Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì việc thu hút vốn đầu tư từ các công ty đaquốc gia cũng kéo theo nhiều hệ lụy cho quốc gia tiếp nhận đầu tư về nhiều mặt như kinh tế,văn hóa, xã
Trang 1MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế hiện nay đang là xu hướng chung của các quốc giatrên thế giới Song song với quá trình hội nhập là sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng nhiềugiữa các nền kinh tế Một trong những yếu tố góp phần tạo nên vấn đề này chính là sự pháttriển ngày càng lớn mạnh của các công ty đa quốc gia trên phạm vi toàn thế giới thông quahoạt động đầu tư ra nước ngoài Xét về mặt tích cực việc tiếp nhận đầu tư của nước ngoài đãgóp phần thúc đầy nền kinh tế các nước đang phát triển đi lên, rút ngắn khoản cách giữa cácnhóm nước phát triển và đang phát triển
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì việc thu hút vốn đầu tư từ các công ty đaquốc gia cũng kéo theo nhiều hệ lụy cho quốc gia tiếp nhận đầu tư về nhiều mặt như kinh tế,văn hóa, xã hội, môi trường Một trong số những hậu quả mà các nước tiếp nhận đầu tưphải gánh chịu đó là sự thất thu thuế, sự phá sản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngườitiêu dùng mua hàng hóa với giá cao thông qua hành vi chuyển giá giữa công ty mẹ và cáccông ty thành viên trong cùng một tập đoàn đa quốc gia
Để hiểu rõ hơn về hoạt động chuyển giá trong kinh doanh quốc tế, qua bài tiểu luậnnày chúng tôi sẽ khái quát những điểm cơ bản nhất về chuyển giá, vai trò, cách thức thựchiện chuyển giá cũng như xu hướng chuyển giá và chống chuyển giá trên thế giới và ViệtNam
Kết cấu tiểu luận gồm 3 phần:
PHẦN I: NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ CHUYỂN GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU
Trang 2PHẦN I: NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ CHUYỂN GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
1.1.Tổng quan chuyển giá
1.1.1 Khái niệm
Trong công tác quản trị tại các Công ty đa quốc gia (MNC) thì việc nghiệp vụ muabán nội bộ là rất cần thiết và giúp cho các công ty đa quốc gia giảm các rủi ro về thịtrường, rủi ro về công nợ Đi đôi với các nghiệp vụ mua bán nội bộ này là việc định giáchuyển giao nội bộ và nó được xem là một phương pháp quản trị ứng dụng được các nhàquản trị áp dụng một cách bài bản và điêu luyện nhằm mang lại hiệu quả cao trong côngtác quản lý Các phương pháp định giá chuyển giao nội bộ đã được các quốc gia thừanhận và tuân theo, tuy nhiên trong thực tế việc định giá chuyển giao này không được ápdụng theo căn bản giá thị trường mà nó có thể được tính toán theo một mục đích nào đócủa MNC Việc định giá chuyển giao nội bộ diễn ra theo một sự đặt giá mang tính chấtchủ quan của hai bên tham gia vào giao dịch Vì vậy mà các trường hợp này được gọi làhành vi chuyển giá
Trên thế giới hiện nay tồn tại nhiều khái niệm về chuyển giá, trong đó có vài cáchkhái niệm đặc trưng sau đây:
- Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ
và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giớikhông theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia(MNC) trên toàn cầu
- Chuyển giá là việc định giá quá cao hoặc quá thấp trong hoạt động thương mạigiữa nội bộ công ty của các công ty đa quốc gia nhằm chuyển thu nhập và lợinhuận từ nước có thuế cao sang nước có thuế thấp
- Chuyển giá – Transfering pricing – là một hành vi thông đồng giữa các công tycủa cùng một tập đoàn để thực hiện dàn xếp áp đặt về mặt giá cả giữa các công
Trang 3ty không dựa trên giá thị trường nhằm chuyển lợi nhuận từ nước này sang nước
khác, tránh nộp thuế đầy đủ từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của tập đoàn
- Chuyển giá là việc định giá hàng hóa dịch vụ chuyển giao giữa các công ty liênkết đóng ở các quốc gia khác nhau nhằm tối ưu hóa lợi nhuận của tập đoàn
- Chuyển giá là hoạt động mang tính chủ quan, cố ý của các tập đoàn đa quốc gianhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp bằng cách định giá mua bán sản phẩm,nguyên vật liệu… giữa các công ty trong cùng 1 tập đoàn, không theo giá thịtrường nhằm thu được lợi nhuận cao nhất
Thông qua hoạt động chuyển giá, các MNC sẽ thực hiện ý đồ trốn tránh việc nộp thuếthu nhập doanh nghiệp tại các quốc gia có thuế suất cao Thông qua các nghiệp vụchuyển giá, các MNC sẽ chuyển thu nhập ra khỏi quốc gia có mức thuế thu nhậpdoanh nghiệp cao mà MNC này có trụ sở Trong nhiều trường hợp các MNC còn chủđộng “móc túi” các chính phủ thông qua việc chiếm đoạt gián tiếp các khoản thuế mànhững người đóng thuế lương thiện đã đóng góp Chuyển giá là một trong những vấn
đề phức tạp và khó tiếp cận trong thời đại kinh tế quốc tế hội nhập, khi mà các MNCnày có nhiều chi nhánh, công ty con trên nhiều quốc gia khác nhau mà các công tynày mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho nhau Các hoạt động này có thể chứađựng trong đó là các hoạt động “chuyển giá”, giá cả của hàng hóa dịch vụ trong cácnghiệp vụ chuyển giao này được tính theo một xu hướng chủ quan mà không hề dựatrên chi phí thực tế tạo nên sản phẩm hay dịch vụ được cung cấp Thông qua hoạtđộng chuyển giá sẽ mang về cho các MNC một khoảng lợi nhuận lớn trong khi cácMNC này không cần phải nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ hay mở rộngphát triển thị trường mà chỉ cần những hoạt động phù phép trên sổ sách kế toán
Tuy nhiên, một nguyên nhân quan trọng khác dẫn đến hoạt động chuyển giá xảy ra đó
là tính đặc thù của sản phẩm, có những sản phẩm không tìm thấy hay rất khó tìm thấycác sản phẩm tương tự thay thế Chúng ta thường tìm thấy đặc tính này đối với các tàisản cố định vô hình như lợi thế thương mại, bản quyền sáng chế, phát minh, bí quyết
Trang 4công nghệ Chính do tính đặc thù cao này đã gây ra những khó khăn trong việc địnhgiá và so sánh giá thị trường.
Mục đích cuối cùng của hoạt động chuyển giá là tối đa hóa lợi nhuận của MNC bằngcách tối thiểu hóa thuế thu nhập doanh nghiệp mà MNC phải nộp cho các chính phủ.Chính vì mục đích là tối thiểu hóa số thuế phải nộp nên MNC sẽ tiến hành điều phốithu nhập của các công ty con tại các quốc gia có thuế suất cao sang các quốc gia cóthuế suất thuế thu nhập thấp
1.1.2.Các đặc điểm của chuyển giá:
Giá cả mua bán được xác định không dựa vào thị trường, mà dựa trên tính toáncủa các nhà quản lý các tập đoàn đa quốc gia
Định giá chuyển giao (Price Tranfering) là việc sử dụng các phương pháp đểxác định giá cả chuyển giao nội bộ của một công ty đa quốc gia (MNC’s)
Các công ty thực hiện chuyển giá với nhau có mối quan hệ cộng sinh đặc biệt
về quyền lợi tài chính và tổ chức
1.1.3 Nguồn gốc của chuyển giá
Chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trịtrao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết Hành vi ấy có đối tượngtác động chính là giá cả Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch nhưthế xuất phát từ ba lý do sau:
-Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn
có quyền quyết định giá cả của một giao dịch Do đó họ hoàn toàn có quyền mua haybán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn
Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự
khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi íchkhông làm thay đổi lợi ích toàn cục
Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên
kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế
Trang 5của họ Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết caosang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuếcủa các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế - xã hội của họ khôngthể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu.Chênh lệch mức độ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra.
1.2.Các hình thức chuyển giá trong hoạt động đầu tư quốc tế:
1.2.1 Hình thức chuyển giá trong giai đoạn đầu của quá trình đầu tư quốc tế:
a Chuyển giá thông qua hình thức nâng cao trị giá tài sản góp vốn:
- Đầu tư dưới dạng liên doanh việc nâng giá trị tài sản đóng góp sẽ làm cho phần vốngóp của Bên phía cố ý nâng giá trị góp vốn tăng, nhờ đó sự chi phối trong các quyếtđịnh liên quan đến hoạt động của dự án liên doanh sẽ gia tăng và mức lời được chiacũng tăng (vì lời được chia cho các Bên theo tỷ lệ góp vốn pháp định) Ngoài ra, khi
dự án kết thúc hoạt động thì tỷ lệ trị giá tài sản được chia cao hơn
Ví dụ:
+ Công ty liên doanh gia cầm Việt Thái, phía Thái Lan góp vốn bằng dây chuyền giết
mổ trị giá 400.000 USD, nhưng đã kê khống thành 600.000 USD
+ Một khách sạn liên doanh giữa Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn và Vina Group đãquyết định trị giá thiết bị vật tư của Công ty Vina đưa vào liên doanh là 4.340.000USD nhưng theo công ty giám định quốc tế thì chỉ có 2.900.000 USD, ta thiệt hại1.350.000 USD
Đối với các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài thì việc nâng tài sản góp vốn sẽ giúp
họ tăng mức khấu hao trích hàng năm (nghĩa là lợi nhuận giảm), tác động làm tăng chiphí đầu vào
Việc tăng mức khấu hao tài sản cố định sẽ giúp chủ đầu tư:
+ Mua hoàn vốn đầu tư cố định, nhờ đó giảm thiểu rủi ro đầu tư
+ Giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp phải đóng góp cho nước tiếp nhận đầu tư
Trang 6Sau đây là một số ví dụ về một số công ty nước ngoài đang hoạt động đầu tư trực tiếp tạiViệt Nam có hiện tượng kê khai vốn cao hơn:
+ Một dây chuyền chế biến tơ tằm, thực giá từ 1,5 đến 1,8 triệu USD được tính thành 2,5triệu USD
+ Một hệ thống thiết bị lắp ráp, trị giá 50.000 USD được ghi 300.000 USD
b Chuyển giá bằng cách nâng khống trị giá công nghệ, thương hiệu … (tài sản vô hình):
Việc định giá chính xác được tài sản vô hình của các nhà đầu tư hết sức khó, lợi dụngviệc này mà các công ty đa quốc gia chủ ý thổi phồng phần góp vốn bằng thương hiệu;công thức pha chế, CGCN… nhằm tăng phần vốn góp của mình lên
Một số trừơng hợp phía góp vốn bằng tài sản vô hình có xuất trình giấy chứng nhận củacông ty kiểm toán Nhưng độ tin cậy, trung thực của các giấy chứng nhận này rất khókiểm định
1.2.2 Hình thức “chuyển giá” trong giai đoạn triển khai dự án:
Đây là giai đoạn dự án đã đi vào hoạt động kinh doanh, các tập đoàn đa quốc gia thường
b Làm quảng cáo ở nước ngoài với chi phí cao
Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm các phim quảng cáo do các công tynước ngoài thực hiện, trong nhiều trường hợp các công ty quảng cáo cũng là các công tycon trong cùng một tập đoàn Trong trường hợp trả chi phí làm quảng cáo ở nước ngoài,cũng là một hình thức chuyển lợi nhuận cho tập đoàn ở nước ngoài Chi phí quảng cáo
Trang 7cao cũng làm tăng chi phí kinh doanh làm giảm lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanhnghiệp của các công ty có vốn FDI, làm thất thu thuế của các nước tiếp nhận vốn đầu tư.
c Chuyển giá thông qua hình thức nâng chi phí các đơn vị hành chính và quản lý.
- Các công ty mẹ thường sử dụng các hợp đồng tư vấn hay thuê chuyên gia Một số đốitác liên doanh còn bị ép nhận chuyên gia với chi phí rất cao nhưng hiệu quả mang lạithấp Chi phí này phía liên doanh nước chủ nhà gánh chịu
- Một số công ty thuê người quản lý doanh nghiệp FDI với lương cao, ngoài ra còn phảitrả một khoản tiền lớn cho công ty nứơc ngoài cung cấp nhà quản lý Ở một số trườnghợp cũng có hiện tượng thực hiện chuyển giá ở khâu này (khi công y cung cấp nguồnnhân lực cũng là công ty con của cùng 1 tập đoàn)
- Một số trường hợp còn thực hiện “chuyển giá” thông qua hình thức đào tạo ở nướcngoài: cử chuyên viên; công nhân sang học tập, thực tập tại Công ty mẹ (tu nghiệpsinh) với chi phí cao Việc chuyển tiền về công ty mẹ với mức cao để tổ chức huấnluyện đào tạo cụng là một dạng chuyển giá
- Một hình thức giữa “chuyển giá” của công ty có vốn FDI là trả lương, chi phí chochuyên gia tư vấn đuợc gửi đến từ công ty mẹ Loại hình tư vấn rất khó xác định sốlượng và chất lượng để xác định chi phí cao hay thấp, nên lợi dụng điều này nhiềucông ty có vốn FDI thực hiện hành vi “chuyển giá” mà thực chất là chuyển lợi nhuận
về nước dưới danh nghĩa là “phí” dịch vụ tư vấn
d Thực hiện “chuyển giá” thông qua việc điều tiết giá mua bán hàng hoá:
Khi thuế nhập khẩu cao thì công ty mẹ ở nước ngoài bán nguyên liệu, hàng hoá vớigiá thấp nhằm tránh nộp thuế nhập khẩu nhiều Trong trường hợp này công ty mẹ sẽ tăngcường hoạt động tư vấn; huấn luyện; giúp hỗ trợ tiếp thị với giá cao để bù đắp lại hoặcmua lại sản phẩm với giá thấp…
Đối với các hàng hoá nhập khẩu mà thuế suất thấp thì công ty ký hợp đồng nhập khẩuvới giá cao nhằm nâng chi phí từ đó tránh thuế thu nhập doanh nghiệp
e Chuyển giá thông qua hình thức tài trợ bằng nghiệp vụ vay từ công ty mẹ.
Trang 8Bằng hình thức này các công ty con tạo ra cơ cấu vốn và nguồn vốn bất hợp lý nhưdùng nguồn vốn vay từ công ty mẹ để tài trợ cho tài sản cố định và tài sản đầu tư dài hạn(không tăng vốn góp và vốn chủ sở hữu) nhằm đẩy chi phí hoạt động tài chính lên cao nhưchi phí chênh lệch tỷ giá, chi phí lãi vay… và chuyển một phần lợi nhuận về nước dưới dạnglãi vay và chi phí bảo lãnh vay vốn để tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, tránh lỗ do chênhlệch tỷ giá về sau.
f Chuyển giá thông qua hoạt động tài trợ
Đây là hình thức chuyển giá thường xuất hiện ở các dự án ODA Lợi dụng sự ưu tiêncung cấp thiết bị, máy móc; dịch vụ tư vấn cho nước tài trợ vốn, cho nên nhiều nhà cung cấp
ở nước tài trợ nâng giá thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ lên cao… đẩy giá đầu tưlên cao có lợi cho nhà nước tài trợ
Tuỳ vào hoàn cảnh kinh doanh khác nhau mà các tập đoàn đa quốc gia sử dụng cácbiện pháp khác nhau để thực hiện chuyển giá nhằm tối đa hoá lợi nhuận trên phạm vị toàncầu
1.3 Một số trường hợp chuyển giá tiêu biểu tại Việt Nam
Ví dụ 1:Trường hợp P&G Việt Nam
P&G Việt Nam là một công ty liên doanh giữa Công ty Proter & Gamble Far Earst vớiCông ty Phương Đông, được thành lập vào ngày 23 tháng 11 năm 1994 Tổng số vốn đầu
tư là 367 triệu USD Trong đó Việt Nam góp 30% và phía đối tác chiếm 70% (tươngđương 28 triệu USD) Sau hai năm hoạt động (năm 1995 và 1996) liên doanh này đã lỗđến một con số khổng lồ là 311 tỷ VND Số tiền lỗ này tương đương với ¾ giá trị vốngóp của cả liên doanh Trong con số thua lỗ 311 tỷ này thì năm 1995 lỗ 123,7 tỷ VND vànăm 1996 lỗ 187,5 tỷ VND Với mục đích chiếm lĩnh thị trường, trong hai năm 1995 và
1996, P&G đã chi cho quảng cáo một số tiền rất lớn lên đến 65,8 tỷ đồng Đây là một con
số quá lớn đối với quảng cáo tại Việt Nam vào thời điểm đó Trong thời điểm này hầunhư các kênh truyền hình đài phát thanh và báo chí đều có sự xuất hiện quảng cáo củacác sản phẩm của công ty P&G như Safeguard, Lux, Pantene, Header & Shouder,Rejoice… Vào thời điểm này, mọi người đều nghe các khẩu hiệu quảng cáo như “Rejoice
Trang 9tạo mái tóc mượt và không có gàu”, “Pantene giúp tóc bạn khỏe hơn”, “Header &Shoulder khám phá bí quyết trị gàu”,“bột giặt Tide thách thức mọi vết bẩn”… Tổng cácchi phí quảng cáo này chiếm đến 35% doanh thu thuần của công ty và đã vượt xa mứccho phép của luật thuế là không quá 5% trên tổng chi phí và nó cũng đã gấp 7 lần so vớichi phí trong luận chứng kinh tế ban đầu.
Ngoài các khoản quảng cáo này thì các khoản chi phí khác cũng vượt xa so với luậnchứng kinh tế ban đầu Quỹ lương năm đầu tiên xây dựng trong luận chứng kinh tế là 1triệu USD nhưng thực tế đã chi đến 3,4 triệu USD, tức là gấp 3,4 lần Nguyên nhân chủyếu là do P&G đã sử dụng đến 16 chuyên gia là người nước ngoài trong khi trong luậnchứng kinh tế chỉ đưa ra từ 5 đến 6 người
Ngoài hai chi phí trên thì các chi phí khác cũng phát sinh lớn hơn nhiều so với luậnchứng kinh tế ban đầu như chi phí cho chuyên gia xây dựng cơ bản ban đầu là 7 tỷ VND,chi phí tư vấn pháp lý hết 7,6 tỷ VND và chi phí thanh lý hết 20 tỷ VND… Ngoài ra mộtnguyên nhân khác dẫn đến việc thua lỗ nặng nề trong năm đầu tiên là do doanh số thực tếnăm chỉ đạt 54% kế hoạch và phải gánh chịu chi phí tăng cao, dẫn đến kết quả là năm đầutiên hoạt động thua lỗ 123,7 tỷ VND
Tình hình này lại tiếp tục lặp lại vào năm thứ hai và kết quả là năm thứ hai lại tiếp tụcthua lỗ thêm 187,5 tỷ VND với con số thua lỗ lũy kế hai năm đến 311,2 tỷ VND; chiếm
¾ tổng số vốn của liên doanh, công ty phải vay tiền mặt để trả tiền lương cho nhân viên.Đứng trước tình thế thua lỗ nặng nề và để tiếp tục kinh doanh thì bên phía đối tác nướcngoài đề nghị tăng vốn thêm 60 triệu USD Như vậy phía Việt Nam cần phải tăng theo tỷ
lệ vốn góp 30% (18 triệu USD) Vì bên phía Việt Nam không có đủ tiềm lực tài chínhnên cuối cùng đã phải bán lại toàn bộ số cổ phần của mình cho đối tác nước ngoài Nhưvậy công ty P&G Việt Nam từ hình thức là công ty liên doanh đã trở thành công ty 100%vốn nước ngoài
Ví dụ 2: Công ty bia Foster’s
Vào thời điểm mà giá bán một két bia Foster’s được công ty bia Foster’s Việt Nam báncho các đại lý là 240.000 đồng/két với thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt cho bia chai là 75%thì mỗi két bia phải đóng thuế tiêu thu đặc biệt là:
Trang 10Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt = Giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt/(1+thuế suất)
=240.000/(1+75%) = 137.143 VND
Thuế tiêu thụ đặc biệt tính =137.143 x 75% = 102.857 VND
Như vậy với giá bán một két bia là 240.000 VND thì công ty bia Foster’s Việt Nam phải
có nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt cho nhà nước là 102.857 VND Với một số thuếnộp lớn như vậy thì chủ đầu tư của Foster’s Việt Nam đã tìm cách để lách thuế và nộp sốthuế nhỏ hơn Chủ đầu tư Foster’s tại Việt Nam đã quyết định thành lập thêm một công
ty TNHH Foster’s Việt Nam Công ty này có nhiệm vụ chuyên thực hiện nhiệm vụ tiêuthụ sản phẩm do hai nhà máy bia Foster’s sản xuất ra Giá bán một két bia Foster’s củahai nhà máy bia cho công ty TNHH Foster’s Việt Nam chỉ là 137.500 VND Với giá bánnhư vậy thì thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp cho mỗi két bia sẽ là:
[137.500 /(1+75%)] x 75% = 58.929 VND
Công ty TNHH Foster’s Việt Nam bán bia ra thị trường thì công ty này phải nộp thêmthuế giá trị gia tăng là 5% Giả sử giá bán một két bia không đổi vẫn là 240.000VND/két thì số thuế giá trị gia tăng mà công ty TNHH bia Foster’s phải nộp là
[240.000 /(1+5%)] x 5% = 11.429 VND
Như vậy tổng cộng số thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng mà chủ đầu tư phảinộp trong trường hợp chủ đầu tư thành lập thêm công ty TNHH Foster’s Việt Nam chomỗi két bia là 58.929 VND + 11.429 VND = 70.358 VND Nếu chúng ta đem so sánhtổng số tiền thuế phải nộp của chủ đầu tư trước và sau khi thành lập công ty TNHHFoster’s Việt Nam thì chúng ta có thể thấy là chủ đầu tư đã tiết kiệm được một khoản tiềnthuế phải nộp là 32.499 VND (tương đương 31,60%)
Ví dụ 3: Một ví dụ điển hình cho việc chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ đó là
tại Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam
Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam là một công ty liên doanh hoạt động theoLuật Đầu tư Nước ngoài của Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư (cấp phép số 287/GPngày 9/12/1991 Hai đối tác liên doanh là Công ty Thực phẩm II tại thành phố Hồ ChíMinh và Công ty Heneiken International Behler (Hà Lan) Đến năm 1994 thì giấy phépliên doanh này được chuyển nhượng sang giấy phép số 287/GPDCI ngày 27/10/1994 liên
Trang 11doanh với Asia Pacific Breweries PTE.LTD (Singapore) Tổng số vốn đầu tư là 49,5 triệuUSD và vốn pháp định là 17 triệu USD Bên liên doanh Việt Nam chiếm 40% và bên liêndoanh Singapore chiếm 60% vốn, ngành nghề sản xuất của liên doanh là sản xuất bia đểtiêu thụ trong nước và xuất khẩu Khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tình trạngkinh doanh của công ty bị thua lỗ kéo dài qua các năm, nguyên nhân chủ yếu là do phảitrả cho chi phí bản quyền quá cao và tăng dần qua các năm Trong tình hình công ty liêndoanh thường xuyên thua lỗ, phía liên doanh Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề nhưngngược lại phía liên doanh nước ngoài vẫn không hề hấn gì vì họ vẫn nhận đủ tiền bảnquyền từ nhãn hiệu và tiền bản quyền lại có xu hướng ngày càng tăng.
1.4 Vai trò cua hoạt động chuyển giá trong đầu tư quốc tế
1.4.1 Đối với các tập đoàn đa quốc gia
a Vai trò
- Các công ty có thể định giá cao tài sản khi đầu tư ra nước ngòai
- Các tập mở ngày càng nhiều các công ty ở nươc ngòai nhằm chiếm lĩnh thị trừơng,chia sẻ rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận thu được
- Các tập đoàn đa dạng hóa ngành nghề phục vụ cho họat động chuyển giá
- Chuyển giá giúp các tập đoàn tối thiểu hóa phần thuế phải nộp và tôi đa hóa lợi nhuậnthu được
- Công ty mẹ họat động tốt sẽ góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội: Đóng gópnhiều thuế hơn cho nhà nước , tác động tốt đến tăng trưởng GDP của nước xuất khẩuvốn
- Chuyển giá giúp công ty con ở nước ngòai chuyển lợi nhuận, doanh thu về công ty mẹqua hình thức: mua giá cao đối với hàng hóa, nguyên vật liệu, trả chi phí đơn vị tưvấn, cung cấp quản trị, nguôn nhân lực
- Khi có họat động chuyển giá ngược : lợi nhuận từ công ty mẹ chuyển sang các công
ty con dưới hình thức trả chi phí mua hàng cao làm tăng thu nhập ngọai cho nuớc tiêpnhận vốn
b Hậu quả:
Trang 12- Kết quả hạch toán của công ty con không thực chất kết quả họat động kinh doanh, nêntừng công ty thiếu cơ sở thực tiễn tin cậy để xây dựng chíến lược kinh doanh choriêng mình.
- Nếu hành vi chuyển giá bị phát hiện, công ty sẽ bị phạt tùy theo quy định của từngquốc gia Hình thức phạt có thể là phần trăm áp dụng trên số thuê phải nộp hoặc phạttrên sô thuê trốn tránh đuợc
Ví dụ: Vào năm 1993, cơ quan thuế nội địa của Mỹ đã điều tra, phán quyết rằng công
ty ô tô Nissan đã tránh thuế bằng cách nâng giá nhập rất cao những xe nhập vàoMỹ.Cuối cùng Nissan phải nộp khoản thuế là 170 triệu đô la tiền phạt vì bị cáo buộcthực hiện hành vi chuyển giá Một năm sau, Nhật trả đũa bằng cách phạt tập đoàn CocaCola tại Nhật vì khai giá nhập nguyên vật liệu từ Mỹ và áp đặt giác bản quyền quá caođối với công ty con tại Nhật, chính phủ Nhật phạt Coca Cola mức tiền 150 triệu đô la
- Phân tích tài chính của các tập đoàn phức tạp vì chính sách thuế, chi phí của từngnước thay đổi khiến cho chiến lược chuểyn giá của các công ty thay đổi
1.4.2 Đối với nước xuất khẩu vốn (Nơi công ty mẹ đang hoạt động)
… sẽ chạy từ công ty mẹ ra nước ngòai sang các công ty con vì nơi đây thuế phải đóngthấp Hình thức này làm cho nước có nhà đầu tư xuất khẩu vốn thất thu một khoản thuế
1.4.3 Đối với nước tiếp nhận đầu tư
a Vai trò
Khi có hoạt động chuyển giá ngược, lợi nhuận từ công ty mẹ chuyển sang các công tycon ở nước ngoài làm tăng nguồn thu ngoại tệ cho nước tiếp nhận vốn
Trang 13b Hậu quả
Tóm lại, họat động chuyển giá co tác động xấu đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sứccạnh tranh yếu do phá sản, tác động tiêu cực đến nền kinh tế - xã hội của nước tiếp cậnđầu tư Nhiều chuyên gia trên thế giới nghiên cứu họat động chuyển giá đã kết luận: Tiêucực là nhiều hơn lợi ích của họat động chuyển giá mang lại cho nước xuất khẩu vốn, lẫnnuớc nhập khẩu vốn nên chính phủ các nước đã và đang tìm giải pháp chống chuyển giátrong đầu tư quốc tế
PHẦN II HOẠT ĐỘNG CHỐNG CHUYỂN GIÁ TẠI
CÁC NƯỚC VÀ VIỆT NAM.
Trang 142.1.Kinh nghiệm chống chuyển giá tại một số nước
Trong bối cảnh hiện nay, sau 3 năm kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 củaWTO một số rào cản thương mại dần bãi bỏ, nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp vàoViệt Nam ngày càng tăng mạnh, đặc biệt là của các tập đoàn đa quốc gia Song song vớimặt tích cựa mà việc thu hút FDI mang lại, chúng ta phải chú ý để những hạn chế cũngnhư mặt trái của nó, nổi bật trong số đó là tình trạng chuyển giá giữa các công ty thànhviên trong cùng một tập đoàn Vì những thiệt hại và mặt trái của hoạt động chuyển giáđối với các quốc gia tất yếu đã dẫn đến sự ra đời của các luật chống chuyển giá Dù hoạtđộng chuyển giá đã xuất hiện từ lâu nhưng do tính chất phức tạp khó kiểm soát nên cáchoạt động chống chuyển giá chỉ xuất hiện khoảng 10 – 15 năm trở lại đây, đa số các nướcthông qua luật chống chuyển giá trong khoảng thời gian 1998 – 2005, trong đó có ViệtNam
Việc phát hiện và có các biện pháp chế tài các hành vi chuyển giá rất khó khăn, phức tạp.Thông qua hoạt động mua bán giữa công ty mẹ và các công ty con tại nước ngoài để thựchiện việc chuyển giá thì Nhà nước rất khó để can thiệp vì đây là hành động mua bán hợppháp giữa các pháp nhân độc lập theo nguyên tắc thuận mua vừa bán, sự phức tạp càngtăng khi các quốc gia thiếu sự liên kết trong công tác kiểm toán, thanh tra tài chính cáccông ty cùng thuộc một tập đoàn Do đó hiện nay các luật chống chuyển giá của các quốcgia chủ yếu xoay quanh việc xác định giá chuyển giao và chính sách thuế suất phù hợp Trước khi phân tích hoạt động chuyển gái tại Việt Nam chúng ta sẽ nghiện cứu học tậpkinh nghiệm một số quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh như OECD,Mỹ, Anh… cũngnhư những quốc gia có điều kiện kinh tế chính trị tương đồng với Việt Nam như TrungQuốc, Asean…
2.1.1 Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD)
Ngày 8/7/1994, OECD đưa ra dự thảo “Hướng dẫn giá chuyển giao đối với các công ty
đa quốc gia và các cơ quan quản lý thuế ” OECD hướng dẫn cho các công ty đa quốc gia
và các cơ quan quản lý thuế dựa trên nguyên tắc “định giá công bằng” Trong việc kiểmsoát giao dịch giữa hai công ty ở hai nước khác nhau, hai cơ quan thuế có thể thống nhấtcách áp giá giao dịch để tránh bị đánh thuế hai lần Khi đó, mỗi bên sẽ được chia một
Trang 15phần lợi nhuận, chứ không có chuyện một nước gánh toàn bộ chi phí, còn nước kia đượchưởng toàn bộ lợi nhuận
Hướng dẫn cũng đề ra các phương pháp tính giá chuyển giao, trong đó phương pháp phânchia lợi nhuận được coi là tốt nhất trong phần lớn các trường hợp, và là phương pháptương đối trực tiếp Phương pháp này xác định lãi gộp để phân chia giữa các công ty liênkết dựa trên cơ sở giá trị kinh tế để phân chia phần lợi nhuận dự kiến và được phản ánhtrong hợp đồng ký kết giữa các bên
2.1.2 Mỹ
Số lượng các công ty, tập đoàn đa quốc gia tại Mỹ Trong thực tế hoạt động sản xuất kinhdoanh của các MNC rất rộng lớn và phức tạp, các nghiệp vụ mua bán diễn ra với khốilượng lớn và độ phức tạp cao, vì vậy mà tiếp cận các nghiệp vụ nào có chứa đựng hành vichuyển giá là rất khó Tương tự rất khó xác định lợi nhuận nào là tạo ra trên đất Mỹ và lợinhuận nào là tạo ra ngoài đất Mỹ một cách chính xác Do đặc điểm là thuế suất thuế thunhập doanh nghiệp của Mỹ (CIT) so với các quốc gia khác là rất cao (40%) nên các MNC
có xu hướng là chuyển lợi nhuận ra nước ngoài vì họ cho rằng thuế suất tại Mỹ cao vàchính phủ không xem xét hết các chi phí của họ
Luật chống chuyển giá ra đời tại Mỹ và phổ biến nhất hiện nay là Internal RevenueService (IRS) section 482 Nội dung cơ bản của đạo luật này là quy định giá thị trườnglàm cơ sở cho việc định giá chuyển giao (Price transfering)
Định giá chuyển giao là việc sử dụng các phương pháp để xác định giá cả của các
nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong một công ty đa quốc gia (MNC) phù hợp với thông lệquốc tế và được quốc gia nơi mà các công ty con của MNC đang hoạt động Khi giáchuyển giao nội bộ cao hơn hay thấp hơn giá thị trường thì xảy ra hoạt động chuyển giao
từ đó xuất hiện hành vi chuyển giá của các MNC
Các phương pháp định giá chuyển giao cơ bản như sau:
- Comparable Uncontroller Price (CUP): Phương pháp giá tự do có thể so sánh được
- Resales Price Method: Phương pháp giá bán lại
- Cost Plus Method: Phương pháp chi phí vốn cộng thêm
Trang 16- Profit Split Method: Phương pháp chiết tách lợi nhuận
- Comparable Profit Split Method: Phương pháp chiết tách lợi nhuận có thể so sánh được
- The Comparable Profit Method: Phương pháp lợi nhuận có thể so sánh
Năm 1993, căn cứ theo Omnibus Budget Reconciliation Act, Đạo luật chống chuyển giáIRS Sec 6662 ra đời kèm theo một số thay đổi nhằm chặt chẽ hơn và tăng cường hiệu quảchống chuyển giá Trong Đạo luật 6662 có hai nguyên tắc chế tài mới dành cho hành vichuyển giá:
Phạt chuyển giá trong giao dịch (Transactional Penalty): là loại hình chế tài khi có chênhlệch đáng kể trong giá chuyển giao nếu so sánh với căn bản giá thị trường theo Quy địnhIRS sec 482, mà hậu quả là số thu nhập chịu thuế không phản ánh
đúng thực tế của nghiệp vụ phát sinh Mức phạt chuyển giá 20% dành cho trường hợp cósai sót đáng kể do chuyển giá khi chuyển giá vượt quá mức 200% (hay ít hơn 50%) sovới mức mà IRS sec 482 xác định được
- Phạt bổ sung (Net Adjustment Penalty): phạt bổ sung được áp dụng nếu phần thu nhậpchịu thuế sau khi tính lại theo IRS Sec 482 tăng vượt mức qui định có thể cho trước Ví
dụ khoản phạt bổ sung 20% trên số thuế truy thu sẽ áp dụng trong trường hợp phần thunhập tăng thêm vượt quá mức thấp nhất trong hai mức sau – 5 triệu USD hoặc 10% trêntổng số thuế phải nộp Phạt bổ sung 40% trên số thuế truy thu sẽ áp dụng trong trườnghợp phần thu nhập tăng thêm vượt quá mức thấp nhất trong hai mức sau – 20 triệu USDhoặc 20% trên tổng số thuế phải nộp
:
Hiện tại Chính phủ Mỹ hiện đang áp dụng một số biện pháp chống chuyển giá như sau:
- Các công ty bắt buộc phải lưu trữ tất cả các thông tin về giá cả, giá trị, giá thành, giá trịmua bán, lợi nhuận… qua các năm một cách có hệ thống, làm cơ sở dữ liệu để so sánhđánh giá những thỏa thuận về giá cả trong quá khứ hiện tại và tương lai
- Đối với việc xác định gá chuyển giao Tài sản cố định rất khó thực hiện các tài liệuchứng từ liên quan như: hóa đon, thông tin liên quan …rất khó kiểm chứng và xác địnhtính minh bạch
Một số phương pháp chống chuyển giá mà chính phủ Mỹ áp dụng rộng rãi là phươngpháp giá bàn lại và phương pháp phí cộng thêm vì các phương này đòi hỏi các chứng từ
Trang 17tài liệu mà doanh nghiệp dể xuất trình, các cơ quan quản lý có thể dễ dàng thu thập thôngtin Bằng phương pháp này thông qua so sánh giá giữa các công ty doanh nghiệp cùngngành các cơ quan kiểm định thuế sẽ xác định được các doanh nghiệp công ty có hiệntượng chuyển giá và đề ra hình thức xử lý thích hợp.
Ngoài ra phương pháp chiết tách lợi nhuận cũng được áp dụng vì nó khá đơn giản, ít tốnkém và dễ ứng dụng Tuy nhiên độ tin cậy của phương pháp này không cao theo các nhàlãnh đạo tài chính vì giá xác định dựa trên lợi nhuận bình quân của ngành cộng thêm vớichi phí là không chính xác Mức lợi nhuận cao hay thấp còn phụ thuộc rất nhiều vào khảnăng quản lý, môi trường bên trong và bên ngoài của mỗi công ty Do đó tổ chức hợp tácphát triển kinh tế khuyến khích các nước chỉ nên sử dụng phương pháp này khi cácphương pháp khác không sử dụng được
Kinh nghiệm:
Từ Mỹ chúng ta có thể rút ra bài học kinh nghiệm trong hoạt động chống chuyển giá:
- Hoàn thiện hệ thống pháp lý cho công tác phát hiện và chế tài các hành vi chuyển giácủa MNCs
- Linh động trong việc áp dụng các phương pháp xác định giá chuyển giao tùy theo từngtrường hợp có thể kết hợp nhiều phương pháp để phát hiện ra hiện tượng chuyển chuyểngiá
- Đối với cơ quan quản lý thuế: Coi trọng công tác lưu trữ tài liệu tài chính của các doanhnghiệp, MNCs nhằm tạo cơ sở dữ liệu cho việc theo dõi hiện tượng chuyển giá
- Nâng cao trình độ nghiệp vụ tài chính của các nhân viên quản lý thuế để có thể trực tiếpđối thoại với các lãnh đạo tài chính của MNCs vốn rất giỏi và đủ khả năng phân tích xemxét các chứng từ thông tin tài chính của công ty để phát hiện ra hành vi chuyển giá dùtinh vi
2.1.3 Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia có nền kinh tế đang phát triển mạnh trong thời gian gần đây, là mộtquốc gia thu hút nhiều nhất các nguồn vốn FDI trên thế giới Chúng ta có thể thấy hai mốitương quan giữa nền kinh tế Trung Quốc và Việt Nam như sau: