Khi sức lao động trở thành hàng hóa thì tiền tệmang hình thái là tư bản và gắn liền với nó là một quan hệ sản xuất mới xuất hiện: quan hệ giữa nhà tư bản và lao động làm thuê.. Hơn nữa,
Trang 191, Nguyễn Thị Huyền Trang
92, Nguyễn Thị Minh Trang
Trang 2MỞ ĐẦU
Học thuyết giá trị là xuất phát điểm trong toàn bộ lý luận kinh tế của C.Mác.Trong học thuyết này, C.Mác nghiên cứu mối quan hệ giữa người với người thông quamối quan hệ giữa vật với vật Cơ sở về kinh tế để xác lập quan hệ giữa người với ngườithông qua quan hệ giữa vật với vật chính là lao động, cái thực thể, yếu tố cấu thành giá trị của hàng hóa Đó chính là trọng tâm của học thuyết giá trị Sản xuất hàng hóa và gắnliền với nó là các phạm trù: giá trị, hàng hóa, tiền tệ đã từng có trước chủ nghĩa tư bản
Nó là những điều kiện tiền đề để cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời vàphát triển Nhưng sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa khác với sản xuất hàng hóa giảnđơn không chỉ về trình độ mà còn khác cả về chất nữa Và khi xuất hiện một loại hànghóa mới đó là hàng hóa sức lao động Khi sức lao động trở thành hàng hóa thì tiền tệmang hình thái là tư bản và gắn liền với nó là một quan hệ sản xuất mới xuất hiện: quan
hệ giữa nhà tư bản và lao động làm thuê Thực chất của mối quan hệ này là nhà tư bảnchiếm đoạt giá trị thặng dư của công nhân làm thuê Giá trị thặng dư là nguồn gốc hìnhthành nên thu nhập của các nhà tư bản và các giai cấp bóc lột trong chủ nghĩa tư bản.Từhọc thuyết giá trị và cơ sở thực tiễn mà C.Mác đã xây dựng nên học thuyết giá trị thặng
dư Học thuyết giá trị thặng dư là phát minh quan trọng thứ hai sau phép biện chứng duyvật Nội dung chính của học thuyết này phát biểu rằng sản xuất và chiếm hữu giá trịthặng dư là hình thức đặc biệt trong chủ nghĩa tư bản về sản xuất và chiếm hữu sản phẩmthặng dư, nghĩa là hình thức cao nhất của sự tha hóa con người đối với hoạt động củamình, đối với sản phẩm từ hoạt động đó, đối với chính mình, đối với người khác Để hiểu
rõ về giá trị thặng dư chúng ta cùng đi sâu tìm hiểu về quá trình sản xuất và phương phápsản xuất ra giá trị thặng dư
Để bài luận được khoa học, rõ ràng, chúng tôi chia bài luận theo bố cục 3 phần,không kể Danh mục viết tắt, Tài liệu tham khảo, phần Lời mở đầu và Kết luận:
Chương I: Lí luận về giá trị thặng dư
Chương II: Lí luận của C Mác về phương pháp sản xuất giá trị thặng dư dướichủ nghĩa tư bản
Chương III: Ý nghĩa thực tiễn của lí luận này đối với Việt Nam hiện nay
Trang 4CHƯƠNG I LÍ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
I.1 Sự chuyển hoá tiền tệ thành tư bản:
Tiền tệ ra đời là kết quả lâu dài và tất yếu của quá trình sản xuất và trao đổi hànghoá đồng thời tìên tệ cũng là khởi điểm của tư bản Nhưng bản thân tiền tệ không phải là
tư bản Tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định , khi chúng được sửdụng để bóc lột sức lao động của người khác Tiền được coi là tiền thông thườg thì vậnđông theo công thức sau H-T-H (hàng - tiền - hàng) nghĩa là sự chuyển hoá của hàng hoáthành tiền , rồi tiền lại chuyển hoá thành hàng hoá Còn tiền với tư cách là tư bản thì vậnđộng theo công thức: T-H-T (tiền - hàng - tiền ) tức là sự chuyển hoá của tiền thànhhàng hoá rồi hàng hoá lại chuyển hoá ngược lại thành tiền Bất cứ biến động nào vậnđộng theo công thức T-H-T đều chuyển hoá thành tư bản Mục đích của lưu thông hànghoá giản đơn là giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu nên hàng hoá trao đổi phải có giá trị
sử dụng khác nhau Sự vận động sẽ kết thúc ở giai đoạn hai khi những người trao đổi cóđược giá trị sử dụng mà người đó cần đến Còn mục đích lưu thông tư bản không phải làgiá trị sử dụng mà là giá trị ,hơn nữa là giá trị tăng thêm Vì vậy số tiền thuvề bằng sốtiền ứng ra thì sự vận động trở nên vô nghĩa Do vậy mà số tiền thu về phải lớn hơn sốtiền ứng ra nên công thức vận động đầy đủ của tư bản là :
T-H-T' trong đó T'= T + ∆T
Ví dụ:
Một nhà sản xuất có số vốn là 1 tỷ đồng, sau khi đầu tư mua máy móc thiết bị,nguyên liệu sản xuất, thuê công nhân,… thì họ thu được lại một khản tiều là 1,5 tỷ đồng.như vậy, giát trị thặng dư của nhà sản xuất đó là 500 triệu đồng
Ta trao đổi những vật không ngang giá thì cũng không sinh ra giá trị thặng dư Lưu
Số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra C Mác gọi là giá trị thặng dư Vạy tư bản là giá trịmang lại giá trị thặng dư , nên sự vận động tư bản không có giới hạn vì sự lớn lên của giátrị là không có giới hạn Tiền ứng trước tức là tiền đưa vào lưu thông , khi trở về tayngười chủ của nó thì thêm một lượng nhất định Vậy có phải do bản chất của lưu thông
Trang 5đã làm cho tiền tăng thêm và do đó mà hình thành giá trị thặng dư hay không? Các nhàkinh tế học tư sản đã cho rằng sự tăng thêm đó là do lưu thông hàng hoá sinh ra.
Trong lưu thông hàng hoá được thay đổi ngang giá thì chỉ có sự thay hình tháigiá trị, còn tổng số giá trị cũng như phần giá trị thuộc về mỗi bên trao đổi là không đổi.Theo quan điểm của C Mác thì trong xã hội tư bản không có bất kỳ một nhà tư bản nàochỉ đóng vai trò người bán sản phẩm mà lại không phải là người mua các yếu tố sản xuất
Vì vậy khi anh ta bán hàng hoá cao hơn giá trị vốn của nó thì khi mua các yếu tố sản xuất
ở đầu vào các nhà tư bản khác cũng bán cao hơn giá trị và như vậy cái được lợi khi bán
sẽ bù cho cái thiệt hại khi mua Cuối cùng vẫn không tìm thấy nguồn gốc sinh ra ∆T Nếuhàng hoá được bán thấp hơn giá trị thì số tiền mà người đó sẽ được lợi khi là người muacũng chính là số tiền mà người đó sẽ mất đi khi là người bán như vậy, việc sinh ra ∆Tkhông thể là kết quả của việc mua hàng thấp hơn giá trị của nó Giả định có một số ngườinhờ mánh khoé mà chuyên mua được rẻ bán được đắt thì như C Mác nói điều đó chỉ cóthể là giải thích được sự làm giầu của những thương nhân cá biệt chứ không thể giải thíchđược sự làm giầu của toàn bộ giai cấp các nhà tư bản Bởi vì tổng số giá trị trước lúc traođổi cũng như trong và sau khi trao đổi không thay đổi mà chỉ có phần giá trị nằmtrong tay mỗi bên trao đổi là thay đổi Như vậy, nếu người ta thay đổi những vật nganggiá thì không sinh ra giá trị thặng dư, và nếu người thông không tạo ra giá trị mới Nhưngnếu người có tiền không tiếp xúc gì với lưu thông tức là đứng ngoài lưu thông thì khôngthể làm cho tiền của mình lớn lên được vậy thì tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông
và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông;(C Mác: TB, NXB Sự thật, HN, 1987 Q1, tập 1, trang 216) Đó là mâu thuẫn chung củacông thức tư bản
I.1.1 Hàng hoá sức lao động:
Sự chuyển hoá của tiền thành tư bản, không thể phát sinh từ bản thân số tiền đó.Trong việc mua bán hàng hoá tiền chỉ là phương tiện lưu thông để thực hiện giá cả hànghoá, nên trước sau giá trị của nó vẫn không thay đổi Sự chuyển hoá đó xẩy ra trong quátrình vận động của tư bản.Nhưng sự chuyển hoá đó không sảy ra ở giá trị trao đổi hànghoá vì trong trao đổi người ta trao đổi nhưng vật ngang giá mà chỉ có thể ở giá trị sử dụnghàng hoá Do đó hàng hoá đó phải là một thứ hàng hoá đặc biệt mà giá trị sử dụng của nó
Trang 6có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Thứ hàng hoá đó là sức lao động mà nhà tư bản
đã tìm thấy trên thị trường Như vậy, sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực và trí lựctồn tại trong cơ thể con người, thể lực và trí lực mà người đó đem ra vận dụng trong quátrình tái sản xuất ra một giá sử dụng Không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá,
mà sức lao động chỉ biến thành hàng hoá trong điều kiện lịch sử nhất định C Mác đãnhấn mạnh sức lao động chỉ trở thành hàng hoá khi có đủ hai điều kiện sau:
- Một là người lao động phải tự do về thân thể, phải làm chủ được sức lao động củamình và có quyền đem bán cho người khác.Vậy người có sức lao động phải có quyền sởhữu sức lao động của mình
- Hai là người lao động phải tước hết tư liệu tư liệu sản xuất để trở thành người vôsản và bắt buộc phải bán sức lao động, vì không còn cách nào khác để sinh sống Sự tồntại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hoá.Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện quyết định để biến thành tư bản Cũng nhưnhững hàng hoá khác, hàng hoá sức laođộng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng.Giá trị hàng hoá sức lao động do thời gian lao động cần thiết để sản xuất và tái sản xuấtsức lao động Giá trị hàng hoá sức lao động là giá trị của tư liệu sinh hoạt cần thiết đểnuôi sống người công nhân, vợ con anh ta, những yếu tố tinh thần, dân tộc, tôn giáo củanhững người công nhân, những chi phí đào tạo người công nhân Giá trị hàng hoásức lao động giống giá trị hàng hoá thông thường ở chỗ: nó phản ánh một lượng lao độnghao phí nhất định để tạo ra nó Nhưng giữa chúng ta có sự khác nhau căn bản, giá trị hànghoá hàng hoá thông thường biểu thị hao phí lao động trực tiếp để sản xuất hàng hoánhưng hàng hoá sức lao động lại là sự hao phí lao động gián tiếp thông qua việc sản xuất
ra những vật phẩm tiêu dùng để nuôi sống người công nhân còn hàng hoá sức lao độngngoài yếu tố vật chất nó còn có yếu tố tinh thần lịch sử, dân tộc, yếu tố gia đình và truyềnthống nghề nghiệp mà hàng hoá thông thường đó không có Giá trị sử dụng của hàng hoásức lao động chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình laođộng của người công nhân Quá trình đó là quá trình sản xuất ra hàng hoá, đồng thời làquá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị hàng hoá sức lao động Phần lớn hơn đó là giátrị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt Như vậy giá trị sử dụng của hàng hoá
Trang 7sức lao động có tính chất đặc biệt là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là giá trị mới lớn hơngiá trị bản thân nó.
Ví dụ:
Một người nông dân có một thửa ruộng là 500 ha nhưng không sử dụng và đã chothuê Người nông dân đó lại đi làm thuê cho một doanh nghiệp tư nhân Qua đây, ta thấyđược rằng sức lao động của ngườin ông dân này làm thuê cho doanh nghiệp được gọi làhàngh óas ức lao động, bởi người nông dân đó được coi là bị tức hết tư liệu sản xuất
I.1.2 Bản chất giá trị thặng dư:
Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị,hơn không phải là giá trị đơn thuần mà là giá trị thặng dư để sản xuất giá trị thặng dư.Nhà tư bản muốn sản xuất ra 1 giá trị sử dụng có một giá trị trao đổi nghĩa là một hànghoá Hơn nữa, nhà tư bản muốn sản xuất ra một hàng hoá có giá trị lớn hơn tổng giá trịnhững tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động mà tư bản đó bỏ ra để mua, nghĩa là muốnsản xuất ra một giá trị thặng dư Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhấtgiữa các quá trình sả xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư C.Mác viết: với tư cách là sự thống nhất giữa hai quá trình lao động và quá trình tạo ra giátrị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá; với tư cách là sự thống nhấtgiữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trìnhsản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá
Quá trình lao động với tư cách là quá trình tư bản tiêu dùng sức lao động có hai đặctrưng:
Một là, người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản giống nhưnhững yếu tố khác của sản xuất được nhà tư bản sử dụng sao cho hiệu quả nhất
Hai là, sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản, chứ không phải của ngườicông nhân C Mác đã lấy ví dụ về việc sản xuất của nước Anh làm đối tượng nghiên cứuquá trình sản xuất giá trị thặng dư Để nghiên cứu, Mác đã sử dụng phương pháp giả địnhkhoa học thông qua giải quyết chặt chẽ tiến hành nghiên cứu: không xét đến ngoạithương, giá cả thống nhất với giá trị, toàn bộ giá trị tư liệu sản đem tiêu dùng chuyển hết
Trang 8một lần giá trị sản phẩm và chỉ nghiên cứu trong nền kinh tế sản xuất giản đơn Từ giảđịnh trên mà C Mác đưa ra một loạt các giả thiết về nghiên cứu: Nhà tư bản dự kiến kéo
10 kg sợi;giá 1 kg bông là 1 đôla; hao mòn thiết bị máy móc để kéo 5 kg bông thành 5 kgsợi là 1 đôla; tiền thuê sức lao động 1 ngày là 4 đôla; giá trị mới 1 giờ lao động của côngnhân là 1 đôla và chỉ cần 4 giờ người công nhân kéo được 5 kg bông thành 5 kg sợi Từ
đó ta có bảng sau: Tư bản ứng trước Giá trị của sản phẩm mới Giá trị 10 kg bông 10 đôlaLao động cụ thể của công nhân bảo tồn và chuyển giá trị 10 kg bông vào 10 kg sợi 10đôla Hao mòn máy móc 2 đôla Khấu hao tài sản cố định 2 đôla Tiền thuê sức lao độngtrong một ngày 4 đôla Giá trị mới do 8 giờ lao động của người công nhân tạo ra 8 đôlaTổng chi phí sản xuất 16 đôla Tổng doanh thu 20 đôla Nhà tư bản đối chiếu giữa doanhthu sau khi bán hàng (20 đôla) với tổng chi phí tư bản ứng trước quá trình sản xuất (16đôla) nhà tư bản nhận thấy tiền ứng ra đã tăng lên 4 đôla, 4 đôla này được gọi là giá trịthặng dư Từ sự nghiên cứu trên, chúng ta rút ra một số nhận xét sau: “Một là, nghiên cứuquá trình sản xuất giá trị thặng dư chúng ta nhận thấy mâu thuẫn của công thức chung của
tư bản đã được giải quyết Việc chuyển hoá tiền thành tư bản diễn ra trong lĩnh vực lưuthông và đồng thời không diễn ra trong lĩnh vực đó Chỉ có trong lưu thông nhà tư bảnmới mua được một thứ hàng hoá đặc biệt, đó là hàng hoá sức lao động Sau đó nhàtư bản
sử dụng hàng hoá đó trong sản xuất, tức là ngoài lĩnh vực lưu thông để sản xuất giá trịthặng dư cho nhà tư bản Do đó tiền của nhà tư bản mới biến thành tư bản Hai là, phântích giá trị sản phẩm được sản xuất (10 kg sợi), chúng ta thấy có hai phần : Giá trị những
tư liệu sản xuất nhờ lao động cụ thể của người công nhân mà được bảo tồn và di chuyểnvào giá trị của sản phẩm mới (sợi) gọi là giá trị cũ Giá trị do lao động trìu tượng củangười công nhân tạo ra trong quá trình lao động gọi là giá trị mới, phần giá trị mới nàylớn hơn giá trị sức lao động, nó bằng giá trị sức lao động cộng thêm giá trị thặng dư Ba
là, ngày lao động của người công nhân trong xí nghiệp tư bản được chia thành hai phần:Một phần gọi là thời gian lao động cần thiết: trong thời gian này người công nhân tạo rađược một lượng giá trị ngang bằng với giá trị sức lao động hay mức tiền công mà nhà tưbản giả cho mình(4 đôla) Phần thời gian còn lại là thời gian lao động thặng dư : trongthời gian lao động thặng dư người công nhân tạo một lượng giá trị lớn hơn giá trị sức laođộng hay tiền lương nhà tư bản đã trả cho mình, đó là giá trị thặng dư (4 đôla) và bộ phậnnày thuộc về nhà tư bản ( nhà tư bản chiếm đoạt) Từ đó mà C Mác đã đi đến khái niệm
về giá trị thặng dư: Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra bên ngoài giá trị sức lao động do
Trang 9công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị tư bản chiếm đoạt Quá trình sản xuất ra giá trịthặng dư là quá trình sản xuất ra giá trị vượt khỏi điểm mà ở đó sức lao động của ngườicông nhân đã tạo ra một lượng giá trị mới ngang bằng với giá trị sức lao động hay mứctiền công mà nhà tư bản đã trả họ Thực chất của sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất ragiá trị vượt khỏi giới hạn tại điểm đó là sức lao động được trả ngang giá.”
I.2 Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
I.2.1 Giá trị thặng dư tuyệt đối
– Khái niệm: Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thờigian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trịsức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi
– Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối:
Bất cứ nhà tư bản nào cũng muốn kéo dài ngày công lao động của công nhân,nhưng việc kéo dài đó không thể vượt qua giới hạn sinh lý của công nhân Bởi vì, ngườicông nhân cần có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe Do vậy, việckéo dài thời gian lao động gặp sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhân đòi giảmgiờ làm Khi độ dài ngày lao động không thể kéo dài thêm, vì lợi nhuận của mình, nhà tưbản lại tìm cách tăng cường độ lao động của người công nhân Vì tăng cường độ lao động
có nghĩa là chi phí nhiều sức lao động hơn trong một khoảng thời gian nhất định Nêntăng cường độ lao động về thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động Vì vậy,kéo dài thời gian lao động hay tăng cường độ lao động đều để sản xuất giá trị thặng dưtuyệt đối
Phương pháp này chủ yếu áp dụng trong thời kỳ đầu nền sản xuất tư bản, với việcphổ biến sử dụng lao động thủ công và năng suất lao động thấp
I.2.2 Giá trị thặng dư tương đối
– Khái niệm: Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thờigian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tưliệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lênngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động vẫn như cũ
Trang 10– Điểm mấu chốt của phương pháp này là phải hạ thấp giá trị sức lao động Điều đóđồng nghĩa với giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho côngnhân Muốn vậy phải tăng năng suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêudùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để trang bị cho ngành sản xuất ra các tư liệutiêu dùng.
– Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản pháttriển nhưng lúc đầu chỉ một số nhà tư bản làm được vì điều kiện khoa học, kỹ thuật chưacho phép Khi đó, các nhà tư bản này tăng được năng suất lao động nên thu được giá trịthặng dư siêu ngạch Khi các nhà tư bản đều cải tiến kỹ thuật, giá trị thặng dư siêu ngạch
sẽ không còn Tất cả sẽ thu được giá trị thặng dư tương đối Do đó giá trị thặng dư siêungạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
I.2.3 Giá trị thặng dư siêu ngạch
- Khái niệm:
+ Giá trị thặng dư siêu ngạch hay còn gọi là siêu lợi nhuận hoặc lợi nhuận siêu
ngạch là phần giá trị thặng dư (lợi nhuận) thu được do tăng năng suất lao động cá biệt,làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị bình thường của nó “Như thế nhà tưbản chỉ phải bỏ ra ít chi phí hơn các nhà tư bản khác mà lại vẫn bán được với giá như các
nhà tư bản khác, từ đó thu được giá trị thặng dư cao hơn.”
+ Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực trực tiếp, mạnh nhất thúc đẩy các nhà tưbản cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, hoàn thiện tổ chức lao động
và tổ chức sản xuất để tăng năng suất lao động, giảm giá trị hàng hóa
- Ví dụ:
Giả sử trên thị trường sản xuất có các nhà doanh nghiệp A, B, C, D Xét quá trìnhsản xuất của các doanh nghiệp theo thời gian lao động xã hội cần thiết và thời gian laođộng cá biệt:
Trang 11của từng doanh nghiệp quá trình sản xuất của các doanh nghiệp
này chính là giá trị thặng dư siêu ngạch.
- Vận dụng lý luận giá trị thặng dư siêu ngạch vào Việt Nam
Quá trình phát triển của nước ta được chia làm 2 giai đoạn:
• Giai đoạn trước 1986:
+ Trước đổi mới các doanh nghiệp Việt Nam đều là các doanh nghiệp nhà nướcđược nhà nước bao cấp hoàn toàn Sản phẩm làm ra theo định lượng của nhà nước, thậmchí còn không cần biết đến việc sản phẩm đó tạo ra có đúng theo nhu cầu của thị trườnghay không, vì thế mà nền kinh tế trì trệ
+ Các doanh nghiệp quốc doanh bị mai một, thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu tựchủ, hoàn toàn ỷ lại cấp trên nhà nước Vì các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế: sảnxuất, kinh doanh theo chỉ tiêu nhà nước giao; được nhà nước cung cấp các yếu tố đầu vào
Trang 12(máy móc, thiết bị, vốn, vật tư…) và bao tiêu hàng hóa ở đầu ra cho doanh nghiệp Nếudoanh nghiệp làm ăn có lãi thì nộp cho nhà nước còn lỗ thì nhà nước chịu do đó cácdoanh nghiệp quốc doanh hoạt động rất kém hiệu quả.
• Giai đoạn 1986 tới nay:
+ Sau đổi mới năm 1986, các doanh nghiệp nhà nước không còn hoàn toàn đượcnhà nước bao cấp nữa mà bắt đầu phải tự chủ, bước vào nền kinh tế thị trường Đồng thờicác doanh nghiệp tư nhân đầu tiên cũng ra đời Thay đổi cơ cấu kinh tế “chỉ huy tậptrung” tiến tới nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mở cửa giao lưu kinh
tế với các nước chuyền giao công nghệ
+ Tiếp đến, sự tràn vào hàng hóa của các nước khác, đặc biệt là hàng Trung Quốcgiá rẻ đã tạo nên một áp lực lớn đối với các doanh nghiệp trong nước Áp lực này buộc
họ phải đổi mới công nghệ nhằm tăng sức cạnh tranh để có thể tồn tại và đứng vứngtrong nền kinh tế thị trường
+ Áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất: ngày nay việc áp dụng các thành tựkhoa học – kĩ thuật đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với nông nghiệp, đemlại kinh tế cao ví dụ như sản xuất bảo quản thu hoạch
+ Đối với công nghiệp, nhất là trong lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử, viễnthông đã ứng dụng nhiều thành tựu khoa học – kĩ thuật của thế giới, thực hiện theo chủtrương của Đảng ta là “đi trước đón đầu”, đẩy mạnh, góp phần tăng giá trị của sản phẩm
Tuy nhiên hạn chế của Việt Nam hiện nay là về mặt công nghệ Tuy đã được cải tiếnnhưng vẫn thua kém các nước phát triển.Do công nghệ ở Việt Nam phần lớn là mua lạicác công nghệ không còn được sử dụng ở nước ngoài với mức giá rẻ Điển hình là chúng
ta vẫn dùng 3G ở mức độ ì ạch, trong khi Hàn Quốc đang sử dụng mạng 4G với tốc độgấp hàng trăm lần so với 3G Không những thế, họ còn đang phát triển mạng 5G với tốc
độ nhanh gấp 1000 lần so với 4G Để giải quyết hạn chế về công nghệ, các doanh nghiệpViệt Nam cần tiến hành hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài để được chuyền giaocông nghệ mới từ các nước phát triển
Trang 13+ Nước ta đang có tỉ lệ dân số vàng, tuy nhiên trình độ nhân lực ở nước ta còn thấp,chưa thể bắt kịp trình độ phát triển của công nghệ Năm 2008, Intel đầu tư vào ViệtNam Chỉ tiêu tuyển dụng của họ là 4000 nhân viên, đó là một cơ hội lớn cho nguồn nhânlực ở nước ta Tuy nhiên số hồ sơ trúng tuyển chỉ là 40 người với trình độ chỉ ở mứctrung bình Vấn đề nhân lực vẫn là vấn đề cần được chú trọng trong thời gian tới Việcnâng cao chất lượng giáo dục, giảm khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành là vô cùngcần thiết.
+ Cùng với việc mở cửa nền kinh tế, chúng ta cũng đồng thời mở rộng mối quan hệvới các nước nhằm thu hút vốn đầu tư của nước ngoài Trong những năm qua hàng chục
tỷ đô la đã được đầu tư vào Việt Nam, nhiều khu đô thị đã ra đời và hoạt động có hiệuquả Bên cạnh đó, ngoài việc hỗ trợ vốn cho phát triển kinh tế, chúng ta còn ký kết đượccác nước phát triển giúp đỡ đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn giỏi Việc mởrộng quan hệ các nước phát triển đã giúp chúng ta phát triển nhiều ngành mới như điện
tử, công nghệ thông tin, ô tô,… tạo ra tiền đề cho công nghiệp phát triển
- Những thay đổi trên đã làm cho đời sống của toàn xã hội được tăng lên rõ rệt,mức thu nhập bình quân đầu người tăng cao Chúng ta không chỉ có nhu cầu “ăn no mặcấm” mà bây giờ là nhu cầu “ăn ngon mặc đẹp” Nhiều nhà cao tầng mọc lên, phương tiện
đi lại đã đưa cơ giới hóa, mặt hàng dân trí được nâng lên,…
Trang 14CHƯƠNG II LÍ LUẬN CỦA MÁC VỀ PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ DƯỚI CHỦ
mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân tạo ra
Tư bản bất biến (C) : là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giátrị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm tức là giá trị k thay đổi về lượng trong quá trìnhsản xuất Bao gồm : máy móc , nhà xưởng, nguyên liệu , nhiên liệu Nó có đặc điểm làgiá trị của chúng được bảo toàn và di chuyển vào sp Giá trị tư liệu sản xuất được bảotồn dưới hình thức giá trị thặng dư mới
Tư bản khả biến ( V ): là bộ phận tư bản biến thành sức lao động k tái hiện ranhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân làm thuê mà tăng lên tức là tăng lên
về lượng Nó có đặc điểm là giá trị của nó biến thành tư liệu sinh hoạt của công nhân vàbiến đi trong quá trình tiêu dùng của công nhân Trong quá trình lao động công nhân tạo
ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động nó bằng giá trị sức lao động + giá trị thặng dư
Ví dụ : tiền thuê nhân công , lương trả cho người lao động
=> Như vậy, tư bản bất biến là điều kiện cần thiết k thể thiếu được để sản xuất ra giátrị thặng dư , còn tư bản khả biến có vai trò quyết định trong quá trình đó , vì nó chính là
bộ phận tư bản đã lớn lên
Việc phát hiện ra tính 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa đã giúp C.Mac tìm rachiếc chìa khóa để xác định sự khác nhau giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến
Trang 15=> Mục đích của sự phân chia đó là vạch rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản , chỉ cólao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản Đồng thờiphân biệt như vậy cũng là để làm rõ quá trình và tìm ra các điều kiện để sản xuất
ra GTTD , tìm ra mối quan hệ giữa tư liệu sản xuất và sức lao đông
II.2 Mối quan hệ giữa 2 phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối
II.2.1 Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi kỹ thuật cònthấp, tiến bộ chậm chạp thì phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư là kéo dàingày lao động của công nhân
Giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng cách kéo dài ngày lao động trong điều kiệnthời gian lao động tất yếu không thay đổi, nhờ đó kéo dài thời gian lao động thặng dư gọi
là giá trị thặng dư tuyệt đối
Các nhà tư bản tìm mọi cách kéo dài ngày lao động, nhưng ngày lao động có nhữnggiới hạn nhất định Giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần của người laođộng quyết định Vì công nhân phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồisức khoẻ Việc kéo dài ngày lao động còn vấp phải sự phản kháng của giai cấp côngnhân Còn giới hạn dưới của ngày lao động không thể bằng thời gian lao động tất yếu, tức
là thời gian lao động thặng dư bằng không Như vậy, về mặt kinh tế, ngày lao động phảidài hơn thời gian lao động tất yếu, nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinhthần của người lao động
Trong phạm vi giới hạn nói trên, độ dài của ngày lao động là một đại lượng không
cố định và có nhiều mức khác nhau Độ dài cụ thể của ngày lao động do cuộc đấu tranhgiữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản trên cơ sở tương quan lực lượng quyết định.Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi ngày lao động tiêu chuẩn, ngày làm 8 giờ đãkéo dài hàng thế kỷ
II.2.2 Sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động
và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân Mặt khác, khi