bị chặn đứng lại Bà cô của thị Nở dứt hoát không cho cháu bà đâm đầu đi lấy một thằng không cha Ai lạI đi lấy thằng chỉ có một nghề là rạch mặt ra ăn vạ Bà ta cũng giống như mọI ngườI, quen coi Chí Phèo là “ con quỷ dữ” từ lâu rồi Thế là Chí Phèo
bị rơi vào một bi kịch tâm hồn đau đớn, bi kịch của con ngườI không được nhận làm người Ngay trong phút giây tuyệt vọng đó, anh xách dao đến nhà Bá Kiến, không chỉ vì say mà chủ yếu vì lòng căm thù vẫn âm ỉ lâu nay trong đầu óc u tốI của anh giờ đây đã bừng lên Những lờI lẽ cuốI cùng của Chí Phèo bộc lộ tất cả bi kịch nộI tâm đau đớn đó : “Tao muốn làm ngườI lương thiện (…) Không đựơc ! Ai cho tao lương thiện ? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là ngườI lương thiện được nữa Biết không !” Sau khi đâm chết Bá Kiến, Chí Phèo chỉ còn một cách là tự sát Thế là trước đây, để bám lấy sự sống, Chí Phèo đã từ bỏ nhân phẩm, bán linh hồn cho quỷ; giờ đây ý thức về nhân phẩm thức dậy, linh hồn đã trở về, Chí Phèo lạI phảI tự huỷ diệ cuộc sống của mình
c.Giá trị nghệ thuật :
Chí Phèo là một tác phẩm xuất sắc, thể hiện nghệ thuật viết truyện độc đáo cùa Nam Cao
* Trước hết là cách xây dựng nhân vật điển hình Bá Kiến, Chí Phèo vừa tiêu biểu cho những loạI ngườI có
bề dầy trong xã hộI, vừa là những cá tính độc đáo và có sức sống mạnh mẽ Tâm lí nhân vật được miêu tả thật tinh tế sắc sảo, tác giả có khả năng đi sâu vào nộI tâm để diễn tả những diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật
* Cách dẫn dắt tình tiết toàn truyện thật linh hoạt, không theo trật tự thờI gian mà vẫn rành mạch, chặt chẽ, lôi cuốn : cảnh Chí Phèo trở về làng, lai lịch Chí Phèo, cảnh Chí Phèo gây sự, nằm vạ ở nhà Bá Kiến, từ tên cường hào bá Kiến dẫn tớI các tên sừng sỏ khác ở làng Vũ ĐạI, rồI Chí Phèo biến thành tay chân đắc lực cho Bá Kiến, bị tha hoá…
* Ngôn ngữ thật tự nhiên sống động, khẩu ngữ được sử dụng nhuần nhị, mang hơi thở của đờI sống Ngôn ngữ kể chuyện vừa là ngôn ngữ tác giả, có khi vừa là ngôn ngữ nhân vật
* Giọng văn biến hoá, không đơn điệu tác giả như nhập vai vào từng nhân vật, chuyển từ vai này sang vai khác một cách linh hoạt, tự nhiên
"Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn" (Macxim Gorki)
Bài viết của em Võ Bảo Trâm - lớp 12A14 - NH 2012-2013
Đề bài: Phân tích "Tiếng chửi của Chí Phèo"
Trong nền văn học viết Việt Nam, có những tác giả đã khẳng định vị trí của mình bằng sáng tác đồ sộ mang giá trị nhân văn lớn như đại thi hào Nguyễn Du với “Truyện Kiều” hoặc bằng cách phản ánh những sự kiện trong đại của đất nước như tác gia Tố Hữu, Nguyễn Tuân Số khác thì đánh dấu bằng tuyên ngôn nghệ thuật như
Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam… Nhưng cũng có các tác giả đã để lại ấn tượng muôn đời trong lòng người đọc chỉ
Trang 17TÔN NGỌC MINH QUÂN 17
bằng một một chi tiết nhỏ trong toàn bộ tác phẩm… trong đó có Nam Cao Và như Macxim Gorki đã khẳng định :"Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn" là vậy
Người ta cứ nghĩ để viết nên một tác phẩm vĩ đại thì phải đi tìm những thứ to tát từ nơi xa xôi, phải thoát
ly hiện thực đau khổ để tìm đến điều mơ tưởng Không phải vậy, nhà văn – người sáng tạo ra cái đẹp – có thể chỉ tìm được nghệ thuật cao quý từ những điều bình thường nhất, nhỏ bé nhất mà lại nói lên được điều vĩ đại “Chi tiết nhỏ” là những sự việc, sự kiện bình thường trong một tác phẩm, dường như ban đầu đọc qua ta chỉ nghĩ nó
có tác dụng phản ánh hiện thực khách quan mà khi đọc kĩ càng, ta lại phát hiện trong đó một giá trị tư tưởng lớn
có ý nghĩa giáo dục và thẫm mĩ cao “Chi tiết nhỏ” nhưng mang giá trị nghệ thuật đặc sắc góp phần khẳng định lập trường và tài năng của “nhà văn lớn”
Chí Phèo là một điển hình nghệ thuật về người nông dân từ lương thiện rơi vào tha hóa trở thành quỷ dữ rồi bị gạt ra khỏi xã hội loài người, cuối cùng quay quắt trở về với bi kịch của khát vọng "làm người lương thiện"
Bi kịch bị ruồng bỏ, cô đơn trước đồng loại của Chí Phèo được Nam Cao thể hiện qua một chi tiết rất nhỏ, rất bình thường và tự nhiên ngay đoạn mở đầu nhưng càng đọc, càng suy ngẫm ta lại càng thấy từng tầng nghĩa sâu sắc
cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật của tác phẩm Đó chính là tiếng chửi của Chí Phèo
Trong cơn say, hắn ngật ngưỡng bước đi và hắn chửi Ban đầu hắn chửi trời vì trời sinh ra hắn một con người không hoàn thiện Rồi hắn "chửi đời" vì đời bạc bẽo đã cưu mang hắn rồi lại vứt bỏ hắn Tức quá, hắn
"chửi cả làng Vũ Đại" đã đẩy hắn vào bi kịch tha hóa thê thảm Nỗi cô độc đã lên đến tột độ, hắn"chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn"! Đau đớn nhất, Chí Phèo chửi "đứa chết mẹ nào đã đẻ ra thân hắn" làm hắn mang những bi kịch lớn của cuộc đời Chí Phèo chửi nhưng lời của hắn lại rơi vào trong im lặng đáng sợ Không một ai đáp lại lời của hắn Hắn chửi nhưng chất chứa bên trong là niềm khao khát được giao tiếp, được đồng vọng dù chỉ được đáp lại bằng một tiếng chửi Nhưng đau xót thay, cả làng Vũ Đại quay lưng với hắn để cuối cùng hắn chửi nhau với ba con chó dữ: "Một thằng say và ba con chó dữ mà làm ầm ĩ cả làng" Chí Phèo thật sự đã bị gạt bỏ khỏi xã hội loài người
Tài hoa nghệ thuật Nam Cao được bộc lộ ngay trong đoạn mở đầu truyện ngắn Nhà văn đã sử dụng rất thành công hình thái ngôn ngữ nửa trực tiếp để tạo nên hiện tượng đa thanh cho giọng điệu kể chuyện Đoạn văn
có lời kể khách quan xen lẫn lời nhận xét của tác giả, có cả lời nhủ thầm của dân làng: “Chắc nó trừ mình ra” Như vậy, tuy dân làng Vũ Đại không xuất hiện nhưng ta vẫn thấy hình ảnh đám đông và thái độ của họ trước lời chửi Chí Phèo Nổi bật lên tất cả là giọng Chí Phèo vừa có phần phẫn uất lại vừa cô đơn trước đồng loại: “Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! … Mẹ kiếp! Thế có phí rượi không?” Đó là lời kể của tác giả hay chính suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật đang cất lên tiếng nói
Nhờ tính chất đa thanh của giọng điệu kể chuyện đã dẫn đến một tính chất đặc sắc khác cho đoạn văn: tính đa nghĩa Tiếng chửi không chỉ là khao khát được giao tiếp mà còn là sản phẩm của một con người bị rơi vào
bi kịch bị tha hóa, không được sống đúng bản chất của một con người Bên ngoài là tiếng chửi của một kẻ say nhưng bên trong thì hắn rất tỉnh Lời chửi rất mơ hồ, không động chạm ai, quả là một kẻ say bình thường đang chửi Nhưng hắn rất tỉnh, rất sáng suốt, không gian trong tiếng chửi thu dẹp dần từ cao đến thấp, từ rộng đến hẹp, từ vô địa chỉ đến có địa chỉ Từ số đông, hắn chửi một người: “hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn,
đẻ ra cái thằng Chí Phèo” Đẻ ra Chí Phèo “cả làng Vũ Đại cũng không ai biết” nhưng chúng ta, người đọc thì biết: Chính xã hội vô nhân đạo đã đẻ ra Chí Phèo – con quỷ dữ của làng Vũ Đại, đã sinh ra hiện tượng “Chí Phèo” Như vậy, hắn mượn rượi để chửi, để phản ứng với toàn bộ xã hội vô nhân đạo Từng lời cay độc ấy thoát ra nghĩa là lòng hắn đang gào thét cuồng điên, hắn chửi để thỏa mãn lòng rực lửa đốt khi mà cả làng Vũ Đại không ai lắng nghe hắn Họ thành kiến với hắn Tiếng chửi của Chí Phèo vừa mang tâm trạng bất mãn vừa là lời tố cáo sâu sắc
xã hội vô nhân đạo với những nếp nghĩ lạc hậu đã cướp đi quyền làm người và ruồng bỏ hắn Tiếng chửi thật chất là một tiếng kêu cứu thảm thiết của con người đáng thương bị què quạt cả về thể xác lẫn tinh thần cố níu chiếc phao đời để mà tồn tại Ta đã từng đau xót cho số phận nghèo khổ, tăm tối của chị Dậu, chị Dậu nghèo tới mức phải bán con, bán chó, bán sữa nhưng Ngô Tất Tố không để chị bán nhân phẩm của mình Còn Chí Phèo, hắn đã bán cả linh hồn cho quỷ dữ với cái giá rẻ bèo và cuối cùng bị ghẻ lạnh, cô đơn trong chính xã hội loài người.Trong đoạn văn, cứ sau một lời kể khách quan mang tính chất thông báo là một lời nhận xét của tác giả
Trang 18TÔN NGỌC MINH QUÂN 18
Như vậy, bằng hiện tượng đa nghĩa của giọng điệu, ta không chỉ thấy thái độ, tình cảm của nhân vật mà còn cảm nhận được trái tim nhà văn đang lên tiếng Đằng sau lời văn lạnh lùng gần như sắc lạnh ấy lại là một tấm lòng xót thương sâu sắc cho nhân vật và cả sự căm phẫn xã hội vô nhân đạo đã đẻ ra hiện tượng Chí Phèo
Tóm lại, đoạn văn được mở đầu bằng lời chửi của Chí Phèo không chỉ mang nét nghệ thuật dễ nhận thấy, nghệ thuật kết cấu, mà còn mang giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của ngòi bút thấm đẫm tinh thần Nam Cao Càng đào sâu, càng nghiền ngẫm, người đọc sẽ tìm cho mình những suy nghĩ sâu sắc hơn về kiệt tác “Chí Phèo”
“Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” Chi tiết “tiếng chửi” của Chí Phèo đã góp phần làm nên thành công của nhà văn lớn Nam Cao Nó đã khái quát lên một chân lý nghệ thuật: nghệ thuật chân chính không những tìm thấy cái bình thường trong sự phi thường mà còn phát hiện cái phi thường trong sự bình thường, thậm chí tầm thường Chỉ có nhà văn lớn có khối óc và trái tim lớn mới làm được điều đó
Nhà phê bình văn học đề cao Thị Nở
Cuốn tiểu luận phê bình đầu tiên của nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên cấp cho nhân vật Thị Nở một giá trị mới
Từ mấy chục năm qua, Thị Nở cùng Chí Phèo của Nam Cao đã trở thành cặp uyên ương bất hủ của văn học Việt Nam Ai cũng rõ, Thị Nở vô duyên, xấu gái, dở hơi bậc nhất làng Vũ Đại Thế mà, trong cuốn sách vừa ra mắt, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đưa Thị Nở lên hàng đầu, lại còn đặt ngang với danh xưng “nhà văn” -
“Nhà văn như Thị Nở”
Bài viết nhân kỷ niệm 40 năm ngày mất của nhà văn Nam Cao (1991) xuất hiện trong cuốn sách chỉ sau lời giới thiệu, tách biệt hẳn với hai phần sau đó gồm các bài phê bình về văn học Việt Nam, là một dụng ý rõ ràng của
Phạm Xuân Nguyên Ông muốn từ đó, “nhà văn như Thị Nở” là thông điệp xuyên suốt trong cách nhìn nhận vấn đề của mình Tên bài viết ấy cũng được lấy làm tên sách
"Cái bọn nhà văn dở hơi như Thị Nở" - cách hiểu ấy, nếu tồn tại, chẳng qua là trong câu chuyện phiếm mang lại dăm ba tiếng cười vui vẻ Trong bài viết “Nhà văn như Thị Nở”, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên lý giải
sự so sánh này ở góc độ khác, đến cùng cách cắt nghĩa tinh tế về nhân vật Thị Nở Thị, với lòng yêu không suy tính, với bát cháo hành đến đúng thời điểm trong cuộc đời Chí, đã thức tỉnh khao khát làm người của hắn
“Chí Phèo suýt khóc và hắn đã khóc khi được thức tỉnh về điều này Bát cháo hành của Thị Nở vào lúc đó
là đỉnh điểm hạnh phúc của Chí Phèo, đồng thời cũng là đỉnh điểm tấn bi kịch làm người của hắn (…) Thị Nở đã khơi dậy trong hắn mơ hồ cảm thức về quyền con người được lương thiện”, Phạm Xuân Nguyên viết Từ đó, ông liên tưởng, nhà văn cũng như Thị Nở: “Văn học phải là cái hơi đó Nhà văn phải làm sao tỏa được cái hơi đó Sao cho mỗi trang văn là một bát cháo hành Thị Nở cho người đọc văn”
“Nhà văn như Thị Nở” - như vậy có thể hiểu là: Nhà văn (ví như) Thị Nở; Nhà văn (cần) như Thị Nở; Nhà văn (hãy) như Thị Nở Suy cho cùng, cũng là cách chơi chữ, chơi ý tưởng của nhà phê bình, để nói rằng, văn học cần chạm tới thiên lương của con người, đánh thức những xúc cảm nhân văn ở mỗi người đọc Làm được điều đó, cũng như việc Thị Nở đã làm cho anh Chí, vốn là kẻ bần cùng, tha hóa nhất trong những kẻ bần cùng, tha hóa của
xã hội mà Nam Cao từng dựng ra năm nào
Ngoài bìa sách là một Phạm Xuân Nguyên trông có chút tư lự, trông có chút “dở hơi” Tự làm xấu mình,
"gã phê bình ấy" hẳn cũng có lúc mong mình được là một Thị Nở trong làng phê bình văn học, được mang hơi cháo hành thức tỉnh đôi điều, khơi dậy những cảm xúc hướng thiện nào đó, ít nhất với những người đọc sách ông
Cuốn sách chia làm hai phần, tập hợp những bài viết, phê bình của Phạm Xuân Nguyên về các tác giả văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 tới nay, phụ đề là “Nguyên văn 1” (Những bài viết phê bình của Nguyên)
Trang 19TÔN NGỌC MINH QUÂN 19
Phần một: “Người của hôm qua”, gồm 35 tác giả, những người “vang bóng một thời” trong văn chương Việt và phần hai - “Người của hôm nay” - gồm 16 tên tuổi tác giả đã, đang góp những thành tựu xuất sắc cho nền văn học Từ mạch chung, Phạm Xuân Nguyên trong mỗi bài viết đều đi tìm cái “hương cháo hành” ở các nhà thơ, nhà văn, dịch giả, nhà phê bình mà ông viết về Ông chú trọng tìm cái tinh túy, với góc nhìn nhân văn để bắt được cái nhân văn của tác giả đối với câu chuyện, nhân vật của họ
Viết về Thế Lữ, ông xúc động trước truyện ngắn “Câu chuyện trên tàu thủy” mà có thể ít người từng đọc, trong đó kể câu chuyện một kẻ cướp mủi lòng trước kẻ nhà quê nghèo hèn hơn mình, giúp đỡ để rồi sau đó thì tiếc hùi hụi khi biết kẻ đó thực ra chỉ ngụy trang để che giấu việc anh ta mang trong người rất nhiều tiền Tuy nhiên, trong cái giây phút mủi lòng rất lương thiện, tên cướp nhận thấy phần con người chưa đánh mất của hắn
“Tác giả đã khéo cho thấy cả tâm lý của hai hạng người: cái ranh mãnh của người nhà quê và sự cảm động thức dậy trong người làm một nghề xấu xa”, Phạm Xuân Nguyên nhận định
Trong bài viết về dịch giả Nam Trân, nhà phê bình tìm thấy cái thần, cái tình của dịch giả khi chuyển tải được giọng điệu, cái hơi của chuyện, tinh thần Xô viết trong tập truyện “Người Xô Viết chúng tôi”
Phạm Xuân Nguyên chú ý tới những điều mà ít người nói hoặc để ý đến, cả những thành tựu văn học có thể bị bỏ quên, ít được công nhận, như thơ của Nguyễn Tuân, truyện ngắn của Thế Lữ… Quan trọng hơn cả là những đóng góp về nội dung, nghệ thuật để làm nên cái hay, cái đẹp cho văn học
Bản thân nhà phê bình xuất hiện rõ nét trong các bài viết, khẳng định góc nhìn của mình: “Với tôi…”, “Tôi nhấn mạnh”… Ông cho thấy sự sẵn sàng đứng mũi chịu sào, thẳng thắn nhìn nhận vấn đề, đặt mình vào bối cảnh
để đưa ra quan điểm riêng, không trốn tránh, trước cả những cuộc tranh cãi văn chương hay câu chuyện hậu trường làng văn
Tác giả, cũng có lúc phân thân giả tưởng, để đối thoại với những người viết đã khuất Trong “Nhà văn như Thị Nở” có hai cuộc đối thoại ấn tượng: giữa nhà phê bình với Hàn Mặc Tử để cắt nghĩa tính chất thơ siêu thực của ông Phạm Xuân Nguyên dựng lên một Hàn thi sĩ vừa mơ vừa thực, và người đọc thấy được trong đó nhận định của nhà phê bình, đó là Hàn Mặc Tử không cố tạo ra cái siêu thực mà nó tự thân ở trong con người ông, mới dẫn tới chuyện nhà thơ sáng tác trong trạng thái nửa mơ, nửa điên Hay trong cuộc đối thoại với Nguyễn Bính, Phạm Xuân Nguyên dựng lại cả diện mạo mảng thơ viết về mùa xuân, với khí vị thơ vừa tình vừa đượm chút buồn của nhà thơ hàng đầu của thôn quê Việt
Khen cái thiện và chê để hướng thiện là điều dễ thấy trong sách Phạm Xuân Nguyên Như khi nhắc lại chuyện nhà phê bình Hải Triều dẫn đầu phái nghệ thuật vị nhân sinh đối đầu với phe nghệ thuật vị nghệ thuật đầu thế kỷ 20, Phạm Xuân Nguyên cho rằng, Hải Triều đã cực đoan hóa khái niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” so với bản chất của nó để tôn lên lý tưởng văn học mang theo sứ mệnh xã hội mà ông theo đuổi, xem nhẹ yếu tố văn chương nghệ thuật Tuy vậy, Phạm Xuân Nguyên đánh giá cao Hải Triều ở chỗ đã duy trì quan điểm, thống nhất,
đi trọn con đường đã chọn từ đầu
Tóm lại, người đọc đọc được gì từ “Nhà văn như Thị Nở”? Đó là không khí văn chương suốt thời kỳ dài của văn học hiện đại Việt Nam, bao gồm cả sáng tác, dịch thuật, phê bình, với những tên tuổi hàng đầu Ở phần
“Người của hôm qua”, ông nhìn lại, định giá một cách công bằng, phân minh nhiều tác giả và xuất hiện gần như
đủ đầy nhiều gương mặt: từ Thế Lữ, Hải Triều, Hoài Thanh, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Xuân Diệu, Nam Cao, Tố Hữu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán Ở phần người nay, tuy cũng nhắc đến nhiều tác giả sáng giá nhưng cái nhìn chưa thật đầy đủ, toàn diện, ví dụ, có thể thấy Bảo Ninh mà không có Lê Lựu, thấy Nguyễn Quang Lập mà không có Nguyễn Huy Thiệp… hay văn học trẻ đương đại chỉ có tên tuổi Vi Thùy Linh Có lẽ, tác giả còn dành cho một “Nguyên văn 2” ra đời
“CHÍ PHÈO” DƯỚI CÁI NHÌN PHÂN TÂM HỌC
Tác giả: - Cập nhật: 21/05/2013
PGS.TS Lê Huy Bắc
Trang 20TÔN NGỌC MINH QUÂN 20
Phân tâm học kể từ lúc Sigmund Freud (1856 – 1939) sáng lập đến nay đã tác động đến nhiều mặt trong đời sống con người Nhiều ý kiến cho rằng với lí thuyết của mình, Freud đã “làm thay đổi trật tự của vũ trụ” Bản thân Freud, vốn là người khiêm tốn, lúc sống không hề nhận lời ca ngợi ấy Nhưng rõ ràng kể từ sau Freud, nhiều quan niệm về cuộc sống cũng như bản chất của con người bị đảo lộn ghê gớm Người ta không thể không nhắc tới ông với tư cách là nhà pháp sư tài ba về thế giới tinh thần của con người Không ít ý kiến so sánh những gì Freud làm được cho đời sống tinh thần của nhân loại với những gì Carl Marx làm được cho đời sống vật chất của con người
Bởi thế giới tinh thần của con người là vô cùng bí ẩn nên nỗ lực của Freud cũng chỉ nhằm định hình một
số khía cạnh mơ hồ, mong manh nào đó của cội nguồn tâm lí mà thôi Vì lẽ đó, lí thuyết của Freud sẽ luôn là lí thuyết mở Chính ông cũng đã ý thức rõ điều đó trong khi trả lời phỏng vấn của George Sylvester Viereck: “Phân tâm học đơn giản hóa cuộc đời Chúng ta đạt được một sự tổng hợp mới sau khi phân tích Phân tâm học tái phân loại cái mê cung của những cảm hứng đi chệch ( ) Hoặc nói khác đi, để thay đổi ẩn dụ, nó cung cấp một sợi chỉ để dẫn con người ra khỏi mê cung đến thế giới vô thức của hắn ta ( ) Phân tâm học, chí ít, không bao giờ đóng cửa trước một chân lí mới.”(1)
Đến nay chẳng còn ai phủ nhận các khám phá của Freud và môn đệ của ông về thế giới vô thức và tiềm thức của con người Việc vận dụng lí thuyết đó trong nghiên cứu văn học cũng mang lại những kết quả đáng khích
lệ Nhìn chung, có những hướng vận dụng Freud như sau:
1 Tìm những ẩn ức trong cuộc đời của nhà văn để soi chiếu vào nhân vật trong tác phẩm Chẳng hạn như Kafka rất sợ bố nên trong tác phẩm của mình ông luôn xây dựng một kẻ thống trị đầy quyền uy, có khi là quyền
uy tuyệt đối luôn chà đạp lên những khát vọng chân chính của con người
2 Tìm những hình ảnh trong tác phẩm có tính biểu tượng (chẳng hạn như gợi người đọc liên tưởng đến dương vật và âm vật) để đề cập đến ẩn ức tính dục (Freud gọi là libiđô)
3 Tìm những biểu hiện về bản năng gốc (theo Freud chủ yếu là bản năng xâm hại và bản năng tính dục) trong tác phẩm và lấy đó làm cơ sở để giải thích cho hành động của nhân vật Chẳng hạn như các nhà nghiên cứu
đã phân tích sự do dự của Hamlet khi không giết Claudius là vì Hamlet đặt bản thân mình vào Claudius, nếu là ông
ta thì chàng cũng sẽ muốn đoạt ngôi (khao khát quyền lực) và lấy người đẹp (ở đây là hoàng hậu) Vậy nên Hamlet chẳng biết phải hành động như thế nào
Từ những định hướng trên, chúng tôi vận dụng quan niệm bản năng gốc chi phối hành vi nhân vật của Freud vào phân tích Chí Phèo Qua đó, chỉ ra rằng các xung đột mang tính xã hội bề mặt đều chịu sự chi phối ở xung đột chiều sâu, xung đột bản năng Nhưng không hoàn toàn trùng khớp với những khái quát của Freud, cuối cùng hành vi Chí Phèo vẫn chịu sự chi phối của bản năng hướng thiện Cái nhìn này bộc lộ tấm lòng nhân đạo rất Việt Nam của Nam Cao nhưng đồng thời cũng cho thấy nét lãng mạn ở ông Cảm hứng sáng tạo của Nam Cao phảng phất triết lí tình thương, niềm tin cao cả vào con người của Hugo Do vậy, dù có chịu tác động bởi bao nhiêu bản năng đi chăng nữa thì bản năng hướng thiện vẫn chiếm vị trí quan trọng trong cuộc đời Chí Phèo
1 NHỮNG CẤU TRÚC BỀ MẶT
Đọc Chí Phèo, người đọc biết toàn bộ cuộc đời Chí Phèo, kể từ lúc mở mắt chào đời cho đến lúc giết Bá Kiến rồi tự sát Cách kể hướng về biên niên sử của nhân vật chính của tác phẩm thường là độc quyền của tiểu thuyết Truyện ngắn hiếm khi tái hiện đầy đủ cuộc đời nhân vật Đây là đặc điểm độc đáo của Chí Phèo Tuy nhiên, để làm giảm số trang cho truyện (nếu không thì truyện ngắn này có nguy cơ trở thành tiểu thuyết) thì ngoài việc lược bớt các sự kiện (chẳng hạn như không nói rõ ai là người sinh ra Chí và hoàn cảnh sống, tâm trạng của người mẹ ấy ra sao khi từ bỏ đứa con), Nam Cao còn sử dụng kĩ thuật hồi cố Biện pháp này được trao cho người kể và buộc người kể trở thành người thông suốt hết mọi ngóc nghách trong đời Chí Quả thật, lí lịch của Chí Phèo dần hiện lên rõ nét qua lời kể điềm tĩnh đầy chất suy tư: “Một anh đi thả ống lươn ”
Nhờ đoạn hồi cố này mà người đọc không chỉ nhận biết rõ hoàn cảnh thương tâm của Chí mà còn thấu hiểu trọng tâm câu chuyện được đặt ở đâu Nếu làm phép thống kê, ta thấy đoạn kể về quá khứ của Chí trước khi
bị huỷ hoại nhân tính “hắn vừa đi vừa chửi” là vô cùng ngắn (chưa đến một trang) so với đoạn miêu tả Chí trong
sự tha hoá (khoảng 20 trang) Hơn nữa, ngay từ lúc mở đầu, hình ảnh Chí Phèo “vừa đi vừa chửi” đã bao hàm thông báo của người kể rằng câu chuyện bắt đầu bằng một con người không bình thường nữa Trọng tâm truyện
Trang 21TÔN NGỌC MINH QUÂN 21
đặt vào khát vọng hoàn lương chứ không phải vào quá trình tha hoá Thế nhưng, với tư cách là một nhà hiện thực cần mẫn, Nam Cao vẫn cố tái hiện lại quá khứ của Chí Phèo để báo cho người đọc biết vì sao Chí Phèo ra nông nỗi này Hoàn cảnh nghiệt ngã của xã hội đã tiếp tay cho Bá Kiến trong việc làm biến chất Chí Phèo
Tuy nhiên, cấu trúc bề mặt vẫn hàm chứa một ý đồ nghệ thuật vượt ra ngoài khuôn khổ tái hiện trọn vẹn cuộc đời Chí Người kể dùng quá khứ của Chí Phèo đó để đối chiếu với nhiều cảnh ngộ tương tự quá khứ của Chí Đấy chính là cuộc đời của Binh Chức và Năm Thọ Lối kể nghe chừng dễ dãi ngỡ như gặp đâu kể đó song lại chuyển tải một kĩ thuật tự sự bậc thầy: đồng quy nhiều số phận để nói rằng trong xã hội ấy Chí Phèo không phải là
cá biệt
Ba cuộc đời trong quá khứ đó tạo ra ba tầng truyện hay ba tuyến cốt truyện: truyện về Năm Thọ, truyện
về Binh Chức và truyện về Chí Phèo Ngoài ra, truyện còn có Tự Lãng sống một mình vì con gái chửa hoang bỏ lão
mà đi Nguyên nhân dẫn đến các cảnh đời bi thương của họ ít nhiều đều xuất phát từ chuyện đàn bà Năm Thọ thì đưa vợ con ra làm cái cớ để uy hiếp Bá Kiến: kẻ dám giết vợ con mình thì đâu có chùn tay trước người khác Binh Chức thì cũng đưa vợ con ra đe dọa Bá Kiến Nhưng lí do thì khác với Năm Thọ Binh Chức ngầm đổ tội Bá Kiến tiêu tiền của mình gửi về cho vợ Bá Kiến phải nhượng bộ Chí Phèo thì lại là nạn nhân của Bá Kiến Ông ta ghen Chí vì Chí bị bà Ba bắt bóp đùi Như thế nền tảng của cốt truyện hay của xung đột cơ bản của Chí Phèolà chuyện tranh nhau đàn bà Từ mối hằn học giống này mới nảy sinh ra những xung đột sau đó Dần dần các xung đột xã hội hiện lên Đây là điểm đặc biệt trong xung đột của Chí Phèo Nó giải thích tại sao khi những quan hệ xã hội đã thay đổi thì Chí Phèo vẫn còn được tiếp tục đón đọc
2 CẤU TRÚC CHIỀU SÂU
Đến đây chúng tôi đã chạm đến một trong hai bản năng gốc mà lí thuyết phân tâm học của Freud từng nói đến: bản năng tính dục và bản năng xâm hại Bản năng tính dục về cơ bản liên quan đến tình yêu và sau đó là chuyện chăn gối còn bản năng xâm hại thường liên quan đến chiến tranh và bạo lực Để thực hiện được hai bản năng này thì người đó phải thực sự sung mãn về thể lực Freud cho rằng hai bản năng luôn thường trực trong vô thức này chi phối rất mạnh mẽ mọi hành vi ứng xử ý thức của con người Đọc Chí Phèo, ta thấy tất cả xung đột hay bước ngoặt của diễn biến tâm lí, hành động nhân vật đồng thời cũng là bước đột biến của cốt truyện cũng đều quy tụ đến chuyện bản năng Nhiều lần trong tác phẩm, Nam Cao để cho Chí Phèo ý thức được nền tảng của các bản năng: “Muốn ác, phải là kẻ mạnh”, “Người ta hay hối hận về tội ác khi không còn đủ sức mà ác nữa” Ngay đến Thị Nở, tác giả cũng đặt giả định về khoái lạc của xác thịt: “Dẫu sao cũng đã ăn nằm với nhau! Ăn nằm với nhau như vợ chồng Tiếng vợ chồng thấy ngường ngượng mà thinh thích Đó vẫn là điều mong muốn âm thầm của con người khốn nạn ấy chăng? Hay là sự khoái lạc của xác thịt đã làm nổi dậy những tính tình mà thị chưa bao giờ biết?” Ngay cả đến miêu tả cảnh vật, cái nhìn của người kể cũng gợi lên cảm giác khao khát tính dục:
“Những đêm trăng như đêm nay, cái vườn phẳng ngổn ngang những bóng chuối đen như những cái áo nhuộm vắt tung trên bãi Và những tàu chuối nằm ngửa, ưỡn cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước, thỉnh thoảng bị gió lay lại giẫy lên đành đạch như là hứng tình” Có thể nói ý thức về bản năng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các xung đột giữa các nhân vật Thông qua các mâu thuẫn có tính chất cá nhân về giống này, thực trạng xã hội và những mâu thuẫn giai cấp mới có điều kiện bộc lộ
Do vậy, không chỉ thời xưa mà ngay cả bây giờ vẫn thế, các nhà phê bình luôn đứng trên cái nhìn đàn ông thủ cựu để phê phán bà Ba chứ có mấy ai đặt mình vào vị trí của người phụ nữ ấy để thông cảm cho nỗi niềm kia Do vậy, việc Lí Kiến tống Chí vào tù không chỉ gây nên bất hạnh cho đời Chí mà còn cho cả bà Ba
Nhưng câu chuyện không đặt trọng tâm vào khả năng tình dục của người phụ nữ ấy mà hướng vào Chí Vì
sự ghen tuông của Lí Kiến mà Chí Phèo đã bị đổi đời Có thể nói Chí Phèo oan trong chuyện với bà Ba nhưng cũng
Trang 22TÔN NGỌC MINH QUÂN 22
rất có thể Chí Phèo chẳng oan chút nào Mà cho dù có thế nào đi nữa (bởi Nam Cao rất khôn khéo ở chỗ này, ông chỉ miêu tả Chí Phèo thấy nhục hơn là thíchcòn Chí có quan hệ với bà Ba hay không thì người đọc chẳng thể nào biết) thì Lí Kiến cũng là kẻ mang lại bất hạnh cho người khác Mới hay người đời thường dùng quyền chung để trục lợi cá nhân
Trong trường hợp Chí, Lí Kiến đã nhổ được cái gai trong mắt Con đực mạnh hơn đã xâm hại được kẻ yếu Cái mạnh của Lí Kiến trước Chí Phèo không phải là cái mạnh của của thể xácmà mạnh về sự khôn khéo, mạnh về địa vị xã hội: Xã hội cho phép Lí Kiến đứng cao hơn Chí Đây là cơ sở để tác giả đan cài các vấn đề thuộc
về bản năng và các vấn đề thuộc về xã hội Con đực thống soái (Lí Kiến) đã khuất phục được Chí Phèo, gây nên trong Chí cái sợ cố hữu (trước Lí Kiến) là nhờ xã hội thực dân nửa phong kiến cho ông ta uy thế đó
Chí Phèo không chỉ là chuyện xâm hại, áp bức mà còn là chuyện báo thù và chuyện kẻ báo thù bị lợi dụng Trong số ba nhân vật, trừ Năm Thọ, còn lại Binh Chức và Chí Phèo là những kẻ báo thù Không phải họ mạnh hơn
Bá Kiến mà là tình thế đẩy họ đến cùng đường nên họ buộc phải vùng lên để tìm đường sống Bản năng sống của con người sẽ mạnh hơn tất cả, mạnh hơn ngay chính kẻ xâm hại họ Thế là một sự hoán vị xảy ra: Bá Kiến, kẻ xâm hại trở thành kẻ bị xâm hại Đây là chuyện thường tình Sự đổi ngôi thống trị không phải là điều hiếm thấy trong cộng đồng Nhưng cả Binh Chức lẫn Chí Phèo không phải thực sự là kẻ xâm hại Bản thân họ không thể mạnh hơn Bá Kiến Do vậy, họ phải mượn một sức mạnh từ bên ngoài chứ không phải từ bản chất của họ Điều này dễ nhận thấy qua việc mỗi khi Chí Phèo thi hành một phi vụ thì trước hết anh ta phải uống cho thật say Thế rồi con ma men thay Chí làm mọi điều tội lỗi
Nhưng Bá Kiến đâu phải tay vừa Quá quen thuộc với những tay đầu bướu đầu bò bất đắc dĩ ấy bấy lâu, ông ta đã nắm được thóp của họ Bằng đồng tiền và thủ đoạn mềm nắn rắn buông, ông ta đưa họ vào quỹ đạo: gây tội lỗi, xâm hại người khác ngoài mình Thì ra, đồng tiền và quyền lực là hai sức mạnh vô song không chỉ với Paris thượng lưu trong Tấn trò đời của Balzac hay London trong Hội chợ phù hoa của Thackeray mà còn bộc lộ tại một làng quê hẻo lánh xa chốn thị thành của Nam Cao Bá Kiến đã điều tiết được sức mạnh xâm hại đó Dần dần kẻ xâm hại bị biến thành kẻ bị xâm hại hoặc kẻ tự xâm hại mình Rốt cuộc, Bá Kiến đã xâm hại Binh Chức, Chí Phèo đến hai lần
Nhưng Năm Thọ và Binh Chức thì chẳng trừng trị được Bá Kiến Có thể họ không phát hiện ra chân tướng của ông ta Còn Chí Phèo thì khác Anh ta hiểu mọi nhẽ, kể cả việc không thể nào tìm được sự bình yên giữa cõi đời khi hoàn lương Động lực thúc đẩy Chí quay về nẻo thiện không phải do giác ngộ một lí tưởng sống nào đó mà
do sự đánh thức bản năng người trong Chí Đầu mối của sự thức tỉnh đó lại cũng là một người đàn bà, người đánh thức khoái cảm đàn ông trong Chí
2.2 “THỊ KIÊU NGẠO VÌ ĐÃ CỨU SỐNG CHO MỘT NGƯỜI”
Trong tác phẩm, đời Chí xê dịch và biến thiên cơ bản bởi tay hai người phụ nữ này (chưa kể người đã sinh
ra Chí) Thoạt tiên là bởi bà Ba dâm dật và sau cùng là bởi Thị Nở dở hơi Sự kết hợp với hai người phụ nữ bất bình thường là dấu hiệu cho thấy bi kịch của đời Chí Với bà Ba, Chí rơi vào đường tù tội Với Thị Nở, Chí lại được làm người Ở hai chặng của cuộc đời, Chí được người kể nhấn mạnh đến sự tự ý thức của nhân vật Với bà Ba, Chí thấy nhục Với Thị Nở, Chí muốn sống, muốn làm lại cuộc đời Nhưng cho dẫu sự nhận thức có được nhấn mạnh đến đâu chăng nữa thì bao giờ cuộc đời Chí cũng phát triển theo chiều ngược lại:
– Ý thức về nhân phẩm (cảm thấy nhục khi bóp đùi bà Ba) thì bị tống vào tù
– Khao khát hoà nhập cộng đồng (muốn lấy Thị Nở, xao xuyến khi nghe tiếng người trên đê) thì phải tự sát
Bi kịch của Chí Phèo trên bề mặt vì thế là bi kịch của nhận thức mà sự bế tắc trong hành động dẫn đến cái chết đầy bạo lực cuối truyện là đỉnh điểm Bi kịch đó bị chi phối ở tầng sâu là sự thức tỉnh nhân cách mà cú huých để nhân cách, lương tri Chí sống lại là cú huých đến từ sự thức tỉnh bản năng tính dục Nếu không có cuộc gặp gỡ tình cờ giữa Chí và Thị Nở bên bờ sông hôm đó thì chẳng thể nào có được một Chí Phèo có khả năng khóc Bởi khóc là dấu hiệu chính xác nhất của sự khôi phục nhân tính Trước đây, Hugo cũng đã sử dụng chi tiết này để khắc hoạ nhân vật thằng gù Quasimodo trong Nhà thờ Đức bà Paris Chí Phèo cũng có xuất xứ giống thằng gù, một đứa bé bị bỏ rơi Môtíp nhân vật trẻ thơ bị bỏ rơi trong truyện cổ về sau thường được xác nhận (qua những
Trang 23TÔN NGỌC MINH QUÂN 23
tín hiệu người bỏ rơi cố tình để lại bên nó như tấm khăn, đôi giày chẳng hạn) là con của một gia đình quý phái, giàu có thậm chí là thuộc hoàng tộc Cuối cùng những đứa bé đó đều có kết cục hạnh phúc và người nuôi nấng chúng vì thế cũng sẽ sung sướng theo Đây là kiểu truyện nhằm để giáo huấn lòng độ lượng của con người trước những cảnh ngộ thương tâm của những đứa bé bơ vơ bị chối bỏ Quả thật không ít người từ tâm đã nghe theo luật nhân quả ấy, bị cám dỗ bởi cái kết hạnh phúc bất ngờ đó nên đã vui lòng nhận làm người bảo trợ cho những hoàn cảnh đáng thương kia Nhưng đấy là truyện cổ tích và đấy cũng là sự tính toán của phó Giáo chủ nhà thờ Frollo khi quyết định nhận nuôi thằng gù Nhưng kết cục của thằng gù lẫn Chí Phèo đều không thể giống như truyện cổ Qua bao gian nan, đã sống chân thành, sau khi thức tỉnh nhưng thằng gù và Chí Phèo đều phải chấp nhận một cái chết thương tâm: tự nguyện chết Chết cho tình yêu được thiên thu vĩnh hằng (Quasimodo) Chết cho lương tri con người sẽ luôn toả rạng (Chí Phèo) Cả hai đều bắt đầu bằng những giọt nước mắt
Chí Phèo được đánh thức khỏi những cơn say bất tận của mình chưa phải bằng bát cháo hành như bao nhận định bấy lâu mà trước tiên được đánh thức bởi bản năng giống đực mà như đã nói chủ yếu là bản năng tính dục Tiếp đó còn là bản năng nữa là bản năng bầy đàn, khao khát được quay về với những nguyên tắc bầy đàn Chí
hi vọng Thị Nở “sẽ mở cánh cửa” cho Chí Chỉ cần thị chấp nhận thì cộng đồng cũng sẽ chấp nhận Chí
Nhưng vật cản xuất hiện Bà cô Thị Nở ngăn cản cháu mình vì sự đố kị, bởi bà ta chưa được thoả mãn dục tính libiđô như mọi phụ nữ bình thường khác: “Cũng có lúc bà tủi cho thân bà Bà nghĩ đến cái đời dài dằng dặc của bà, không có chồng Bà thấy chua xót lắm Bà uất ức, uất ức với ai không biết.” Ẩn ức libiđô đó được ngụy trang bằng một loạt những đạo lí cũ mèm: “Người đàn bà đức hạnh (Nam Cao mỉa mai bà ta) thấy cháu bà sao mà
đĩ thế! Thật đốn mạt ( ) Ngoài ba mươi tuổi ai lại còn đi lấy chồng ( ) Mà có lấy thì lấy ai chứ? Đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao, mà lại đi đâm đầu lấy một thằng không cha ( ) Nhục nhã ơi là nhục nhã! Hỡi ông cha nhà bà!” Lời lẽ viện dẫn để chửi mắng cô cháu thật thấu tình đạt lí quá mức Trong trường hợp ấy Thị Nở biết phải làm sao? Nhưng tất cả mọi lí lẽ, mọi viện dẫn, mọi lập luận đó đều nhằm để che đậy một động cơ thật của người đàn bà năm mươi tuổi ấy: cũng muốn được chung đụng xác thịt với một người đàn ông cho dẫu đó có là Chí Phèo
Bản chất của mọi toan tính, mọi hành động và lập luận của các nhân vật trong Chí Phèo đều không thoát khỏi những bản năng gốc ấy Có thể nói, Nam Cao đã thực hiện được sự đối thoại độc đáo giữa những vấn đề xã hội và những vấn đề thuộc về bản chất con người Ông đã ý thức rất rõ điều này nên trong văn bản khi miêu tả ngôn ngữ và hành động nhân vật, nhà văn đã không ít lần sử dụng lối giễu nhại: “bà tủi thân cho bà”, “bà gào lên như con mẹ dại”, “Con người ấy có quyền nói thế, bởi con người ấy năm mươi tuổi rồi, năm mươi tuổi còn ai lấy chồng.”
Như thế vì hai người phụ nữ không được thoả mãn dục tính libiđô, bà Ba và bà cô Thị Nở, nên một lần Chí
bị tống vào tù và lần khác thì Chí bị đoạn tuyệt quyền làm người, cụ thể ở đây là làm chồng Như thế nguyên nhân của mọi xung đột, của mọi vấn đề mang tính xã hội đều xuất phát từ những xung đột rất thầm kín, đầy bản năng của con người Tầng sâu của dục vọng xác thịt, tuy không được người kể đặc tả nhưng nó là xuất phát điểm
để tạo nên chuỗi xung đột tiếp theo, qua đó những vấn đề thời đại, xã hội mới có dịp phát lộ
2.3 “ANH HÙNG LÀNG NÀY CÓC THẰNG NÀO BẰNG TA!”
Bản năng tính dục và xâm hại chi phối mạnh mẽ cách xây dựng hệ thống nhân vật của thiên truyện Hầu hết các nhân vật trong truyện nếu không gặp bi kịch (vì đây là câu chuyện viết về bi kịch của cả người bị áp bức lẫn kẻ đi áp bức) về tính dục thì cũng gặp bi kịch về xâm hại Bảng thống kê sau sẽ cho chúng ta thấy rõ điều đó
Trang 24TÔN NGỌC MINH QUÂN 24
ai gọi là “cụ lớn mả”! Lão sống đến hơn năm mươi năm rồi mà chưa thấy một cụ lớn mả nào sốt! Chỉ có cái mả, cái mả đất Ai chết cũng thành cái mả, say sưa chết cũng thành cái mả, lo gì?” Chí Phèo tỏ ra đồng cảm với Tự Lãng và gián tiếp Tự Lãng giúp Chí thức tỉnh lương tri “Người ta đứng lên bằng cái gì?” Câu hỏi bâng quơ này lúc đó Chí Phèo chưa trả lời song nó hẳn vẫn đồng hành trong tâm trí Chí để ngay sau đó, Chí gặp Thị Nở bên bờ sông, nếm khoái cảm xác thịt, biết yêu và biết “đứng lên bằng cái gì” Các nhân vật nữ của Chí Phèo, trừ mụ hàng rượu, đều liên quan đến vấn đề tình dục Từ bà Ba, bà Tư đến Thị Nở, bà cô Thị Nở, vợ Binh Chức đến cô con gái của Tự Lãng đều phải đối đầu với vấn đề bản năng gốc của mình Ắt hẳn, Nam Cao thấu hiểu, thời của ông và cả ngàn năm trước đó, phụ nữ Việt Nam đều bị ẩn ức libiđô dày vò do phải khuôn theo lễ giáo phong kiến
Trong số mười hai nhân vật xuất hiện trong truyện thì chỉ có ba nhân vật liên quan đến cả hai bản năng Đấy là Chí Phèo, Bá Kiến và Binh Chức Binh Chức là nhân vật bổ trợ cho Chí Phèo, có cùng cảnh ngộ của Chí Nên
về cơ bản xung đột truyện xoay quanh bốn nhân vật, xếp theo trình tự kết quả sẽ như sau:
Theo sơ đồ này thì Chí Phèo chẳng có xung đột trực tiếp với Bá Kiến Bá Kiến chẳng cướp đoạt ruộng đất của Chí Phèo (như kiểu quan hệ anh Pha – Nghị Lại) hay có quan hệ với vợ của Chí (theo kiểu Bá Kiến và vợ Binh Chức) Rõ ràng, chỉ vì ghen tuông mà Bá Kiến cho Chí đi tù Mới hay khi lên cơn ghen thì con người ta dẫu khôn đến mấy cũng mù quáng và sức tố cáo sự bất nhân của kẻ lạm quyền và cả luật pháp phi lí của xã hội từ thiên truyện vì thế cũng sẽ tăng lên
Bá Kiến cho Chí đi tù, mới đọc đoạn đầu tác phẩm thì nguyên nhân cụ thể thì chẳng ai biết Người ta đưa
ra hai giả thuyết và cả hai đều liên quan đến bà Ba: bà Ba tin dùng Chí và bà Ba muốn Chí quan hệ xác thịt Nhưng đến gần cuối tác phẩm, khi Bá Kiến đợi mãi mà bà Tư không về, ông ta suy ngẫm về sự lẳng lơ của bà ta
và ao ước “muốn cho tất cả những thằng trai trẻ đi ở tù”, thì điều này lại góp phần xác minh lí do bị ở tù của Chí
từ hai giả thuyết trên
Ngoài những câu nói vận dụng tục ngữ (“Thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ nhì sợ kẻ cố cùng liều thân”) hoặc những câu đúc kết kinh nghiệm cụ thể “ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi dắt nó lên để nó đền ơn” thì câu chuyện còn rất thành công ở lối nói lấp lửng Chính cách nói này tạo ra biên độ mở cho tác phẩm, kích thích trí tưởng tượng của độc giả Chí Phèo xuất hiện ở cái lò gạch bỏ hoang Không ai biết xuất xứ cho nên người đọc tha hồ nghĩ cho Chí một xuất xứ Ngay đến cả câu nói của Bá Kiến: “Ai chứ anh với nó (Lí Cường) còn
có họ kia đấy” khi dỗ dành Chí, thì vẫn gợi cho người ta suy nghĩ Chí Phèo có quan hệ đặc biệt nào đó với Bá Kiến hoặc chí ít thì Bá Kiến cũng hiểu rất rõ lai lịch Chí Phèo
Trở lại với diễn biến trước cái chết của Chí Phèo Người kể tái hiện đầy dụng ý cảnh Bá Kiến bực mình trước việc bà Tư đi lâu về và ghen bóng ghen gió Lần này thì chẳng liên quan gì đến Chí nhưng cơn bực bội ấy đã khiến Bá Kiến mất khôn ngoan, không đủ sáng suốt để phán xét tình hình nên không thể xoa dịu cơn giận của Chí Chính cái libiđô tính dục kia (lúc này Bá Kiến đã ngoài sáu mươi, sức đã yếu) đã chóng đưa Bá Kiến đến cái chết
Trang 25TÔN NGỌC MINH QUÂN 25
Nếu Nam Cao bỏ qua đoạn miêu tả sự ghen tuông thầm kín này mà lập tức để cho Chí Phèo đâm chết Bá Kiến ngay sau câu nói đòi lương thiện thì ắt hẳn tác phẩm sẽ kém hấp dẫn và rất có thể rơi vào sự khuôn sáo, sách vở Phải để nhân vật sống những giây phút thật là người nhất thì mọi ý nghĩa xã hội cũng như bản thể nhân vật hiện lên hình tượng và sâu sắc hơn Nói không ngoa, nếu bà Ba gây hoạ cho Chí thì bà Tư gây hại cho Bá Kiến Cặp nhân vật này không chỉ liên quan đến sự thay thế vị trí của bản năng xâm hại mà còn là nạn nhân của tính dục
Điểm đặc biệt của thiên truyện là người kể không miêu tả trực tiếp bà Ba, trong khi đó thì Thị Nở và bà cô Thị Nở trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm Bà Ba hiện diện qua dòng hồi tưởng của người kể: “Người bà ấy phốp pháp, má bà ấy hây hây.” Nhưng chủ yếu, bà ta vẫn hiện rõ qua dòng hồi tưởng của chính Chí Phèo Dòng hồi tưởng này được người kể đọc lại: “Vả lại bị một con đàn bà gọi đến mà bóp chân! Hắn thấy nhục hơn là thích, huống hồ lại sợ ( ) Bà thấy xa xôi không được phải làm đến nơi Bà bảo hắn rằng: “Mày thực thà quá! Con trai gì hai mươi tuổi mà đã như ông già ( ) Chả nhẽ tao gọi mày vào chỉ để bóp chân thế này thôi ư?”
2.4 “NHƯNG HẮN THÈM LƯƠNG THIỆN”
Kí ức của Chí Phèo về bà Ba là kí ức về một phụ nữ nặc nô với tính dục bạo liệt, trơ trẽn Hắn thấy nhục vì đấy chẳng phải là yêu đương Điều đó chứng tỏ, dẫu cho được sinh ra nơi cái lò gạch bỏ hoang nhưng thiên lương Chí Phèo vẫn trong sáng Hắn vẫn luôn khao khát được sống cuộc đời bình thường “chồng cuốc mướn cày thuê,
vợ dệt vải” của một tình cảm yêu thương thực sự Vậy nên, hướng thiện là bản năng cốt lõi ở nhân vật này Thế nhưng, như nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập chính nhà tù thực dân phong kiến đã làm băng hoại thiên lương của Chí Trở lại làng Vũ Đại, Chí không có mong ước gì hơn là trả thù Bá Kiến, người gây ra tấn thảm kịch cho đời Chí Nhưng cách thức Chí Phèo sử dụng để đối đầu với Bá Kiến quả không phải là tối ưu: rạch mặt ăn vạ Mục đích là gây hoạ cho Bá Kiến Giả thiết đặt ra ở đây là tại sao ngay lần ấy Chí Phèo không đâm chết Bá Kiến mà phải đợi mãi sau này khi bị Thị Nở cự tuyệt, Chí mới hành động? Chí Phèo muốn dùng sức mạnh côn đồ để uy hiếp Bá Kiến nhưng thực chất việc làm của Chí lại bộc lộ sự yếu thế của Chí Chí phải mượn rượu, khi không có rượu, cái
sợ cố hữu trong Chí trỗi dậy Thì ra, trước Bá Kiến bao giờ Chí cũng sợ hãi nên ước muốn xâm hại để báo thù của Chí sẽ chẳng mang lại kết quả như mong muốn Cuối cùng, chính nỗi sợ hãi cố hữu của Chí đã biến Chí thành công cụ trong tay Bá Kiến
Cần lưu ý, Chí Phèo chỉ gây ra tội lỗi trong lúc say Say là biện pháp hữu hiệu để Chí chôn vùi ý thức Chí
sợ ý thức thức tỉnh sẽ mang lại cho mình nỗi đau đớn vô bờ Như thế, nếu tỉnh rượu, ý thức làm người của Chí sẽ trỗi dậy Nhưng đã trót thành quỷ dữ thì Chí khó có thể được xã hội chấp nhận trở lại vào cộng đồng những con người bình thường Chí luôn ý thức được điều đó Chính vì thế bi kịch của Chí diễn ra thường trực và ngay trước khi gặp Thị Nở, Chí đã tự trang bị cho mình một kiểu vô thức mới: vô thức của sự lãng quên
Đánh mất lịch sử, con người không còn là người nữa Chí không thể không nhớ nổi tuổi của mình mà không còn khả năng giao tiếp với xã hội Hắn mở miệng ra là chửi Sống trong lãng quên Chí muốn tự đánh mất mình Nhưng khi bản năng tính dục được khơi dậy, Chí móc nối cuộc đời quỷ dữ của mình với Thị Nở và hi vọng thị sẽ đưa Chí trở về với mọi người Xem ra, bản năng hướng thiện là bản năng có sức mạnh vô song hơn mọi bản năng khác Nó luôn chờ cơ hội để lên tiếng đòi quyền lợi chính đáng cho bản thân mình Chí muốn làm người lương thiện
2.5 “AI CHO TAO LƯƠNG THIỆN”
Bởi khi đã được nếm mùi nhục cảm, khi đã biết lắng nghe được tiếng nói của những con người bình thường, khi “nghĩ đến rượu” hắn biết “rùng mình” thì Chí không còn là quỷ dữ nữa Hắn mềm yếu như trước đây
đã từng mềm yếu Hắn ý thức ra rằng hắn không phải là kẻ mạnh mà “muốn ác, phải là kẻ mạnh” Do vậy, hắn không thể nào ác Hắn đã biết “hối hận về tội ác” Hàng loạt nhận thức này đang dần đưa Chí trở lại với cuộc đời, với bản tính thiện sơ khai của nó Nếu Thị Nở chấp nhận Chí
Nhưng giả thiết ấy sẽ chẳng bao giờ thành hiện thực Cho dù thị có “kiêu ngạo vì đã cứu sống cho một người,” cho dù thị “thấy ngường ngượng mà thích thích” khi nghĩ đến hai chữ vợ chồng thì thị vẫn chịu khuất phục bởi một bản năng xâm hại tối thượng: tính đố kị của con người, mà nguy hại thay lại là của người có quyền
uy tuyệt đối Bản năng tính dục trong Thị Nở không thắng được bản năng xâm hại của bà cô Đấy là điểm khác
Trang 26TÔN NGỌC MINH QUÂN 26
biệt giữa Thị Nở và Chí Phèo Và đấy là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cái chết của Chí Ở đây ta không thể trách Thị Nở Bởi ngay từ đầu Nam Cao đã cho thị là người dở hơi rồi cơ mà
Cho đến lúc chết, Chí Phèo không mạnh hơn Bá Kiến Thậm chí ngay với chính bản thân mình, Chí cũng chẳng mạnh hơn Hành động của Chí bao giờ cũng mượn qua hơi rượu Vậy nên hành động xâm hại của Chí lại chính là việc tự xâm hại chính bản thân mình Càng lún sâu vào con đường tội lỗi, Chí càng tự huỷ hoại hết nhân tính của mình Nhưng ngay chính việc mượn rượu để hành động đã nói lên sự khắc khoải về bản thể của kẻ lỡ sa
cơ này Xét từ góc độ này, Chí Phèo có nét gần gũi với Jean Valjean của Hugo Cả hai đều là nông dân lương thiện,
bị luật pháp bất công tống vào tù Nhà tù làm thay đổi tâm tính họ Sự ruồng rẫy của xã hội càng khiến họ thù hận con người Đến đây cách giải quyết của Nam Cao khác với Hugo và nó cũng cho thấy sự khác nhau cơ bản giữa hai bút pháp hiện thực và lãng mạn Nếu Hugo để Jean Valjean gặp linh mục Myriel, người đánh thức thiện tính trong Jean và hướng cuộc đời của người tù khổ sai đang tuyệt vọng ấy sang nẻo thiện, thì Nam Cao để cho Chí Phèo tìm đến rượu và đi trả thù Bá Kiến, một kẻ ác và thế là Chí trở thành kẻ ác Lôgích hành động của Chí Phèo là hợp lí nhưng vì thế thiên tính thiện trong con người này càng bị huỷ hoại và không có điều kiện toả sáng
Bản năng tính dục cũng như bản năng xâm hại trong tác phẩm đều chi phối Chí Phèo theo cả hai mặt tốt
và xấu Vì dục tính của bà Ba mà Chí phải đi tù Nhưng nhờ sự “hớ hênh” của Thị Nở mà thiên tính thiện trong Chí được đánh thức Cũng thế, vì bị Bá Kiến xâm hại nên Chí trở thành quỷ dữ làng Vũ Đại, song khi bản chất thiện trong Chí sống lại, Chí đã xâm hại trở lại Bá Kiến, giết chết y để chứng tỏ giá trị làm người của mình sẽ không bị phai mờ
Tính biện chứng trong vận động tính cách, hành vi của nhân vật thể hiện qua các mặt đối lập đã cho thấy
sự am hiểu sâu sắc của tác giả về bản chất của con người và quy luật vận động tất yếu của xã hội đặt trên sự vận động bản năng trong vô thức của từng cá thể Nam Cao vĩ đại là nhờ ông đã biết khai thác tối ưu những phạm trù
cơ bản của cõi vô thức của con người Chí Phèo vĩ đại là nhờ cho dù bản thân bị hủy hoại bởi hai bản năng
gốc xâm hại và tính dục từ người khác nhưng anh ta đã biết đứng lên bằng cả hai bản năng đó và sâu xa hơn nữa
là bằng sự tinh túy từ cốt cách của mọi bản năng: bản năng hướng thiện Đấy là điểm luôn gặp gỡ trong cách nhìn nhận về con người của bất kì cây bút trác tuyệt nào của nhân loại
Nam Cao có đọc Freud không, có biết những luận điểm kia của Phân tâm học trước khi sáng tác Chí Phèo hay không? Điều đó không quan trọng Nhưng không thể phủ nhận lí thuyết Freud trong tác phẩm của Nam Cao, đặc biệt là Chí Phèo Có lẽ bằng trực cảm thiên tài của một cây bút hiện đại, Nam Cao đã đi ngay vào quỹ đạo của lối viết đặc trưng của chủ nghĩa hiện đại, lối viết thiên về khai thác thế giới vô thức của con người
James Joyce là bậc thầy văn chương của nhân loại và Ulysses (1922) của ông xứng đáng với vị trí là cuốn tiểu thuyết số một của nhân loại suốt thế kỉ XX Bởi kể từ khi nó ra đời, nền văn xuôi của địa cầu thực sự đổi mới Cuốn tiểu thuyết viết dưới dạng dòng ý thức, khai thác các ẩn ức, chủ yếu là libiđô tính dục của nhân vật Nhờ chú
ý đến thế giới vô thức này nên James Joyce mới có được kiểu viết mang tính cách mạng đó Tuy nhiên khi được hỏi có chịu sự ảnh hưởng của Freud không, thì James Joyce thẳng thừng bác bỏ Nhưng cũng như Nam Cao, cái bóng của chủ nghĩa Freud thì không thể phủ nhận trong tác phẩm của hai ông
Dẫu chưa thể sánh ngang tầm James Joyce, nhưng Nam Cao cũng đã tạo được dấu ấn thiên tài của mình trong nền văn chương quốc nội Dẫu chưa tạo được cuộc cách mạng về ngôn từ mang tầm cỡ thế giới, nhưng Chí Phèo của Nam Cao vẫn luôn là kiệt tác, luôn nhận được sự yêu quí của người Việt Đặt trọng tâm cái nhìn trần thuật vừa lên vô thức nhân vật vừa dẫn dắt đến những xung đột cơ bản của cá nhân, thời đại, Nam Cao cũng đã tạo được lối viết lạ cho tác phẩm Ngôn ngữ kể chuyện của ông luôn có ý thức xâm nhập vào cõi bí ẩn trong vô thức con người Điều đó không chỉ giúp sáng tác của ông thành công ở phương diện tư tưởng mà còn mang lại một giọng điệu độc đáo cho Chí Phèo
Phân tâm học của Freud quả thực đã tác động mạnh mẽ đến văn học Nó không chỉ chỉ ra một cách thuyết phục các bản năng gốc, mà còn giúp các nhà văn tài ba ở thế kỉ XX kiến tạo nên kiểu ngôn ngữ mới lạ Dĩ nhiên, ngay trước khi Freud xuất hiện, những biểu hiện về bản năng xâm hại và tính dục đã xuất hiện trong nhiều kiệt tác văn chương Xuất hiện một cách vô thức Và dẫu cho ngay cả khi Freud khẳng định được tiếng nói của mình, thì chưa hẳn các nhà sáng tác đã biết đến lí thuyết của ông Có thể Nam Cao thuộc nhóm tác giả này Nhưng nhờ
Trang 27TÔN NGỌC MINH QUÂN 27
Freud mà người đọc có thể hiểu sâu hơn về tác phẩm và có cơ sở để đưa ra những nhận định về sự bất tử của tác phẩm Chí Phèo có được sự trường cửu cũng nhờ đã chạm đến những vấn đề cốt tủy trong tồn tại của con người, những bản năng mà Phân tâm học đã nêu ra và cả những bản năng mà nhờ Phân tâm học con người mới suy luận tiếp
(1) Phê bình – lí luận văn học Anh Mĩ, Lê Huy Bắc sưu tập và giới thiệu, NXB Giáo dục, 2004 tr 117-118
Nhà văn Nam Cao: Day dứt phận người
(Toquoc)- Trong cuộc đời cầm bút, Nam Cao luôn day dứt về phận người Ông rất có ý thức về quan điểm nghệ thuật của mình phải gắn liền với đời sống lầm than của người lao động Vì thế Nam Cao đã không mất nhiều thời gian để tìm đến với thứ văn chương “tả chân” mà sau này các nhà lý lý luận phê bình gọi là dòng văn chương hiện thực phê phán Ông cho rằng thứ văn chương “tô hồng” cuộc đời, không dám nhìn thẳng vào sự thật như dòng văn học lãng mạn đương thời là thứ văn chương ru ngủ, làm người ta quên đi không dám đấu tranh tự giải phóng mình Sự thật, hiển nhiên bao giờ cũng là “tàn nhẫn”, nhưng người ta cần phải nhìn thẳng vào đấy để mà vượt thoát ra, tìm cho mình con đường sống khác tốt đẹp hơn
Trong truyện ngắn Đời thừa (1943), ông khẳng định một tác phẩm văn học phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh
mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi; ca tụng tình yêu, bác ái, công bằng và “Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có” Ông đòi hỏi nhà văn phải có lương tâm, có nhân cách xứng với nghề; và cho rằng sự cẩu thả trong văn chương chẳng những là bất lương mà còn là đê tiện
Sau 1945, từ khi tham gia kháng chiến chống Pháp, những mong đem văn chương phục vụ lợi ích dân tộc
là trên hết Nhật ký ở rừng (1948) là tác phẩm có giá trị của văn xuôi thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, thể hiện quan niệm “sống đã rồi hãy viết” và “góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này là chính để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn” của nhà văn tài ba này
Khi so sánh về hai tác giả của dòng văn chương hiện thực phê phán trước cách mạng tháng Tám, Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Nếu như tác phẩm của Ngô Tất Tố là tiếng kêu cứu đói, thì ở tác phẩm của Nam Cao lại là tiếng kêu cứu lấy nhân cách, nhân phẩm, nhân tính của con người đang bị cái đói và miếng ăn làm cho tiêu mòn đi, thui chột đi, huỷ diệt đi.” Còn nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung đã viết: “Trong sáng tác, Nam Cao đã nhiều lần
đề cập và ca ngợi nước mắt Nhân vật tiểu tư sản của ông… thường là những người hay bị hối hận giày vò và thường khóc vì hối hận Đó không phải là thứ hối hận ồn ào, hời hợt của những kẻ lấy việc xỉ vả mình để khoe khoang, cũng không phải thứ hối hận có chu kỳ của nhiều kẻ tiểu tư sản dùng để xoa dịu cái lương tâm rách nát của mình trong khi vẫn buông mình theo cái xấu Mà đó là sự giằng xé chảy máu của những tâm hồn trung thực, khát khao lương thiện Với Nam Cao, nước mắt là biểu tượng của tình thương và giọt nước mắt là “giọt châu của loài người”, là “miếng kính biến hình vũ trụ.”
Quan điểm nghệ thuật từ nỗi day dứt phận người của Nam Cao được thể hiện rõ nhất trong tác phẩm tiêu biểu nhất của ông: Chí Phèo
Nếu so sánh với các hình tượng văn học trước đó, Chí Phèo không giống các tướng lĩnh, các hiệp sĩ, các anh hùng hảo hán theo kiểu Lục Vân Tiên hay Từ Hải trong văn học cổ; các nho sĩ, thư sinh trong truyện nôm khuyết danh; hay các cậu ấm cô chiêu trong dòng văn học lãng mạn những năm đầu thế kỷ XX Tất cả các hình tượng trên
là sự minh họa cho những mẫu người sống theo những tôn chỉ chính trị, đạo đức hay tôn giáo Nói đúng hơn họ là những phương tiện để chở cái đạo theo quan niệm của nhà nho
Đương nhiên tất cả các hình tuợng về những mẫu người lý tưởng ấy đều đáng để cho chúng ta trân trọng
và khâm phục một thời Họ là những con người của một thời sống có mục đích, có lý tưởng, dù đó là lý tuởng chính trị, đạo đức hay tôn giáo Họ dám xả thân cho một cái gì đó mà họ tin là có thật Họ không cần giữ lại gì cho riêng mình, ngay cả “một tấm hình, một dòng địa chỉ” Thực chất những con người bằng xương bằng thịt đó đã trở thành
Trang 28TÔN NGỌC MINH QUÂN 28
những hình tượng văn chương phi ngã trong diễn trình văn học Việt Nam Họ đã sống cho người khác mà không sống cho mình
Nhưng lịch sử càng lùi xa thì những mẫu người đó ngày càng trở nên xa lạ hơn với công chúng và với ngay chính bản thân chủ thể sáng tạo ra nó Ngay cả những người vừa rút chân ra khỏi cuộc chiến, đại bộ phận đã không thể sống theo gương những vị chúa phi tôn giáo của thời chiến được Cứu nước là nhiệm vụ chung của cả cộng đồng, dân tộc Còn cứu mình dường như là việc riêng của mỗi người Có thể nói những mẫu người chiến đấu vì lý tưởng chung đã một thời ăn sâu vào máu thịt mỗi cá nhân và cả cộng đồng người Việt như cơm ăn, nước uống, rất đáng ghi nhận
Thế nhưng, cả những người ngoài cuộc, những người trong cuộc, và cả những kẻ sinh sau đẻ muộn đã nhanh chóng tự tạo cho mình cách tồn tại riêng khi cuộc sống đã có những bàn giao lịch sử của nó Thực ra, những người chỉ biết sống theo những giáo lý áp đặt từ bên ngoài thì chỉ có một cách ứng xử duy nhất là tiến lên phía trước, tử vì đạo Từ đời này sang đời khác nó trở thành lẽ phải thông thường trong nhận thức của người đời “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” đích thị đấy là một lẽ phải thông thường và đã trở thành truyền thống đạo đức của người Việt mỗi khi đất nước có giặc giã Và lẽ đương nhiên là những người có công trong đánh giặc nhanh chóng được đề cao như một mẫu người lý tưởng sống xả thân vì mọi người
Theo tôi, Chí Phèo là một trong những hình tượng văn học hiện thực theo đúng nghĩa của nó Bản thân hắn không mang trong mình bất cứ một định đề tôn giáo, chính trị, đạo đức nào có sẵn Trước hết, hắn tồn tại như bất
cứ một sự vật nào Mọi hành vi của Chí Phèo dù lúc tỉnh hay lúc say, dù ở nhà mình, ở ngoài miếu, khi đi mua rượu chịu hay là đến xin đểu cha con Lý Cường cũng chỉ là cái cách tồn tại của một Chí Phèo làng Vũ Đại Hắn chưa bao giờ biết mình sinh ra để làm gì và có thực sự đang sống trên thế gian này hay không
Câu tuyên ngôn cuối cùng của Chí Phèo ở nhà Bá Kiến trước lúc hắn rút dao ra đâm chết lão Bá để rồi tự đưa mình về cõi vĩnh hằng của chúng sinh là “Tao cần lương thiện” Thực ra Chí Phèo chưa bao giờ là kẻ ác, ngay
cả khi hắn đi cướp giật hay xin đểu Một người như Chí Phèo chẳng thể nào ác với ai được Hắn ta không có mưu
đồ hại người thì làm sao có thể làm được điều ác Cái ác chỉ có thể có ở những kẻ mạnh tiền của, quyền lực và mưu mẹo Những thứ đó Chí Phèo chưa bao giờ có Sự trớ trêu của cuộc đời là người lương thiện đến như Chí Phèo lại luôn bị ám ảnh mình là kẻ bất lương, nên cần phải đòi cho bằng được lương thiện từ lão Bá Còn những kẻ bất lương như gia đình lão Bá lại luôn nghĩ mình là người lương thiện, và luôn lấy làm đắc chí, hãnh diện về điều đó, mỗi khi họ cầm những đồng tiền bẩn thỉu do những mánh lới thâm độc hay cướp giật trắng trợn của dân nghèo
mà có, dúi vào tay Chí Phèo như là của bố thí
Nỗi ám ảnh về thân phận làm người của Chí Phèo là một đối trọng tất yếu của cơ sở kinh tế xã hội, các thiết chế chính trị và đạo đức đương thời Nếu những kẻ như gia đình lão Bá là người thì những người như Chí Phèo là con giun, con dế và ngược lại Nhưng dù là giun dế, sâu mọt hay là người thì trước hết vẫn phải sống Cuộc chiến giữa một bên là Năm Thọ, Binh Chức, Chí Phèo và bên kia là những Đội Tảo, Tư Đạm, Bát Tùng và cha con nhà lão
Bá Kiến, không đơn giản chỉ là cuộc đấu tranh giai cấp như các nhà nghiên cứu trước đây thường nghĩ, mà theo tôi trước hết đó là cuộc vật lộn sinh tồn Tính chất của cuộc vật lộn này gay gắt, quyết liệt và sâu sắc hơn nhiều những cuộc đấu tranh vì các quyền lợi chính trị, kinh tế và đạo đức
Trong cuộc chiến sinh tồn không hẳn kẻ có nhiều tiền của, quyền lực và lắm mưu mẹo lúc nào cũng thắng
Rõ ràng Chí Phèo luôn dồn cha con Bá Kiến vào thế chân tường, mặc dù thế và lực của họ luôn tỏ ra mạnh hơn hẳn
Họ luôn phải xuống thang từng bước để cuối cùng lão Bá nhận lấy cái chết giản đơn như là sự kết thúc tấn bi hài kịch của một loại thú hình nhân Chí Phèo chống lại Bá Kiến không hẳn là vì những cái mà trước đây người ta vẫn cho rằng hắn đấu tranh nhằm lật đổ tầng lớp thống trị xã hội
Không! Hắn cần tiền uống rượu thì lão Bá đã cho, cần ruộng vườn nhà cửa thì cũng đã có Các nhu cầu về kinh tế vật chất với hắn như vậy xem ra là đã đủ Vậy Chí Phèo còn cần gì nữa? Một mụ đàn bà để thực hiện hành
vi tính dục để duy trì nòi giống ư? Thì đã có Thị Nở đấy thôi! Cái duy nhất mà Chí Phèo cần là lương thiện
Nhưng nếu lương thiện chỉ là những quan hệ giao hòa với đồng loại thì Chí Phèo đâu có thiếu Hắn không chỉ đối xử tử tế với Thị Nở mà còn đem lại hạnh phúc cho Thị để đến khi hắn chết đi thị vẫn thầm biết ơn là mình