1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Truyn thong xa hi trong vic giao dc

20 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 443,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hạn chế này có thể được thể hiện ở sự nghèo nàn trong tiếp cận công nghệ, hình thức thể hiện, độ chính xác của các thông tin, sự riêng tư của người truy cập… Tuy nhiên, với việc chỉ ra n

Trang 1

Hội thảo Quyền con người và những vấn đề đặt ra cho báo chí – truyền thông trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Tên bài viết: Truyền thông xã hội trong việc giáo dục và phổ biến các vấn đề quyền con người cho thanh niên tại Việt Nam: những triển vọng và thách thức

Phan Thanh Thanh

Viện Nghiên cứu Con người

Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Giới thiệu

Quyền con người là một nội dung lớn của thế giới ngày nay Để thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, mỗi quốc gia cần phải thường xuyên chú trọng giáo dục quyền con người Là thành viên của các công ước quốc tế về quyền con người, Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực thực hiện các cam kết của mình; đồng thời chủ động hợp tác với các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong nhiều hoạt động trên lĩnh vực quyền con người Những năm qua, các hình thức phổ cập về quyền con người luôn được nhà nước ta chú trọng Nhiệm vụ của giáo dục quyền con người là giải thích cho mọi người về các quyền và tự do căn bản của họ, đồng thời nâng cao nhận thức của các nhà chức trách về ý nghĩa và nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền con người Thông qua các biện pháp có tính định hướng, con người sẽ hiểu rõ hơn về các quyền của mình, từ đó có thể chủ động đấu tranh cho quyền lợi của chính mình cũng như của người khác

Nhiệm vụ đặt ra cho báo chí, truyền thông ở nước ta là phải tuyên truyền và phổ biến các kiến thức về quyền con người ở Việt Nam cũng như trên thế giới, bảo vệ con người trước mọi hành vi

vi phạm quyền con người và các tự do căn bản của họ, đồng thời tạo điều kiện để việc đàn áp, sự chuyên quyền hay bóc lột con người không có cơ hội được diễn ra Việc tuyên truyền, giáo dục quyền con người qua truyền thông, báo chí là một nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc hòa bình Nó là một công việc thiết yếu, giúp mọi người hiểu rõ và cảm thông các vấn đề khác nhau

về quyền con người, giúp phân tích những sự đối lập không có thực và chỉ ra những cái chung nhằm xây dựng cầu nối và cuối cùng là tạo ra các mối quan hệ thẳng thắn giữa người với người

Trang 2

và giữa các cộng đồng với nhau mà trong đó mỗi người đều có thể tự do bày tỏ quan điểm cá nhân của mình

Việt Nam là một nước có dân số trẻ và có tỷ lệ người truy cập internet cao trong khu vực và trên thế giới, truyền thông xã hội ở nước ta cũng ngày một phát triển với tỷ lệ những người dùng internet truy cập mạng xã hội ngày càng cao Công nghệ thông tin nói chung và truyền thông xã hội nói riêng trong nhiều năm qua đã chứng minh được vai trò của nó trong việc truyền bá, phổ biến và trao đổi các kiến thức trên thế giới một cách mạnh mẽ tại Việt Nam, đặc biệt trong các nhóm thanh niên trẻ Có thể thấy rằng, đây chính là một lợi thế mà chính phủ và giới truyền thông cần phát huy để truyền bá các kiến thức về quyền con người nhanh chóng đặc biệt hướng tới đối tượng thanh niên Bởi lẽ thanh niên là những người thường đi đầu về công nghệ và thuyền thông xã hội sẽ giúp thanh niên tiếp cận và sử dụng các thông tin về quyền con người một cách chủ động và hiệu quả Tuy nhiên, cũng cần nói thêm rằng, thanh niên tại các vùng đô thị thường

có lợi thế hơn trong việc tiếp nhận thông tin qua mạng, vì thế liệu các thông tin về quyền con người này có được phổ biến rộng rãi với nhóm thanh niên ở các khu vực nông thôn hẻo lánh hay không vẫn còn là một câu hỏi chưa có lời giải

Bên cạnh đó, có thể thấy rằng, việc giáo dục nói chung và giáo dục quyền con người nói riêng qua truyền thông xã hội trong hiện tại sẽ vẫn còn gặp những hạn chế nhất định Hạn chế này có thể được thể hiện ở sự nghèo nàn trong tiếp cận công nghệ, hình thức thể hiện, độ chính xác của các thông tin, sự riêng tư của người truy cập… Tuy nhiên, với việc chỉ ra những triển vọng mà

nó có thể mang lại, các trang web của chính phủ, của các tổ chức, viện nghiên cứu, trường đại học, dự án nghiên cứu có thể tiếp cận tới đông đảo công chúng của mình (chủ yếu là đối tượng thanh niên) thông qua hình thức truyền thông xã hội như Facebook và YouTube để tuyên giáo dục và phổ biến những kiến thức cơ bản và nâng cao về quyền con người tại Việt Nam

Các khái niệm được sử dụng

Truyền thông xã hội

Truyền thông xã hội được định nghĩa là “tập hợp một nhóm các ứng dụng dựa trên internet được xây dựng dựa trên nền tảng tư tưởng và công nghệ của web 2.0, và điều này cho phép người

Trang 3

dùng tự sáng tạo ra nội dung” (Mergel, et Al., 2009) Truyền thông xã hội được xây dựng dựa dựa trên cơ sở của web 2.0 Các trang web và ứng dụng của nó bao gồm: các diễn đàn, blog, mạng xã hội, bách khoa toàn thư, trang web tin tức xã hội, trang chia sẻ hình ảnh… Sự phát triển của truyền thông xã hội đang trở nên phổ biến trên toàn thế giới Mạng 2.0 đề cập đến nền tảng internet cho phép sự tham gia tương tác của người sử dụng Mạng 2.0 là phương tiện truyền thông xã hội tiện dụng cho phép người dùng trên toàn thế giới có thể lấy thông tin từ các trang web Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của internet Ngày càng có nhiều người bắt đầu sử dụng mạng xã hội để chia sẻ các tin tức hàng ngày Bằng việc lướt các trang mạng xã hội, mọi người có thể tìm hiểu/nghiên cứu về những thông tin cụ thể từ những chủ đề khác nhau

Facebook

Facebook là một loại hình của truyền thông xã hội và là một trang mạng xã hội nổi bật nhất Facebook bắt đầu được ra mắt vào năm 2004, là một mạng xã hội trên internet nơi mọi người có thể tạo ra các hồ sơ cá nhân, chia sẻ thông tin như ảnh, các câu chuyện của chính họ và kết nối với các trang thông tin khác được đăng tải bởi những người khác Facebook là một trong những công cụ lớn nhất của mạng 2.0 và đã có hơn 350 triệu người sử dụng trên 180 quốc gia, với 70 % người sử dụng nằm ngoài nước Mỹ (Facebook Press Room, 2009)

Youtube

Youtube cũng là một loại hình của truyền thông xã hội YouTube được sáng lập vào năm 2005 và

đã trở thành một trang internet thành công nhất trong việc cung ứng dịch vụ video, được xếp hạng 2 trong tổng số các trang mạng xã hội (Xu, et al., 2008) YouTube cho phép người dùng tạo

ra nội dung của riêng mình và dễ dàng tải video clip lên trang web, và chia sẻ chúng với những người dùng khác trên khắp thế giới Đây là một công cụ rất hiệu quả và thuận tiện cho người sử dụng đồng thời cũng giúp người dùng chủ động hơn trong việc tiếp cận thông tin

Thanh niên Việt Nam

Theo Pew Research Center năm 2010, thuật ngữ “Thế hệ Y” bao gồm những người sinh từ những năm 1980 đến năm 1996 “Thế hệ X” là những người sinh từ năm 1965 đến năm 1979,

“Baby boomers” là những người sinh sau thế chiến thứ II từ năm 1946 đến năm 1964 và cuối cùng “The silent” là những người sinh trước và trong chiến tranh thế giới thứ II từ năm 1928 đến

Trang 4

năm 1945 Thêm vào đó, với một câu hỏi nghiên cứu (được thực hiện trên toàn thế giới bao gồm

cả Việt Nam) về liệt kê năm giá trị quan trong nhất của một thế hệ, thế hệ Y đã trả lời như sau: đầu tiên đó là việc sử dụng công nghệ, thứ hai là văn hóa âm nhạc, thứ ba là sự tự do hóa, thứ thư

là sự thông minh và cuối cùng là phong cách ăn mặc (Pewinternet.org, 2010) Trong đó, có hai giá trị rất đáng chú ý là giá trị về việc sử dụng công nghệ và giá trị về sự tự do hóa

Thuật ngữ thanh niên Việt Nam dùng để chỉ cả nam và nữ, bắt đầu từ khoảng từ độ tuổi từ 15 đến

18 tuổi và kết thúc vào khoảng độ tuổi từ 30 đến 35 tuổi, ít nhiều có tương quan với tuổi quy định cho các thành viên trong Đoàn thanh niên (Valentin 2007: 303) Nhìn chung, thay vì chấp nhận một cách vô điều kiện các giá trị và chuẩn mực đạo đức của những thế hệ trước hay từ nhà trường, thanh niên Việt Nam ngày càng tiếp cận với nhiều nguồn thông tin khác nhau đặc biệt từ các phương tiện truyền thông để xây dựng cho bản thân những quan điểm riêng của mình (Nilan 1999)

Những cách tiếp cận về quyền con người

Quyền con người trên thế giới

Theo Báo cáo phát triển con người năm 2000 của UNDP, quyền con người và phát triển con người có chung tầm nhìn và mục đích Theo đó, các chỉ số phát triển con người được sử dụng trong Báo cáo phát triển con người của UNDP gồm một số chỉ số như tiếp cận giáo dục, an ninh lương thực, các dịch vụ y tế, bình đẳng giới, và tham gia chính trị đều liên quan trực tiếp với quyền con người Những quyền này có mối quan hệ mật thiết và không thể tách rời nhau

Uỷ ban quyền con người Liên hiệp quốc đã soạn thảo hai công ước, một về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), và một về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) Do Chiến tranh lạnh nên đến năm 1966 hai công ước này mới được thông qua và có hiệu lực vào năm 1976 sau khi đã được 35 nước phê chuẩn Đến ngày 01/01/2006, lần lượt ICCPR đã có 155 thành viên và ICESCR đã có 152 thành viên ICESCR được thông qua lần đầu tiên thể hiện sự ưu tiên của các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của phần lớn các nước xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển mới trong Liên hiệp quốc Ngày nay, quyền con người được thừa nhận là một khái niệm toàn cầu như được ghi nhận trong tuyên bố của Hội nghị Thế giới Vienna về quyền con người

Trang 5

năm 1993 và các nghị quyết của Liên hiệp quốc đã được thông qua nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày ra đời của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1998

Trước đây, một số quốc gia hay nhóm các quốc gia cụ thể như là các quốc gia xã hội chủ nghĩa

đã ưu tiên các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa hơn là các quyền dân sự và chính trị, trong khi Hoa Kỳ và các quốc gia thành viên của Hội đồng Châu Âu lại thể hiện sự ưu tiên các quyền công dân và chính trị hơn Các nước phát triển phương Tây chủ yếu nhấn mạnh vào các quyền và tự

do cá nhân và chính trị dân sự, được xác định là một yếu tố trọng tâm của dân chủ Trong khi đó, các nước đang phát triển lại nhấn mạnh vào các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội Do đó, có thể thấy chưa có một sự thoả thuận phổ quát nào trong khái niệm về nhân quyền ở các quốc gia Châu

Âu, Châu Mỹ, Châu Phi do các chính phủ đưa ra các khái niệm khác nhau về nhân quyền (Mai,

T T H., 2008)

Tuy nhiên, tại Hội nghị Quốc tế về quyền con người ở Teheran vào năm 1968 cũng như tại Hội nghị Quốc tế về quyền con người ở Vienna vào năm 1993, cuộc tranh luận không có ý nghĩa này

đã được giải quyết bởi việc công nhận cả hai phạm trù hay xu hướng về quyền con người này là quan trọng như nhau Tại hội nghị Teheran vào năm 1968, hai nhóm quyền này được ghi nhận là không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau vì sự hưởng thụ đầy đủ các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa dường như là không thể có nếu như không có các quyền dân sự, chính trị và ngược lại

Điều 1 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) đã được Liên hiệp quốc thông qua vào năm 1948 đề cập đến các trụ cột chính của hệ thống quyền con người, ví dụ như tự do, bình đẳng và đoàn kết Tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo cũng như tự do quan điểm và tự do biểu đạt Tương tự như vậy, quyền con người cũng bảo đảm sự bình đẳng, chẳng hạn như bảo vệ quyền bình đẳng chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử trong hưởng thụ tất cả các quyền con người, bao gồm quyền bình đẳng đầy đủ giữa nam và nữ Sự đoàn kết thể hiện trong các quyền kinh tế và xã hội, như quyền được hưởng an ninh xã hội, được trả công, và có một mức sống đầy

đủ, quyền về sức khoẻ và tiếp cận giáo dục là một phần không thiếu trong khuôn khổ quyền con người

Công ước Quốc tế về Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (1966)

Trang 6

Công ước về Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa đã được thông qua tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào tháng 12 năm 1966 Nó chỉ có hiệu lực sau mười năm vào ngày 3 tháng 1 năm 1976 vì các quốc gia cần nhiều thời gian để phê chuẩn Công ước này Công ước này chỉ ra rằng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa là một điều kiện quan trọng để con người đạt được tự do khỏi

sợ hãi và tự do trong mong muốn Điều này có nghĩa là mọi người đều có quyền được đến trường, tham gia vào đời sống văn hóa, tận hưởng những lợi ích từ tiến bộ khoa học, được hưởng lợi từ việc bảo vệ các quyền lợi tinh thần và vật chất của họ được thụ hưởng từ thành quả của khoa học, văn học nghệ thuật, cũng như các quyền đối với mức sống thỏa đáng, thực phẩm, quần

áo, nhà ở, và cải thiện điều kiện cho bản thân và gia đình và các tiêu chuẩn cao nhất về sức khỏe, thể chất và đời sống tinh thần

Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự (1966)

Công ước về các quyền chính trị và dân sự được thông qua tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào tháng 12 năm 1966, nhưng chỉ có hiệu lực từ ngày 23 tháng 3 năm 1976 Nó khẳng định các quyền dân sự và chính trị là một điều kiện quan trọng để đạt được tự do khỏi sợ hãi và tự do trong mong muốn Cụ thể hơn, các dân tộc có quyền tự quyết định chính trị của họ và theo đuổi

sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của họ Đàn ông và phụ nữ có quyền bình đẳng trong việc thụ hưởng tất cả các quyền dân sự và chính trị

Quyền con người tại Việt Nam

Trong suốt chiều dài lịch sử, loài người luôn đấu tranh nhằm giải phóng con người, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong thời gian dài dân tộc Việt Nam bị nước ngoài

đô hộ, phải gánh chịu những hy sinh to lớn để giành lại độc lập dân tộc và tự do của Tổ quốc Bằng cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường qua nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng, quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình Đây cũng chính là nguyên tắc có tính nền tảng về quyền tự quyết dân tộc đã được khẳng định trong Hiến chương Liên hiệp quốc và tại Điều 1 của

cả 2 Công ước quốc tế cơ bản nhất của Liên hợp quốc về quyền con người: Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội, Văn hoá và Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị

Trang 7

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập ra nước Việt Nam mới, lúc sinh thời luôn có một ước vọng: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" Ý nguyện đó của Người phản ánh khát vọng của nhân dân Việt Nam, thực hiện những giá trị thiết yếu về quyền con người, là mục đích, tôn chỉ hoạt động xuyên suốt của Nhà nước Việt Nam Dân tộc Việt Nam, không phân biệt già trẻ, gái trai, sắc tộc, tôn giáo đã đoàn kết một lòng, vượt qua mọi thử thách, gian khổ, hy sinh để giành và giữ các quyền cơ bản đó

Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước Nhà nước Việt Nam khẳng định con người là trung tâm của các chính sách kinh

tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người

Từng là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, sự vi phạm lớn nhất quyền con người, hơn ai hết Việt Nam hiểu rõ rằng quyền con người vừa mang tính phổ biến, thể hiện khát vọng chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương của Liên hợp quốc, vừa có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng Chính phủ Việt Nam cho rằng, trong một thế giới ngày càng đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội, các giá trị văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực

Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hoá của mình cho một quốc gia khác Việt Nam cho rằng, cần tiếp cận một cách toàn diện tất cả các quyền con người về dân

sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá trong một tổng thể hài hoà, không được xem nhẹ bất cứ quyền nào Đồng thời, các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội Việc chỉ ưu tiên hoặc tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và một số

Trang 8

quyền tự do cá nhân, không quan tâm thích đáng đến quyền phát triển, các quyền kinh tế, xã hội

và văn hoá của cả cộng đồng là cách đề cập phiến diện, không phản ánh đầy đủ bức tranh toàn cảnh về quyền con người

Chính phủ Việt Nam cho rằng, việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trước hết là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia (Mai, T T H., 2008) Các quốc gia có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên hợp quốc có tính đến hoàn cảnh của mỗi nước để bảo đảm cho người dân được thụ hưởng quyền con người một cách tốt nhất Do khác biệt về hoàn cảnh lịch

sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa… nên cách tiếp cận về quyền con người của mỗi quốc gia có thể khác nhau Việc hợp tác và đối thoại giữa các quốc gia

để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu cần thiết và khách quan

Việt Nam ủng hộ việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên cơ sở đối thoại bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vì mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền con người Việt Nam cũng cho rằng không nước nào có quyền sử dụng vấn đề quyền con người làm công cụ can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia, gây đối đầu, gây sức ép chính trị, thậm chí sử dụng vũ lực hoặc làm điều kiện trong quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với nước khác

Trong một thế giới ngày càng thuộc lẫn nhau, các quyền con người chỉ có thể được tôn trọng và bảo vệ trong một môi trường hòa bình, an ninh, bình đẳng và phát triển bền vững, trong đó các giá trị nhân bản được tôn trọng và bảo vệ Cuộc đấu tranh vì các quyền con người cần tiến hành đồng thời với các biện pháp ngăn chặn các cuộc chiến tranh, xung đột, khủng bố, nghèo đói, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia đang hàng ngày, hàng giờ đe doạ hòa bình, an ninh, độc lập và phồn vinh của mọi quốc gia, ngăn cản việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trên toàn thế giới

Trang 9

Các quan điểm nêu trên của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc, nội dung cơ bản và

xu thế phát triển theo hướng tiến bộ của luật pháp quốc tế nói chung và trong lĩnh vực quyền con người nói riêng Xuất phát từ chủ trương không ngừng phát triển quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã và đang xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm các quyền con người được tôn trọng và thực hiện một cách đầy đủ nhất Quyền con người, một khi đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, sẽ trở thành ý chí chung của toàn xã hội, được xã hội tuân thủ

và được pháp luật bảo vệ

Ngay sau khi giành được độc lập năm 1945, quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và sau đó tiếp tục được khẳng định, mở rộng trong các Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 (sửa đổi năm 2001) Hiến pháp Việt Nam năm 1992, văn kiện pháp lý cao nhất của Nhà nước Việt Nam, đã ghi nhận một cách trang trọng, rõ ràng và toàn diện các quyền con người (tại các điều 2 và 50) và nội dung các quyền này

đã được thể hiện xuyên suốt trong các chương, mục của Hiến pháp, đặc biệt được nêu tập trung tại Chương 5 về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Nội dung của quyền con người tại Việt Nam mới đây nhất đã được sửa đổi và bổ xung tại chương II, hiến pháp 2013 từ điều 14 đến điều 49

Các quyền con người quy định trong Hiến pháp đã không ngừng được cụ thể hóa trong các văn bản pháp quy của Việt Nam Chỉ tính từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã ban hành 13.000 văn bản pháp luật các loại, trong đó có hơn 40 bộ luật và luật, trên 120 pháp lệnh, gần 850 văn bản của Chính phủ và trên 3000 văn bản pháp quy của các bộ, ngành đã được thông qua và thực thi

… Riêng trong năm 2004, Quốc hội đã thảo luận và thông qua 13 luật và 8 pháp lệnh trong các lĩnh vực khác nhau

Như vậy, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam đã thể hiện đầy đủ tất cả các quyền cơ bản, phổ biến của con người được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948 và các công ước quốc

tế khác của Liên hợp quốc về quyền con người Điều này chứng tỏ những tiến bộ vượt bậc và những cố gắng rất lớn của Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền

Trang 10

con người trong bối cảnh Việt Nam còn đang trong quá trình xây dựng một Nhà nước pháp quyền, khi tình hình kinh tế, xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn

Các hiệp ước về quyền con người mà Việt Nam đã ký

Trong suốt những năm 1980, Việt Nam đã ký kết một số hiệp ước nhân quyền quan trọng Hiệp ước về chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ đã được ký kết vào ngày 28 tháng bảy năm 1980

và phê chuẩn ngày 17 tháng hai năm 1982; cùng năm vào ngày 09 tháng 7, Việt Nam tham gia Hiệp ước về Hiệp ước chống phân biệt chủng tộc vào ngày 29 tháng bảy năm 1980 Công ước về Quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

đã được ký kết vào ngày 24 tháng 9 năm 1982 quyền của trẻ em đã được ký kết vào ngày 26 tháng 1 1990 và phê chuẩn ngày 28 tháng 2 năm 1990 Từ 2001-2003 Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp Quốc

Triển vọng của truyền thông xã hội với việc phổ biến quyền con người

Theo một nghiên cứu của Fenwick, H M and Phillipson, G thực hiện năm 2006, Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng 70% các chính phủ Châu Á không sử dụng mạng 2.0 (mạng xã hội) để tiếp cận những đối tượng khán giả sử dụng internet Trong khi đây là một công cụ hữu ích để truyền tải các thông tin, giáo dục và các dịch vụ du lịch Xu hướng này đối ngược lại với xu hướng sử dụng công cụ web 2.0 tại các quốc gia phát triển Do vậy cần thiết phải cung cấp một mức độ dịch vụ tốt hơn hướng tới một đối tượng người sử dụng rộng lớn hơn và bên cạnh đó chính phủ cũng cần thay đổi thái độ quản lý dựa vào mạng xã hội với các chính sách và phương pháp sáng tạo hơn nhằm tận dụng công cụ này

Với sự gia tăng của người sử dụng mạng 2.0 và các nguồn truyền thông xã hội rộng lớn, chính phủ vẫn chưa tận dụng được những ưu thế của phương tiện này trong việc truyền tải và phổ biến thông tin cho các đối tượng khác nhau Cách tiếp cận hiện nay của chính phủ còn thiếu những định hướng chiến lược Để có thể cung cấp được dịch vụ tốt hơn và tiếp cận được nhiều người hơn, các cơ quan của chính phủ nên thay đổi thái độ quản lý của mình về việc sử dụng các công

cụ truyền thông xã hội và tạo ra các phương pháp và chính sách sáng tạo để sử dụng những công

cụ này một cách có hiệu quả

Ngày đăng: 17/12/2021, 15:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w