1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SỰ HÌNH THÀNH và PHÁT TRIỂN của hệ THỐNG TIỀN tệ tại VIỆT NAM

43 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 186,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, dầndần con người đã biết sử dụng các tín tệ giấy xác nhận gửi vàng trong ngân hàng đểlàm tiền trong lưu thông.. Nhưng hạn chế của việc sử dụng vàng hay tín tệ trong lưu thông đó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

-• -TIỂU LUẬN

TIỀN TỆ - NGÂN HÀNG

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG TIỀN

TỆ TẠI VIỆT NAM

Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 4

Lớp tín chỉ: TCH303.3

Giáo viên hướng dẫn: Ths Mai Thị Hồng

Trang 2

Mục lục

Chương 1 Khái quát sự ra đời và phát triển của tiền tệ 6

1.1 Nguồn gốc ra đời của tiền tệ 6

1.2 Bản chất, chức năng, vai trò 7

1.2.1 Bản chất 8

1.2.2 Chức năng 8

1.2.3 Vai trò: 9

1.3 Sự phát triển các hình thái của tiền tệ 9

1.3.1 Tiền tệ dưới dạng hàng hoá – hoá tệ (commodity money) 9

1.3.2 Tiền giấy (Paper Money) 12

1.3.3 Tiền tín dụng (Credit Money) 14

1.3.4 Tiền điện tử (Electronic Money) 15

1.3.5 Các hình thức tiền tệ khác 17

1.4 Cách đo lường tiền tệ trong lưu thông 17

1.4.1 Các biện pháp đo tổng lượng tiền tệ lưu thông tại Hoa Kỳ 18

1.4.2 Các biện pháp đo tổng lượng tiền tệ lưu thông trong Khu vực đồng tiền chung châu Âu 19

1.4.3 Các biện pháp đo tổng lượng tiền tệ lưu thông tại Nhật Bản 20

1.4.4 Các biện pháp đo tổng lượng tiền tệ lưu thông tại Vương quốc Anh 20

1.4.5 Các biện pháp đo tổng lượng tiền tệ lưu thông tại Việt Nam 20

Chương 2 Sự phát triển của hệ thống tiền tệ ở Việt Nam 21

2.1 Sự ra đời hệ hệ thống tiền tệ Việt Nam 21

2.1.1 Tiền cổ Việt Nam 21

2.1.2 Tiền Việt Nam hiện đại 25

2.2 Hình thái tiền tệ qua từng thời kỳ ở Việt Nam 26

2.2.1 Hình thái tiền tệ Việt Nam qua thời kỳ Bắc thuộc ( 179 TCN - 938) 26

2.2.2 Hình thái tiền tệ Việt Nam thời phong kiến độc lập 27

2.2.3 Hình thái tiền tệ Việt Nam thời chống Pháp ( 1885 – 1954) 29

2.3 Xu hướng phát triển của tiền trong tương lai 32

2.3.1 Nền tảng phát triển tiền điện tử 32

2.3.2 Lịch sử của tiền điện tử 33

2.3.3 Tổng quan về bitcoin và xu hướng phát triển trong tương lai 33

2.3.4 Bước đi của Việt Nam với những vấn đề hiện nay và trong tương lai 43

Trang 3

3 Bùi Thị Bích Ngọc 2014320009 K59-Anh 01-NGHG

DANH SÁCH SINH VIÊN THỰC HIỆN

Trang 4

Chương 1. Khái quát sự ra đời và phát triển của tiền tệ

1.1. Nguồn gốc ra đời của tiền tệ

Tiền được coi là một phát minh đột phá và đóng vai trò quan trọng trong quátrình phát triển của chúng ta Qua nhiều giai đoạn tăng trưởng tiền đã trở nên ngàycàng thuận tiện cho ta sử hữu và sử dụng chúng

Lịch sử quá trình hình thành và phát triển, hình thức của tiền đã phát triển quanhiều thiên niên kỷ - từ các vật thể tự nhiên đến tiền xu, giấy sang các phiên bản kỹthuật số Nhưng dù ở bất kỳ hình thức nào, loài người từ lâu đã sử dụng tiền tệ nhưmột phương tiện trao đổi , một phương thức thanh toán, một tiêu chuẩn giá trị, mộtkho chứa của cải và một đơn vị tài khoản Có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của tiền,một phần vì tiền có nhiều chức năng: Nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi nhưmột thước đo giá trị; nó mang các xã hội đa dạng lại với nhau bằng cách cho phéptặng quà và có đi có lại; nó duy trì các thứ bậc xã hội; và cuối cùng, nó là một phươngtiện quyền lực nhà nước

Trong lịch sử phát triển của loài người lúc đầu loài người sống thành bầy đàn,kiếm ăn tự nhiên, chưa có chiếm hữu tư nhân, chưa có sản xuất, trao đổi hàng hóa nênchưa có tiền tệ mọi người trao đổi, thực hiện các giao dịch trực tiếp giữa hai bên củacác đối tượng mong muốn

Khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã, sự tư hữu về của cải và tư liệu sản xuấtbắt đầu xuất hiện Lúc này, để có cái ăn, mỗi cá nhân đều phải tự lao động để làm racủa cải Tuy nhiên, mỗi cá nhân trong xã hội đều không thể tự làm ra hết của cải màmình muốn hưởng thụ Vì vậy, người ta phải trao đổi của cải với nhau để đáp ứng nhucầu về các của cải, vật chất mà họ không làm ra

Đầu tiên, các cá nhân trong xã hội thực hiện trao đổi trực tiếp giữa các hànghóa với nhau Ví dụ như người nông dân có gạo nhưng không nuôi bò thì lấy gạo đổivới bò, người trồng khoai nhưng không trồng sắn hoặc chè thì dùng khoai để trao đổitrực tiếp với sắn hoặc chè Việc trao đổi trực tiếp giữa hàng với hàng đã giải quyết nhucầu cần thiết trong những giai đoạn đầu tiên khi bắt đầu có sở hữu cá nhân

Tuy nhiên, việc trao đổi trực tiếp giữa hàng với hàng có những nhược điểm làtrao đổi mang tính giản đơn, ngẫu nhiên mà không có sự đồng nhất Bên cạnh đó, traođổi vẫn là trực tiếp giữa hàng với hàng Vì vậy, việc trao đổi trực tiếp này đã gâynhiều khó khăn cho các cá nhân khi tham gia trao đổi dẫn tới hệ quả kìm hãm sự pháttriển của các nền kinh tế

Khi các nền kinh tế phát triển ở giai đoạn cao hơn, số lượng các giao dịch vềtrao đổi hàng hóa ngày càng được gia tăng và diễn ra thường xuyên hơn Điều này đòihỏi phải có vật trung gian trong trao đổi nhằm khuyến khích trao đổi hàng hóa Lúcnày, người dân ở các địa phương đã biết sử dụng các sản vật quý hiếm của địa phươngnhư muối, vỏ sò, lông cừu,… làm vật trung gian trong trao đổi hàng hóa Khi đó, tất

cả cá nhân tại các địa phương sẽ bán các sản phẩm do mình làm ra để đổi lấy các vậttrung gian (muối, vỏ sò, lông cừu,…) rồi lại sử dụng các vật trung gian này để muacác sản phẩm khác mà mình có nhu cầu

Việc sử dụng vật trung gian trong trao đổi đã giúp các trao đổi không cònmang tính ngẫu nhiên nữa Tuy nhiên, hạn chế của vật môi giới trung gian trong traođổi này là những sản vật này không bền, bị ảnh hưởng bởi nhiều điều kiện tự nhiên,

Trang 5

khí hậu như muối, chè, lông cừu, và khi chia nhỏ thì đôi khi sẽ làm giảm giá trị vốn

có của nó như lông cừu,

Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển hơn nữa, đặc biệt là khi mở rộnggiữa các vùng đòi hỏi phải có một vật ngang giá chung thống nhất thì hình thái tiềnđược ra đời Giá trị của tất cả các hàng hoá ở đây đều được biểu hiện ở một hàng hoáđóng vai trò tiền tệ Khi con người bắt đầu biết sử dụng các kim loại thì tiền bằng kimloại bắt đầu được tạo ra

Cuối cùng, các kim loại là vàng và bạc được dùng làm tiền trong lưu thông.Lúc đầu khi vàng còn hạn chế, con người đã sử dụng thêm bạc là kim loại thứ 2 dùnglàm tiền trong lưu thông, gọi là chế độ song bản vị Về sau, do lượng vàng được khaithác nhiều hơn và do vàng có những ưu thế hơn hẳn như thuần nhất, ít pha trộn, dễchia nhỏ, lâu hư hại, dễ mang theo nên vàng được chọn làm tiền tệ - chế độ bản vịvàng được ra đời

Tuy nhiên, việc dùng vàng làm tiền trong lưu thông có những hạn chế là khómang theo, khó chia nhỏ để mua những sản phẩm có giá trị nhỏ như mớ rau, cân gạo,

… và các kim loại rất quý hiếm, được sử dụng nhiều trong công nghiệp Vì vậy, dầndần con người đã biết sử dụng các tín tệ (giấy xác nhận gửi vàng trong ngân hàng) đểlàm tiền trong lưu thông Khi này, các cá nhân sẽ gửi những đồng vàng, bạc của mìnhvào ngân hàng và nhận lại các tờ tín tệ Tín tệ khi này được tự do chuyển đổi ra vàng.Điều này đã giúp cho các cá nhân dễ mang theo mình và việc trao đổi, mua bán nhữnghàng hóa có giá trị thấp được dễ dàng hơn

Nhưng hạn chế của việc sử dụng vàng hay tín tệ trong lưu thông đó là lượngvàng trên trái đất là có hạn, khả năng khai thác hàng năm không lớn (theo các nhànghiên cứu thì tổng lượng vàng trên trái đất là khoảng 250 nghìn tấn, trong đó lượngvàng đã khai thác tính đến giữa năm 2018 là khoảng 190 nghìn tấn, nhưng chủ yếu cóđược trong thế kỷ 20 đến nay) Tín tệ chỉ được phát hành khi có thêm lượng vàng gửivào ngân hàng Vì vậy, khi các nền kinh tế ngày càng phát triển, lượng hàng hóa làm

ra ngày càng nhiều nhưng lượng vàng thì lại không tăng lên tương xứng dẫn tới mấtcân đối giữa tiền và hàng Điều này dẫn tới giá cả hàng hóa sẽ bị giảm đi, khôngkhuyến khích các cá nhân, tổ chức mở rộng sản xuất và về lâu dài sẽ kìm hãm sự pháttriển của các nền kinh tế

Vì những lý do trên, tiền pháp định như ngày nay được ra đời nhằm đáp ứngyêu cầu mới về trao đổi hàng hóa đó là có thể phát hành thêm tiền để đưa vào lưuthông khi có sự gia tăng của hàng hóa dịch vụ Tiền pháp định khi này do nhà nước in

ấn và phát hành, có giá trị trên toàn lãnh thổ quốc gia Tuy nhiên, tiền pháp định làloại tiền chỉ có giá trị danh nghĩa mà không có giá trị nội tại như vàng Vì vậy, lượngtiền pháp định này chỉ được phát hành thêm khi hàng hóa mới được tạo ra hay tiềnpháp định này được phát hành dựa trên cơ chế tín dụng có sự đảm bảo bằng lượnghàng hóa dịch vụ mới tạo ra Vàng chỉ được dùng để thanh toán các khoản nợ quốc tế,

nó bị rút khỏi lưu thông trong nước vì không dùng làm tiền tệ và tiền giấy khi nàykhông được tự do chuyển đổi ra vàng

Từ đây giá trị thực tế của đồng tiền các nước phụ thuộc vào sức mua của nó,tức là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà nó có thể mua được Giá trị của một đơn vịtiền tệ được xác định bằng sức mua của nó và được đo bằng số nghịch đảo của mứcgiá chung Như vậy, mức giá cả chung càng cao thì giá trị hay sức mua của một đơn vịtiền tệ càng thấp và ngược lại

1.2 Bản chất, chức năng, vai trò

Trang 6

1.2.1 Bản chất

Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua 2 thuộc tính của nó:

- Giá trị sử dụng của tiền tệ: là khả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của xã hội,nhu cầu sử dụng làm vật trung gian trong trao đổi Như vậy người ta sẽ chỉ cần nắmgiữ tiền khi có nhu cầu trao đổi

Giá trị sử dụng của một loại tiền tệ là do xã hội quy định: chừng nào xã hội cònthừa nhận nó thực hiện tốt vai trò tiền tệ (tức là vai trò vật trung gian môi giới trongtrao đổi) thì chừng đó giá trị sử dụng của nó với tư cách là tiền tệ còn tồn tại.=> Giá trị

Suy cho cùng, về bản chất, tiền tệ là vật ngang giá chung, làm phương tiện đểtrao đổi hàng hóa, dịch vụ và thanh toán các khoản nợ

1.2.2 Chức năng

- Thước đo giá trị-Unit of account

Tiền tệ được dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá Muốn đo lườnggiá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ cũng phải có giá trị

1.2.2.1. Phương tiện trao đổi-Medium of exchange

Tiền được dùng làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá Để làm chứcnăng lưu thông hàng hoá đòi hỏi phải có tiền mặt Quá trình trao đổi hàng hoá lấy tiềnlàm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá

=> vận động đồng thời và ngược chiều với hàng hoá: H -T-H'

1.2.2.2. Phương tiện cất trữ-Store of value

Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ Đểlàm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc Chứcnăng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiềncần thiết cho lưu thông Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ đượcđưa vào lưu thông Ngược lại, nếu sản xuất giảm lượng hàng hóa lại ít thì một phầntiền rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ

1.2.2.3. Phương tiện thanh toán-Means of payment

Tiền tệ được dùng làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộpthuế, trả tiền mua chịu hàng…

1.2.3 Vai trò:

Trang 7

Đối với kinh tế vĩ mô:

- Là công cụ để xác định kế hoạch phát triển kinh tế và thiết lập các mối quan hệcân đối lớn về mặt giá trị trong nền kinh tế

- Là công cụ để xác định hệ thống các chỉ tiêu kiểm soát về mặt giá trị đối vớicác hoạt động kinh tế

- Là cơ sở hình thành nên hoạt động TC-TD nhằm phân phối lại vốn tiền tệ trongtoàn bộ nền KT

=> Tiền là phương tiện để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Đối với kinh tế vi mô:

Thúc đẩy SX và trao đổi h.hoá mở rộng và phát triển;

- Tiền làm cho giá trị của hàng hoá được biểu hiện một cách đơn giản cho nênngười ta dễ dàng so sánh các hàng hoá với nhau và người lao động có thể so sánh vềmức độ lao động với nhau

- Nó làm cho giá trị của hàng hoá được thực hiện một cách thuận lợi, người sởhữu có thể chuyển đổi giá trị sử dụng một cách dễ dàng

- Tiền tệ làm cho sự trao đổi hàng hoá không bị ràng buộc về không gian và thờigian

- Tiền tệ làm cho việc hạch toán hiệu quả sản xuất kinh doanh dễ dàng

Là phương tiện để đo lường tổng chi phí, tổng thu nhập, xác định mức lãi, lỗ của DN,thúc đẩy khả năng cạnh tranh của các DN => Góp phần điều chỉnh các quan hệ kinh

tế, để các quan hệ kinh tế đó thích hợp với những biến động hoặc những thay đổi củamôi trường pháp lý, phù hợp với thực tiễn phát triển của quốc gia

1.3 Sự phát triển các hình thái của tiền tệ

Trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá tiền tệ đã lần lượt tồn tại dưới nhiều hìnhthức khác nhau, đáp ứng nhu cầu phát triển đặc biệt là hoạt động lưu thông, trao đổihàng hoá

1.3.1 Tiền tệ dưới dạng hàng hoá – hoá tệ (commodity money)

Đây là hình thái đầu tiên của tiền tệ Đặc điểm chung của loại tiền tệ này làhàng hoá dùng làm tiền tệ trong trao đổi phải có giá trị thực và giá trị của vật trunggian trao đổi này phải ngang bằng với giá trị hàng hoá đem ra trao đổi, nói cách khác,giá trị của tiền tệ hàng hoá (hoá tệ) được đo bằng giá trị của hàng hoá dùng làm tiềntệ

1.3.1.1. Hoá tệ phi kim loại (non-metallic commodities money)

Hoá tệ phi kim loại là loại tiền tệ tồn tại dưới dạng các hàng hoá phi kim Đây

Trang 8

Hàng ngàn năm trước , các nền văn minh đã từng dựa vào hệ thống hàng đổihàng như một phương thức trao đổi hàng hóa Trong hệ thống này, việc trao đổi cácnguồn lực hoặc dịch vụ để cùng có lợi, và tập tục này có thể đã có từ hàng chục nghìnnăm trước, thậm chí có thể có từ buổi bình minh của loài người hiện đại

Đặc điểm của hình thái này là: hàng hóa dùng làm tiền tệ trong trao đổi phải cógiá trị thực sự và giá trị của vật trung gian trao đổi này phải ngang bằng với giá trị củahàng hóa đem trao đổi, tức là trao đổi ngang giá một hàng hóa thông thường để lấymột hàng hóa đặc biệt - tiền tệ Trong lịch sử đã có rất nhiều loại hàng hoá khác nhautừng được con người dùng làm tiền tệ Trong cuốn “Primitive money” của Paul Einzigviết năm 1966, ông đã đưa ra những thống kê khá thú vị về những loại tiền cổ xưa, đólà: Răng cá voi ở Đảo Fiji, Gỗ đàn hương ở Hawaii, Lụa ở Trung Quốc, Bơ ở Na Uy,

Da ở Pháp và Ý, Gạo ở Philippines, Hạt tiêu ở Sumatra, Nô lệ ở Châu Phi xích đạo,

Tuy nhiên, hóa tệ phi kim loại có nhiều điểm không thuận tiện như: tính chấtkhông đồng nhất, dễ hư hỏng, khó phân chia hay gộp lại, khó bảo quản hay di chuyển,

và chỉ có giá trị trong từng địa phương nhỏ lẻ Vì vậy, hóa tệ phi kim loại dần dần biếnmất và được thay thế bằng hóa tệ kim loại

1.3.1.2. Hóa tệ kim loại

Hoá tệ kim loại là tiền tệ dưới dạng các kim loại, thường là các kim loại quýnhư vàng, bạc đồng

Ưu điểm: các kim loại có nhiều ưu điểm hơn so với các hàng hoá khác khiđược sử dụng làm tiền tệ: có thể bảo tồn lâu, chất lượng và trọng lượng có thể xácđịnh dễ dàng và chính xác, hơn nữa, nó lại bền, dễ chia nhỏ, giá trị ít biến đổi…

Cuối thời kỳ này, hình thức tiền tệ đã được cố định ở vàng Bởi vì vàng cónhiều đặc tính ưu việt hơn các hàng hóa khác lúc bấy giờ trong việc thực hiện cácchức năng của tiền tệ, đó là

· Tính đồng nhất của vàng rất cao, điều này rất thuận lợi trong việc đo lường,biểu hiện giá cả của các hàng hóa trong quá trình trao đổi Vàng không bị thay đổi vềmàu sắc và chất lượng dưới tác động của môi trường và cơ học nên rất tiện lợi choviệc cất trữ

· Dễ phân chia mà không làm ảnh hưởng đến giá trị vốn có của nó, điều này có

ý nghĩa quan trọng trong việc biểu hiện giá cả và lưu thông hàng hóa trên thị trường.Bởi lẽ, thị trường hàng hóa rất đa dạng và giá cả rất khác nhau

· Dễ mang theo bởi vì một thể tích nhỏ và trọng lượng nhỏ của vàng có thể đạidiện cho giá trị một khối lượng hàng hóa lớn

· Giá trị vàng ổn định trong thời gian tương đối dài, ít chịu ảnh hưởng của năngsuất lao động như các hàng hoá khác Sự ổn định của giá vàng là nhờ năng suất laođộng sản xuất ra vàng tương đối ổn định Ngay cả việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật vào khai thác vàng cũng không làm tăng năng suất lao động lên nhiều Điều nàylàm cho tiền vàng luôn có giá trị ổn định, một điều rất cần thiết để có thể thực hiệnchức năng tiền tệ

· Vàng là một hàng hoá được nhiều người yêu thích Mặc dù vàng chưa chắc làloại kim loại quý hiếm nhưng nhu cầu của xã hội về vàng đã xuất hiện rất sớm tronglịch sử và ngày càng tăng làm cho vàng trở thành một hàng hóa rất hấp dẫn, đượcnhiều người yêu thích và dễ dàng được chấp nhận trên phạm vi rộng

Trang 9

Trong giai đoạn đầu, tiền vàng thường tồn tại dưới dạng nén và thỏi Trong cácnền văn minh sơ khai, một ngôi chùa được coi là nơi ẩn náu an toàn nhất; nó là mộttòa nhà kiên cố, thường xuyên được tham dự, với một tính cách linh thiêng mà bảnthân nó có thể ngăn chặn những kẻ trộm Ở Ai Cập và Lưỡng Hà, vàng được gửi vàocác ngôi đền để cất giữ an toàn Nhưng nó nằm yên ở đó, trong khi những người kháctrong cộng đồng thương mại hoặc trong chính phủ rất cần nó Tại Babylon vào thờiHammurabi, vào thế kỷ 18 trước Công nguyên, có những ghi chép về các khoản vay

do các thầy tế lễ của đền thờ thực hiện Khái niệm ngân hàng đã xuất hiện

Nhưng về sau cho tiện trao đổi, tiền vàng thường được đúc thành những đồngtiền xu với khối lượng và độ tinh khiết nhất định được gọi là tiền đúc Tiền đúc xuấthiện đầu tiên tại Trung Quốc vào khoảng thế kỷ 7 trước Công Nguyên, sau thâm nhậpsang Ba Tư, Hy Lạp, La Mã rồi sang Châu Âu Các đồng tiền lưu hành ở Châu Âutrước kia đều có dạng này, như đồng “pound sterling” của Anh, đồng livrơ hay lu-ycủa Pháp

Tiền vàng đã có 1 thời gian thống trị rất dài trong lịch sử, hệ thống thanh toándựa trên vàng được duy trì cho đến thế kỷ 20, cụ thể là đến năm 1971, khi hệ thốngtiền tệ quốc tế Bretton Woods lấy vàng làm tiền tệ chuẩn quốc tế sụp đổ Tuy nhiên,cho đến nay, mặc dù tiền vàng không còn trong lưu thông nhưng vàng vẫn được coi làmột dạng tài sản cất trữ có giá trị

Tuy có những đặc điểm rất thích hợp cho việc dùng làm tiền tệ nhưng tiềnvàng vẫn không thể đáp ứng nhu cầu trao đổi của xã hội khi nên sản xuất và trao đổihàng hoá phát triển đến mức cao

· Trình độ sản xuất ngày càng phát triển, khối lượng và chủng loại hàng hóa vàdịch vụ trao đổi càng tăng và đa dạng Do vậy, theo thời gian giá trị của vàng lớn đếnmức người ta khó có thể chia nhỏ ra đề tiến hành những việc mua bán bình thường,không đủ đáp ứng nhu cầu về tiền tệ (nhu cầu về phương tiện trao đổi của nền kinhtế)

· Giá trị tương đối của vàng so với các hàng hóa khác tăng lên so năng suất laođộng trong ngành khai thác vàng không tăng kịp so với năng suất lao động chung củacác ngành hàng hoá khác Điều đó dẫn đến việc giá trị vàng trở nên quá lớn, không thểđáp ứng nhu cầu làm vật ngang giá chung trong các giao dịch trao đổi có giá trị nhỏnhư mua bán dịch vụ hoặc hàng hoá tiêu dùng Hay trong những giao dịch với giá trịlớn thì tiền vàng lại trở nên quá nặng và cồng kềnh

· Việc mang vàng đi trao đổi gây ra sự mất an toàn

· Việc sử dụng tiền tệ hàng hoá bị các nhà kinh tế xem là sự lãng phí nguồn tàinguyên vốn đã có hạn: Dùng vàng làm tiền tệ khiến con người giảm bớt các nhu cầudùng vàng làm đồ trang sức hoặc các ngành sử dụng vàng làm nguyên liệu vì xã hộiphải dành một phần lớn vàng hiện có để làm tiền tệ

· Cuối chế độ xã hội nguyên thủy, sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển, xãhội phân chia giai cấp và nhà nước ra đời Giá trị của tiền tệ của Quốc gia nào là dopháp luật của riêng Quốc gia đó quy định, sau đó Ngân hàng ra đời

=> Việc tìm kiếm một loại hình tiền tệ mới thay thế cho vàng trong lưu thông

đã trở nên cần thiết Vì vậy tiền giấy xuất hiện

1.3.2 Tiền giấy (Paper Money)

Để tạo điều kiện thuận lợi và an toàn cho các giao dịch với những khoản tiền

Trang 10

chứng nhận đổi được ra bạc hoặc vàng do các ngân hàng phát hành ( gold certificate,silver certificate) Đây là cam kết cho phép người nắm giữ giấy này đến ngân hàng rút

ra số lượng vàng hay bạc ghi trên giấy Sự ra đời của chứng nhận này đã giúp cho việcgiao dịch những khoản tiền lớn cũng như việc vận chuyển chúng trở nên thuận tiệnhơn rất nhiều Từ sự phát hiện này cùng với mặt trái của hoá tệ, dần dần các chứngnhận được chuẩn hoá thành các tờ tiền giấy có in mệnh giá và đổi được ra vàng khônghạn chế theo hàm lượng vàng quy định cho đồng tiền đó

Ví dụ tiền giấy Trung Quốc được sử dụng từ thế kỷ VII dưới triều đại nhàĐường - vua Đường Cao Tông (650–683) Khi ấy hệ thống tiền tệ chính của TrungQuốc vẫn là tiền xu tròn lỗ vuông và tiền vàng, bạc Xuất phát từ hoạt động của cáchiệu cầm đồ, kim hoàn nhận giữ tiền hộ khách hàng, người ta nghĩ ra cách thanh toánbằng những tờ giấy chứng nhận gửi tiền để dễ vận chuyển và an toàn trong sử dụng.Tiền ngày ấy được gọi là “phi tệ” vì nó nhẹ Đến thế kỷ X, tiền giấy Trung Quốc đãđược sử dụng rất rộng rãi trên địa bàn rộng lớn và đã có một hệ thống thanh toán ngânhàng khá hoàn chỉnh Ở châu Âu, Những giấy bạc đầu tiên của châu Âu được ra đờivào năm 1483, nó được phát hành trong bối cảnh người Tây Ban Nha bị bao vây bởinhững người Moors Ngoài ra cũng có giả thuyết cho là việc xuất hiện những tờ tiềnlàm bằng giấy bồi gồm nhiều dạng trị giá khác nhau được sản xuất vào năm 1574 bởinhững công dân bị vây hãm thuộc thành Leyden Cả thành phố Leyden và Middelburglúc bấy giờ đang bị người Tây Ban Nha bao vây nên thiếu bạc để đúc những đồng tiềnkim loại nên họ buộc phải dùng bìa các quyển sổ của đạo Công giáo để làm vật liệucho loại tiền giấy bồi Tuy loại tiền giấy bồi được mô tả là loại tiền giấy lâu đời nhấtcủa châu Âu còn giữ được, nhưng mặt khác,chúng không phải là những tờ giấy bạc ỞAnh trước đây bên cạnh đồng pound sterling tiền đúc còn lưu hành đồng bảng Anhbằng giấy do các ngân hàng và được đổi tự do ra vàng theo tỷ lệ 1 bảng Anh tươngđương 123,274 grain (tương đương 7,32238 gram) vàng nguyên chất Việc đổi từ tiềngiấy ra vàng được thực hiện tại các ngân hàng phát hành ra nó Loại tiền này đặc biệtphổ biến ở Châu Âu trước chiến tranh Thế giới thứ nhất, được gọi là tiền ngân hànghay giấy bạc ngân hàng (bank note) Việc sử dụng tiền ngân hàng là hoàn toàn tựnguyện

Tuy nhiên, sau Đại chiến Thế giới thứ nhất, nhằm siết chặt quản lý trong việcphát hành tiền giấy, nhiều quốc gia ở Châu Âu đã cấm các ngân hàng thương mại pháthành giấy bạc ngân hàng Từ đó, việc phát hành chỉ do một ngân hàng duy nhất thựchiện, gọi là Ngân hàng Trung Ương (NHTW) Vì thế, ngày nay nói đến giấy bạc ngânhàng thì người ta hiểu đó là giấy bạc của NHTW Cùng với đó do ảnh hưởng của cáccuộc khủng hoảng kinh tế, đã nhiều lần tiền giấy mất khả năng đổi ngược ra vàng Ví

dụ ở Pháp, tiền giấy bị mất khả năng đổi ra vàng vào các năm 1720, 2848-1850,

1914-1928 và sau cùng là từ 1/10/1936 tới nay Ở Mỹ, trong thời gian nội chiến từ năm1862-1863 nhà nước phát hành tiền giấy không có khả năng đổi ra vàng, chỉ tới năm

1879 khi cuộc nội chiến kết thúc thì mới khôi phục lại khả năng đó

Ngày nay, tiền giấy thực chất là các giấy nợ (IOU) của NHTW đối với người nắm giữ.Nghiên cứu của quá trình hình thành cho thấy, tiền giấy ra đời với tư cách là dấu hiệucủa kim loại tiền tệ (tiền vàng), được phát hành ra để thay thế cho tiền kim loại trongviệc thực hiện chức năng tiền tệ nhằm khắc phục những nhược điểm của kim loại tiền

tệ Từ khi ra đời cho đến nay, tiền giấy nói chung có 2 loại:

Tiền giấy khả hoán (Convertible Paper Money): là loại tiền in trên giấy

để lưu hành thay cho tiền vàng (hay tiền bạc), ký gửi trong ngân hàng, không xuấthiện trong lưu thông, và bất cứ lúc nào người có tiền giấy đều có thể đem tiền giấyđến ngân hàng để đổi lấy vàng (hay bạc) theo giá trị ghi trên tiền giấy Chẳng hạn nếu

Trang 11

Nhà nước định nghĩa 1 đơn vị tiền tệ (dollar hay franc) là 1 gram vàng thì một ngườinào đó khi kí gửi vào ngân hàng 1 kg vàng sẽ được ngân hàng phát hành cho 1.000đơn vị tiền tệ Người này có thể sử dụng số tiền giấy này trong lưu thông, nhưng khicần vàng ông ta có thể mang 1.000 đơn vị tiền tệ này đến ngân hàng xin chuyển đổi ra

1 kg vàng

Tiền giấy bất khả hoán (Inconvertible Paper Money): là loại tiền in trêngiấy để lưu hành thay cho tiền vàng hay tiền bạc, không xuất hiện trong lưu thôngnhưng khi cần vàng hay bạc người ta không thể chuyển đổi nó ra vàng hay bạc theohàm lượng như đã định nghĩa, mà phải mua vàng hay bạc theo giá thị trường Ví dụ, ở

Mỹ thay vì cho phép hoán đổi 1 dollar ra 1 gram vàng theo như định nghĩa thì Nhànước chỉ cho phép hoán đổi 1 dollar ra 0,5 gram vàng, do dự trữ vàng hao hụt 50%.Điều này có nghĩa là Nhà nước đã phá giá tiền tệ 50%

Lợi ích của việc sử dụng tiền giấy có thể thấy rõ:

· Dễ mang theo để làm phương tiện trao đổi hàng hóa, thanh toán nợ

· Thuận tiện khi thực hiện chức năng phương tiện dự trữ của cải dưới hình thức giá trị

· Bằng cách thay đổi các con số trên mặt đồng tiền, một lượng giá trị lớn hay nhỏđược biểu hiện

· Bằng chế độ độc quyền phát hành giấy bạc với những quy định nghiêm ngặt của nhànước, tiền giấy có thể giữ được giá trị của nó

· Về phía chính phủ, việc in tiền giấy tốn ít chi phí hơn nhiều so với giá trị mà nó đạidiện và có thể phát hành không phụ thuộc vào số lượng vàng mà nó đại diện Ngoài

ra, Chính Phủ sẽ luôn nhận được khoản chênh lệch giữa giá trị mà tiền giấy đại diệnvới chi phí in chúng

Tuy nhiên, tiền giấy cũng có những nhược điểm như:

- Không bền (dễ rách)

- Chi phí lưu thông vẫn còn lớn, khi trao đổi hàng hoá diễn ra trên phạm

vi rộng, ví dụ giữa các quốc gia hay giữa các vùng xa nhau, đòi hỏi tốc độ thanh toánnhanh, an toàn thì tiền giấy vẫn tỏ ra cồng kềnh, không an toàn khi vận chuyển

- Có thể bị làm giả

- Dễ rơi vào tình trạng bất ổn do không có giá trị nội tại và không thể tựđiều tiết được số lượng tiền giấy lưu thông như tiền vàng

1.3.3 Tiền tín dụng (Credit Money)

Bên cạnh tiền giấy, ngày nay do sự phát triển của các tổ chức tài chính – tíndụng, đặc biệt là hệ thống ngân hàng, một hình thái tiền tệ mới đã xuất hiện dựa trênnhững hoạt động của các tổ chức này, đó là tiền tín dụng

Tiền tín dụng là tiền nằm trong các tài khoản mở ở ngân hàng và được hình thành trên cơ sở các khoản tiền gửi vào ngân hàng Khi khách hàng gửi một khoản

tiền giấy vào ngân hàng, ngân hàng sẽ mở một tài khoản và ghi có số tiền đó Tiềngiấy của khách hàng như thế đã chuyển thành tiền tín dụng Vì vậy, tiền tín dụng cònđược gọi là tiền tài khoản Tiền tín dụng thực chất là cam kết của ngân hàng cho phépngười sở hữu tài khoản tiền gửi (hay tiền tín dụng) được rút ra một lượng tiền giấyđúng bằng số dư có ghi trong tài khoản Do cam kết này được mọi người tin tưởngnên họ có thể sử dụng luôn các cam kết ấy như tiền mà không phải đổi ra tiền giấytrong các hoạt động thanh toán Tuy nhiên các hoạt động thanh toán bằng tiền tín dụngphải thông qua hệ thống ngân hàng làm trung gian Cũng vì vậy mà tiền tín dụng còn

có một tên gọi khác là tiền ngân hàng (bank money)

Trang 12

Để thực hiện các hoạt động thanh toán qua ngân hàng, các ngân hàng sẽ ký kếtvới nhau các hợp đồng đại lý mà theo đó các ngân hàng sẽ mở cho nhau các tài khoản

để ghi chép các khoản tiền di chuyển giữa họ Khi đó thay vì phải chuyển giao tiềnmột cách thực sự giữa các ngân hàng, họ chỉ việc ghi có hoặc nợ vào các tài khoảnnày Hoạt động chuyển tiền thực sự chỉ xảy ra định kỳ theo thoả thuận giữa các ngânhàng Cơ chế hoạt động này làm tăng rất nhanh tốc độ thanh toán Chính vì vậy hoạtđộng thanh toán qua ngân hàng rất được ưa chuộng do tính nhanh gọn và an toàn củanó

Do tiền tín dụng thực chất chỉ là những con số ghi trên tài khoản tại ngân hàng

cho nên có thể nói tiền tín dụng là đồng tiền phi vật chất và nó cũng là loại tiền mangdấu hiệu giá trị như tiền giấy

Để sử dụng tiền tín dụng, những người chủ sở hữu phải sử dụng các lệnh thanh toán

để ra lệnh cho ngân hàng nơi mình mở tài khoản thanh toán hộ mình Có nhiều loại

lệnh thanh toán khác nhau, nhưng dạng phổ biến nhất là Séc.

- Séc (cheque/check) là một tờ mệnh lệnh do người chủ tài khoản séc pháthành yêu cầu ngân hàng thành toán từ tài khoản của mình cho người hưởng lợi đượcchỉ định trong tờ séc

- Việc sử dụng séc trong thanh toán có lợi ích vì tiết kiệm chi phí giaodịch do giảm thiểu việc vận chuyển thực giữa các ngân hàng Tốc độ thanh toán cao,

an toàn và đơn giản Tiện cho việc thanh toán vì có thể viết ra bất kỳ lượng tiền nàocho đến hết số dư tài khoản Chính những ưu điểm này giúp séc được sử dụng ngàycàng phổ biến trong thanh toán Chẳng hạn tại Việt Nam chương trình Ai là Triệu Phú

sử dụng séc làm phần thưởng của chương trình

- Séc du lịch : Trong thực tế, còn có một phương tiện thanh toán tương tự

như séc đó là Séc du lịch (traveller’s cheque) Đây là séc do ngân hàng ký phát chonhững người đi ra nước ngoài hưởng Về hình thức, séc du lịch không hoàn toàn giốngvới séc thông thường Séc du lịch được in mệnh giá như tiền mặt, ngoài ra trên tờ séccòn in tên của ngân hàng ký phát và tên người hưởng lợi séc Hiện nay có 5 loại séc

du lịch được chấp nhận tại Việt Nam là American Express, Visa, Mastercard,Thomacook, Citicorp và Bank of America Séc du lịch thường do cá ngân hàng lớnphát hành nên phạm vi lưu thông là rộng khắp

Việc lưu thông tiền tín dụng dựa trên cơ sở lưu thông séc cũng có những hạn chế là:

- Việc thanh toán bằng séc đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định đểchuyển séc từ nơi này đến nơi khác, thời gian cần thiết để để kiểm tra tính hợp lệ củaséc…

- Việc thanh toán bằng séc dẫn đến việc xử lý các chứng từ làm cho chiphí ngày càng tăng gân tốn kém cho xã hội

Chính vì vậy, nhằm khắc phục những hạn chế trong lưu thông séc, đáp ứng nhu cầuthanh toán trong nền kinh tế, đòi hỏi phải có một hình thái tiền tệ mới hoàn hảo hơn,

từ đó tiền điện tử ra đời

1.3.4 Tiền điện tử (Electronic Money)

Tiền điện tử là một loại tiền tệ kỹ thuật số, được thiết kế với mục đích sử dụng trong thanh toán điện tử làm phương tiện trao đổi thay thế cho tiền pháp định – tiền giấy Tiền điện tử sử dụng thuật toán để bảo mật và xác nhận các giao dịch cũng như

kiểm soát việc thành lập các đơn vị mới trong một mạng lưới tiền điện tử nhất định

Về cơ bản, tiền điện tử là một dạng cơ sở dữ liệu giới hạn đầu vào, không ai có thểthay đổi nếu không đáp ứng đủ một số điều kiện xác định sẵn

Trang 13

Giống như serial trên tiền giấy, số serial của nền điện tử là duy nhất Mỗi tờtiền điện tử được phát hành bởi một ngân hàng và được đại diện cho một lượng tiềnthật nào đó.

Tính chất đặc trưng của tiền điện tử cũng giống như tiền giấy thật, tức là, ngườimua hàng sẽ trả một số tiền nào đó cho người bán hàng, và sẽ không có bất cứ phươngthức nào để lấy thông tin về người mua hàng Đó cũng là một đặc điểm khác biệt giữatiền điện tử và hệ thống thanh toán thẻ tín dụng

Những hoạt động đầu tiên của tiền điện tử đã bắt đầu xâm chiếm, được thựchiện trên các Web Nhưng loại tiền này vẫn còn quá ít so với việc sử dụng thẻ tíndụng Được sử dụng với mục đích chính là giao dịch trực tuyến, trong những năm 90skhi công nghệ bắt đầu bùng nổ, con người đã liên tục nỗ lực để tạo ra tiền tệ kỹ thuật

số, điển hình là những hệ thống như Flooz, Beenz và DigiCash Những dự án này từngvang tiếng một thời trên thị trường nhưng cũng đã mau chóng đi vào dĩ vãng vì một số

lý do như: lừa đảo, vấn đề tài chính, thậm chí là do mâu thuẫn nội bộ của công ty pháttriển

Đáng chú ý hơn cả, tất cả các hệ thống đương thời đều áp dụng cách tiếp cận

“Bên thứ ba tin cậy”, tức là tồn tại các công ty đứng đằng sau hệ thống để xác nhận vàxúc tiến các giao dịch Vì vậy, sự sụp đổ của các công ty đồng nghĩa với sự biến mấtcủa đồng tiền kỹ thuật số

Tuy nhiên, vào thời kỳ suy thoái năm 2000, rất nhiều công ty “đot-com” đượcthành lập, nhưng đã nhanh chóng bị đổ vỡ và trở thành công ty “dot-bom” Do đó, tiềnđiện tử còn là vấn đề cần phải cân nhắc và xem xét lại một cách kỹ lưỡng, cẩn thậnhơn

Một số hình thức giao dịch tiền điện tử hiện nay:

Các thẻ thanh toán: Là các tấm thẻ do ngân hàng hoặc các công ty tài chínhphát hành mà nhờ đó người ta có thể lưu thông những khoản tiền điện tử Thẻ thanhtoán có một số dạng sau đây:

- Thẻ rút tiền ATM (ATM card-Bank card): Thẻ ATM được dùng để rút tiền hoặc

chuyển khoản thông qua máy rút tiền tự động ATM (Automated Teller Machine).Việc sử dụng thẻ chỉ đơn giản là đẩy thẻ vào máy, nhập mã số, màn hình ATM sẽ chờlệnh Trong nửa phút, mọi hoạt động chuyển khoản hoặc rút tiền ngay tại máy đượchoàn thành

- Thẻ tín dụng (credit card): Đó là một tấm thẻ bằng nhựa cứng, hình chữ nhật với

kích thước chuẩn là 96 X 54 X 0,76mm, mặt trước có in các thông tin về tổ chức pháthành thẻ (tên và logo), thông tin về người sử dụng thẻ (tên công ty và tên người được

ủy quyền sử dụng thẻ- nếu là thẻ cho công ty hoặc tên cá nhân, đôi khi cả ảnh-nếu làthẻ cho cá nhân), gồm hai loại thẻ (Standard, Gold), số thẻ, ngày hiệu lực của thẻ, mặt sau có một dải băng từ trong đó lưu thông tin cần thiết về thẻ và chủ thẻ (như sốthẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ, mã số định danh PIN, mã để kiểm tra giá trị hiệu lựccủa thẻ) Ngoài ra còn in cả chữ ký của chủ thẻ ở mặt sau Các tổ chức phát hành thẻtín dụng đảm bảo rằng họ sẽ thanh toán tiền mua hàng hóa hay dịch vụ cho người bánthay cho người sử dụng thẻ trong hạn mức tín dụng của thẻ Số tiền đó sẽ được ngườimua thanh toán lại cho các tổ chức này sau một thời gian nhất định Vì người sử dụngthẻ tín dụng không phải trả tiền ngay lúc mua hàng, nói cách khác là các tổ chức pháthành thẻ đã cho họ vay để thanh toán nên thẻ được gọi là thẻ tín dụng Hàng nămngười sử dụng thẻ tín dụng sẽ phải trả cho tổ chức phát hành một khoản phí sử dụng,ngoài ra còn phải trả phí thanh toán hộ cho mỗi lần thanh toán thẻ Thẻ tín dụng ngàynay được sử dụng ở các nước phát triển cũng phổ biến như See Nó có rất nhiều loại,

Trang 14

chỉ riêng ở Mỹ đã có trên 3.000 loại khác nhau lưu hành, phổ biến nhất trên thế giớihiện nay là các thẻ Master card, Visa card và AMEX.

- Thẻ ghi nợ (debit card): về hình thức thẻ ghi nợ tương tự như thẻ tín dụng Tuy

nhiên, khác với thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ không phải là công cụ để vay tiền mà để tiêutiền trong tài khoản Khi thanh toán, người thu tiền sẽ quẹt thẻ qua một máy đọc thẻ(card reader), sau đó yêu cầu chủ thẻ ký xác nhận vào hóa đơn bán hàng Sau một sốngày nhất định (thường là hai ngày) tiền sẽ được chuyển từ tài khoản chủ thẻ sang tàikhoản người bán hàng

- Gần đây, người ta thường nhắc đến một thẻ cao cấp hơn gọi là Thẻ thông minh

(smart card): Thẻ thông minh thực chất là dạng thẻ ghi nợ, chỉ có khác là trên thẻ còngắn thêm một bộ phận xử lý (con chip máy tính) cho phép lưu trữ ngay trên thẻ mộtlượng tiền kỹ thuật số (digital cash) Tiền số này có thể nạp từ tài khoản ở ngân hàngvào thẻ thông minh qua các máy ATM, máy tính cá nhân hoặc các điện thoại có trang

bị bộ phận nạp tiền Các thẻ thông minh cao cấp hơn, gọi là Super smart card còn chophép ghi lại các giao dịch của người sử dụng thẻ, và có màn hình hiển thị, thậm chí cảbàn phím Các thẻ thông minh còn tiến xa hơn, gần giống với những cái ví điện tử,nhờ khả năng có thể chuyển tiền trực tiếp từ thẻ thông minh này sang thẻ thông minhkhác qua một thiết bị không dây cầm tay Ngoài tính năng dùng làm phương tiệnthanh toán, có thể dùng nó như thẻ gọi điện thoại, thẻ căn cước trong đó lưu giữ cácthông tin về người dùng thẻ, thậm chí cả nhóm máu của người đó

- Tiền mặt điện tử (Electronic cash! E-cash): Đây là một dạng tiền điện tử được sử

dụng để mua sắm hàng hóa hoặc dịch vụ trên Internet Những người sử dụng loại tiềnnày có thể tải tiền từ tài khoản của họ ở ngân hàng về máy tính cá nhân, rồi khi duyệtWeb mua sắm có thể chuyển tiền từ máy tính của họ đến máy tính người bán hàng đểthanh toán Hiện nay, loại tiền này đang được một công ty Hà Lan là DigiCash cungcấp

- Séc điện tử (Electronic check/ E-check): Séc điện tử cho phép những người sử dụng

Internet có thể thanh toán các hóa đơn qua Internet, mà không cần phải gửi những tờSéc bằng giấy (paper check) như trước nữa Những người này có thể viết một tờ Sécđiện tử hợp pháp trên máy tính của họ rồi gửi cho người được thanh toán Người này

sẽ chuyển tờ Séc điện tử đó tới ngân hàng của mình Ngân hàng sau khi kiểm tra tínhhợp lệ của tờ Séc sẽ thực hiện việc chuyển tiền từ tài khoản của người viết Séc sangngười được thanh toán Bởi vì toàn bộ việc thanh toán này được thực hiện dưới hìnhthức điện tử, nên rẻ và tiện hơn nhiều so với sử dụng các tờ Séc bằng giấy Cácchuyên gia dự tính rằng, chi phí cho lưu thông Séc điện tử sẽ chỉ bằng 1/3 chi phí lưuthông Séc giấy

Thế kỷ XXI đã tạo ra 2 hình thức tiền tệ đột phá: Thanh toán di động và tiền ảo

- Thanh toán di động là tiền được trả cho một sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua mộtthiết bị điện tử cầm tay như điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng Công nghệthanh toán di động cũng có thể được sử dụng để gửi tiền cho bạn bè hoặc thành viêngia đình Càng ngày, các dịch vụ như Apple Pay và Samsung Pay đang cạnh tranh đểcác nhà bán lẻ chấp nhận nền tảng của họ để thanh toán tại điểm bán

- Một trong những đồng tiền đặc trưng của tiền ảo là Bitcoin Theo Bitcoin (BTC,XBT) là một loại tiền mã hoá, được phát minh bởi Satoshi Nakamoto dưới dạng phầnmềm mã nguồn mở từ năm 2009 Bitcoin có thể được trao đổi trực tiếp bằng thiết bịkết nối Internet mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào Bitcoin

có cách hoạt động khác hẳn so với các loại tiền tệ điển hình: không có một ngân hàngtrung ương nào quản lý nó và hệ thống hoạt động dựa trên một giao thức mạng nganghàng trên Internet

Trang 15

1.3.5 Các hình thức tiền tệ khác

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các hình thức tiền tệ khác là những hàng hóa tàichính thông dụng lưu hành phổ biến trên thị trường tài chính, các hình thức tiền tệkhác còn có tên gọi là các chứng từ có giá đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh

tế hội nhập hiện nay: Tín phiếu; trái phiếu, cổ phiếu,

1.4 Cách đo lường tiền tệ trong lưu thông

Quá trình tạo ra tiền đặt ra một vấn đề cơ bản: Tiền là gì? Trong một nền kinh tế cótiền nhưng không có kỳ phiếu và dự trữ ngân hàng, tiền tương đối dễ định nghĩa: Tiền

là tổng số tiền vàng và bạc đang lưu hành, hoặc tương đương của chúng Tuy nhiên,quá trình tạo tiền ở trên chỉ ra rằng một định nghĩa rộng hơn về tiền có thể bao gồmtiền giấy và tiền xu trong lưu thông cộng với tất cả các khoản tiền gửi ngân hàng Nóimột cách tổng quát hơn, chúng ta có thể định nghĩa tiền là bất kỳ phương tiện nào cóthể được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ

Cái khiến một tài sản được coi là tiền là ở chỗ mọi người tin nó sẽ được những ngườikhác chấp nhận khi thực hiện thanh toán Như chúng ta đã thấy, nhiều tài sản khácnhau sẽ đóng vai trò này qua nhiều thế kỉ, kể từ vàng đến tiền giấy rồi đến tài khoảnséc Vì lý do đó, định nghĩa có tính chất không cho chúng ta biết chính xác những tàisản nào phải được coi là tiền trong nền kinh tế của chúng ta

Để đo lượng tiền, chúng ta cần một định nghĩa chính xác để chúng ta biết một cáchđúng đắn những tài sản nào phải được bao gồm Vấn đề đo lường tiền gần đây trở nênđặc biệt quan trọng bởi vì đổi mới tài chính sâu rộng đã tạo ra các loại tài sản mới cóthể thực hiện đúng chức năng về tiền Vì vậy, phương pháp đo lường khối tiền cũngphải thay đổi theo cà giữa các nước do phương pháp sử dụng không được thống nhất

1.4.1 Các biện pháp đo tổng lượng tiền tệ lưu thông tại Hoa Kỳ

Hệ thống Dự trữ Liên bang (Fed), cơ quan ngân hàng trung ương chịu trách nhiệm vềchính sách tiền tệ của Hoa Kỳ, đã thực hiện nhiều nghiên cứu về cách đo lường tiền

Kể từ năm 1980, Fed đã sửa đổi các thước đo tiền tệ của mình nhiều lần và đã giảiquyết dựa trên các thước đo cung tiền sau đây, còn được gọi là tổng lượng tiền tệ:Thước đo tiền hẹp nhất mà Fed báo cáo là M1, bao gồm tiền tệ, tiền gửi tài khoản séc

và séc du lịch Những tài sản này rõ ràng là tiền, bởi vì chúng có thể được sử dụngtrực tiếp như một phương tiện trao đổi Cho đến giữa những năm 1970, chỉ các ngânhàng thương mại được phép thiết lập tài khoản séc, và họ không được phép trả lãi chochúng Với sự đổi mới tài chính đã xảy ra, các quy định đã thay đổi để các loại ngânhàng khác, chẳng hạn như hiệp hội tiết kiệm và cho vay, ngân hàng tiết kiệm tươngtrợ, và các liên hiệp tín dụng cũng có thể cung cấp tài khoản séc Ngoài ra, các tổ chứcngân hàng có thể cung cấp các khoản tiền gửi khác, chẳng hạn như NOW (lệnh rúttiền có thể chuyển nhượng),…

Tổng lượng tiền M2 bổ sung vào M1 các tài sản khác có đặc điểm ghi séc (tài khoảntiền gửi thị trường tiền tệ và cổ phiếu quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ) và tài sản khác(tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn mệnh giá nhỏ và hợp đồng mua lại qua đêm và

Trang 16

đôla châu Âu qua đêm) cực kỳ thanh khoản, vì chúng có thể được chuyển thành tiềnmặt nhanh chóng với chi phí rất thấp.

Tổng lượng tiền M3 bổ sung vào M2 các tài sản ít thanh khoản hơn như tiền gửi có kỳhạn loại lớn, hợp đồng mua lại dài hạn, đôla châu Âu có kỳ hạn và cổ phiếu quỹ tương

hỗ trên thị trường tiền tệ có tổ chức

Bảng 1: Các phép đo tổng lượng tiền:

M1=

Tiền mặtSéc du lịch

Tiền gửi không kỳ hạn

Tiền gửi ở dạng khác có thể phát séc

M2=

M1Tiền gửi có kỳ hạn, lượng nhỏ

Tiền gửi tiết kiệm

Tài khoản gửi thị trường tiền tệ

Cổ phiếu quỹ tương trợ thị trường tiền tệ (không có tính tổ chức)

Hợp đồng mua lại qua đêm

Đôla châu Âu qua đêm

M3=

M2

Tiền gửi có kỳ hạn, lượng lớn

Cổ phiếu quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ (có tổ chức)

Ngu Nguồn: The Economics of Money, Banking and Financial Markets Frederic S.

Mishkin Seventh Edition

Trang 17

1.4.2 Các biện pháp đo tổng lượng tiền tệ lưu thông trong Khu vực đồng tiền chung châu Âu

Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) đề ra ba thước tổng lượng tiền tệ trong Khuvực đồng tiền chung châu Âu Hẹp nhất là M1 M1 bao gồm tiền giấy và tiền xu đanglưu hành, cộng với tất cả tiền gửi qua đêm M2 là một định nghĩa rộng hơn về tiền khuvực đồng euro bao gồm M1, cộng với tiền gửi có thể hoàn lại được với thông báotrước ba tháng và tiền gửi với thời gian đáo hạn lên đến hai năm Cuối cùng, địnhnghĩa rộng nhất của khu vực đồng euro về tiền là M3, bao gồm M2, cộng với các thỏathuận mua lại, đơn vị quỹ thị trường tiền tệ và chứng khoán nợ có thời hạn thanh toánlên đến hai năm

1.4.3 Các biện pháp đo tổng lượng tiền tệ lưu thông tại Nhật Bản

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đề ra ba thước đo tiền M1 là thước đo lường hẹpnhất và bao gồm tiền mặt trong lưu thông M2 kết hợp với M1 nhưng cũng bao gồmchứng chỉ tiền gửi (CD) Biện pháp đo lường rộng nhất, M3, M2 kết hợp với tiền gửitại bưu điện, cộng với các khoản tiết kiệm và tiền gửi khác với các tổ chức tài chính.Ngoài ra còn có một "thước đo rộng rãi về tính thanh khoản" bao gồm M3 cũng nhưmột loạt các tài sản có tính thanh khoản khác, chẳng hạn như trái phiếu chính phủ vàthương phiếu

1.4.4 Các biện pháp đo tổng lượng tiền tệ lưu thông tại Vương quốc Anh

Vương quốc Anh đề ra một bộ bốn thước đo lượng tiền dự trữ M0 là thước đo hẹpnhất và bao gồm tiền giấy và tiền xu được giữ bên ngoài Ngân hàng của Anh, cộngvới tiền gửi của Chủ ngân hàng tại Ngân hàng Anh M2 bao gồm M0, cộng tất cả cáckhoản tiền gửi tại ngân bán lẻ M4 bao gồm M2, cộng với ngân hàng bán buôn và tiềngửi xã hội và cả chứng chỉ tiền gửi Cuối cùng, Ngân hàng của Anh tạo ra một biệnpháp khác được gọi là M3H, là một biện pháp được tạo ra để có thể so sánh với cácđịnh nghĩa về tiền ở EU (xem ở trên) M3H bao gồm M4, cộng với tiền gửi ngoại tệcủa cư dân và công ty ở Vương quốc Anh vào các ngân hàng

1.4.5 Các biện pháp đo tổng lượng tiền tệ lưu thông tại Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam sử dụng hai khối tiền là M1 và M2 M1 của Việt Nam gồm: tiềnmặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng, tiền gửi không kì hạn tại các tổ chức tíndụng M2 bao gồm M1 cộng với: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn, kỳ phiếu, tráiphiếu ngân hàng

Trên góc độ kinh tế vĩ mô, người ta quan tâm nhiều hơn đến M1, M2; đồng thời cũngtheo dõi chặt chẽ động thái của các thành phần tiền tệ khác Nhiều nước đang pháttriển thường lựa chọn đại lượng đó là M2 với tỷ lệ M2/GDP là một chỉ số quan trọngphản ánh khái quát quy mô của nguồn vốn luân chuyển và mức độ tiền tệ hóa của mộtnền kinh tế

Bởi vì chúng ta không thể chắc chắn đại lượng nào là thước đo thực sự của tiền tệ, sẽhợp lý khi tự hỏi liệu các biến động của chúng có chặt chẽ với nhau hay không Nếunhư vậy thì việc sử dụng một khối tiền để dự đoán hiệu quả kinh tế trong tương lai vàthực hiện chính sách sẽ giống như sử dụng một khối tiền tệ khác Tuy nhiên, nếu các

Trang 18

biến động của chúng không di chuyển cùng nhau, thì việc sử dụng các khối tiền khácnhau để dự báo nền kinh tế sẽ cho các kết quả khác nhau Những “câu chuyện” mâuthuẫn có thể cho thấy một hình ảnh lộn xộn gây khó khăn cho những nhà vạch chínhsách quyết định một chương trình hành động đúng đắn Do đó họ phải cân nhắc mộtcách thận trọng trong việc lựa chọn khối tiền để phân tích các tác động của tiền tệ lênnền kinh tế.

Chương 2 Sự phát triển của hệ thống tiền tệ ở Việt Nam

2.1 Sự ra đời hệ hệ thống tiền tệ Việt Nam

Cũng như trên thế giới, sự ra đời tiền tệ Việt Nam gắn với quá trình phát triển và lưuthông hàng hóa dưới các hình thức: hàng - hàng, hàng - vật trung gian - hàng, hàng -tiền - hàng

Suốt một thời gian dài, tiền kim loại là thứ tiền duy nhất và mô phỏng theo tiền kimloại của các triều đình Trung Quốc Tiền Việt Nam được phát hành lần đầu vào giữathế kỷ 10, thời kỳ nhà nước Đại Cồ Việt, dưới sự trị vì của Đinh Bộ Lĩnh Thời phongkiến, gần như mỗi đời vua lại cho phát hành loại tiền mới

Căn cứ những thông tin, hiện vật đáng tin cậy, qua nghiên cứu nhóm Dự án cho rằng,điểm xuất phát của lịch sử tiền tệ Việt Nam được bắt đầu với sự xuất hiện của đồngtiền Thái Bình Hưng Bảo do vua Đinh Tiên Hoàng (968-979) cho đúc và lưu hành,đánh dấu sự lên ngôi trị vì của một nhà nước, quốc gia độc lập, tự chủ Có thể xemđây là mốc son của việc hình thành lịch sử văn hóa tiền tệ Việt Nam vì đó là nhữngđồng tiền do chính nhà nước phong kiến Việt Nam đúc và lưu hành

Từ thời điểm mở đầu ấy, qua các thời kỳ lịch sử, các đồng tiền Việt Nam đã trải quamột quá trình hình thành và phát triển dài lâu, hết sức phong phú, đa dạng Đồng tiềnkim loại đầu tiên có hình tròn, lỗ vuông, có minh văn chữ Hán được kéo dài qua cáctriều đại kế tiếp Tiền Lê, Lý, Trần, Lê, Mạc, Tây Sơn, Nguyễn; tiến đến loại tiền kimloại hình tròn, không lỗ, tiền thỏi nén, tiền thưởng với các mỹ tự phong phú, sâu sắc.Đến thời Hồ đã xuất hiện các đồng tiền giấy, các loại tiền giấy với đủ kích thước, màusắc, hoa văn trang trí và chữ in…

Theo chiều dài lịch sử, hệ thống tiền tệ Việt Nam dần được hình thành qua các thờiđại từ tiền cổ ở các thời kỳ cho đến tiền Việt Nam hiện đại, nó ngày càng được hoànthiện, phát triển và cải cách, thay đổi về chất liệu, hình dáng, kích thước, để phù hợpvới nhu cầu của con người trong giai đoạn đó

2.1.1 Tiền cổ Việt Nam

Trang 19

Mặt trước của đồng tiền, viền tròn của rìa tiền và viền vuông của lỗ tiền thường đượcviền nổi để giảm bớt sự hao mòn của chữ đúc và việc mài dũa mặt tiền để lấy bớt chấtđồng của kẻ gian.

● Hoặc năm phát hành của tiền, như Nhâm Tuất của tiền Cảnh Hưng Thông Bảo

để chỉ tiền đúc trong năm Nhâm Tuất 1742, như chữ Tỵ của tiền Vĩnh ThịnhThông Bảo để chỉ năm đúc Quý Tỵ 1713

● Hoặc lòng yêu quý của vua như chữ Càn Vương, để chỉ Càn Vương Lý NhậtTrung là con vua Lý Thái Tông, trên tiền Thiên Cảm Thông Bảo của Lý TháiTông

● Hoặc nơi đúc đồng tiền như Hà Nội hoặc Sơn Tây trên tiền Tự Ðức Thông bảo,như chữ Công cho Bộ Công - một trong 6 Bộ - trên tiền Quang Trung Thông Bảo

● Hoặc một chữ có ý nghĩa tốt đẹp như chữ Chính, để chỉ đến chính pháp côngbằng, trên tiền Quang Trung Thông Bảo

● Hoặc mang những ký hiệu đặc biệt đánh dấu đợt tiền đúc, như 4 hình cong úpvào hay vểnh ra từ lỗ vuông của tiền Quang Trung Thông Bảo, như 1 dấu chấm và

Kích thước của lỗ vuông trung bình vào khoảng 5 mm, nhưng cũng có những đồngtiền có lỗ vuông to đến 7 mm như trường hợp tiền ngoại thương Trường Kỳ tiêu dùng

ở Hội An vào thế kỷ 17 Chiều dày của tiền cổ thường vào khoảng 0,5mm, ngoại lệtiền Ðoan Khánh thông bảo của Lê Uy Mục dày đến 1 mm

Ðường kính và bề dày là hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến trọng lượng của đồng tiền.Những đồng tiền có kích thước và trọng lượng cân đối vừa đủ, không quá dày nặng sẽ

dễ dàng trong việc tiêu dùng Tiền quá nhẹ mỏng thì dễ gãy vỡ Với kích thước trungbình như trên, trọng lượng khoảng 3,5 - 4 gram là vừa phải Tiền Ðoan Khánh ThôngBảo của Lê Uy Mục được coi là ngoại cỡ so với các đồng tiền khác, vừa dày vừa to,

có đồng nặng đến 6,2 gram

2.1.1.2. Tên gọi tiền cổ

Hai chữ ở vị trí 1 và 2 trên đồng tiền thường là niên hiệu của vị vua cho đúc tiền Haichữ này do đó thường phản ánh thời gian tiền được đúc

Trang 20

Các chữ thứ 3 và thứ 4 trên đồng tiền có ý nghĩa, nguồn gốc khác nhau, trong đó cónhững chữ noi theo cách gọi của tiền cổ do các triều đại Trung Quốc phát hành; hoặc

do hoàn cảnh, sự kiện lịch sử đương thời; hoặc đơn giản chỉ là hàm ý nhấn mạnh giátrị đồng tiền:

● Thông bảo 通寶 là chữ thường thấy nhất trên các đồng tiền, nghĩa là đồng tiềnlưu hành thông dụng Hai chữ này xuất hiện đầu tiên trong tiền Khai NguyênThông Bảo do Đường Cao Tổ của Trung Quốc đúc năm 621

● Nguyên bảo 元寶: tiền mới đầu tiên

● Đại bảo 大寶: tiền có giá trị lớn

Ngoài những chữ trên hay được dùng, còn có những chữ khác đúc trên tiền cổ là:

● Vĩnh bảo 永寶: tiền lưu thông mãi mãi

● Chí bảo 至寶: tiền cao quý nhất Đồng tiền đầu tiên dùng hai chữ "chí bảo" làtiền Gia Định Chí Bảo của Tống Ninh Tông (1208-1224)

● Chính bảo 正寶: tiền chính thống Đồng tiền đầu tiên dùng hai chữ "chính bảo"

là tiền Gia Định Chính Bảo của Tống Ninh Tông (1208-1224)

● Cự bảo 巨寶: tiền có giá trị to

● Trọng Bảo 重寶: Đồng tiền trọng yếu Đồng tiền đầu tiên dùng hai chữ "trọngbảo" là tiền Càn Nguyên Trọng Bảo của Đường Túc Tông (758-759)

● Thuận Bảo 順寶: tiền của vua Lê Hiển Tông, kỷ niệm dịp chiếm đóng ThuậnHóa và lấy súng đồng của chúa Nguyễn ở Thuận Hoá mà đúc thành tiền

"cưỡng" 繦, "mân" 緡, "quán" 貫) qua cái lỗ trên văn tạo thành dây tiền "Cưỡng",

"mân", "quán" được dẫn thân làm đơn vị tính toán tiền Số văn tương ứng với

"cưỡng", "mân", "quán" giữa các triều đại là không giống nhau "Bách" 佰 là dạngviết đại tả của chữ "bách" 百 có nghĩa là một trăm ban đầu được dùng để chỉ 100 vănnhưng về sau thì một bách không nhất định là bằng 100 văn

● Năm Kiến Trung (建中) thứ 2 (Tây lịch năm 1266) vua Trần Thái Tông(陳太宗) hạ chiếu cho dân gian dùng "sảnh bách" (省陌), mỗi bách là 69văn Tiền nộp cho nhà nước (上供錢 thượng cung tiền) thì mỗi bách là 70văn

● Ðời nhà Nguyên, người Việt mua bán ở biên giới Trung Quốc thì dùngđơn vị 1 mân bằng 67 văn

● Năm Thuận Thiên nguyên niên (順天元年, Tây lịch năm 1428), triều Lêcho đúc tiền Thuận Thiên thông bảo (順天通寶), quy định 50 văn là mộtbách

● Năm Thiệu Bình (紹平) thứ 6 (Tây lịch năm 1439), Lê Thái Tông (黎太宗) hạ chiếu quy định 60 văn là một bách

● Thời Nam Bắc triều, chiến tranh đã khiến đồng tiền được đúc nhỏ dần

so với những đồng tiền cổ đời trước Tiền nhỏ bấy giờ gọi là sử tiền (使錢)biệt xưng là "tiền nhàn" (閒錢 nhàn tiền), còn tiền cổ to gọi là cổ tiền (古錢), biệt xưng là "tiền quý" (貴錢 quý tiền) Mỗi bách sử tiền là 36 văn, mỗi

Trang 21

bách cổ tiền là 60 văn Mười bách là một quán (貫) Một quán sử tiền (10bách sử tiền) bằng 6 bách cổ tiền, tức là bằng 360 văn Một quán cổ tiền (10bách cổ tiền) bằng 1 quán 6 bách 24 văn sử tiền, tức là bằng 600 văn.

● Ðơn vị tiền tệ ở Đại Việt thay đổi khi tiền kẽm bắt đầu xuất hiện vào thế

kỷ 18 bởi nhiều lý do Một văn tiền đồng ăn 3 văn tiền kẽm

● Khi vua Gia Long thành lập nhà Nguyễn, đã cho đúc cả hai thứ tiềnđồng và tiền kẽm Giá trị tiền kẽm lúc ban đầu không khác biệt tiền đồng,nhưng dần dần tiền đồng ăn 2 tiền kẽm, rồi 3, rồi 6, cho đến đời vua ThànhThái, tiền Thành Thái Thông Bảo Thập Văn ăn ngang 10 tiền kẽm

Hiện nay các đơn vị hoá tệ này thường bị gọi bằng các đơn vị hoá tệ thông dụng ởViệt Nam thời cận hiện đại, cụ thể "văn" bị gọi là "đồng", "bách" gọi là "tiền",

"cưỡng", "mân", "quán" gọi là "quan" (biến âm của "quán" 貫)

Từ thời Pháp thuộc, ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện các đơn vị đếm là hào (毫), xu(sou), trinh, cắc (đọc chệch âm chữ "giác" 角), đồng [biến chữ "đồng" trong "đồngtiền" 銅錢 (tiền làm bằng đồng) từ tên gọi của một thứ kim loại trở thành lượng từdùng để đo đếm tiền nong] Tiền Việt Nam kể từ sau khi đất nước giành độc lập cócác đơn vị đếm là đồng, hào và xu Một đồng bằng mười hào Một hào bằng mười xu.Hiện nay, tiền giấy và tiền kim loại chỉ được phát hành với một đơn vị đếm duy nhất

là đồng

Mệnh giá

Tiền cổ thường chỉ có một mệnh giá, đó là 1 văn Một bách là một xâu tiền 1 văn Vàmột mân thường là mười xâu một bách Tiền giấy do nhà Hồ có nhiều mệnh giá khácnhau Mệnh giá lớn nhất là 10 văn Mệnh giá nhỏ nhất là 1 văn Tiền kim loại từ thờinhà Nguyễn cũng bắt đầu có các mệnh giá khác nhau Tiền Việt Nam hiện nay còn lưuhành loại có mệnh giá thấp nhất là 200 đồng, loại có mệnh giá cao nhất là 500.000đồng (tiền polymer)

2.1.1.4. Chất liệu

Tiền cổ Việt Nam có nhiều loại:

● Đồng tiền (銅錢, có nghĩa là tiền đồng): là kim loại thông dụng nhất dùng đúchầu hết tiền cổ của Việt Nam Ðây là một hợp kim của đồng gồm thêm kền, sắt,thiếc mà thành phần rất thay đổi bởi kỹ thuật luyện kim thời xa xưa chưa được tiêuchuẩn hóa Tác giả Tạ Chí Ðại Trường đã trích dẫn một bảng kết quả phân tíchthành phần hóa học của tiền Trị Bình Nguyên Bảo gồm 63,6% đồng, 21% chì,0,14% thiếc và 0,27% sắt Ðến thời nhà Nguyễn, nhờ kiến thức phát triển hơn,đồng dùng đúc tiền chỉ gồm đồng và kẽm theo tỷ lệ 6/4, 7/3 hay 8/2

● Tiền đúc bằng kẽm: kẽm là kim loại thông dụng thứ nhì sau đồng được dùng đểđúc tiền, nhất là từ thế kỷ 17 trở về sau Như hợp kim đúc tiền đồng, người ta sửdụng những tạp chất có thành phần kẽm khá cao, gọi chung là ô diên mà đúc tiền.Lacroix Désiré dẫn từ Agenda du chimiste của Ad Wurtz cho thấy thứ kẽm tạp nàychứa 55% đồng, 23% kền, 17% kẽm, 3% sắt và 2% thiếc Tương tự tiền đồng,triều đình nhà Nguyễn cũng biết tinh luyện kẽm hoặc mua kẽm nguyên chất từnước ngoài mà đúc tiền

● Duyên tiền (鉛錢, tiền đúc bằng chì): chì là kim loại mềm được pha thêm kimloại khác để có một hợp kim đúc tiền chì Loại tiền có lượng chì cao khá mềm, đặtnhẹ giữa hai ngón tay, ấn nhẹ là đồng tiền có thể bị bẻ cong Hiện nay, hơn 400

Ngày đăng: 17/12/2021, 10:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các phép đo tổng lượng tiền: - SỰ HÌNH THÀNH và PHÁT TRIỂN của hệ THỐNG TIỀN tệ tại VIỆT NAM
Bảng 1 Các phép đo tổng lượng tiền: (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w