Tuy nhiên đáp trả lại những phản ứng mạnh mẽ của cácnước thì quan điểm của Chính phủ Trung Quốc vẫn cho rằng đồng NDT đangđịnh định giá đúng với giá trị thực của nó và có khi là cao hơn
Trang 1Họ và tên: Trương Đức Nam
Lớp :Kinh tế quốc tế 51A
DIỄN BIẾN TỶ GIÁ NHÂN DÂN TỆ
Chính sách tỷ giá của Trung Quốc đã được cải cách và chuyển đổi khánhều lần Mặc dù, được cải cách và điểu chỉnh qua rất nhiều giai đoạn, nhưng cóthể nói : “ Đã có những dấu hiệu cho thấy đồng NDT được định giá thấp hơn sovới giá trị thực của nó ” Diễn biến tỷ giá NDT luôn gắn liền với các chính sáchcải cách tỷ giá của Trung Quốc và có thể minh họa qua hình 1:
Trang 2+ Năm 1979-1980: Tỷ giá được giữ cố định, 1USD = 2 RMB.
+ Năm 1981-1985: Trung Quốc bước đầu thực hiện chế độ chính sách tỷ giá
duy nhất “phá giá” Đồng NDT bắt đầu hạ giá, từ 1 USD= 2 USD lên tới 1USD
=3 RMB
+ Năm 1986-1990: Tiếp tục với với chính sách thả nổi đồng NDT, RMB tiếp tục
được phá giá cao, từ 1USD=3 RMB lên tới 1USD ≈ 4 RMB
+ Năm 1991-1993: Chính sách thả nổi bắt đầu mang lại hiệu quả nhất định, đồng
NDT tiếp tục được hạ giá với biên độ rộng, từ 1 USD = 4 RMB lên tới 1USD ≈ 6RMB
+ Năm 1994- 1997: Đây là giai đoạn Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ giá
“phá giá mạnh NDT”, đồng RMB tiếp tục phá giá với biên độ mạnh, từ 1USD =
5,8 RMB lên tới 8,7 RMB/USD
+ Năm 1998-2004: Giai đoạn chính sách tỷ giá duy trì ổn định đồng NDT “yếu”
tiếp tục phát huy tác dụng, tỷ giá luôn được giữ ở mức 8,5NDT/USD, với biên độgiao động nhỏ từ năm 1998 đến năm 2005 Nhờ đó mà những tác động của cuộckhủng hoảng tài chính khu vực Châu Á 1997 đối với nền kinh tế Trung Quốc ítnghiêm trọng hơn
+ Năm 2005: Vào 7/2005, Trung Quốc tiến hành điều chỉnh tỷ giá theo hướng
nâng giá đồng nhân dân tệ vào thời điểm này là 1USD = 8.27 RMB sau đó ngânhàng trung ương tiến hành cải cách tỷ giá, cho phép thả nổi tỷ giá trong giới hạnbiên độ 0.3% so với tỷ giá chính thức của ngân hàng Trung ương Đồng nhân dân
Trang 3tệ đã lên giá 3.12% kể từ khi cải cách tỷ giá Cả năm 2005 tỷ giá RMB vẫn ởmức trên 8RMB/USD.
+ Năm 2006 -2009: Với cam kết điểu chỉnh tăng giá của mình,Trung Quốc tiếp
tục tăng giá đồng NDT Tỷ giá NDT đã bước đầu tăng giá, từ 8,27 RMB/USDxuống 6,8 RMB/USD vào năm 2009
+Năm 2010: Ngày 22/6/2010, Trung Quốc đã thực hiện bước đi đầu tiên trong
cam kết linh hoạt giá đồng nhân dân tệ (NDT) Theo đó, Ngân hàng Trung ƯơngTrung Quốc đã xác lập tỷ giá hối đoái mới ở mức 1USD = 6,7980 NDT, tăng0,43% so với mức 6,8275 NDT của ngày 21/6/2010 Đây là mức cao nhất kể từkhi Bắc Kinh định giá lại đồng NDT vào tháng 7-2005 Động thái trên là doTrung Quốc muốn giảm bớt bầu không khí căng thẳng tại Hội nghị thượng đỉnhNhóm các nền kinh tế phát triển và đang phát triển (G-20) khi đó đang nhóm họptại Canada
+Năm 2011: Đồng NDT tiếp tục tăng giá, nhưng biên độ hẹp, khoảng 0.5-1%, từ
6.8 RMB/USD cuối năm 2010 xuống 6,3 RMB/USD vào cuối năm 2011
+ 6T/ 2012: Đồng NDT tiếp tục tăng giá và đạt mức kỷ lục Ngày 10/2/2012NDT đạt mức cao kỷ lục 6,293 đổi 1 USD Đây là lần đầu tiên đồng Nhân dân tệ
ở dưới ngưỡng 6,30 Nhân dân tệ đổi 1 USD kể từ ngày 19/6/2010 Ngân hàngNhân dân Trung Quốc thông báo mở đường cho tỷ giá đồng Nhân dân tệ đượcchuyển đổi một cách linh hoạt hơn Tính đến hết ngày 30/6/2012 thì tỷ giáRMB/USD luôn ở dưới ngưỡng 6,3 RMB/USD
PHẢI CHĂNG TRUNG QUỐC CHỦ Ý ĐỊNH GIÁ “THẤP” ĐỒNG NHÂN
DÂN TỆ?
Trước rất nhiều phản ứng gay gắt từ các bạn hàng trên thế giới, đặc biệt làcác quốc gia lớn như: Mỹ,Nhật Bản,EU…đã có không ít ý kiến cho rằng TrungQuốc đang theo đuổi chính sách tỷ giá thấp đồng NDT nhằm mục đích cạnhtranh thương mại giá rẻ Tuy nhiên đáp trả lại những phản ứng mạnh mẽ của cácnước thì quan điểm của Chính phủ Trung Quốc vẫn cho rằng đồng NDT đangđịnh định giá đúng với giá trị thực của nó và có khi là cao hơn so với một sốđồng tiền khác, Trung Quốc vẫn khẳng định họ không hề chủ ý định giá thấpđồng NDT và cũng không cạnh tranh thương mại thiếu công bằng
-Quan điểm của các đối tác thương mại chủ yếu với Trung Quốc.
Mỹ: Là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc cũng như chịu nhiềuảnh hưởng nhất bởi chính sách tỷ giá NDT, Hoa Kỳ luôn là quốc gia theo đuổi
Trang 4bền bỉ nhất vấn đề tỷ giá NDT, phản ứng mạnh mẽ và quyết liệt nhất việc TrungQuốc định giá thấp đồng NDT trong các đối tác thương mại với Trung Quốc:
+ Giai đoạn 1990-2000: Khi vấn đề tỷ giá còn mới mẻ và cán cân thương
mại của Mỹ vẫn có thặng dư lớn thì quan điểm của Mỹ về vấn đề tỷ giá NDT cònmới dừng lại ở mức “ nghi ngờ ” Trung Quốc có ý định ghìm giá đồng NDT đểcạnh tranh thương mại giá rẻ
+ Giai đoạn 2001-2005: Quan điểm của Chính phủ Hoa Kỳ đã dần thay
đổi khi Mỹ đã có nhiều cơ sở để tin rằng: “ Trung Quốc cố tình định giá thấpđồng NDT ” Lý giải cho quan điểm này, phía Mỹ đã đưa ra những lập luận theo
họ là khá thuyết phục để chứng minh cho quan điểm trên Bộ Thương mại Mỹ đãcông bố số liệu mà họ theo dõi được trong giai đoạn này cho thấy: Đồng NDTđược siết chặt và duy trì ổn định ở mức 8,3 RMB/USD sau khi Trung Quốc đãphá giá đồng NDT lên mức kỷ lục 8,6RMB/USD trong giai đoạn trước đó Mỹcho rằng, việc duy trì tỳ giá thấp này đã giúp Trung Quốc thu được nhữngkhoảng lợi nhuận lớn từ việc xuất khẩu Báo cáo của Bộ Thương mại Mỹ cuốinăm 2005 đã làm tăng thêm tính nghi ngờ của Hoa Kỳ về vấn đề này Năm 2001đến 2005, thặng dư thương mại của Trung Quốc tăng liên tục qua các năm với sốliệu lần lượt là: 29,78 tỷ; 42.813 tỷ; 58,694 tỷ; 80,382 tỷ; 114,353 tỷ USD Dựtrữ ngoại tệ cuối năm 2005 đạt mức cao kỷ lục là 286,4 tỉ USD Tốc độ tăngtrưởng trung bình của nền kinh tế Trung Quốc là 8%/năm và cao nhất thế giới
+Giai đoạn 2006-2011: Chính phủ Mỹ đã thực sự tin rằng Trung Quốc chủ
ý định giá thấp đồng NDT Trong một cuộc phát biểu tại Nhà Trắng hôm12/9/2011, Tổng thống Mỹ Barack Obama tin rằng nhân dân tệ hiện được địnhgiá thấp hơn giá trị thật và ông còn đưa lời kêu gọi Chính quyền Trung Quốc nớilỏng chính sách tỷ giá linh hoạt hơn nữa Dẫn báo cáo của Bộ Thương mại Hoa
Kỳ cho biết: Trong điều kiện nền kinh tế các nước có tốc độ tăng trưởng âm dokhủng hoảng tài chính kinh tế thế giới 2008, đến hết năm 2009 chỉ có 12 nước
có tốc độ tăng trưởng dương trong đó Trung quốc có tốc độ tăng trưởng 8,7%,tiếp tục là đất nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới Trong quan
hệ thương mại song phương đặc biệt quan hệ với Hoa Kỳ, Trung Quốc đã đạtđược thặng dư thương mại khổng lồ 273,1 tỷ USD vào năm 2010, dự trự ngoại tệđạt tới con số gần 3000 tỷ USD vào cuối năm 2011, trở thành quốc gia có dự trựngoại hối lớn nhất thế giới Tốc tộ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc luôn duy trìtrong 5 năm qua là 8%/năm, kim ngạch xuất khẩu liên tục dẫn dầu thế giới Bướcphát triển “ Thần kỳ ” trong giai đoạn này đã giúp Trung Quốc từ vị trí thứ 6 năm
2005 trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ 2 thế giới, khiến cho Mỹ hoàn toàn tintưởng vào sự nhận định trên của mình
Trang 5Tóm lại, quan điểm của Washington từ trước đến nay vẫn là: “ Bắc Kinhđang ghìm giữ tỷ giá đồng Nhân dân tệ ở mức thấp hơn giá trị thực, nhằm thúcđẩy xuất khẩu và tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc, gây bất lợi cho hàngxuất khẩu của các quốc gia khác, đặc biệt là Mỹ ”
EU: Cũng như Mỹ, các nước EU cũng có những quan điểm cho rằngTrung Quốc có chủ ý trong viêc định giá thấp đồng nhân dân tệ:
+ Giai đoạn 2000-2005: Các nước EU bắt đầu làm ăn với Trung Quốc thì
vấn đề tỷ giá NDT đã được quan tâm đến Tuy nhiên, do mới bắt đầu trao đổi,hợp tác thương mại và cũng là để tạo mối quan hệ bạn hàng lâu dài nên các nước
EU cũng chỉ dừng ở mức “ nghi ngờ ” việc Trung Quốc chủ ý định giá thấp đồngNDT Vấn đề tỷ giá NDT lúc bấy giờ chưa thực sự là mối quan tâm hàng đầu củaChính phủ các nước EU
+ Giai đoạn 2006-2011: Quan điểm của các nước EU đã trở lên tương
đồng với Mỹ.Tại hội nghị thương đỉnh G20 diễn ra vào trung tuần tháng 11 năm
2010 diễn ra tại Hàn Quốc các nhà lãnh đạo các nước hàng đầu châu Âu như:Anh, Pháp, Đức… đã lên tiếng cáo buộc về việc Trung Quốc định giá thấp đồngnhân dân tệ tạo ra sự mất cân bằng trong quan hệ thương mại quốc tế Nhiềunước khác khi chứng kiến các gian hàng của họ ngập tràn hàng Trung Quốc cũng
đã “ than trời ” Cuối năm 2010, Quỹ tiền tệ Châu Âu (AMF) đã công bố kết qủathống kê về tình hình thương mại giữa EU và Trung Quốc trong vòng 10 nămqua, càng khiến cho làn sóng phản đối của các nước EU về việc Trung Quốc cốtình định giá thấp đồng NDT nhằm kiếm lợi không chính đáng trở lên mạnh mẽ
Bảng 1: Tình hình thương mại giữa Trung Quốc và EU từ năm 2000-2010
Nguồn:Quỹ tiền tệ châu Âu (AMF)
Qua báo cáo của AMF, các nước EU đã chỉ trích gay gắt Trung Quốc cố tình địnhgiá thấp đồng NDT để thu lợi từ các hoạt động thương mại Các nước EU cho
Trang 6rằng việc đạt thặng dự thương mại lớn, liên tục của Trung Quốc cũng như việcthâm hụt thương mại của các nước EU hoàn toàn là do chính sách tỷ giá NDTmang lại và gây ra.
Tuy nhiên so với Mỹ thì phản ứng của EU đối với vấn đề thâm hụt thươngmại với Trung Quốc là không đáng kể lắm chủ yếu chỉ dừng lại ở việc kêu gọiTrung Quốc nâng giá đồng nhân dân tệ,mang tính chất ngoại giao là chính Cóthể giải thích vấn đề này do những nguyên nhân sau:
+Thứ nhất, Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại lớn của EU
và ngược lại,hai bên đều có một sự ràng buộc trong quan hệ thương mại với nhau
do đó các biện pháp trừng phạt thương mại chỉ làm ảnh hưởng đến lợi ích thươngmại của hai nước mà thôi
+Thứ hai, vấn đề thâm hụt thương mại của EU với Trung Quốc không lớn
như Mỹ Theo thống kê thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc năm 2011
là 295,5 tỷ USD trong khi con số này của EU chỉ là 142.7 tỷ USD
Nhật Bản: Quan điểm của Nhật về vấn đề tỷ giá NDT có sự thay đổi theo
các giai đoạn:
+ Giai đoạn 1990-2001: Nhật Bản cũng không có nhiều ý kiến về vấn đề
tỷ giá NDT mà chỉ dừng lại ở mức đô quan sát và theo dõi tình hình Lí do bởitrong giai đoạn này thì việc làm ăn với Trung Quốc vẫn tiến triển khá tốt, cáncân thương mại của Nhật vẫn đảm bảo Mặc khác, Trung Quốc liên tục bị thâmhụt thương với Nhật trong giai đoạn này khiến cho Chính phủ Nhật lúc bấy giờkhông đưa ra bất kỳ quan điểm nào liên quan đến tỷ giá MRB/USD bởi đồngYên lúc đó đang được định giá tương đối thấp
+ Giai đoạn 2002-2009: Tình kinh tế thế giới nhiều biến động, sản xuất
trong nước gặp khó khăn khi phải cạnh tranh với hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc
đã buộc Nhật Bản phải giám sát nghiêm ngặt hơn vấn đề tỷ giá NDT Bộ Thươngmại Nhật Bản đã cáo buộc Trung Quốc đang định giá thấp đồng NDT khôngđúng với giá trị của nó Bộ Thương mại cho biêt, từ năm 2002 đến 2009, tỷ giáthực của NDT luôn cao hơn mức 100 đơn vị (mức cân bằng giữa tỷ giá danhnghĩa và tỷ giá niêm yết), năm 2002 là 110.25 thì đến năm 2009 là 119,57 Thặng
dự thương mại của Trung Quốc với Nhật Bản bắt đầu xuất hiện trong suốt giaiđoạn này:
Bảng 2: Tình hình cán cân thương mại Trung –Nhật giai đoạn 2002-2009
Trang 7Nguồn : Bộ Thương Mại Nhật Bản
Lần đâu tiên sau 20 năm làm ăn với Trung Quốc, Nhật Bản đã lên tiếng chỉ tríchTrung Quốc về việc định giá thấp đồng NDT Ngày 12/3/2009, Thủ tướng NhậtBản Yukio Hatoyamađã khẳng định sẵn sàng áp dụng những biện pháp cứng rắn
để chống lại việc đồng NDT định giá thấp, gây thiệt hại xuất khẩu trong nước
Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản Naotan Kan cũng kêu gọi vì chính sách “đồng yênyếu” để thúc đẩy kinh tế đất nước đang gặp khó khăn
+ Giai đoạn 2010 -2011 : Khi nền kinh tế Trung Quốc ngày càng phát triển
và kinh tế Nhật cũng dần phụ thuộc lớn vào Trung Quốc, mà từ đó thái độ vàquan điểm về việc định giá đồng NDT của nước Nhật cũng dần thay đổi Ba nămtrở lại đây, khi vị thế của Trung Quốc ngày càng lớn, Nhật Bản lại tỏ thái độ imlặng trước bất kì thay đổi nào trong chính sách tỷ giá của Trung Quốc , mà chỉ : “
Khuyên Bắc Kinh hãy lắng nghe những lời kêu gọi về việc duy trì tỷ giá đồng
NDT ở mức linh hoạt hơn ”.
Ngoài ra, cũng có các tổ chức và quốc gia khác có cùng quan điểm chorằng Trung Quốc định giá thấp đồng NDT:
+ Tháng 4/2010, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã hối thúc Trung Quốc chấpthuận sự linh hoạt tỷ giá như một yếu tố hỗ trợ cân bằng tăng trưởng kinh tế toàncầu và giúp chính Trung Quốc có sự tự chủ cao hơn trong việc đưa ra chính sáchtiền tệ
+ Thống đốc Ngân hàng Trung ương Canada gần đây đưa ra nhận xét:
“ Họ đang mạo hiểm với chính sách này Đó chính là nguồn gây ra một số vấn đề
và sự mất cân bằng của kinh tế toàn cầu ”
Trong khi đó, theo các chuyên gia hàng đầu về kinh tế thì cho rằng với tỷgiá đồng NDT như hiện nay thì đồng NDT đã bị đánh giá thấp khoảng 30% sovới các đồng tiền khác, cụ thể với đồng USD là 40% và với đồng EUR thì tỷ lệnày là 20% Theo họ với tỷ giá thấp, đã tạo ra những lợi thế thương mại bất bình
Trang 8đẳng cho hàng Trung Quốc tràn ra thị trường quốc tế, làm suy yếu sức cạnh tranhcủa các nhà xuất khẩu khác Cùng với những lợi thế về tài nguyên và nhânlực,việc duy trì tỷ giá hối đoái không cân đối giữa NDT và USD trong lúc USDđang giảm đi tương đối so với các đồng tiền khác đang giúp các nhà xuất khẩucủa Trung Quốc có lợi thế trong cuộc chiến giá cả và nâng cao tính cạnh tranhthu hút đầu tư của nước này.
Nhìn chung, thì hầu hết các nước đều có chung một quan điểm cho rằng: TrungQuốc đang định giá quá thấp đồng NDT nhằm mục định cạnh tranh thương mạithiếu công bằng Có hay chăng sự thay đổi trong quan điểm của một số nước
theo hướng cởi mở hơn về vấn đề định giá thấp đồng NDT cũng chỉ là “sự nhượng bộ có ràng buộc” của các nước khi nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào
Trung Quốc
-Quan điểm của Trung Quốc.
Đứng trước một luồng ý kiến phản ứng hết sức gay gắt của các đối tácthương mại, Trung Quốc đã đưa ra những quan điểm và lý lẽ hết sức sắc bén đểbảo vệ chính sách tỷ giá của mình:
.+ Ngày 15/2/2010, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo phát biểu với báogiới rằng: “ Ông không tin đồng Nhân dân tệ đang bị định giá quá thấp và TrungQuốc phản đối việc những nước khác chỉ đạo một nước nào đó phải nâng giáđồng nội tệ ” Đây có thể coi như một động thái phản ứng đầu tiên của Chínhphủ Trung Quốc trước những luồng ý kiến lên án gay gắt từ các nước trên thếgiới
+ Trong bài phát biểu tại hội thảo của các ngân hàng xuất - nhập khẩu Mỹ,diễn ra tại Washington hôm 11/3/2010, Tổng thống Mỹ Barrack Obama đã lêntiếng kêu gọi Trung Quốc nới lỏng các biện pháp quản lý đồng Nhân dân tệ và đểthị trường quyết định tỷ giá đồng tiền này
Lời kêu gọi này nhanh chóng nhận được ý kiến không đồng tình từ phíachính quyền Trung Quốc Phát biểu tại Quốc hội, Phó Thống đốc Ngân hàngNhân dân Trung Quốc Su Ning cho rằng lời kêu gọi của Tổng thống Mỹ mangđầy tính chính trị: “ Chúng tôi không đồng ý đánh đồng việc điều hành tỷ giáđồng tiền với các quan điểm chính trị Càng không đồng tình với việc một quốcgia yêu cầu một quốc gia khác giải quyết vấn đề do chính họ gây ra ”
+ “ Đồng NDT đang được định giá đúng với giá trị thực , Trung Quốckhông cạnh tranh thương mại thiếu công bằng ” - đó là lời khẳng định của Chủ
Trang 9Tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào trước báo giới quốc tế và tại hội nghịThượng Đỉnh G20 vào cuối năm 2010.
+ “ Trung Quốc không đồng tình ” với các cáo buộc của các nước bạn
hàng, đặc biệt là Mỹ xung quanh vấn đề tỷ giá NDT Trung Quốc cho rằng: Việcthâm hụt thương mại của các nước cũng như tình trạng khó khăn của kinh tế toàncầu không phải do chính sách tỷ giá của Trung Quốc gây ra, mà chính chính sách
tỷ giá NDT đang giúp cho nền kinh tế thế giới vực dậy và phát triển hơn saukhủng hoảng kinh tế thế giới 2008
+ Bắc Kinh nhấn mạnh rằng: “ Nhân dân tệ là một vấn đề thuộc chủ quyền
và do đó Trung Quốc sẽ tự quyết định ” Không những thế, Trung Quốc phác bỏtất các các cáo buộc thao túng tiền tệ của các nước, những cáo buộc đó là hoàntoàn vô lý, thiếu cơ sở Trung Quốc sẵn sàng đáp trả lại tất cả hành động trừngphạt của các nước đối tác nếu điều đó xảy ra Trung Quốc cảnh báo thế giới vềmột cuộc chiến tỷ giá sẽ xảy ra trong tương lại
+Ngày 11/10/2011, Thủ tướng Ôn Gia Bảo tuyên bố: “ Chính phủ TrungQuốc tiếp tục ủng hộ sự ổn định tỷ giá của đồng nhân dân tệ và hỗ trợ các nhàxuất khẩu ” Đây là phản ứng đầu tiên của Trung Quốc ở cấp cao nhất, sau khiThượng viện Hoa Kỳ “bật đèn xanh” cho việc dựng rào cản thương mại đối vớihàng hóa Trung Quốc với lý do sự định giá thấp của nhân dân tệ Trung Quốc dedọa: Nếu bất kể nước nào, kể cả Mỹ nếu có những hành động thương mại nàothiếu công bằng với Trung Quốc thì sẽ phải gánh chịu mọi tổn thất trước sự đáptrả của Trung Quốc
Có thể thấy, Trung Quốc đang phản ứng hết sức mạnh mẽ và có phần bạo miệngcủa mình trước những động thái phản ứng của các đối tác thương mại Quanđiểm hết sức cứng rắn và thống nhất từ trên xuống dưới của Chính phủ TrungQuốc càng khiến cho thế giới thêm nghi ngờ việc Trung Quốc cố tình định giáthấp đồng NDT để kiếm lời từ các hoạt động thương mại
Sự bất đồng quan điểm này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽnguyên nhân chính xuất phát hệ quả của những chính sách phá giá đồng NDTcủa Trung Quốc trong những giai đoạn trước đó Sự căng thẳng ngày càng trở lênlớn khi Trung Quốc vẫn rất dè dặt trong việc tăng giá đồng NDT, trong khi thâmhụt thương mại của các nước ngày càng trầm trọng, khiến cho thế giới lo ngại sẽthực sự xảy ra một cuộc chiến tỷ gia trong tương lai Liệu rằng Trung Quốc hoàntoàn có chủ ý trong vấn đề này?
Có chủ ý hay không thì có lẽ người trong cuộc là người hiểu rõ nhất.Trung Quốc biết rõ điều này hơn ai hết, việc chủ ý hay không chủ ý đều nằm
Trang 10trong sự giám sát và điểu chỉnh của Chính phủ Trung Quốc Những đáp trả hếtsức mạnh mẽ và cứng rắn cùng với các chính sách cải cách tỷ giá NDT củaTrung Quốc từ năm 1979 đến nay cũng đủ khiến cho thế giới cũng như các đốitác thương mại biết được phần nào câu trả lời Mỗi bên đều có cái lý khi lên án
và đáp trả lại những quan điểm của nhau, nhưng đằng sau những lí lẽ đấy lại ẩnchứa những mục tiêu và ý đồ của các bên và bên nào cũng muốn đạt được mụcđích của mình Càng cố đạt được cái mình muốn thì càng lộ rõ ý đồ và thamvọng cho đối thủ biết, Trung Quốc đã và đang được được những gì mà họ mongmuốn, kinh tế ngày càng phát triển đồng nghĩa việc Trung Quốc sẽ phải hứngchịu sự phản ứng và lên án của các đối tác ngày càng nhiều, càng gay gắt vàquyết liệt
Mặc dù nhận biết được mặt trái của việc định giá thấp đồng NDT có thể cónhững tác động ngược chiều đối với nền kinh tế Trung Quốc như làm giảm giátrị tương đối giá các loại tài sản trong nước hoặc gây tình trạng đầu cơ vàng,ngoại tệ hoặc các tài sản có khả năng sinh lợi cao như bất động sản hay việc đầu
tư ra nước ngoài của Trung Quốc có thể gặp khó khăn khi đồng tiền trong nướcgiảm giá và có thể gây ra tình trạng lạm phát cao trong nước nhưng: “ TrungQuốc vẫn chấp nhận sự trả giá nhất định trong chính sách tỷ giá hối đoái để đạtmục tiêu đặt ra trong những ràng buộc của khủng hoảng tài chính và suy giảmkinh tế toàn cầu cũng như bất chấp sự chỉ trích gay gắt của thế giới ” Liệu sựchấp nhận trả giá trên có nói lên sự chủ ý của Trung Quốc trong vấn đề tỷ giáNDT? Đó vẫn là một dấu hỏi lớn cần phải đi tìm hiểu
Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi liệu Trung Quốc chủ ý định giá thấp đồngNDT chắc có lẽ sẽ không có câu trả trời thỏa đáng nhất! Bởi đứng trên lậptrường của của mỗi bên thì chưa đủ cơ sở để kết luận một vấn đề nhạy cảm nhưthế Động cơ và ý đồ đằng sau những lí lẽ đó mới là câu trả lời thỏa đáng nhấtcho tranh cãi bấy lâu nay về việc Trung Quốc có cố tình hay không khi định giáthấp đồng Nhân dân tệ Nhận biết được suy nghĩ của một con người đã khó, đằngnày là cả một kế hoạch, ý đồ của một quốc gia thì việc phán xét nó càng trở lênkhó khăn Mặc dù cho đến nay, dự luận thế giới vẫn nghiêng về phía Trung Quốc
có chủ ý định giá thấp đồng Nhân dân tệ thì cũng không nên vội vàng đưa ranhững phán xét mang tính phiếm diện, câu trả lời chỉ trở lên chính xác khi đínhthân người tạo ra nút thắt đi cởi nút, hay nói cách khác: “ Trung Quốc tuyên bốvới thế giới rằng mình cố tình định giá thấp đồng NDT ” Nhưng điều đó có lẽ làhoang tưởng và sẽ chẳng bao giờ xảy ra, nhưng một điều mà ai cũng đều nhậnthấy là : Chính sách tỷ giá Nhân dân tệ đã và đang làm cho kinh tế các nước làm
ăn với Trung Quốc ngày càng trở lên khó khăn