1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài thuyết trình chính sách tỷ giá Việt Nam và Trung Quốc (Chủ đề 5 )

18 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 197,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn cơn của việc điều chỉnh tỷ giá và nới biên độ hai lần liên tiếp đều được NHNN lấy lý do là sự phá giá mạnh của đồng Nhân dân tệ Trung Quốc, khi mà nước này phá giá nội tệ sẽ tác độ

Trang 1

Bài thuyết trình chính sách tỷ giá Việt Nam và Trung Quốc (Chủ đề 5 ) Nhóm 7:

1 Nguyễn Ngọc Doanh

2 Lê Ngọc Hải

3 Vi Thị Phương Chi

4 Trần Thị Kim Ngân

5 Lê Thị Hồng Mơ

6 Nguyễn Phương Thanh

7 Nguyễn Thị Thùy Dương

8 Lê Mai Hương

9 Nguyễn Đại Nam

Mục Lục:

1 Tình hình tỷ giá Việt Nam và tổng quan chính sách tỷ giá

1.1 Tình hình tỷ giá Việt Nam

1.2 Khái niệm, vai trò và 1 số cơ chế chính sách tỷ giá

2 Chính sách tỷ giá Việt Nam và Trung Quốc

2.1 Chính sách tỷ giá Trung Quốc

2.2 Chính sách tỷ giá Việt Nam

3 Công cụ NHTW Việt Nam và Trung Quốc đang áp dụng

Trang 2

Nội dung

1 Tình hình tỷ giá Việt Nam và tổng quan chính sách tỷ giá

1.1.Tình hình tỷ giá Việt Nam gần đây

*Năm 2014:

Ngay từ đầu năm 2014, NHNN đã có chủ trương giữ ổn định tỷ giá và nếu phải điều chỉnh sẽ không quá 2% Thực hiện cam kết đó, khi tỷ giá trên thị trường biến động do những nguyên nhân khách quan tác động đến tâm lý thị trường, chẳng hạn như tình hình biển Đông diễn ra vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 trên thị trường lại xuất hiện kỳ vọng sẽ điều chỉnh tỷ giá Trước tình hình này, trong bối cảnh lạm phát đang được kiểm soát ở mức thấp, NHNN đã chủ động điều chỉnh tăng tỷ giá

để can thiệp và bình ổn thị trường ngoại tệ, đồng thời góp phần hỗ trợ xuất khẩu trong 6 tháng cuối năm, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế theo mục tiêu đề ra Sau khi điều chỉnh tăng 1% tỷ giá bình quân thị trường liên ngân hàng vào ngày 19/6/2014, tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại dần ổn định ở mặt bằng mới Tính đến 12/12/2014, tỷ giá VND/USD liên ngân hàng là 21.126 đồng, không thay đổi kể từ ngày 19/6/2014, thấp hơn 0,6% so với trần tỷ giá Thanh khoản thị trường ngoại hối khá tốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của tổ chức và cá nhân đều được TCTD đáp ứng đầy đủ, kịp thời Bên cạnh đó, diễn biến thị trường vàng

Trang 3

tương đối ổn định, giá vàng trong nước dao động phù hợp với giá vàng trên thị trường quốc tế xoay quanh mức 36 triệu đồng/lượng và có xu hướng giảm tới mốc

35 triệu đồng/lượng NHNN không phải tổ chức đấu thầu bán vàng miếng, nhờ đó hạn chế việc sử dụng ngoại tệ của Quỹ Bình ổn tỷ giá và giá vàng để nhập khẩu vàng quốc tế Điều này, góp phần duy trì sự ổn định của tỷ giá và thị trường ngoại hối, tạo thuận lợi cho việc thu mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước Những kết quả trên cho thấy trong năm 2014, NHNN đã thực hiện đồng bộ các giải pháp theo đúng chỉ đạo của Chính phủ và Nghị quyết của Quốc hội, giảm được mặt bằng lãi suất cho vay, ổn định được tỷ giá, đảm bảo thanh khoản của hệ thống các TCTD, góp phần kiểm soát lạm phát, tháo gỡ một bước khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý

*Năm 2015:

Từ đầu năm 2015, Ngân hàng Nhà nước đã đề ra phương hướng điều hành chính sách tỷ giá là biến động không quá 2% Thông điệp này được lãnh đạo NHNN lặp lại khá nhiều ở những lần sau đó, và cách đây 2 tháng tức là hồi tháng 7, lãnh đạo NHNN vẫn tái khẳng định điều này, cùng với thông tin chính thức về dự trữ ngoại hối cho thấy chúng ta có khoảng 37 tỷ USD và 10 tấn vàng (hàm ý đủ nguồn lực để can thiệp thị trường khi cần thiết )

Tuy nhiên, cam kết về tỷ giá biến động không quá +/-2% đã chính thức bị phá vỡ trong ngày 19/8, khi NHNN quyết định nới tỷ giá thêm 1% nữa, sau khi đã có 2 lần điều chỉnh tổng cộng 2% trong nửa đầu năm

Ngoài việc phá giá đã 3 lần với tổng cộng 3% từ đầu năm tới nay, NHNN còn có 2 lần nới biên độ tỷ giá, từ +/-1% áp dụng suốt từ tháng 2/2011 lên +/-2% vào ngày 12/8/2015 Và rồi đúng 1 tuần sau đó, biên độ này được nới lên +/-3%, bằng mức

áp dụng trước thời điểm 11/2/2011 (khi NHNN điều chỉnh biên độ +/-3% xuống +/-1% và nới tỷ giá 9%)

Như vậy, tiền đồng đã mất giá gần 5%, từ mức trần 21.458 đồng hồi đầu năm lên 22.547 đồng/USD hiện nay – ngoài dự báo của rất nhiều người

Nguồn cơn của việc điều chỉnh tỷ giá và nới biên độ hai lần liên tiếp đều được NHNN lấy lý do là sự phá giá mạnh của đồng Nhân dân tệ Trung Quốc, khi mà nước này phá giá nội tệ sẽ tác động rất lớn tới kinh tế Việt Nam vì Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng của chúng ta (trong 7 tháng đầu năm Việt Nam đã nhập siêu gần 20 tỷ USD từ Trung Quốc)

Trang 4

Sau lần nới biên độ tỷ giá đầu tiên ngày 12/8, hầu hết các chuyên gia, lãnh đạo ngân hàng đều cho rằng, đó là quyết định chính xác và đúng thời diểm của NHNN,

và rằng áp lực từ nay đến cuối năm là không quá lớn Thế nhưng quyết định được

cơ quan quản lý đưa ra trong ngày 19/8 đã khiến không ít người ngạc nhiên Thị trường ngay lập tức phản ứng bằng việc các ngân hàng nâng mạnh giá USD, còn các đơn vị kinh doanh vàng cũng đẩy giá tăng tới 1 triệu đồng mỗi lượng so với ngày hôm trước

Lý giải cho động thái này, NHNN cho biết, bên cạnh sự mất giá của Nhân dân tệ còn là mối lo Fed sẽ điều chỉnh lãi suất, và NHNN đưa ra quyết định như vậy là nhằm “tiếp tục chủ động dẫn dắt thị trường, đón đầu các tác động bất lợi của khả năng Fed điều chỉnh tăng lãi suất trong thời gian tới”

NHNN tự tin rằng, “Sự điều chỉnh này sẽ giúp tỷ giá có dư địa đủ lớn để linh hoạt trước các diễn biến bất lợi trên thị trường quốc tế và trong nước không chỉ từ nay đến cuối năm mà cả những tháng đầu năm 2016, tạo sự ổn định vững chắc cho thị trường ngoại tệ và đảm bảo khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam”

2.1 Tổng quan chính sách tỷ giá

A Khái niệm:

Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chính phủ (đại diện thường là NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định (hay cơ chế điều hành tỷ giá) và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách kinh tế quốc gia

B Vai trò của chính sách tỷ giá hối đoái đến các quan hệ kinh tế quốc tế:

 Đối với cán cân thanh toán

Để thanh toán được các hoạt động nảy sinh trong thương mại quốc tế, các chủ thể thường phải dựa vào tỷ giá hối đoái Khi tỷ giá thay đổi sẽ có tác động đến thương mại quốc tế

Khi tỷ giá hối đoái tăng lên, có nghĩa là đồng nội tệ có giá trị giảm xuống so với đồng ngoại tệ Việc này sẽ có tác động thúc đẩy xuất khẩu nhưng hạn chế nhập khẩu Vì cùng một lượng nội tệ sẽ đổi được ít ngoại tệ hơn nên hàng xuất khẩu rẻ hơn, dễ cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế Trong khi đó, cùng một lượng ngoại tệ lại đổi ra được nhiều nội tệ hơn nên hàng xuất khẩu đắt hơn

Ngược lại, tỷ giá hối đoái giảm xuống sẽ có tác động hạn chế xuất khẩu và thúc đẩy nhập khẩu Từ đó gây nên tình trạng mất cân đối cán cân thanh toán

 Đối với đầu tư quốc tế:

Hoạt động đầu tư quốc tế cũng liên quan đến việc chuyển đổi giá trị giữa các đồng tiền nên nó cũng chịu ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá hối đoái Khi tỷ giá hối

Trang 5

đoái tăng lên, đồng nội tệ giảm giá trị so với đồng ngoài tệ, nó có tác động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và hạn chế sự đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư trong nước Vì các nhà đầu tư nước ngoài với cùng một lượng ngoại tệ sẽ đổi được nhiều nội tệ hơn để phục vụ cho hoạt động đàu tư

Ngược lại khi tỷ giá hối đoái giảm xuống sẽ hạn chê thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và thúc đẩy các nhà đầu tư trong nước đầu tư ra nước ngoài

 Đối với lạm phát và lãi suất

Khi các yếu tố khác không đổi, TGHĐ tăng làm tăng giá các mặt hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ Các hộ gia đình, nhà sản xuất sử dụng đầu vào nhập khẩu phải tiêu dùng hàng nhập khẩu với mức giá tăng cùng tỷ lệ phá giá Kết quả mức giá chung trong nền kinh tế tăng đặc biệt với nước có nền kinh tế nhỏ Nếu TGHĐ tiếp tục có sự gia tăng qua các năm có nghĩa là lạm phát đã tăng Nếu lãi suất tăng ở mức vừa phải có thể kiểm soát sẽ kích thích tăng trưởng nhưng nếu lạm phát tăng quá cao tác động làm lãi suất tăng và làm giảm đầu tư ảnh hưởng không tốt tới đời sống kinh tế

 Đối với sản lượng và việc làm

Đối với các lĩnh vực sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước thì khi TGHĐ tăng, sự tăng giá hàng nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh vs DN trong nước; sự giảm trị giá đồng nội tệ khiến giá cả hàng hóa xuất khẩu rẻ tương đối tăng khả năng cạnh tranh với DN nước ngoài về xuất khẩu Như vậy tạo thêm công ăn việc làm giảm thất nghiệp sản lượng quốc gia có thể tăng Nhưng bên cạnh

đó đối với các lĩnh vực nhập khẩu từ nước ngoài thì việc giá nguyên liệu đầu vào tăng sẽ gây khó khăn cho DN

Lý giải vì sao tìm hiểu chính sách tỷ giá của VN, chúng ta thường tìm hiểu CS của TQ?

Trang 6

Thứ nhất, Việt Nam là một nước nhập siêu, chủ yếu là từ Trung Quốc Theo biểu

đồ trên, nhập siêu của Việt Nam từ Trung quốc ngày càng tăng, chủ yếu là xăng dầu, máy móc, thiết bị điện tử đòi hỏi Việt Nam cần dự trữ lượng ngoại tệ lớn Việc Trung Quốc thay đổi tỷ giá có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế và chính sách tỷ giá của Việt Nam Cụ thể, khi Trung Quốc tăng tỷ giá kiến giá cả các mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc tăng kéo theo các mặt hàng khác nữa; khi Trung Quốc giảm tỷ giá sẽ khiến các mặt hàng Việt Nam khó cạch tranh ở cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế Như vậy, Việt Nm cần có những chính sách tỷ giá phù hợp để ổn định thị trường khi Trung Quốc thay đổi tỷ giá

Thứ hai, Trung Quốc và chúng ta là hai nước láng giềng có mối quan hệ lịch sử rất lâu đời Cho nên, chúng ta và Trung Quốc có rất nhiều điểm tương đồng về phong tục tập quán, thói quen , dẫn đến sự tương đồng trong sản xuất và đời sống xã hội Điều đó khẳng định rằng, sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc tác động không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam

Thứ ba, Trung Quốc là nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, đã trở thành cường quốc lớn thứ hai trên thế giới Vì vậy, Việt Nam cần tìm hiểu, học hỏi và rút

ra bài học kinh nghiệm những chính sách của Trung Quốc và đưa ra những chính sách phù hợp với Việt Nam

Trang 7

2 Chính sách tỷ giá Trung Quốc và Việt nam

Chính sách ngoại hối của nước này thay đổi liên tục trong vài thập kỷ gần đây,

từ áp dụng một tỷ giá đến đa tỷ giá, từ neo vào USD, thả nổi đến thả nổi có kiểm soát.Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc gây ra rất nhiều tranh cãi thời gian qua, nhất là khi nước này phá giá mạnh đồng tiền trong tháng 8 Trước đó giới chính trị gia Mỹ và những quốc gia phát triển khác thường chỉ trích cơ chế tỷ giá cứng nhắc của nước này Họ cho rằng Trung Quốc không chỉ đơn thuần là thay đổi chính sách tỷ giá để phù hợp với những biến động trên thị trường, họ thực chất muốn tăng thặng dư thương mại Trong gần 70 năm tồn tại, chính sách tỷ giá đồng nhân dân tệ (NDT) đã được điều chỉnh rất nhiều

2.1.Chính sách tỷ giá của Trung Quốc:

 Trước năm 1978

Trước năm 1978, Trung Quốc vẫn còn là một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, rất ít giao thương với bên ngoài

Từ năm 1955 đến 1972, quốc gia này chỉ áp dụng một tỷ giá Giá NDT được tính theo 13 đồng tiền khác nhau, rồi sau đó là dựa trên trung bình của USD và Mark Đức Vào thời kỳ này, việc đồng NDT được định giá quá cao so với giá trị thực (1,5 NDT đổi 1 USD) đã dẫn đến những yếu kém trong xuất khẩu

Tuy nhiên, việc này lại được bù đắp bởi lợi nhuận thu được từ nhập khẩu, do nhà nước độc quyền trong hoạt động ngoại thương Trong thời kỳ này, tỷ giá hối đoái chính thức không đóng vai trò quan trọng trong thương mại với nước ngoài của Trung Quốc

 Thời kỳ 1978-1984: Thời kỳ chính sách đa tỷ giá

Vai trò của tỷ giá bắt đầu thay đổi từ khi Trung Quốc bắt đầu cải cách kinh tế năm

1978 Lúc này, với chủ trương cởi mở hơn, Chính phủ Trung Quốc đã không còn độc quyền về các hoạt động ngoại thương nữa và cũng thay đổi cả chính sách tỷ giá hối đoái để phù hợp với những yêu cầu của nền kinh tế

Đánh giá chính sách tỷ giá Trung Quốc trong giai đoạn này:

Thứ nhất, chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trong giai đoạn này thể hiện

rõ rệt đặc tính chính sách tỷ giá hối đoái mà hệ thống các quốc gia Xã hội chủ nghĩa lúc đó đang áp dụng Đặc tính này bao gồm: áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái

cố định, sử dụng nhiều loại tỷ giá trong cùng một nền kinh tế, quản lý chặt chẽ ngoại hối và điều chỉnh tỷ giá hối đoái không hoàn toàn tuân theo các tín hiệu thịtrường…

Trang 8

Thứ hai, chính sách tỷ giá hối đoái đã đạt được các mục tiêu ngắn hạn: Mục tiêu tạo thêm một loại tỷ giá mới (tỷ giá giao dịch thương mại nội bộ) song song với tỷ giá chính thức đã làm dịu áp lực phá giá đồng Nhân dân tệ, trung hòa các mâu thuẫn trong quan điểm cải cách chính sách tỷ giá hối đoái trong những năm đầu đã phát huy tác dụng

Thứ ba, dù can thiệp bằng bàn tay hữu hình hay bàn tay vô hình thì về dài hạn, tỷ giá vẫn có xu hướng tiến về mức cơ bản Sau khoảng hơn 4 năm thực thi chính sách song song 2 tỷ giá, với những điều chỉnh tỷ giá cần thiết trong thời gian này, năm 1984 chính sách đa tỷ giá đã trở nên không còn phát huy tác dụng nữa

 Thời kỳ 1985-1993: Xóa bỏ chính sách tỷ giá mang tính quan lieu bao cấp

Năm 1985, sự ra đời của thị trường ngoại hối trong khu vực đã cho phép các liên doanh có thể trao đổi ngoại tệ mà họ thu được thông qua xuất khẩu

Năm 1988, một hệ thống thu ngoại tệ chính thức được thành lập Khi đó, các chính quyền địa phương cùng doanh nghiệp Nhà nước cũng có thể tham gia vào thị trường ngoại hối

Sau năm 1988, do giá cả được xác định bởi các điều kiện thị trường, tỷ giá hối đoái

đã trở nên linh hoạt hơn

Giai đoạn 1991-1993, Trung Quốc đã áp dụng tỷ giá thả nổi và liên tục phá giá nội

tệ nhằm phản ánh sát hơn những biến đổi của thị trường và sức mua thực tế của đồng NDT

Từ sau các đợt phá giá, tỷ giá danh nghĩa giữa đồng NDT và USD được duy trì ổn định ở mức 5,2 - 5,8 NDT đổi một USD

Đánh giá chính sách tỷ giá Trung Quốc trong giai đoạn này:

Thứ nhất, kết quả của hàng loạt những cải cách chính sách tỷ giá hối đoái trong giai đoạn này được chính phủ Trung Quốc đúc rút về mặt quan điểm lý luận khi xác định vai trò của chính sách tỷ giá hối đoái đối với nền kinh tế Nếu như, trong những năm cuối thập kỷ 1970, mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái chỉ là đưa tỷ giá đồng Nhân dân tệ về sát với tỷ giá thực, thì từ giữa những năm 1980, quan điểm cải cách tỷ giá đã hướng đến coi đó như một đòn bẩy kinh tế, được sử dụng để đẩy mạnh xuất khẩu, tức chính sách tỷ giá hối đoái đã có vai trò lớn hơn trong việc phân bổ các nguồn lực kinh tế

Thứ hai, những hệ quả và áp lực của sự phát triển thị trường ngoại hối tự do tự phát tạo ra, những bất cập trong chế độ hai tỷ giá tồn tại song song, sự tăng trưởng mạnh mẽ của xuất khẩu, của tổng sản phẩm quốc dân…đã buộc chính phủ Trung Quốc thống nhất hai chế độ tỷ giá hối đoái và thực hiện các cố gắng hướng tới một đồng Nhân dân tệ có khả năng chuyển đổi vào năm 1994

Trang 9

Mặc dù quyết định thống nhất các loại tỷ giá thànhmột tỷ giá duy nhất dường như được đưa ra khá trễ(vì từ những năm 1984 hai loại tỷ giá nội bộ và chính thức đã gần như thống nhất với nhau) nhưng với quan điểm của Trung Quốc, quá trình này vẫn được xem là phù hợp và đúng thời điểm, phản ánh sự thận trọng thường thấy của các nhà lập chính sách Trung Quốc trong giai đoạn đầu cải cách kinh tế mang đặc sắc Trung Quốc

 Cuộc cải cách năm 1994: tỷ giá được thả nổi dựa trên các nhân tố thị trường

Năm 1994 chứng kiến nhiều cải cách kinh tế vĩ mô lớn, bao gồm cả những đổi mới trong thị trường ngoại hối - chế độ đa tỷ giá được thay bằng một tỷ giá

Ngày 1/1/1994, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc công bố thống nhất tỷ giá chính thức và tỷ giá trao đổi thực tế trên thị trường của đồng NDT Tỷ giá này được thiết lập ở mức 8,7 NDT đổi 1 USD và nằm dưới chế độ thả nổi có kiểm soát của nhà nước

Từ 5,8 NDT xuống 8,7 NDTđổi một USD, đây được coi là một trong những lần phá giá mạnh nhất với tỷ lệ lên tới 50% Nhiều người cho rằng Chính phủ Trung Quốc không chỉ đơn thuần muốn điều chỉnh để đồng NDT phản ánh đúng sức mua của nó, mà còn có một chủ ý khác Đó là thúc đẩy mạnh xuất khẩu và tạo thặng dư thương mại

Đến cuối năm 1996, NDT đã có thể được chuyển đổi hoàn toàn trên tài khoản vãng lai để phục vụ cho các mục đích liên quan đến thương mại Tỷ giá hối đoái danh nghĩa của NDT so với USD tăng ở mức chậm nhưng đều đặn lên 8,3 NDT đổi một USD vào năm 1997

Sau khủng hoảng tài chính châu Á, Chính phủ Trung Quốc đã cố định tỷ giá ở mức 8,27 NDT một USD Trong 8 năm tiếp theo (đến tháng 7/2005), tỷ giá này vẫn

Trang 10

được duy trì nhằm tạo ra môi trường ổn định cho ngoại thương và đầu tư vào quốc gia này

Ngày 21/7/2005, Trung Quốc lại tiếp tục đưa vào một chính sách tiền tệ mới, chấm dứt việc áp dụng một tỷ giá hối đoái danh nghĩa không thay đổi trong suốt gần 10 năm Theo đó, sự chuyển đổi sang cơ chế tỷ giá mới này đã đem lại ba thay đổi quan trọng Thứ nhất, giá trị đồng NDT sẽ được tham chiếu với một rổ gồm nhiều đồng tiền khác theo quy luật cung cầu của thị trường Thứ hai, tỷ giá trao đổi chính thức xuống 8,11 NDT đổi một USD với biên độ dao động hàng ngày là 0,3% Thứ

ba, cơ chế tỷ giá cố định được thay thế bằng cơ chế tỷ giá thả nổi có kiểm soát Tháng 5/2007, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã điều chỉnh biên độ dao động hàng ngày của NDT lên 0,5% Những đổi mới này đã làm tăng tính linh hoạt cho tỷ giá Vào cuối năm 2008, một USD chỉ còn đổi được 6,83 NDT

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã gây nên một cơn chấn động trên toàn thế giới Trong tình hình đó, các nhà cầm quyền Trung Quốc đã giới hạn phạm vi dao động của NDT và giữ ở khoảng 6,84 NDT đổi một USD trong vòng 2 năm, đồng thời quay trở lại định giá NDT theo USD

Cho đến ngày 19/6/2010, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc mới khởi động lại các cuộc cải cách nhằm vào tỷ giá đồng NDT Theo đó, tỷ giá hối đoái của NDT so với USD tiếp tục tăng Ngày 16/4/2012, biên độ dao động của NDT so với USD được nới rộng lên 1% mỗi ngày

Các phản ứng của Trung Quốc về tỷ giá hối đoái linh hoạt và gắn với từng mối quan hệ thương mại cụ thể vơi từng thời điểm cụ thể.Trong điều kiện đồng USD tăng giá,Trung Quốc đã tìm cách để định giá thấp đồng nhân dân tệ Điều này làm cho Trung Quốc có lợi thế thương mại lớn so với Hoa Kỳ đồng thời cũng

có lợi thế hơn so với các đối tác thương mại khác của Trung Quốc thực thi chính sách neo giá đồng tiền nước đó với đồng đô la Mỹ Với cách thức này, Trung Quốc gần như đã khai thác triệt để lợi thế thương mại không chỉ với Hoa Kỳ mà còn với các đối tác thương mại khác Trong điều kiện đồng đô la Mỹ giảm giá vì Hoa Kỳ muốn cải thiện cán cân thương mại cũng như để giảm giá trị thực tế của lượng dự trữ USD của Trung Quốc, Trung Quốc thực hiện chính sách neo buộc chặt hay nói cách khác cố định tỷ giá đồng nhân dân tệ với đồng USD để giảm giá đồng nhân dân tệ nhằm tăng lợi thế thương mại và tiến hành chuyển đổi một phần USD ra vàng để bảo hiểm giá trị của lượng dự trữ ngoại hối của mình Nghĩa là dù USD ở

vị thế nào chăng nữa, Trung Quốc cũng có thể vận dụng triệt để cơ hội để tạo lợi thế thương mại cho mình Điều này cho thấy Trung Quốc thường xuyên thực hiện giám sát sâu sát và chặt chẽ đối với những động thái “nhất cứ, nhất động” của sự biến động USD và những chính sách tỷ giá do Mỹ áp dụng để đưa ra các “kế sách”

có lợi nhất

Ngày đăng: 17/12/2021, 15:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w