THÔNG TIN TÓM TẮT VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ 1. Tên đề tài luận án: Xây dựng mô hình tự đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý của doanh nghiệp Việt Nam dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Chất lượng Quốc gia Hoa Kỳ 2. Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại 3. Mã số: 9340121 4. Họ tên NCS: Phùng Mạnh Trường Mã NCS: 14B D0121 009 5. Họ tên người hướng dẫn NCS: 1: PGS, TS. Đỗ Thị Ngọc; 2: TS. Nguyễn Hóa 6. Những đóng góp mới của luận án: a) Những đóng góp về mặt lý luận Luận án đã có những đóng góp về lý luận như sau: Đã "hệ thống hóa và phát triển một số cơ sở lý luận cơ bản để xây dựng mô hình tự đánh giá hiệu quả HTQL dựa trên Giải thưởng Baldrige". Một số "cơ sở lý thuyết được tổng hợp, phân tích trong luận án bao gồm: hệ thống quản lý, mô hình hoạt động xuất sắc (BEM), quản lý chất lượng toàn diện (TQM); mô hình tự đánh giá của DN, Mô hình trưởng thành, Giải thưởng chất lượng quốc gia (GTCLQG), Giải thưởng Baldrige - Cơ sở nền tảng của hoạt động tự đánh giá trên thế giới" và Việt Nam. Trong đó, một số đóng góp cụ thể bao gồm: - Đưa ra "khái niệm mô hình tự đánh giá trong khuôn khổ nội dung nghiên cứu của đề tài mà chưa có một nghiên cứu nào trên thế giới cũng như tại Việt Nam" đề cập một cách cụ thể. - "Nghiên cứu xây dựng và đề xuất được Mô hình tự đánh giá hiệu quả HTQL dựa trên Giải thưởng Baldrige phù hợp với các DN Việt Nam. Mô hình này gồm các yếu tố cấu thành, đồng thời cũng chỉ ra lộ trình triển khai áp dụng tự đánh giá dựa trên Giải thưởng Baldrige cho các DN Việt Nam". - Trên "cơ sở tổng hợp các mô hình lý thuyết và xem xét các điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn tại Việt Nam, luận án sẽ xác định rõ các yếu tố cơ bản bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tới khả năng áp dụng mô hình tự đánh giá" tại Việt Nam; - "Xây dựng bộ dữ liệu và thông tin điều tra, khảo sát thực tế tại một số DN, đảm bảo tính đại diện, khách quan, làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng xây dựng và áp dụng mô hình tự đánh giá và phân tích ảnh hưởng của các yếu tố cơ bản bên trong và bên ngoài tới việc xây dựng và áp dụng Mô hình tự đánh giá" tại Việt Nam. b) "Những đóng góp về mặt thực tiễn rút ra từ kết quả nghiên cứu" - Luận án "tiến hành phân tích và xác định kinh nghiệm triển khai Mô hình tự đánh giá thành công tại một số quốc gia trên thế giới và thực tiễn áp dụng hoạt động GTCLQG tại Việt Nam để rút ra các bài học kinh nghiệm cho việc áp dụng Mô hình tự đánh giá" tại Việt Nam; - Trên cơ sở "bộ dữ liệu và thông tin điều tra, khảo sát DN, cá nhân, luận án đã phác thảo một bức tranh khá tổng thể về tình hình áp dụng mô hình tự đánh giá, chỉ ra các vấn đề còn tồn tại và hạn chế, những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện trong việc áp dụng Mô hình này" tại Việt Nam; - Đề xuất một Mô hình tự đánh giá phù hợp với các DN Việt Nam để các DN, các nhà quản trị và QLCL có thể áp dụng được trong thực tiễn; - Đưa ra các "đề xuất hỗ trợ thực hiện giải pháp tăng cường việc áp dụng Mô hình tự đánh giá phù hợp với thực tiễn" tại Việt Nam. - Đặc biệt, đã tích hợp quy trình tự đánh giá vào Chu trình cải tiến PDCA (Vòng tròn quản lý Deming), tự đánh giá dựa trên GTCL và mô hình hoạt động xuất sắc. Điều này sẽ dẫn dắt DN hiểu rõ hơn ý nghĩa, lợi ích của tự đánh giá đối với hoạt động cải tiến của DN, từ đó sẵn sàng lựa chọn mô hình cho hoạt động cải tiến của mình, vượt qua những trở ngại về tâm lý “sợ bị đánh giá” hiện nay của các DN. c) Những đề xuất mới về chính sách, giải pháp Luận án đã đề xuất 3 nhóm giải pháp tăng cường hoạt động tự đánh giá dựa trên Giải thưởng Baldrige cho các DN Việt Nam: 3 giải pháp về nguồn nhân lực, 2 giải pháp về tiêu chí giải thưởng và 2 giải pháp về tổ chức và phương pháp thực hiện. Các nhóm giải pháp này cũng được nghiên cứu và đề xuất trên giác độ của doanh nghiệp và dựa trên cơ sở phân tích những kết quả đạt được, những mặt hạn chế và nguyên nhân thực tiễn áp dụng thí điểm mô hình này trong khuôn khổ của luận án. Đây cũng là lần đầu tiên có một nghiên cứu đưa ra được những kiến nghị cụ thể cho cơ quan quản lý và tổ chức triển khai GTCLQG của Việt Nam nghiên cứu, xây dựng các chính sách, giải pháp cụ thể để triển khai thực tế Mô hình tự đánh giá dựa trên Giải thưởng Baldrige cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-PHÙNG MẠNH TRƯỜNG
XÂY DỰNG MÔ HÌNH TỰ ĐÁNH GIÁ
HIỆU QUẢ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM DỰA TRÊN CÁC TIÊU CHÍ GIẢI THƯỞNG CHẤT LƯỢNG QUỐC GIA HOA
Trang 2Hà Nội, Năm 2021
2
Trang 3Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học
Vào hồi… …giờ ……… ngày …… tháng …… năm 2021
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia
Trang 4Thư viện Trường Đại học Thương mại
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của nghiên cứu
Trong những năm gần đây, đối với các nhà quản lý chất lượng và quản lýdoanh nghiệp (DN) trên toàn thế giới, Mô hình hoạt động xuất sắc (Business ExcellenceModel - BEM) hay còn gọi là Giải thưởng chất lượng (GTCL), chẳng hạn: Giải thưởngDeming, Giải thưởng Chất lượng Quốc gia Hoa Kỳ (Giải thưởng Baldrige), Giảithưởng Chất lượng Châu Âu (EQA hay EFQM Excellence Award) được xem là các
mô hình tự hoàn thiện để vươn tới sự xuất sắc về chất lượng quản lý Các GTCL dựatrên các nguyên lý và phương pháp quản lý hiện đại GTCL quốc gia, khu vực vàquốc tế thường là các GTCL trao cho DN với mục tiêu là hướng vào việc cải tiến chấtlượng quản lý và tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của các DN, xâydựng và áp dụng các hệ thống quản lý (HTQL) để từ đó nâng cao khả năng cạnhtranh và năng suất GTCL được thiết lập ở các nước và khu vực với mục đích là:
- Một là, cung cấp công cụ mô hình tự đánh giá (self-assessment) để giúp DN
hoàn thiện hệ thống quản lý (HTQL) của mình thông qua việc áp dụng và duy trìthành công các mô hình, công cụ, HTQL tiên tiến và thực hành tốt nhất
- Hai là, tôn vinh xứng đáng những DN đạt những thành tích về hoạt động xuất
sắc, áp dụng thành công các mô hình, công cụ, HTQL tiên tiến và thực hành tốt nhất,đóng góp tích cực cho cộng đồng, xã hội
- Ba là, thông qua GTCL để nhằm khuyến khích phong trào năng suất, chất
lượng cũng như định hướng phát triển, chính sách của hoạt động năng suất, chấtlượng tại từng quốc gia, khu vực và trên phạm vi toàn thế giới
Một chương trình GTCL thành công, thu hút được sự quan tâm và tham gia củađông đảo DN đồng nghĩa với việc cơ quan chủ trì tổ chức hoạt động GTCL phải triển khaiđồng bộ và thực hiện thành công cả 3 mục đích nêu trên, trong đó mục tiêu thứ nhất là ưutiên, tiên quyết đảm bảo cho việc triển khai hiệu quả chương trình
2 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
a) Mục tiêu nghiên cứu: Luận án nghiên cứu đề xuất xây dựng một Mô hình tự
đánh giá dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige phù hợp với điều kiện, trình độ nhậnthức và quản lý của các DN Việt Nam để giúp các DN nhận diện một cách toàn diện và có
hệ thống những điểm mạnh và cơ hội cải tiến hiệu quả HTQL của DN mình
b) Nhiệm vụ nghiên cứu: (1) Cung cấp được một bức tranh tổng thể về thực tiễn
triển khai về mô hình hoạt động xuất sắc, GTCL và tự đánh giá từ trước đến nay trên thếgiới thông qua các công trình nghiên cứu và bối cảnh thực tiễn ở Việt Nam từ khiGTCLQG được thiết lập năm 1995 cho đến nay; (2) Làm rõ một số cơ sở lý luận cơ bản
Trang 5về tự đánh giá và mô hình tự đánh giá tại DN trong quá trình triển khai GTCL từ đó đềxuất mô hình tự đánh giá hiệu quả HTQL dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige phùhợp với các DN Việt Nam; (3) Đánh giá thực trạng triển khai áp dụng tự đánh giácủa các DN đã đạt GTCLQG của Việt Nam từ năm 1996 cho đến nay, đồng thời đánh giákết quả áp dụng thí điểm mô hình tự đánh giá hiệu quả HTQL dựa trên các tiêu chí Giảithưởng Baldrige cho một số DN Việt Nam đạt giải năm 2019 - 2020; (4) Từ kết quả ápdụng thực tiễn mô hình tự đánh giá hiệu quả HTQL dựa trên các tiêu chí Giải thưởngBaldrige cho các DN Việt Nam đề xuất một số giải pháp thúc đẩy áp dụng hiệu quả môhình này tại Việt Nam và một số kiến nghị cụ thể với cơ quan quản lý và tổ chức triển khaiGTCLQG của Việt Nam.
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu: Mô hình tự đánh giá hiệu quả HTQL của DN dựa trên
các tiêu chí Giải thưởng Baldrige Khách thể nghiên cứu là các DN đạt GTCLQG của ViệtNam đã áp dụng ít nhất một HTQL, đồng thời tiếp cận và áp dụng mô hình tự đánh giáhiệu quả HTQL dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige
b) Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu đánh giá hiệu quả áp dụng mô hình tự đánhgiá thông qua việc giúp các DN Việt Nam nhận diện một cách toàn diện và có hệ thốngcác điểm mạnh và cơ hội cải tiến hiệu quả HTQL của DN
- Không gian nghiên cứu: Các DN Việt Nam tham gia và đạt GTCLQG, thuộc mọithành phần kinh tế, nhưng không bao gồm các cơ quan hành chính công, tổ chức phi lợinhuận, tổ chức giáo dục và y tế vì hiện nay GTCLQG của Việt Nam chưa áp dụng cho cácđối tượng này
- Thời gian nghiên cứu: Các DN Việt Nam đã đạt GTCLQG năm 1996 - 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập và tổng hợp các số liệu từ cáccông trình nghiên cứu, báo cáo tổng hợp về GTCLQG từ năm 1995 cho đến nay, các côngtrình nghiên cứu về GTCL, mô hình hoạt động xuất sắc trên thế giới, báo cáo tham dựGTCLQG của các DN Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2020; hồ sơ đánh giá, xét giảithưởng của Hội đồng Quốc gia GTCLQG; các dữ liệu thống kê liên quan đến các GTCL
và mô hình tự đánh giá cũng sẽ được phân tích, tổng hợp để phục vụ các mục đích nghiêncứu của đề tài, đặc biệt là trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa GTCL, mô hình tựđánh giá và các HTQL tiên tiến khác
b) Phương pháp điều tra: (1) Điều tra, khảo sát ý kiến bằng bảng hỏi tại 200 DN đạt
GTCLQG giai đoạn 1996 - 2016 Thông qua số liệu điều tra này để xây dựng các lập luậncủa luận án, đặc biệt là trong việc nghiên cứu các trường hợp điển hình (2) Điều tra bằngBiểu mẫu SA-Baldrige tại 85 DN để tiến hành thu thập dữ liệu phục vụ cho việc nghiên
Trang 6cứu, đồng thời giúp các DN Việt Nam có thể tiếp cận một cách dễ dàng các tiêu chí Giảithưởng Baldrige.
c) Phương pháp nghiên cứu tình huống: Tiến hành xem xét, đánh giá tại 2 DN điểnhình đã đạt GTCLQG để đánh giá toàn diện việc áp dụng mô hình tự đánh giá trong thựctiễn làm cơ sở cho việc hoàn thiện mô hình Phương pháp này cho phép sử dụng nhiềuphương pháp thu thập dữ liệu và giúp có được cái nhìn sâu sắc hơn về một hiện tượng vàtăng tính hợp lệ và độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu Phương pháp này giúp trả lời mộtcách rõ ràng và đầy đủ câu hỏi nghiên cứu
d) Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp đội ngũ lãnh đạo, cán bộ QLCL tại
2 DN điển hình đã đạt GTCLQG của Việt Nam để tìm hiểu và thu thập thêm những kinhnghiệm và nhận thức thực tế của các đối tượng này, đồng thời cũng để kiểm chứng lại sốliệu thu thập được từ các phiếu điều tra
đ) Phương pháp phân tích dữ liệu: Sử dụng các phương pháp thống kê mô tả và
phần mềm SPSS
5 Những đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận án
a) Những đóng góp về mặt lý luận: (1) Đưa ra khái niệm mô hình tự đánh giá
trong khuôn khổ nội dung nghiên cứu của đề tài mà chưa có một nghiên cứu nào trên thếgiới và tại Việt Nam đề cập một cách cụ thể; (2) Nghiên cứu xây dựng và đề xuất được môhình tự đánh giá hiệu quả HTQL dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige phù hợp vớicác DN Việt Nam Mô hình này gồm các yếu tố cấu thành, đồng thời cũng chỉ ra lộ trìnhtriển khai áp dụng tự đánh giá dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige cho các DN ViệtNam; (3) Trên cơ sở tổng hợp các mô hình lý thuyết và xem xét các điều kiện, hoàn cảnhthực tiễn tại Việt Nam, luận án sẽ xác định rõ các yếu tố cơ bản bên trong và bên ngoàiảnh hưởng tới khả năng áp dụng mô hình tự đánh giá tại Việt Nam; (4) Xây dựng bộ dữliệu và thông tin điều tra, khảo sát thực tế tại một số DN, đảm bảo tính đại diện, kháchquan, làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng xây dựng và áp dụng mô hình tự đánh giá vàphân tích ảnh hưởng của các yếu tố cơ bản bên trong và bên ngoài tới việc xây dựng và ápdụng mô hình tự đánh giá tại Việt Nam
b) Những đóng góp về mặt thực tiễn rút ra từ kết quả nghiên cứu: (1) Luận án
tiến hành phân tích và xác định kinh nghiệm triển khai mô hình tự đánh giá thành công tạimột số quốc gia trên thế giới và thực tiễn áp dụng hoạt động GTCLQG tại Việt Nam đểrút ra các bài học kinh nghiệm cho việc áp dụng mô hình này tại Việt Nam; (2) Từ việcđiều tra, khảo sát, luận án đã phác thảo một bức tranh khá tổng thể về tình hình áp dụng
mô hình tự đánh giá, chỉ ra các vấn đề còn tồn tại và hạn chế, những vấn đề cần được tiếptục nghiên cứu hoàn thiện trong việc áp dụng mô hình này tại Việt Nam; (3) Đề xuất một
mô hình tự đánh giá phù hợp với các DN Việt Nam để các DN, các nhà quản trị và QLCL
có thể áp dụng được trong thực tiễn; (4) Đưa ra các đề xuất hỗ trợ thực hiện giải pháp tăngcường việc áp dụng mô hình tự đánh giá phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam; (5) Tích hợpquy trình tự đánh giá vào Chu trình cải tiến PDCA, tự đánh giá dựa trên các tiêu chí
Trang 7GTCL và mô hình hoạt động xuất sắc, giúp DN hiểu rõ hơn ý nghĩa, lợi ích của tự đánhgiá đối với hoạt động cải tiến của DN.
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án có kết cầu gồm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan và thiết kế mô hìnhnghiên cứu của đề tài
Chương 2: Một số lý luận cơ bản và nghiên cứu đề xuất mô hình tự đánh giáhiệu quả HTQL dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Chất lượng Quốc gia Hoa Kỳ
Chương 3: Thực trạng tự đánh giá và kết quả áp dụng thí điểm mô hình tự đánhgiá hiệu quả HTQL dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Chất lượng Quốc gia Hoa Kỳcho một số DN Việt Nam
Chương 4: Giải pháp thúc đẩy áp dụng mô hình tự đánh giá hiệu quả HTQLdựa trên các tiêu chí Giải thưởng Chất lượng Quốc gia Hoa Kỳ cho các DN ViệtNam
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
VÀ THIẾT KẾ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.1 TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀTÀI
1.1.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chí GTCL đã được nghiên cứu và triển khai
từ những năm 1990, thời điểm mà các mô hình, công cụ và HTQL được áp dụng một cáchrộng rãi trên quy mô toàn thế giới Các tổ chức quốc gia, khu vực và quốc tế hoạt độngtrong lĩnh vực năng suất và chất lượng đi đầu trong việc truyền bá, hỗ trợ các DN trênkhắp thế giới áp dụng mô hình tự đánh giá chính như: Tổ chức Quản lý Chất lượng Châu
Âu (EFQM); Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Hoa Kỳ (NIST); Tổ chức Năngsuất Châu Á (APO); Tổ chức Chất lượng Châu Á - TBD (APQO); Cơ quan Năng suất vàTiêu chuẩn Xingapo (Enterprise Singapore) NCS đã tập hợp, xem xét, nghiên cứu 50công trình tiêu biểu về GTCL/BEM và mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chí GTCLtrên thế giới từ trước cho đến nay Các công trình này chú trọng vào các nội dung cơ bảnnhư: mô hình hoạt động xuất sắc, GTCL, khái niệm tự đánh giá, mục đích của tự đánh giá,lợi ích của tự đánh giá, cách tiếp cận của tự đánh giá, quá trình tự đánh giá, các yếu tố tácđộng đến kết quả tự đánh giá, bài học kinh nghiệm khi triển khai áp dụng tự đánh giá dựa
Trang 8trên BEM/GTCL, việc áp dụng thực hiện mô hình tự đánh giá vào các lĩnh vực, khu vực
cụ thể Phần lớn các nghiên cứu này sử dụng Giải thưởng Baldrige và Giải thưởng Chấtlượng Châu Âu làm mô hình nghiên cứu
GTCL như một tấm gương để DN tự soi mình để nhận biết rõ ràng những điểmmạnh, điểm yếu của mình thông qua đó tìm kiếm được các cơ hội cải tiến HTQL hoạtđộng sản xuất, kinh doanh của mình Chính điều này cũng góp phần khuyến khích phongtrào năng suất, chất lượng cũng như định hướng phát triển, chính sách của hoạt động năngsuất, chất lượng tại từng quốc gia, khu vực và trên phạm vi toàn thế giới
1.1.2 Những công trình nghiên cứu tại Việt Nam
Giải thưởng Chất lượng Quốc gia (GTCLQG) của Việt Nam được thiết lập từ năm
1995 và từ năm 1996 bắt đầu được triển khai hằng năm cho đến nay, Chính phủ giao cho
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì thực hiện và Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chấtlượng (Tổng cục TCĐLCL) là cơ quan thường trực GTCLQG được thiết lập và triển khaitrên cơ sở chấp nhận mô hình Giải thưởng Baldrige
Một số nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài: (1) "Sử dụng Mô hình tự đánh giá dựa trên Mô hình kinh doanh hoàn hảo: Nghiên cứu các DN dệt và may tại Việt Nam", Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Liên, Trường Đại học Kinh tế Newcastle, Đại học
Northumbria tại Newcastle (Anh). (2) "Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý chất lượng phù hợp với các DN Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ kinh tế của Đỗ Thị Ngọc, Trường Đại học Thương mại, năm 2000 (3) “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả áp dụng Giải thưởng Chất lượng Việt Nam tại các DN”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Phùng Mạnh Trường, Trường Đại học Thương Mại, năm 2006 (4) "Nghiên cứu các luận chứng khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng dự thảo Nghị định Chính phủ về Giải thưởng chất lượng quốc gia" (đề tài nghiên cứu KHCN cấp Bộ năm 2013) (5) "Nghiên cứu phương án triển khai Giải thưởng chất lượng quốc gia trong một số lĩnh vực đặc thù" (đề tài nghiên cứu KHCN cấp Bộ năm 2009) (6) "Nghiên cứu các luận cứ khoa học và thực tiễn để thành lập giải thưởng quốc gia về chất lượng" (đề tài nghiên cứu KHCN cấp Bộ năm 2008) (7) "Hoàn thiện hệ thống tài liệu nghiệp vụ GTCLQG" (đề tài nghiên cứu
KHCN cấp Bộ năm 2010)
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
a) Khoảng trống nghiên cứu: Ngoài đóng góp vào hệ thống các nghiên cứu về
GTCLQG tại Việt Nam nói chung, luận án này còn lấp đầy khoảng trống nghiên cứu saubằng việc xây dựng được mô hình tự đánh giá hiệu quả HTQL dựa trên các tiêu chí Giảithưởng Baldrige phù hợp đối với điều kiện áp dụng của các DN Việt Nam trong thời giantới, đồng thời đề xuất được các nhóm giải pháp tổng thể nhằm thúc đẩy việc áp dụng môhình tự đánh giá hiệu quả HTQL dựa trên các tiêu chí GTCL cho các DN Việt Nam, địnhhướng DN tiếp cận và áp dụng GTCL không chỉ với mục đích tham gia và đạt giải thưởng
mà còn sử dụng GTCL như một công cụ chuẩn đối sánh và cải tiến hiệu quả HTQL củaDN
Trang 9XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU CHÍNH:
Tự đánh giá dựa trên Giải thưởng Baldrige giúp DN Việt Nam nâng cao hiệu quả HTQL một cách toàn diện thông qua việc nhận diện rõ các điểm mạnh và cơ hội cải tiến
Mô hình hoạt động xuất sắc (BEM)
Tự đánh giá và mô hình tự đánh giá Các Giải thưởng Chất lượng Thực tiễn Giải thưởng chất lượng quốc gia của Việt Nam
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế và xây dựng mô hình tự đánh giá (Giai đoạn 1) Tiến hành Biểu mẫu tự đánh giá dựa trên Giải thưởng Baldrige và Thực nghiệm đánh giá tại 2 DN điển hình (Giai đoạn 2)
Phân tích dữ liệu, Phát hiện nghiên cứu
và Thảo luận (Giai đoạn 3)
Kết luận của nghiên cứu (Giai đoạn 4)
b) Các câu hỏi nghiên cứu:
- Xây dựng Mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige như thếnào cho phù hợp với việc áp dụng của các DN Việt Nam?
- Mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige giúp DN nâng caohiệu quả HTQL một cách toàn diện thông qua việc nhận diện rõ các điểm mạnh và cơ hội
cải tiến như thế nào?
- Làm thế nào để tăng cường việc áp dụng mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chíGiải thưởng Baldrige cho các DN Việt Nam?
1.2 THIẾT KẾ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.2.1 Quan điểm tiếp cận và những cân nhắc khi thiết kế mô hình nghiên cứu
Khi thiết kế nghiên cứu của đề tài, NCS đã cân nhắc đến các vấn
đề sau: (1) Tính thực tiễn và hữu ích của Tự đánh giá cần được đánh
giá trong bối cảnh áp dụng tại các DN Việt Nam (2) Nghiên cứu mang
tính học thuật về mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chí GTCL ở Việt
Nam chưa có (3) Các DN Việt Nam và kể cả các chuyên gia về GTCL
tại Việt Nam cũng còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm thực hành về
tự đánh giá dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige (4) Các vấn
đề cần quan tâm khác như là chi phí, thời gian, vị trí địa lý, sự chênh
lệch về trình độ quản lý giữa các DN, khả năng tiếp cận dữ liệu và kỹ
năng của những người tham gia nghiên cứu NCS cho rằng nghiên cứu
lấy mẫu có chọn lọc và nghiên cứu tình huống điển hình là phù hợp
nhất cho nghiên cứu của luận án này Sau đó, thiết kế nghiên cứu
bao gồm bốn giai đoạn và áp dụng cụ thể vào các tình huống
nghiên cứu căn cứ vào mục đích của nghiên cứu của luận án như
hình dưới đây
Trang 10Hình 1: Quy trình nghiên cứu xây dựng mô hình tự đánh giá
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả
1.2.2 Các giai đoạn của quá trình nghiên cứu (xem Hình 1.1)
- Giai đoạn 1 - Thiết kế và xây dựng mô hình nghiên cứu: Trả lời
cho Câu hỏi nghiên cứu 1 “Xây dựng Mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige như thế nào cho phù hợp với việc áp dụng của các DN Việt Nam?”.
- Giai đoạn 2 - Thực nghiệm các cuộc điều tra, khảo sát và phỏng
vấn: Trả lời Câu hỏi nghiên cứu 2 “Mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chí GTCL giúp DN nâng cao hiệu quả HTQL một cách toàn diện thông qua việc nhận diện rõ các điểm mạnh và cơ hội cải tiến như thế nào?”
- Giai đoạn 3 - Phân tích dữ liệu, phát hiện nghiên cứu và thảoluận: Phân tích bằng phương pháp diễn dịch bằng phần mềm phân tíchthống kê SPSS, các phát hiện nghiên cứu trong quá trình phân tích kếtquả và thảo luận cụ thể các vấn đề nghiên cứu
- Giai đoạn 4 - Kết luận của nghiên cứu: Trả lời Câu hỏi nghiên cứu 3
“Làm thế nào để thúc đẩy áp dụng mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chí GTCL cho các DN Việt Nam?”.
1.2.3 Nghiên cứu tình huống doanh nghiệp
a) Quan điểm lựa chọn phương pháp
NCS đã cố gắng thu thập thông tin về hoạt động thực tiễn tựđánh giá tại các DN Với các đặc điểm mang tính động của nó, nghiêncứu tình huống điển hình cung cấp một cách tiếp cận khả thi để thuthập dữ liệu thực nghiệm và chi tiết để có được cái nhìn sâu sắc vềkiến thức và thực tiễn của DN khi triển khai mô hình tự đánh giá NCS
đã lựa chọn các DN đạt GTCLQG từ năm 1996 cho đến năm 2020 làm
Trang 11tình huống nghiên cứu trong luận án này để tăng độ tin cậy cho cácphát hiện từ kết quả nghiên cứu Tiếp tục lựa chọn 2 DN đại diện,mang tính điển hình để tiến hành quy trình nghiên cứu, nhưng ở mức
độ cụ thể hơn bằng việc thực nghiệm đánh giá tại 2 DN này, kết hợpvới phỏng vấn trực tiếp đội ngũ lãnh đạo, quản lý của 2 DN giúp giatăng mức độ tin cậy của mô hình nghiên cứu, làm rõ sự tương đồng vàkhác biệt giữa tự đánh giá cho DN trực tiếp thực hiện và đánh giá dobên ngoài thực hiện, qua đó có thêm các phát hiện nghiên cứu rõ rànghơn
b) Các nghiên cứu tình huống đại diện đã chọn
Trong nghiên cứu này, lấy mẫu chọn lọc là rất phù hợp vì dựa trênnguyên tắc: số lượng tình huống nghiên cứu càng lớn thì nghiên cứucàng đáng tin cậy, càng phức tạp và chuyên sâu Để lựa chọn các DNđại diện, điển hình để nghiên cứu, NCS quyết định sử dụng phươngpháp chọn mẫu có chủ đích sử dụng một số tiêu chí cụ thể như: (1) Các
DN đã tham gia và đạt GTCLQG của Việt Nam năm 2019 – 2020 đểđảm bảo tính cập nhật của dữ liệu thu thập; (2) Các DN có kinh nghiệm
và thành công trong việc áp dụng thành công các HTQL (như ISO 9001,ISO 14001 ) cũng như các công cụ cải tiến khác; (3) Có đủ loại hình
DN để đảm bảo tính đại diện cho các DN Việt Nam Việc lấy mẫu cóchủ đích này giúp NCS có thể thực hiện việc nghiên cứu với một sốlượng mẫu ít nhưng có thể cung cấp dữ liệu có thông tin tốt nhất vàtránh sai lệch
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT
MÔ HÌNH TỰ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HỆ THỐNG QUẢN LÝ DỰA TRÊN CÁC TIÊU CHÍ GIẢI THƯỞNG CHẤT LƯỢNG QUỐC GIA HOA KỲ
2.1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MÔ HÌNH TỰ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
HỆ THỐNG QUẢN LÝ TẠI DOANH NGHIỆP
2.1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ
2.1.1.1 Hệ thống quản lý
Trang 12Có nhiều khái niệm về hệ thống quản lý (HTQL) theo cách tiếp cận khác nhau Mộtcách hiểu truyền thống nhất, HTQL là một tập hợp các yếu tố về cấu trúc, các quá trình,các phương pháp, phương tiện, công cụ và nguồn lực cần thiết được sử dụng để đạt được
mục tiêu của tổ chức Theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9000 (2015), “HTQL là tập hợp các yếu tố có liên quan hoặc tương tác lẫn nhau của tổ chức “để thiết lập chính sách, mục tiêu và các quá trình để đạt được các mục tiêu đó” (Bộ Khoa học và Công nghệ).
2.1.1.2 Hiệu quả hệ thống quản lý
Hiệu quả HTQL là phản ảnh mối quan hệ giữa kết quả đạt được và nguồn lực được
sử dụng để xây dựng, áp dụng và duy trì một hay một vài HTQL Mỗi một HTQL đều cómục tiêu và kết quả đạt được khác nhau Do vậy khi xem xét, “đánh giá hiệu quả HTQLnào đó DN phải xuất phát từ mục tiêu của chính HTQL này, đồng thời có thể kết hợp xemxét, đánh giá các mục tiêu khác như nhu cầu và mong đợi của các bên quan tâm có liênquan, cả nội bộ và bên ngoài; đặc điểm và các yêu cầu đối với các quá trình, sản phẩm,dịch vụ và bất kỳ sự thay đổi nào đối với chúng
2.1.1.3 Tự đánh giá và mô hình tự đánh giá của doanh nghiệp
a) Đánh giá: Theo tiêu chuẩn TCVN ISO 19011:2018, “Đánh giá là quá trình có
hệ thống, độc lập và được lập thành văn bản để thu được bằng chứng khách quan và xem xét đánh giá chúng một cách khách quan để xác định mức độ thực hiện các chuẩn mực đánh giá” (Bộ Khoa học và Công nghệ) Một cuộc đánh giá có thể là đánh giá nội bộ hay
tự đánh giá (bên thứ nhất) hoặc đánh giá bên ngoài (bên thứ hai hoặc thứ ba) và có thể làmột đánh giá kết hợp hoặc đồng đánh giá Đối với các HTQL phổ biến hiện nay trên thếgiới thì hoạt động đánh giá là một yêu cầu bắt buộc Đánh giá hiệu quả hoạt động của DNđang trở thành một công cụ, một phương pháp ngày càng quan trọng của quá trình quản lý
và của hoạt động cải tiến trong toàn DN
b) Tự đánh giá: Từ các kết quả nghiên cứu và tài liệu đã có từ trước tới nay trên thế
giới và tại Việt Nam, NCS lựa chọn cách tiếp cận của Tiêu chuẩn quốc tế TCVN ISO
9004 (2018) về khái niệm “tự đánh giá” trong luận án này Theo đó “tự đánh giá” là hoạt
động xem xét, kiểm tra, đánh giá do chính DN thực hiện nhằm giúp DN nhận diện rõnhững điểm mạnh và cơ hội cải tiến hệ thống quản lý của DN Khái niệm này đồng nhấtvới nhiều nghiên cứu về tự đánh giá trên thế giới từ trước tới nay Khái niệm này đã đượcNCS sử dụng làm định hướng cho việc thiết kế mô hình tự đánh giá hiệu quả HTQL dựatrên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige và áp dụng thí điểm mô hình này tại các DN đượclựa chọn
c) Mô hình tự đánh giá: “Mô hình tự đánh giá là một khung mẫu cho hoạt động tự đánh giá, trong đó bao gồm tập hợp các yếu tố, các chuẩn mực hay tiêu chí đánh giá, các giai đoạn và các phương pháp tự đánh giá; đồng thời chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa chúng nhằm đạt được mục tiêu đánh giá là giúp DN nâng cao hiệu quả HTQL thông qua việc nhận diện rõ những điểm mạnh và cơ hội cải tiến HTQL của mình dựa trên một cơ
sở hay nền tảng và mục tiêu đánh giá đã lựa chọn” Với cách lập luận như vậy, từ đây ta
Trang 13có thể phân định mô hình tự đánh giá hiệu quả HTQL dựa trên các tiêu chí Giải thưởngBaldrige Chuẩn mực hay cơ sở nền tảng để đánh giá được lựa chọn ở đây chính là cáctiêu chí của Giải thưởng Baldrige.
2.1.2 Giải thưởng chất lượng – Cơ sở nền tảng của hoạt động tư đánh giá trên thế giới và tại Việt Nam
2.1.2.1 Giải thưởng Chất lượng Quốc gia Hoa Kỳ (Giải thưởng Baldrige)
Giải thưởng Baldrige là tên thường gọi của Giải thưởng Malcolm Baldrige, hayGiải thưởng Chất lượng Quốc gia Hoa Kỳ, được thiết lập năm 1987 Sự ra đời của Giảithưởng Baldrige chính là sự khẳng định cách tiếp cận mới về nguyên tắc trong quản lý
DN Giải thưởng Baldrige được giao cho Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Hoa
Kỳ (NIST) chủ trì thực hiện với sự hợp tác và hỗ trợ của Hiệp hội Chất lượng Hoa Kỳ(ASQ)
Giải thưởng Baldrige được nhiều nước trên thế giới coi là “mô hình chuẩn đểnghiên cứu học tập khi xây dựng giải thưởng chất lượng quốc gia của mình Các tiêu chídựa trên các nguyên tắc quản lý hiện đại, là nền tảng để phát triển các công cụ cải tiến và
hệ thống quản lý tiên tiến như ISO 9001, TQM, 5S Bảy tiêu chí được phân chia thành
18 hạng mục tiêu chí giải thưởng Các yêu cầu của tiêu chí giải thưởng được diễn đạtthành hơn 200 câu hỏi Tổng điểm chấm tối đa của 7 tiêu chí là 1000 điểm
2.1.2.2 Giải thưởng Chất lượng Châu Âu (EFQM Excellence Model)
Giải thưởng Chất lượng Châu Âu được thiết lập vào năm 1992 theo sáng kiến của
Tổ chức Quản lý Chất lượng Châu Âu (EFQM) với sự ủng hộ của Tổ chức Chất lượngChâu Âu (EOQ) và Uỷ ban Châu Âu (EC) Việc thiết lập Giải thưởng Chất lượng Châu Âu
là kết quả của tiến trình phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh ở Châu Âu Ngay từnhững năm đầu của thập niên 1980, các DN Châu Âu đã bắt đầu có những nỗ lực trongviệc tìm kiếm cách tiếp cận thích hợp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trườngthế giới, trong đó đặc biệt chú ý đến vấn đề chất lượng theo nghĩa rộng
2.1.2.3 Giải thưởng Chất lượng Quốc gia của Việt Nam
GTCLQG được thành lập năm 1995 và chính thức tổ chức xét thưởng năm 1996
GTCLQG được thiết lập, triển khai trên cơ sở chấp nhận mô hình và các tiêu chí của Giải thưởng Baldrige Năm 2009 Giải thưởng chính thức đổi tên từ GTCL Việt Nam thành
GTCLQG theo Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá năm 2007 và do Thủ tướng Chínhphủ ký quyết định trao tặng GTCLQG nằm trong hệ thống Giải thưởng Chất lượng Quốc
tế Châu Á - TBD (GPEA) GTCLQG được trao giải hằng năm và giao cho Tổng cụcTCĐLCL - Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì thực hiện Các tiêu chí GTCLQG chấpnhận hoàn toàn 7 tiêu chí của Giải thưởng Baldrige và được cập nhật thường xuyên khi cóthay đổi Mặc dù đã triển khai được 25 năm nhưng thực tế chương trình GTCLQG củaViệt Nam mới chỉ thực hiện mục đích tôn vinh và khen thưởng cho DN tham dự, chứ
Trang 14Tiêu chí 1:
Vai trò của Lãnh đạo (120 điểm)
Tiêu chí 4:
Đo lường, phân tích và quản lý tri thức (90 điểm)
Tiêu chí 5:
Quản lý nguồn nhân lực (85 điểm)
Tiêu chí 6:
Quản lý quá trình (85 điểm)
Giới thiệu doanh nghiệp:
Môi trường hoạt động, mối quan hệ và các thách thức chiến lược
chưa thực sự hướng DN sử dụng GTCL như một công cụ quản lý và cải tiến nhằm nâng
cao hiệu quả HTQL của DN như hầu hết các GTCL của các quốc gia trên thế giới
2.1.3 Các tiêu chí Giải thưởng Baldrige làm chuẩn mực đánh giá
Hình 2: Sơ đồ mối quan hệ của các tiêu chí Giải thưởng Baldrige
Nguồn: Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
- Nhóm 1 "Quá trình" gồm "6 tiêu chí (Tiêu chí 1 đến Tiêu chí 6) với 12 hạng mục
nội dung: Đưa ra các yêu cầu liên quan đến các mặt hoạt động khác nhau của DN, trong
đó đề cập đến cả hai mặt của vấn đề “Khả năng tiếp cận” và “Biện pháp triển khai”, bắt
đầu từ chiến lược, mục tiêu và biện pháp được xác định và cam kết cho đến việc triển khai
thực hiện” chúng
- Nhóm 2 "Kết quả" gồm 6 "hạng mục nội dung quy định trong Tiêu chí 7: Đưa ra
các yêu cầu về thể hiện các “Kết quả hoạt động” cụ thể, trong đó đặc biệt chú trọng đến
những kết quả do hoạt động cải tiến và đổi mới liên tục mang lại và sự so sánh với các đối
thủ cạnh tranh” chính."
Các nghiên cứu từ trước đến nay về GTCL đã cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa
Giải thưởng Baldrige và HTQLCL ISO 9000 Giải thưởng Baldrige được xây dựng trên
nền tảng của các nguyên tắc HTQLCL ISO 9000, trong đó các yêu cầu của tiêu chuẩn ISO
9001:2015 “Hệ thống quản lý chất lượng – Các yêu cầu” được đề cập đầy đủ trong các
nội dung tiêu chí Giải thưởng Baldrige và các triết lý về đổi mới và cải tiến liên tục quy
định trong ISO 9004:2018 “Quản lý chất lượng - Chất lượng của tổ chức - Hướng dẫn
để đạt được thành công bền vững” cũng được thể hiện rõ ràng trong các giá trị cốt lõi
của Giải thưởng Baldrige
Trang 152.1.4 Mục đích và lợi ích triển khai mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chí GTCL tại các doanh nghiệp
2.1.4.1 Mục đích của hoạt động tự đánh giá
Mục đích chính của tự đánh giá là phát hiện những điểm mạnh, điểm cần cảitiến và hướng tới mô hình xuất sắc Chính vì thế, mô hình xuất sắc vừa là mục tiêucải tiến vừa là cơ sở hay chuẩn cho hoạt động tự đánh giá của DN Tự đánh giá dựatrên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige cũng theo đuổi mục đích này
2.1.4.2 Lợi ích của tự đánh giá và sự cần thiết khách quan của tự đánh giá để cải tiến hiệu quả HTQL của doanh nghiệp
Từ các lợi ích đã được đề cập trong các nghiên cứu từ trước tới nay, NCS thấy rằngcác lợi ích thu được nêu trên có thể chia thành 4 loại chính sau:
(1) Kết quả kinh doanh: Một đặc điểm chính của các GTCL là chú trọng vào kết
quả
(2) Văn hóa doanh nghiệp: Một lợi ích quan trọng về văn hóa là cách tự đánh giá
cho phép các nhà quản lý hiểu biết rộng hơn về DN của mình
(3) Quản lý quá trình và cải tiến liên tục: Khái niệm quá trình là trọng tâm của mô
hình GTCL Chia sẻ, học hỏi và cải tiến liên tục được định hướng xuyên suốt trong toàn
b) Năng lực và kinh nghiệm của chuyên gia đánh giá: Chuyên gia đánh giá phảiđược đào tạo, huấn luyện theo đúng quy định Người thực hiện đánh giá đòi hỏi phải làngười nắm vững kiến thức về HTQL, tiêu chí giải thưởng và kinh nghiệm thực hiện đánhgiá
c) Sự tham gia của mọi người trong doanh nghiệp: Đây là một trong yếu tố thànhcông quan trọng nhất trong việc triển khai GTCL Lãnh đạo DN phải cam kết ủng hộ, trựctiếp tham gia và cung cấp nguồn lực cần thiết để DN có khả năng triển khai hoạt động tựđánh giá một cách hiệu quả và hiệu lực trong toàn bộ DN