1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài thảo luận Nhập môn Tài chính- Tiền tệ

36 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 341 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thảo luận Nhập môn Tài chính- Tiền tệNhóm 8 Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại làm "cầu nối" giữa ngườithừavốn và người thiếu vốn và nó đã không chỉ đem lại lợi

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế, nhu cầu về vốn đầu tư và các nguồn liên tiết kiệm cóthể phát sinh từ những chủ thể khác nhau Những người có cơ hội sinh lời thìthiếu vốn, trái lại những người có vốn nhàn rỗi thì lại không có cơ hội đầu tư

Vì vậy, cần phải có một cơ chế chuyển vốn từ những nơi có vốn dư thừa đếnnhững nơi đang cần vốn Việc đi vay, cho vay và góp vốn này được thực hiệnqua các trung gian tài chính như: ngân hàng, các tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm

và cho vay, các công ty bảo hiểm hay các tổ chức trung gian đầu tư…các trunggian tài chính đều đóng vai trò cầu nối giữa hai bên đi vay và cho vay, cầu nốigiữa công ty và nhà đầu tư Do đó, vai trò của những tổ chức này rất quan trọngtrong hoạt động của nền kinh tế Trong các loại hình tổ chức trung gian tàichính thì Ngân hang thương mại có hoạt động gần gũi nhất với người dân vàthị trường tài chính Mọi công dân đều chịu tác động của ngân hàng, dù họ làkhách hàng gửi tiền, một người vay hay đơn giản là người đang làm việc chomột doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng các dịch vụ ngân hàng Cũng giốngnhư các tổ chức tài chính khác, ngân hàng thương mại luôn phải kinh doanh bằngtiền của người khác và chính điều ấy, ất kỳ một sự sụp đổ nào của bất kỳ mộtngân hàng thương mại nào, thông thường nếu không có những biện pháp xử líthông minh và khéo léo đều có thể lây lan, mà hậu quả là sự sụp đổ của hàng loạtngân hàng gây thiệt hại lớn

Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính có giới hạn hoạt động rộnglớn và đa dạng, là doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính đadạng đối với tất cả các chủ thể kinh tế Với vai trò và dịch vụ trên, ngân hàngtrở thành” cửa hàng bách hóa tổng hợp các hoạt động tài chính” Để tồn tại

và phát triển, các ngân hàng thương mại phải không ngừng hoàn thiện hoạtđộng kinh doanh của mình, nâng cao chất lượng quản trị nhằm đạt mục đích cuốicùng là tối đa hóa lợi nhuận.Trong đề tài thảo luận này chúng tôi sẽ nói rõ hơn vềvai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế và liên hệ thực tế ngân hàngthương mại ở Việt Nam

Trang 2

MỤC LỤC

I/ Tổng quan về ngân hàng thương mại 3

1 Ngân hàng thương mại 3

1.1 Khái niệm 3

1.2 Bản chất của Ngân hàng thương mại 3

1.3 Phân loại ngân hàng thương mại 3

1.4 Quá trình ra đời của ngân hàng thương mại trên thế giới 4

2 Chức năng của ngân hàng thương mại 5

3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng thương mại 8

II/ Vai trò của Ngân hàng thương mại 10

1 NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế……… 10

2 NHTM là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường ……… .11

3 NHTM là một công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế………… 11

4 NHTM góp phần phân bổ hợp lý các nguồn lực……….………11

5 NHTM tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW….11 6 NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế………12

III/ Thực tiễn ở Ngân hàng thương mại Việt Nam 14

1 Quá trình ra đời của ngân hàng thương mại Việt Nam 14

2 Thực trạng ngân hàng thương mại Việt Nam 14

2.1 Thành tựu 15

2.1 Hạn chế 16

3 Những khó khăn trong phát triển ngân hàng thương mại Việt Nam 25

4 Giải pháp phát triển ngân hàng thương mại Việt Nam 30

Tài liệu tham khảo 36

Trang 3

1 Ngân hàng thương mại:

1.1 Khái niệm:

Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp,

tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó

để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên

 Mục tiêu cuối cùng phải đạt được là lợi nhuận

- Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh tiền tệ vàdịch vụ ngân hàng

1.3 Phân loại ngân hàng thương mại:

1.3.1 Căn cứ theo tính chất sở hữu :

- Ngân hàng sở hửu tư nhân: là ngân hàng do cá nhân thành lập bằng vốn của chính

họ Ở Việt Nam chưa có loại hình này

- Ngân hàng sở hữu nhà nước: là ngân hàng mà vốn sở hũu do nhà nước cấp

- Ngân hàng cổ phần: là loại hình ngân hàng được thành lập dưới hình thức công ty

cổ phần, trong đó các doanh nghiệp , tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế xã hội vàcác cá nhân cùng góp vốn kinh doanh

- Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của hai haynhiều bên Ở Việt Nam loại hình này thường được thực hiện giữa ngân hàng trongnước với ngân hàng nước ngoài để tận dụng các uu thế của nhau

Trang 4

1.3.2 Căn cứ vào sự chuyên môn hóa trong hoạt động tín dụng:

+ Ngân hàng thương mại chuyên doanh: là ngân hàng này chỉ tập trung cung cấp một

số dịch vụ ngân hàng, như chỉ cho vay đối với xây dựng cơ bản, hoặc đối với nôngnghiệp, hoặc chỉ cho vay ( không bảo lãnh hoặc cho thuê) Tính chuyên môn hóa cao chophép ngân hàng có được đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ, tuy vậyloại ngân hàng này thường gặp rủi ro rất lớn khi ngành hoặc lĩnh vực hoạt động mà ngânhàng phục vụ sa sút Ngân hàng đơn năng có thể là ngân hàng nhỏ, phạm vi hoạt độnghẹp, trình độ cán bộ không đa dạng, hoặc là những ngân hàng sở hữu của công ty

+ Ngân hàng thương mại hỗn hợp : là ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng chomọi đối tượng, đây là xu hướng hoạt động chủ yếu hiện nay của các ngân hàng thươngmại, ngân hàng đa năng thường là ngân hàng lớn Tính đa dạng sẽ làm ngân hàng tăng thunhập và hạn chế rủi ro

1.4 Quá trình ra đời của ngân hàng thương mại trên thế giới

Giai đoạn thứ nhất : từ thế kỉ thứ V đến thế kỉ XVII

Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng được phát triển và hoàn thiện như nghiep

vụ ghi chép sổ sách, hình thành các số hiệu tài khoản, theo dõi quản lý đến từng đối tượngcho vay, mục đích cũng như nguồn vốn cho vay Nghiệp vụ chuyern tiền và bảo lãnhhình thành cuối thế kỉ thứ x, sau đó nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu ra đời và pháttriển Sang thể kỉ xvii, nghiệp vụ cơ bản cua mỗi ngân hàng tương đối hoàn thiện, baogồm : nhận tiền gửi, cho vay Phát hành tiền giấy co khả năng chuyển đỏi ra vàng , chiếtkhấu thương phiếu , chuyển tiền, thanh toán bù trừ và bảo lãnh Một só ngân hàng tmđược thành lập ở giai đoạn này như hà lan, thụy điển, anh quốc, hoa kỳ

Giai đoạn thứ hai : từ thế kỉ XVIII đến cuối thế kỉ XIX

Hoạt động lưu thông hàng hóa được mở rộng và phát triển Các ngân hàng đều

có quyền phát hành tiền Tiền do các ngân hàng lớn có uy tín phát hành dần dần chiếmlĩnh thị trường và đẩy tiền các ngân hàng nhỏ ra khỏi lưu thông Tình trạng này gây bất ổnđịnh trong lưu thông tiền tệ nhà nước và buộc phải can thiệp nhằm thiết lập trật tự vathông nhất cho việc phat hành tiền Kết quả can thiệp này là các ngân hàng được chiathành 2 bộ phận : bộ phận thứ nhất là các ngân hàng được phép phát hành tiền giấy đượcgoi la các ngân hàng phát hành, bộ phận thứ 2 là các ngân hàng không được phép pháthành tiền mà chỉ làm trung gian tín dụng và trung gian thanh toán trong nền kinh tế, đượcgọi là ngân hàng trung gian

Trang 5

Giai đoạn thứ ba : từ đầu thế kỷ XX đến nay

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 -1933 đã để lại nhiều ảnh hưởng lớntrong việc phát hành tiền tệ và chinh sách tiền tê Các nước lần luợt quốc hữu hóa ngân

hàng phát hành độc quyền Trong giai đoạn này, khái niệm Ngân hàng thương mại đã ra

đời thay thế cho khái niệm "ngân hàng phát hành độc quyền" Cũng trong thời kí đó, cácngân hàng trung gian phát triển mạnh ở các nước Âu -Mỹ Các nước thuộc địa, bán thuộcđịa ở các lục địa Á, Phi , Mỹ - La tinh

Thời kỳ đầu các ngân hàng thương mại thực hiện các hoạt động như : nhận tiền gửikhông kỳ hạn hoặc có thời hạn ngắn ngày Cho vay ngắn hạn và thực hiện các dịnh vụthanh toán Về sau, ngân hàng thương mại mở rộng các nghiệp vụ huy động vốn với thờigian dài hơn, thực hiện các khoản tín dụng trung, dài hạn và đầu tư tài chính Ngân hàngthương mại tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau như : ngân hàng thương mạinhà nước; ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng thương mại liên doanh, ngân hàngthương mại tư nhân

Như vậy từ thế kỉ XX đến nay, hệ thống ngân hàng ở hầu hết các nước được phân thành

hệ thống ngân hàng hai cấp : ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại

2 Chức năng của ngân hàng thương mại

2.1 Chức năng làm trung gian tín dụng.

Hoạt động chính của ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay Điều đó chứng tỏrằng một trong các chức năng quan trọng của ngân hàng thương mại là làm trung gian tíndụng

Thông qua việc huy động khai thác các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trongnền kinh tế, ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay để cấp tín dụng cho nền kinh tế Vớichức năng này ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò làngười cho vay

Chức năng trung gian tín dụng được mô tả qua sơ đồ sau:

Đầu tư

Cho vay

Ngân hàng thương mại

Chủ thể cầu vốn :

Gửi tiền

Trang 6

Bài thảo luận Nhập môn Tài chính- Tiền tệ

Nhóm 8

Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại làm "cầu nối" giữa ngườithừavốn và người thiếu vốn và nó đã không chỉ đem lại lợi ích cho những người dư thừavốn và những người thiếu vốn mà còn đem lại lợi ích kinh tế cho bản thân nó và nền kinh

tế Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãisuất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới, 80% lợi nhuận của ngân hàngcông thương - ngân hàng thương mại quốc doanh là thông qua hoạt động cho vay Lợinhuận này chính là cơ sở cho ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển Đối với nềnkinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nóđáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộngquy mô sản xuất Với chức năng này, ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt độngthành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh

Đây chính là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó quyết định

sự duy trì và phát triển của ngân hàng đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng sau

2.2 Chức năng trung gian thanh toán

Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra thanh toán hộ chokhách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác theo yêu cầu của

họ Thông qua chức năng này ngân hàng đóng vai trò là người "thủ quỹ" cho các doanhnghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tiền của khách hàng, chi tiền hộ cho kháchhàng Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì chức năng này của ngân hàng ngày càngđược mở rộng

Chức năng trung gian thanh toán được mô tả qua sơ đồ sau:

- Nhà nước

Trang 7

Khi thực hiện chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại thường thựchiện các nghiệp vụ cơ bản sau:

 Mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho khách hàng

 Quản lý và cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng

 Tổ chức kiểm soát quy trình thanh toán cho khách hàng

Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống ngân hàng thương mại gópphần phát triển nền kinh tế Khi khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng sẽ làmgiảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốnkinh doanh của khách hàng nhanh hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàngtăng Đối với ngân hàng thương mại chức năng này góp phần tăng lợi nhuận của ngânhàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vốn cho vay củangân hàng thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng Chức năng này cũngchính là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại

2.3 Chức năng tạo tiền ghi số ( bút tệ )

Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: từ một số dự trữban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của ngân hàng thìlượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớn hơn so với lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần,gọi là quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng

Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiền gửi của kháchhàng tại ngân hàng sẽ có số dư Với số tiền này sau khi đã để lại một khoản dự trữ bắtbuộc, ngân hàng sư đem đi đầu tư, cho vay từ đó nó sẽ chuyển sang vốn tiền gửi của ngân

Người

trả

tiền

Ngân hàng thương mại

Yêu cầu thanh toán

Kết quả thanh toán

Yêu cầu thanh toán

Người thụ hưởng

Trang 8

hàng khác Với vòng quay của vốn thông qua chức năng tín dụng và thanh toán của ngânhàng Ngân hàng thương mại thực hiện được chức năng tạo tiền.

2.4 Mối quan hệ giữa các chức năng của ngân hàng thương mại

Các chức năng của ngân hàng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợcho nhau Chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất tạo cơ sở cho việc thựchiện các chức năng khác Chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanhtoán là tiền đề để ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra bút tệ Đồng thời, khi ngânhàng thương mại thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lạigóp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng

3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng thương mại.

3.1 Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục sản phẩm dịch vụ

Quá trình mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ đã tăng tốc trong những năm gần đâydưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác, từ sự hiểu biết và đòi hỏicao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ Nó cũng làm tăng chi phí của ngânhàng và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn Các sản phẩm dịch vụ mới đã có ảnh hưởng tốtđến ngành công nghiệp này thông qua việc tạo ra những nguồn thu mới cho ngân hàng –các khoản lệ phí của dịch vụ không phải lãi, một bộ phận có xu hướng tăng trưởng nhanhhơn so với các nguồn thu truyền thống từ lãi cho vay

3.2 Sự gia tăng cạnh tranh

Các ngân hàng thương mại cung cấp tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch

vụ tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng Đây là những dịch vụ đangphải đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng,ngân hàng đầu tư Merrill Lynch, các công ty tài chính như Ge Capital và các tổ chức bảohiểm như Prudential Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triểndịch vụ cho tương lai, đòi hỏi các ngân hàng phải hiện, đại hóa công nghệ dịch vụ sảnphẩm của mình, hội nhập với thế giới, nỗ lực tạo ra những sản phẩm dịch vụ tiện lợi, thanthiện và an toàn

3.3 Sự gia tăng chi phí vốn.

Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí trung bình thực tếcủa tài khoản tiền gửi – nguồn vốn cơ bản của ngân hàng Với sự nới lỏng các luật lệ,ngân hàng buộc phải trả lãi do thị trường cạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi

Trang 9

Đồng thời, chính phủ yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn – mộtnguồn vốn đắt đỏ - để tài trợ cho các tài sản của mình Điều đó buộc họ phải tìm cách cắtgiảm các chi phí hoạt động khác Các ngân hàng cũng buộc phải tìm các nguồn vốn mớinhư chứng khoán hóa một số tài sản, theo đó một số khoản cho vay của ngân hàng đượctập hợp lại và đưa ra khỏi bảng cân đối kế toán; các chứng khoán được đảm bảo bằng cácmón vay được bán trên thị trường mở nhằm huy động vốn mới một cách rẻ hơn và đángtin cậy hơn Hoạt động này cũng có thể tạo ra một khoản thu phí không nhỏ cho ngânhàng.

3.4 Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất

Nguồn vốn (nợ phải trả) nhạy cảm lãi suất là các khoản nợ mà trong đó chi phí lãi suất

sẽ thay đổi trong thời gian nhất định khi lãi suất thay đổi

Các qui định của chính phủ đối với công nghiệp ngân hàng tạo cho khách hàng khả năngnhận được mức thu nhập cao hơn từ tiền gửi, nhưng chỉ có công chúng mới làm cho các

cơ hội đó trở thành hiện thực Hàng tỷ USB trước đây được gửi trong các tài khoản tiếtkiệm thu nhập thấp và các tài khoản giao dịch không sinh lợi kiểu cũ đã được chuyểnsang các tài khoản có mức thu nhập cao hơn, những tài khoản có tỷ lệ thu nhập thay đổitheo điều kiện thị trường Ngân hàng đã phát hiện ra rằng họ đang phải đối mặt với nhữngkhách hàng có giáo dục hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn Các khoản tiền gửi “trung thành”của họ có thể dễ tăng cường khả năng cạnh tranh trên phương diện thu nhập trả cho côngchúng gửi tiền và nhạy cảm hơn với ý thích thay đổi của xã hội về vấn đề phân phối cáckhoản tiết kiệm

3.5 Cách mạng trong công nghệ ngân hàng

Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đangchuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựatrên lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấptín dụng

Trang 10

II/ Vai trò của ngân hàng thương mại:

Đất nước ta đang trong thời kì đổi mới, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xãhội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước Để có một nền kinh tế phát triển vững mạnh taphải có một hệ thống các yếu tố cơ bản cần thiết cho quá trình phát triển Hệ thống trunggian tài chính nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng góp một phần quan trọngtrong guồng máy của toàn bộ hệ thống Nó là cầu nối giữa các chủ thể trong nền kinh tế,làm cho các chủ thể gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau, tăng sự liên kết và năng động của toàn bộ

hệ thống Cho dù đứng ở góc độ nào mà xét ta đều không thể phủ nhận vai trò quan trọngcủa hoạt động ngân hàng thương mại

2.1 Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế

Vốn của các ngân hàng thương mại phần lớn là các khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trongsản xuất kinh doanh được gửi vào ngân hàng với những mục đích khác nhau

Thực tế cho thấy, để phát triển kinh tế các đơn vị kinh tế cần phải có một lượng vốnlớn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác Nhưng điều khókhăn hơn lợi ích là cần có người đứng ra tập trung tiền nhàn dỗi ở mọi nơi mọi lúc và kịpthời cung ứng cho nơi cần vốn Bằng vốn huy động được trong xã hội thông qua hoạtđộng tín dụng, ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đápứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất Nhờ có hoạt động của hệ thốngngân hàng thương mại và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân cóđiều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ để tăng năng suất lao động,nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm cho xã hội.Thực hiện được điều này, ngân hàng thương mại huy động và tập trung các nguồn vốnnhàn rỗi trong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này ngân hàng thương mại sẽ đáp ứngđược nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh Qua đó thúc đẩy nền kinh tếphát triển

Ngân hàng thương mại vừa là người đi vay vừa là người cho vay và với số lãi suất chênhlệch có được nó sẽ duy trì họat động của mình

Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu, tráiphiếu,… ngân hàng thương mại có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư;chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếu côngty…

Trang 11

2.2 Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường.

Bước sang cơ chế thị trường, đòi hỏi sự phát triển của tín dụng ngân hàng đã làm biếnđổi hoạt động ruỗng lát trong các nhà máy, xí nghiệp khơi dậy sức sống bằng các dâychuyền sản xuất hiện đại năng suất cao, thực hiện chuyển giao công nghệ từ các nước tiêntiến Điều không thể thực hiện bằng vốn tự có của các doanh nghiệp vốn dĩ đã rất ít ỏi.bêncạnh đó, tín dụng ngân hàng còn cung cấp một phần vốn không nhỏ trong việc tăng cườngnguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp Một vấn đề luôn là mối lo thường trực của cácdoanh nghiệp.một khía cạnh khác đòi hỏi sự có mặt của tín dụng ngân hàng đối với doanhnghiệp Đó là một ngân quỹ để dành cho việc đào tạo đội ngũ lao động phù hợp với sựphát triển của khoa học - kỹ thuật - công nghệ cao Đặc biệt trong điều kiện nước ta vẫncòn thiếu nhiều những chuyên gia đầu ngành, những cán bộ có năng lực và những côngnhân lành nghề

2.3 Ngân hàng thương mại là một công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Cùng với sự vận động của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng được chia làm hai cấp: ngânhàng nhà nước và các ngân hàng thương mại Nhưng công thương được nhà nước cấp vốncho hoạt động và sử dụng như công cụ để quản lý hoạt động tiền tệ, điều tiết chính sáchtiền tệ quốc gia Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường thông quahoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng thương mại trong hệ thống từ đó gópphần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông và thông qua việc cung ứng tíndụng cho các ngành trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt cácluồng tiền tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệuquả

2.4 Ngân hàng thương mại góp phần phân bổ hợp lý các nguồn lực giữa các ngành,vùng trong nền kinh tế quốc dân và tạo điều kiện cân đối nền kinh tế.

Với chức năng trung gian tín dụng, các ngân hàng thương mại trở thành cầu nối giữangười cung vốn và người cầu vốn, vốn sẽ được di chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu và từnơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi sử dụng có hiệu quả hơn Qua đó, một mặt, ngân hàngthương mại góp phần hình thành, duy trì và phát triển nền kinh tế theo một cơ cấu ngành

và khu vực nhất định Mặt khác, các ngân hàng thương mại góp phần điều chỉnh ngành,khu vực khi xuất hiện sự phát triển mất cân đối hoặc khi cần có sự thay đổi cho phù hợpvới yêu cầu của thị trường

2.5 Ngân hàng thương mại tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương

Trang 12

Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về ngân hàng trung ương Tuy nhiên, để thựcthi chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương phải sử dụng các công cụ như lãi suất, dự trữbắt buộc, thị trường mở, mà các ngân hàng thương mại lại chính là các chủ thể chịu sựtác động trực tiếp của các công ty này Các ngân hàng thương mại đóng vai trò cầu nốitrong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế Bởi vì hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng thương mại thường gắn liền với các hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp, các tổ chức và các chủ thể khác trong nền kinh tế (thông quahoạt động huy động vốn,cho vay,thanh toán,và các dịch vụ khác của ngân hàng) Mặtkhác, cũng qua ngân hàng thương mại, tình hình giá cả, công ăn việc làm, nhu cầu tiềnmặt, lãi suất tỷ giá của nền kinh tế được phản hồi về ngân hàng trung ương, để chính phủ

và ngân hàng trung ương có những chính sách điều tiết thích hợp

2.6 Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế.

Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, sự hội nhập kinh tế quốc gia với thếgiới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bềnvững Một trong các điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy sự hội nhập nền kinh tế quốcgia với nền kinh tế thế giới đó là nền tài chính quốc gia Nền tài chính quốc gia là cầu nốivới nền tài chính quốc tế thông qua hoạt động của ngân hàng thương mại trong các lĩnhvực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối vàcác nghiệp vụ khác Đặc biệt là các hoạt động thanh toán quốc tế, buôn bán ngoại hối,quan hệ tín dụng với các ngân hàng nhà nước của ngân hàng thương mại trực tiếp hoặcgián tiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua

đó ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với

sự vận động của nền t

Trong nền kinh tế thị trường ,khi các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ ngày càng được mởrộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nêncần thiết và cấp bách Việc phất triển kinh tế ở các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triểncủa nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó.vì vậy nền tàichính của mỗi quốc gia cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế và ngân hàngthương mại với các hoạt động của mình đã đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong sựhoà nhập này Với các nghiệp vụ như thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụkhác ngân hàng thương mại tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển.Thông qua hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối quan hệ tín dụng với các ngânhàng thương mại nước ngoài ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền tàichính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế

Trang 13

Kết luận: Ngân hàng thương mại ra đời và ngày càng phát triển dựa trên cơ sở nền

sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển và nền kinh tế càng phát triển càng cần đến sựhoạt động của ngân hàng thương mại Với vai trò quan trọng của mình ngân hàng thương mại trở thanh một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

Trang 14

III/ Liên hệ thực tiễn ngân hàng thương mại Việt Nam.

3.1 Quá trình ra đời của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Ở Việt Nam ngày 6/5/1951 chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/Sl thành lập ngânhàng quốc gia Việt Nam, với tổng giám đốc đầu tiên là cố phó chủ tịch nguyễn lươngbằng, chính thức khai sinh một ngành kinh tế rất trọng yếu của nhà nước - ngành ngânhàng Ngân hàng quốc gia Việt Nam ban đầu có những nhiệm vụ chủ yếu là: quản lý việcphát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ, quản lý kho bạc nhà nước, huy động vốn

và cho vay phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, quản lý các hoạt động tín dụng bằngbiện pháp hành chính, quản lý ngoại hối và các khoản giao dịch bằng ngoại tệ và đấutranh tiền tệ với địch Ngày 21/1/1960 ngân hàng quốc gia Việt Nam được đổi tên thànhNgân hàng nhà nước Việt Nam, đến năm 1975 các chính sách và cơ chế quản lý kinh tếcũng như hệ thống tiền tệ -ngân hàng theo mô hình ở miền Bắc đã áp dụng thống nhấttrong cả nước Song do nhiều nguyên nhân mà trong nhiều năm liên tục, cán cân thanhtoán quốc tế bội chi rất lớn, kinh tế vĩ mô mất cân đối nghiêm trọng, tình hình tài chínhtiền tệ căng thẳng, lạm phát phi mã tới 3 con số (774%), sản xuất đình trệ

Đại hội Đảng lần thứ 6 đã đề ra đường lối đổi mới cho đất nước, 2 pháp lệnh ngân hàngđươc công bố ngày 24/5/1990 là cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định sự thay đổi mạnh

mẽ của ngân hàng: Từ ngân hàng một cấp thành ngân hàng hai cấp Ngân hàng nhà nướcViệt Nam là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ tín dụng và là Ngân hàng Trung ương,

hệ thống Ngân hàng thương mại với chức năng kinh doanh Hoạt động kinh doanh trênlĩnh vực tiền tệ, qua thực tiễn đã yêu cầu đưa hoạt động ngân hàng vào khuôn khổ phápluật cao hơn, hai pháp lệnh ngân hàng đã được tổng kết, nâng lên thành hai luật đượcthông qua và có hiệu lực thi hành từ 1/10/1998

Từ đây, ngành Ngân hàng đã đóng góp rất nhiều cho sự nghiệp cách mạng chung củadân tộc và phát triển ngày càng lớn với 4 ngân hàng thương mại quốc doanh 31 chi nhánhcủa 26 ngân hàng nước ngoài, 4 ngân hàng liên doanh, 35 ngân hàng thương mại cổ phần,

959 quỹ tín dụng nhân dân và một số công ty tài chính khác Các nghiệp vụ ngân hàng đãtrở nên sâu rộng, đa dạng, phong phú và tăng lên nhanh chóng, huy động vốn tăng gấptrên 1000 lần so với năm 1986 và gấp 21 lần so với năm 1990, cho vay nền kinh tế tănggấp 28 lần so với năm 1990

3.2 Thực trạng ngân hàng thương mại ở Việt Nam:

Thời gian qua hệ thống ngân hàng thương mại đã có những bước phát triển đáng kể cả

về quy mô tài sản, mạng lưới giao dịch, sản phẩm dịch vụ, cũng như hệ thống công nghệngân hàng Ngân hàng thương mại Việt Nam đã thực hiện tương đối đầy đủ các vai trò

Trang 15

trong vai trò chung của hệ thống ngân hàng hiện nay và đạt được những thành tựu đángkể.

3.2.1 Thành tựu:

Phát triển nhanh về số lượng và nguồn vốn sở hữu: sau khi đổi mới, nhất là từ khi gianhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hệ thống các NHTM VN đã có bước pháttriển nhanh về mặt số lượng Tính đến tháng 10/2012, hệ thống các NHTM VN có 39NHTM cổ phần, 1 NHTM nhà nước, 54 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng100% vốn nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh Chính sự phát triển nhanh về mặt sốlượng, cho đến nay hệ thống các NHTM đã có mạng lưới bao phủ đến tất cả các tỉnh,thành phố trong cả nước, đặc biệt có NHTM đã xây dựng hệ thống các chi nhánh bao phủđến tận huyện, thậm chí là tới các xã, liên xã; mạng lưới của hệ thống NHTM trải rộngkhắp đến các vùng, miền của đất nước, qua đó ngày càng đáp ứng nhu cầu sử dụng sảnphẩm dịch vụ ngân hàng của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước

Bên cạnh đó, dưới áp lực tăng vốn điều lệ nhằm đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hộinhập kinh tế quốc tế, cũng như đáp ứng yêu cầu theo quy định tại Nghị định số141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ thì đến năm 2010, vốn điều lệ tối thiểucủa các ngân hàng thương mại phải đạt 3.000 tỷ VND Đến nay, các ngân hàng đã thựchiện xong quy định vốn pháp định tối thiểu, trong đó một số ngân hàng còn có số vốnđiều lệ khá cao như: VCB, BIDV, Viettinbank, Agribank, ACB , các chi nhánh ngânhàng nước ngoài cũng dần tăng quy mô vốn điều lệ để đảm bảo hoạt động từ trên 15 triệuUSD Dưới đây là một số ngân hàng thương mại có vốn điều lệ lớn tại VN:

Đơn vị tính: tỷ đồng

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước VN

1 NH TMCP Ngoại Thương VN (Vietcombank) 23.174

3 NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn VN 20.708

Trang 16

- Dư nợ cho vay tăng nhanh trong những năm vừa qua: trên thực tế, hệ thống NHTM

VN đã và đang đóng vai trò chi phốithị phần tín dụng (86,47% toàn hệ thống) Tính đếnhết tháng10/2012, dư nợ cho vay toàn ngành kinh tế đạt 2.939.892 tỷ đồng [6], đây lànguồn vốn đáng kể góp phần cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước, cũngnhư góp phần xóa đói, giảm nghèo và ổn định trật tự xã hội

- Chính sách quản lý ngoại hối từng bước được tự do hóa: việc thực hiện chính sáchquản lý ngoại hối đã được tiến hành theo hướng đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền quản lýnhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các địa phương, đồngthời tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân thực hiện các giao dịch ngoại hối, từ đógiúp Ngân hàng Nhà nước VN (NHNN) có điều kiện tập trung nghiên cứu cơ chế,chính sách theo mô hình ngân hàng trung ương hiện đại Bên cạnh đó, NHNN đã xóa bỏnhiều loại giấy phép theo hướng phù hợp dần với yêu cầu hội nhập quốc tế, từng bướcđáp ứng được yêu cầu của cải cách hành chính, tạo ra sự thông thoáng hơn cho hoạt độngkinh tế đối ngoại

- Hệ thống công nghệ ngành ngân hàng đã có sự tiến bộ rõ rệt:

Điều này được thể hiện rất rõ là nếu như trước đây, trong khâu thanh toán phải mất thờigian từ 1 ngày đến hàng tuần mới thực hiện hoàn chỉnh một giao dịch thanh toán, thì ngàynay nhờ có đổi mới công nghệ, thời gian thanh toán đã được rút ngắn chỉ được tính bằngphút, thậm chí bằng giây Hơn thế nữa, nhờ có đổi mới công nghệ mà hệ thống ngân hàngthương mại đã đưa ra được rất nhiều các sản phẩm dịch vụ giá trị gia tăng dựa trên nềntảng công nghệ thông tin, chẳng hạn như: dịch vụ như ATM, POS, EDC, InternetBanking, Telephone Banking, ngân hàng trực tuyến từ đó đã góp phần không nhỏ trongviệc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, cũng như góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thônghàng hóa phát triển

Bên cạnh việc thực hiện những mặt tốt và đạt thành tựu đáng kể ấy thì ngân hàng thươngmại vẫn tồn tại những mặt hạn chế nhất định

3.2.1 Hạn chế

Thứ nhất, về năng lực cạnh tranh

Một hệ thống ngân hàngkhông thể phát triển bền vững, năng lực cạnh tranh cao trongbối cảnh năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp Về các chỉ số phát triển tài chính, báocáo phát triển tài chính 2009 của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) xếp hạng Việt Namđứng thứ 49 trên 52 nước được đánh giá Hầu hết các chỉ số được xếp hạng cạnh tranh

Trang 17

thấp, chỉ có chỉ số ổn định tài chính, chỉ số về quy mô và hiệu quả của lĩnh vực ngân hàngđược xếp hạng cao.

Việt Nam Malaysia Indonesia PhilippineTổng tài sản (tỷ USD) 127,66 386,25 213,98 119,52

Tổng dư nợ tín dụng (tỷ USD) 73,10 208,85 119,42 61,59

Bảng: So sánh lĩnh vực ngân hàng Việt Nam với các nước trong khu vực

(Nguồn: chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ Việt Nam đến năm 2020 và tầmnhìn đến năm 2025, trang 264)

Ghi chú: *: lợi nhuận trước thuế

Xét trong nội bộ ngành ngân hàng, sự có mặt của các ngân hàng nước ngoài đã làm tăngsức ép cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Các ngân hàng nước ngoài không chỉ cạnh

Trang 18

tranh với các ngân hàng trong nước trong việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại,

mà còn cạnh tranh ngay cả về các sản phẩm truyền thống như tín dụng, thanh toán, nhậntiền gửi v.v Mặc dù các ngân hàng Việt Nam có lợi thế so sánh về mạng lưới, về kháchhàng truyền thống nhờ vai trò lịch sử nhưng kém hơn so về năng lực cạnh tranh với cácngân hàng nước ngoài về mức độ hiện đại hóa công nghệ ngân hàng , về nguồn nhân lực,

về trình độ quản trị hoạt động và vấn đề quản lý rủi ro

Một số công trình nghiên cứu cho rằng: một tổ chức tín dụng có khả năng cạnh tranh cần

có các đặc điểm sau:

 Năng lực sáng tạo

 Năng lực phân bổ và tái phân bổ danh mục tài sản và nợ

 Năng lực cải thiện năng suất và quản lý nguồn lực

 Khả năng thanh toán, vốn và thanh khoản

Hoạt động ngân hàng đầu tư và kênh phân phối điện tử đã tăng trưởng nhanh chóngnhưng tính tiện tích và hiệu quả kinh tế chưa cao Các hoạt động tiền tệ, lãi suất, công cụ

tỷ giá, công cụ phát sinh ngoại hối, đầu tư vẫn trong giai đoạn đầu Thị trường dịch vụngân hàng vẫn phát triển dưới mức tiềm năng, các mô hình cạnh tranh còn đơn giản Mức

độ đáp ứng nhu cầu xã hội đối với dịch vụ ngân hàng chưa cao do những hạn chế về sốlượng, chất lượng và khả năng tiếp cận Cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ, công nghệ

và thương hiệu chưa phổ biến, nên dễ dẫn tới sự bất ổn của thị trường dịch vụ, do đó dễtạo ra sự cạnh tranh về giá (lãi suất) để lôi kéo khách hàng của nhau

Nếu dịch vụ ngân hàng không được cải tiến mạnh mẽ, phát triển dịch vụ chưa theo địnhhướng nhu cầu của khách hàng, thì hệ thống ngân hàng trong nước sẽ khó duy trì thị phầncủa mình, nhất là khi sự phân biệt giữa ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài

Ngày đăng: 17/12/2021, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w