Để giúp HS vượt qua những khó khăn trên, khi dạy về toán tỉ số phần trăm, tôi đã ôn lại cho học sinh thế nào là tỉ số, nhấn mạnh mối quan hệ giữa tỉ số với tỉ số phần trăm, tỉ số phần tr[r]
Trang 1Biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp5
1 Các giải pháp, biện pháp thực hiện:
1.1 Tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến sai lầm của học sinh khi giải
toán có lời văn.
1.1.1 Nguyên nhân 1: Hiểu không đầy đủ, chính xác các khái niệm toán
học.
Xuất phát từ đặc điểm nhận thức của HS tiểu học là nhận thức cảm tính còn chiếm ưu thế nên phần lớn các khái niệm toán học được đưa vào chương trình tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng chủ yếu hình thành biểu tượng toán học thông qua trực quan hoặc từ các ví dụ cụ thể, sinh động Điều này có ưu điểm là phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học Tuy nhiên mặt hạn chế là thiếu tính chặt chẽ, chính xác và tổng quát Do đó dễ xuất hiện các sai lầm về khái niệm toán học Từ đó dẫn tới suy luận sai và kết quả sai khi giải toán có lời văn Các sai lầm mục 1 và 2(phần thực trạng ) cho thấy học sinh chưa nắm vững các khái niệm như tỉ số, tỉ số phần trăm,…
Hay thực tế cho thấy: biểu tượng hình học của học sinh tiểu học còn hạn chế, do vậy học sinh thường gặp khó khăn khi xác định các yếu tố đáy, đường cao của hình tam giác, hình thang, đặc biệt là khi các hình này có sự thay đổi về hình dạng, góc độ quan sát
1.1.2.Nguyên nhân 2: Không nắm vững các quy tắc, công thức, tính chất
toán học.
Ở bậc tiểu học, việc phát triển tư duy toán học cho học sinh được gắn liền với việc vận dụng các quy tắc, công thức, tính chất toán học thông qua giải các bài toán có lời văn Do đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học là nhận thức cảm tính còn chiếm ưu thế trong khi các quy tắc, công thức, tính chất toán học lại mang tính khái quát và trừu tượng cao nên học sinh gặp rất nhiều khó khăn khi vận dụng vào giải toán, nhất là với học sinh có lực học trung bình yếu Biểu hiện là dễ lẫn lộn các bước tính, nhầm lẫn khi vận dụng công thức tính diện tích, chu vi, thể tích,…của các hình đã học Kĩ năng vận dụng các công thức toán học còn hạn chế Đó là những bài toán ngược lại với những gì đã học (tìm được diện tích tam giác khi biết đáy, chiều cao tương ứng nhưng lại không tính được đáy khi biết diện tích và chiều cao tương ứng)
1.1.3 Nguyên nhân 3 : Học sinh còn thiếu các kiến thức cần thiết về logic.
Khi giải toán có lời văn đòi hỏi học sinh phải suy luận Quá trình suy luận rất cần đến những kiến thức về logic, đặc biệt là các quy tắc suy luận logic Khi đứng trước một bài toán có lời văn học sinh thường vận dụng một cách máy móc những gì đã được học mà không suy nghĩ được vì sao ta vận dụng công thức, quy tắc này mà không vận dụng công thức, quy tắc kia, vì sao ta giải toán theo cách này mà không giải theo cách kia Sự thiếu hụt năng lực tư duy logic còn là nguyên nhân của những sai lầm khi HS diễn đạt, trình bày lời giải
1.1.4 Nguyên nhân 4 : Học sinh không nắm vững phương pháp giải các bài
toán cơ bản.
Phương pháp giải các bài toán cơ bản giữ vị trí quan trọng trong giải bài toán có lời văn vì phần lớn các bài toán trong SGK tiểu học đều được xây dựng từ
Trang 2những bài toán cơ bản (toán điển hình) Không nắm đượcvững các phương pháp giải các bài toán cơ bản thì khó có thể giải quyết trọn vẹn các bài tập trong SGK
và không thể giải quyết các bài toán có nội dung nâng cao khi mà các tình huống
đã có sự biến đổi
Thực tế là không ít HS đã không nắm vững phương pháp giải các bài toán cơ bản (mặc dù nắm vững quy tắc, công thức toán học) Biểu hiện là không nhớ hoặc lẫn lộn các dạng toán học : khi học dạng toán mới thì lại quên dạng toán
cũ Do không nắm vững phương pháp giải các bài toán cơ bản nên học sinh thường mắc sai lầm ngay từ những bước giải đầu tiên
1.1.5 Nguyên nhân 5 : Học sinh yếu kĩ năng chuyển một bài toán về dạng cơ
bản
Trong chương trình toán 5, các bài toán được xây dựng từ những bài toán cơ bản nhưng có sự thay đổi điều kiện để tăng độ khó như tăng yếu tố, đại lượng Ví dụ trong toán chuyển động đó là sự tham gia của hai động tử và xuất phát và kết thức chuyển động ở những thời điểm khác nhau Do không nhận ra các dấu hiệu bản chất, không nhận ra sự tương đồng của bài toán biến đổi với bài toán cơ bản,
HS không có khả năng chuyển bài toán về dạng cơ bản, đơn giản hơn
1.1.6 Nguyên nhân 6 : Học sinh còn hạn chế về vốn từ và kĩ năng sử dụng
Tiếng Việt.
Sự hạn chế về vốn từ và kĩ năng sử dụng tiếng Việt đã gây nên nhiều khó khăn cho học sinh khi đặt câu trả lời cho các phép tính
1.2: Hướng dẫn học sinh nắm vững các kiến thức về môn toán.
Một trong những nguyên nhân chủ yếu của các sai lầm là do trình độ còn yếu Trong đó có thể là học sinh không nắm vững kiến thức cơ bản về môn Toán Chính vì vậy, khi truyền thụ giáo viên cần lưu ý :
- Nắm vững các kiến thức về môn toán ở tiểu học nhằm hạn chế những sai lầm
mà học sinh gặp phải trong giải toán
- Để tránh các sai lầm, GV cần tổ chức các hoạt động nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Học sinh chủ động nắm kiến thức bằng chính “lao động” của mình Vì vậy phương pháp dạy học đóng vai trò không nhỏ trong việc phòng ngừa các sai lầm cho học sinh Nếu học sinh được làm quen với các hệ thống phương pháp dạy học mới, được khêu gợi trí sáng tạo, biết phát hiện và giải quyết vấn đề thì học sinh sẽ tự tin, năng động, tạo tâm thế vững vàng khi giải Toán Cụ thể để học sinh không mắc sai lầm khi tìm hiểu đề toán và khi trình bày bài giải của bài toán, tôi đã thực hiện các công việc như sau:
1.2.1 Dạy các khái niệm toán học để HS tránh được sai lầm khi giải toán
Trang 3Chương trình toán tiểu học được xây dựng theo cấu trúc đồng tâm, lấy số học làm hạt nhân, do vậy các khái niệm toán học cũng có sự mở rộng theo các lớp
Do đó, trong quá trình giảng dạy, tôi đặc biệt lưu ý khắc sâu mối quan hệ giữa các kiến thức có liên quan cho học sinh thấy Không ít mối quan hệ giữa các kiến thức không được trình bày trong SGK mà phải do GV cung cấp Chẳng hạn khi học về hình học thì tôi đã lưu ý học sinh : Hình vuông cũng là hình chữ nhật(hình vuông là trường hợp đặc biệt của hình chữ nhật, hình thoi,…)
Một dạng toán khác mà nhiều HS gặp khó khăn và dễ mắc sai lầm đó là toán về
tỉ số phần trăm Để giúp HS vượt qua những khó khăn trên, khi dạy về toán tỉ số phần trăm, tôi đã ôn lại cho học sinh thế nào là tỉ số, nhấn mạnh mối quan hệ giữa tỉ số với tỉ số phần trăm, tỉ số phần trăm với phân số Các bài toán về tỉ số phần trăm thực chất là các bài toán liên quan đến tỉ số Với các bài toán liên quan đến kinh doanh , tôi đã cung cấp cho HS các khái niệm :
-Vốn : tương ứng với giá mua hay chi phí ban đầu
-Lãi (hay lời) : bằng giá bán trừ giá mua
- Giá bán: bao gốm cả vốn lẫn lãi
Với một số bài toán có nội dung thực tế, tôi cho học sinh thấy rõ ý nghĩa của một số từ : ngày công, kế hoạch, chi tiêu,…
1.2.2.Dạy các quy tắc, công thức, tính chất toán học
Ở bậc Tiểu học, các quy tắc, công thức nhìn chung chỉ yêu cầu học sinh nhớ và biêt vận dụng, không yêu cầu chứng minh quy tắc,công thức, tính chất, bằng các bảng biểu, sơ đồ Do vậy, tôi thường xuyên kiểm tra các quy tắc, tính chất, công thức trong các tiết học Chỉ có ôn tập, củng cố thường xuyên thì học sinh mới nhớ lâu, nhớ chính xác những gì các em đã được học
1.2.3.Ôn luyện, củng cố cho HS phương pháp giải các bài toán điển hình Việc thường xuyên ôn tập và củng cố lại bước giải các bài toán điển hình sẽ giúp học sinh tránh được sai lầm là lẫn lộn giữa các dạng toán Từ lời giải một bài toán cụ thể, tôi đã gợi ý cho HS phương pháp giải một số bài toán tương tự Việc tổng kết và hệ thống lại các phương pháp giải toán là việc nên làm trong quá trình dạy học toán Công việc trên nếu được tiến hành có hiệu quả sẽ giúp
HS hạn chế được các sai lầm khi giải toán
1 3: Trang bị cho học sinh nắm chắc quy trình giải cho một bài toán có
lời văn (Đây chính là một trong những khâu quan trọng nhất trong việc nâng
cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh).
Ở lớp 5, các bài toán có lời văn đều có dạng điển hình và đã có cách giải được trình bày tương đối kĩ trong SGK (phần hình thành kiến thức mới)
Trang 4Tuy nhiên, để giải được từng bài toán cụ thể một cách chính xác và khoa học đòi hỏi phải có suy luận và vận dụng kiến thức một cách sáng tạo chứ không đơn thuẩn áp dụng công thức một cách máy móc Vấn đề đặt ra là cần một đường lối chung khi giải quyết các bài toán có lời văn Đây là vấn đề cốt lõi, quan trọng trong giải toán Muốn giải bài toán tốt và tránh được những sai lầm vừa nêu, tôi
đã giúp HS nắm các bước chung khi giải một bài toán có lời văn theo quy trình 5 bước như sau:
Bước 1 Đọc thật kĩ đề toán, xác định được đâu là cái đã cho, đâu là cái cần tìm.
-HS phải xác định chính xác cái đã cho, cái cần tìm
-Hướng sự tập trung suy nghĩ của HS vào những từ quan trọng trong đề toán, phải hiểu ý nghĩa của một số từ cần thiết trong đề
- Hướng dẫn học sinh nắm được những gì thuộc về bản chất của đề toán, những gì không thuộc về bản chất của đề để hướng sự chú ý vào chỗ cần thiết
Bước 2 Tóm tắt đề toán.
Có thể tóm tắt đề toán bằng nhiều cách khác nhau tùy từng bài toán cụ thể như:
Sơ đồ, hình vẽ, kí hiệu ngắn gọn Thông qua đó thiết lập mối quan hệ giữa những cái đã cho và cái cần tìm
Khi tóm tắt bài toán cần gạt bỏ những gì là thứ yếu, lặt vặt trong đề toán, tìm cách biểu diễn chúng bằng hình vẽ hoặc dùng ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn để ghi lại thật vắn tắt, thật cô đọng sao cho hợp lí
Bước 3 Phân tích bài toán để tìm lời giải:
Để phân tích bài toán , tôi hướng dẫn học sinh tập trung suy nghĩ vào câu hỏi của bài toán Muốn trả lời được câu hỏi đó thì phải biết những gì hoặc làm những phép tính gì Trong những cái cần phải biết đó, cái nào đã có sẵn trong đề bài, cái nào cần phải tìm Muốn tìm được cái này thì phải biết những gì? Phải làm tiếp phép tính gì…Cứ như vậy ta suy ngược lên cho tới kết quả cuối cùng của bài toán Từ những cách suy luận, phân tích như thế, tôi đã giúp HS tìm ra con đường tính toán đúng và nhanh nhất
Bước 4 Giải bài toán và thử lại kết quả.
Dựa vào kết quả phân tích ở bước 3, xuất phát từ những điều đã cho trong đề toán, tôi hướng dẫn HS lần lượt thực hiện viết lời giải và thực hiện các phép tính
để tìm ra đáp số Tôi cũng lưu ý HS cần chú ý thử lại sau khi làm xong từng phép tính cũng như thử lại đáp số xem đã phù hợp với đề toán chưa; xem lại câu lời giải của các phép tính đã đủ ý và phù hợp chưa?
Trang 5Bước 5 Khai thác bài toán ( bước này dành cho HS năng khiếu: HS tìm cách
giải khác nhau và tương tự với bài toán vừa làm hoặc có thể thay đổi một số dữ kiện của bài toán)
Sau khi giải xong bài toán, tôi hướng HS là cần suy nghĩ xem:
- Có những cách nào nữa không để giải bài toán?
- Từ bài toán này có thể rút ra nhận xét và kinh nghiệm gì?
- Từ bài toán này có thể phát triển, đưa ra bài toán khác như thế nào? Giải chúng ra sao? Mối quan hệ xuôi ngược thế nào? v.v…
Sau đây là một ví dụ minh họa mà tôi đã hướng dẫn học sinh theo đúng quy trình giải một bài toán như đã trình bày ở trên
Bài toán: “ Một tam giác có đáy dài 12cm Độ dài đáy gấp 3 lần chiều cao
Hỏi diện tích tam giác là bao nhiêu”.
Bước 1: Tôi yêu cầu HS đọc kĩ đề toán, xác định được đâu là cái đã cho, đâu là
cái cần tìm
Ở bài toán này cái đã cho là :
- Đáy tam giác dài 12cm
- Độ dài đáy gấp 3 lần chiều cao
Bài toán hỏi : Diện tích tam giác?
Ở đây, tôi lưu ý học sinh chú ý đến điều kiện thứ hai: Độ dài đáy gấp 3 lần chiều cao có nghĩa là chiều cao bằng một phần ba đáy Nếu không đọc kĩ đề chỉ lướt qua chữ “gấp 3” thì các em rất dễ mắc sai lầm là lấy 12 nhân 3 để tìm ra chiều cao tam giác
Bước 2 Tóm tắt đề toán.
Ta có thể vẽ sơ đồ đoạn thẳng như sau để tóm tắt:
Ở đây đoạn thẳng thứ nhất để mô tả đáy tam giác là 12cm
Để mô tả điều kiện thứ 2, ta chia đoạn thẳng thứ nhất làm 3 phần bằng nhau và
vẽ đoạn thẳng biểu thị chiều cao tam giác là một phần như thế Để mô tả câu hỏi của bài toán, ta vẽ dấu móc ôm lấy cả 2 đoạn đáy và chiều cao kèm theo dấu hỏi(?) Thể hiện Muốn tìm diện tích tam giác thì cần biết cả hai điều kiện đó là :
Độ dài đáy và chiều cao tam giác
Trang 6Bước 3 Hướng dẫn HS phân tích bài toán để tìm lời giải:
Tôi đã hướng dẫn HS lập luận, phân tích bài toán như sau:
(1) Bài toán hỏi gì? (Diện tích tam giác)
(2) Muốn biết diện tích ta làm thế nào ( Đáy x chiều cao: 2)
(3) Đáy biết chưa? (Biết rồi) Bao nhiêu ?( 12cm)
(4) Chiều cao biết chưa? ( Chưa biết) Chiều cao có quan hệ như thế nào với đáy? ( Đáy gấp 3 lần chiều cao)
(5) Vậy muốn tìm chiều cao, ta làm như thế nào? (Lấy độ dài đáy chia cho 3)
Bước 4 Giải bài toán và thử lại kết quả.
Dựa vào kết quả phân tích ở bước 3, ta đi ngược từ (5) đến (1) để thực hiện phép tính và viết lời giải như sau:
Chiều cao tam giác là : 12: 3 = 4 (cm)
Điện tích tam giác là 12 x3 :2 = 18 (cm 2 )
Đáp số: 18 cm 2
Để thử lại phép tính 12 : 3 = 4, ta tính xem 4 x3 xem có bằng 12 không? Hoặc
18 x2 có bằng 12 x3 không,…
Bước 5 Khai thác bài toán (Dành cho HS năng khiếu)
Tôi đã hướng học sinh thay thế một số dữ kiện của bài toán để có thể tạo ra bài toán mới và tìm cách giải tương tự như:
(1) Có thể đặt bài toán mới từ bài toán này không? Chẳng hạn: Một tam giác có đáy là 12cm Chiều cao bằng một phần ba đáy Tính diện tích tam giác?
Hay thay điều đã cho bằng đáp số và đặt câu hỏi thay bằng điều phải tìm như:
Biết một tam giác có đáy 18 cm 2 , độ dài đáy là 12 cm Tính chiều cao của tam giác đó
(2)Ta rút được kinh nghiệm hoặc nhận xét gì từ bài toán này?
Chẳng hạn: Đọc kĩ đề toán để thấy được không phải cứ thấy “gấp 3” là vội vàng tính ngay bằng phép nhân như lấy 12 x3 = 36 Nhiều khi trong bài có từ “gấp… lần” nhưng lại giải bằng phép chia
1 4 : Rèn cho HS có thói quen tự kiểm tra phát hiện sai lầm trong giải toán.
Trang 7- Đa số học sinh thường bằng lòng với việc tìm ra đáp án của bài toán có lời văn
mà không chú ý đến khâu kiểm tra lại lời giải
- Bên cạnh việc hình thành thói quen tự kiểm tra lời giải,GV cũng cần trang bị cho HS các phương pháp nhận biết một lời giải sai Các sai lầm thường bộc lộ bởi các dấu hiệu GV cần trang bị cho HS kỹ năng nhận biết các dấu hiệu quan trọng sau đây :
- Dấu hiệu thứ nhất : Kết quả tìm được mâu thuẫn với thực tế Các bài toán có lời văn thường đề cập đến những tình huống gần gũi với thực tế Ở đây, giả sử rằng bài toán đã phù hợp với thực tế mà nếu kết quả mâu thuẫn thực tế thì lời giải sai Các mâu thuẫn thường gặp : bộ phận tìm được lại lớn hơn tổng thể hoặc ngược lại (VD: Số HS nữ tìm được lại lớn hơn số học sinh toàn trường, số sản phẩm đạt chuẩn lớn hơn tổng số sản phẩm)
-Dấu hiệu thứ hai : Kết quả tìm được mâu thuẫn với một yếu tố nào đó trong đề bài
-Dấu hiệu thứ 3 : Sai đơn vị (danh số) Chẳng hạn, bài toán yêu cầu tìm thời gian của một chuyển động mà đáp số lại là đơn vị đo dộ dài (quãng đường)
- Ngoài ra, khi giải toán mà không sử dụng hết dữ kiện đề bài thì cũng có thể đã mắc sai lầm
1 5: Theo dõi sai lầm của HS khi giải toán qua các giai đoạn.
Ví dụ : Giải toán có liên quan đến các đơn vị đo: Một cái thùng không nắp có dạng hình hộp chữ nhật có chiều dài 1,5m ; chiều rộng 0,6m và chiều cao 8dm Người ta quét sơn mặt ngoài của thùng Hỏi diện tích quét sơn là bao nhiêu m2 (Toán 5/ trang 110)
Giai đoạn 1 : Sai lầm chưa xuất hiện
Biện pháp chủ yếu trong giai đoạn này là trang bị tốt về kiến thức bộ môn toán, kiến thức về phương pháp giải toán Một số điều cần lưu ý ở giai đoạn này, GV
có thể dự báo trước các sai lầm, thể hiện qua nhắc nhở và lưu ý của GV đối với
HS Chẳng hạn ở bài toán trên, tôi đã lưu ý HS phải chuyển các đơn vị đo kích thước về cùng một đơn vị là m
Giai đoạn 2 : Sai lầm xuất hiện trong lời giải của HS
Đây là giai đoạn đòi hỏi GV phải kết hợp được những yêu cầu : kịp thời, chính xác và giáo dục, cùng với sự tích cực hóa hoạt động học tập của HS để vận dụng các hiểu biết về kiểm tra lời giải nhằm tìm ra sai lầm, phân tích nguyên nhân và tìm hướng giải quyết GV có thể sử dụng các hình thức dạy học như : Dạy học phát hiện và giải quyế vấn đề, dạy học phân hóa đối tượng học sinh… Ngược lại, nếu giai đoạn này GV không kịp thời phân tích và sửa chữa các chỗ sai của
HS thì sai lầm sẽ ngày càng trầm trọng, ảnh hưởng sâu sắc đến kết quả dạy- học
Trang 8- Ở ví dụ trên, nếu GV phát hiện thấy có học sinh sai như: (chưa đổi về cùng đơn
vị đo mà đã giải toán) thì tôi đã dùng câu hỏi gợi ý để học sinh tự tìm ra chỗ sai của mình và để HS sửa lại cho đúng Tôi cũng tổ chức cho HS trong nhóm bàn
có thể đổi chéo bài kiểm tra HS so sánh bài làm của mình với của bạn để biết mình đã sai ở bước nào và tìm ra cách sửa Cuối cùng, GV nhấn mạnh những chỗ sai mà học sinh mắc phải trong bài toán, nhắc nhở HS cách khắc phục
Giải đoạn 3 : Sai lầm được phân tích và sửa chữa
Một sai lầm của HS tuy đã được GV phân tích và sửa chữa, vẫn có nguy cơ tái diễn Vì vậy, tôi thường xuyên theo dõi để kịp thời nhắc nhở các em tránh mắc lỗi
Giải pháp 6 : Trau dồi kinh nghiệm ngôn ngữ cho HS
-Việc HS học tốt môn tiếng Việt cũng góp phần rất quan trọng trong quá trình giải toán có lời văn của học sinh Học sinh sẽ biết đặt những câu trả lời chính xác, khoa học, diễn đạt trôi chảy, rõ ràng; lập luận chặt chẽ, logic Do vậy, trong một bài toán, tôi thường gợi mở để HS tự đặt được nhiều lời giải khác nhau phù hợp với nội dung bài toán Tuy nhiên, tôi cũng khuyến khích các em lựa chọn những lời giải nào ngắn gọn, hay nhất để ghi vào bài
Sửa chữa các sai lầm khi giải toán là việc làm cấp thiết và cần tiến hành thường xuyên trong quá trình giải toán Nếu một sai lầm không được sửa chữa kịp thời
sẽ dẫn đến nhiều sai lầm khác cho HS
Mỗi GV nếu nắm bắt được các sai lầm phổ biến của HS khi giải toán, đồng thời biết phân tích và sử dụng các biện pháp và hình thức dạy học thích hợp thì chắc chắn năng lực giải toán của học sinh sẽ được cải thiện rõ rệt
Trên đây là các biện pháp mà tôi đã thực hiện khi dạy giải toán
có lời văn cho học sinh Trong tất cả các tiết học toán, tôi thường xuyên áp dụng Để minh chứng cho việc làm này, tôi đưa ra 2 giáo án ở phần phụ lục để bạn bè, đồng nghiệp cùng tham khảo
Trang 9PHỤ LỤC
ĐỀ KHẢO SÁT CUỐI HỌC KÌ 1- NĂM HỌC 2015 -2016
Môn : Toán Lớp : 5
Thời gian: 40 phút.
Đề bài : Bài 1: ( 4 điểm )
Một khu vườn hình chữ nhật có chu vi là 500m, chiều rộng bằng 32 chiều dài Tính diện tích khu vườn
Bài 2: ( 3 điểm )
An đọc một quyển truyện dày 64 trang, biết 5 lần số trang đã đọc bằng 3 lần
số trang chưa đọc Hỏi An đã đọc được bao nhiêu trang? Còn bao nhiêu trang chưa đọc?
Bài 3: ( 3 điểm )
Trong thúng có 115 quả quýt và cam Mẹ đã bán 45 quả quýt Lúc
này, trong thúng có số quýt còn lại bằng 32 số cam Hỏi lúc đầu có bao nhiêu quả cam và bao nhiêu quả quýt mỗi loại ?
GIÁO ÁN MINH HỌA GIÁO ÁN 1:
Toán( tăng)
ÔN TẬP GIẢI TOÁN VỀ TỈ SỐ PHẦN TRĂM
( Tuần 17) I.
MỤC TIÊU : Giúp HS: Ôn lại ba dạng toán cơ bản về tỉ số phần trăm:
- Tính tỉ số phần trăm của hai số
- Tính một số phần trăm của một số
- Tính một số khi biết một số phần trăm của nó
- Giáo dục HS tính cẩn thận
II ĐỒ DÙNG DẠY- HỌC: Bảng phụ chép bài tập.
III HOẠT ĐỘNG DẠY- HỌC:
1 Kiểm tra bài cũ: 2 HS lên bảng:
Nêu 3 dạng toán cơ bản về tỉ số phần trăm?
- GV chốt:
+ Tìm tỉ số phần trăm của hai số 26,854 và 58
Hs nêu, lớp nhận xét bổ sung
-2 hs lên bảng, lớp làm nháp
Trang 10+ Tìm 20% của 40.
GV chữa bài, chốt cách giải 2 dạng toán về tỉ số
phần trăm
2 Bài mới:
GV hướng dẫn HS làm và chữa một số bài toán
sau:
Bài 1: Một lớp học có 32 học sinh, trong đó có
24 học sinh nữ Hỏi số học sinh nữ chiếm bao
nhiêu phần trăm số học sinh của lớp học đó?
- Hs đọc yêu cầu bài
-Bài toán cho biết gì? Hỏi gì?
- Muốn viết số hs nữ chiếm chiếm bao nhiêu
phần trăm số hs cả lớp chúng ta phải làm như thế
nào?
-Bài toán thuộc dạng toán nào về tỉ số phần trăm?
-GV chữa bài chốt cách giải của dạng toán
Bài 2: Một xưởng may đã dùng 120 m vải để
may quần áo, trong đó số vải may quần chiếm 35
% Hỏi số vải may áo là bao nhiêu mét?
-Bài toán cho biết gì? Hỏi gì?
-Muốn biết số vải may áo là bao nhiêu mét ta cần
biết gì?
-Bài toán thuộc dạng toán nào về tỉ số phần trăm?
-Ngoài cách làm trên ta còn cách làm nào khác?
GV tổ chức cho hs làm theo 2 cách
-GV chữa bài và chốt 2 cách làm của dạng
toán.
-Nhận xét bảng
- HS đọc y/c
-Hs nêu -Tính tỉ số phần trăm giữa hs nữ và số hs
cả lớp
-Tính tỉ số phần trăm của 2 số
-1 hs lên bảng làm, lớp làm nháp Bài giải
Tỉ số phần trăm của số hs nữ và số hs
cả lớp là:
24 :32 = 0,75 0,75 = 75%
Đáp số: 75%
- HS đọc đầu bài
- HS phân tích bài -Tìm số mét vải may quần
- Lấy số vải trong xưởng có trừ đi số vải may quần
- Tính một số phần trăm của một số -Tìm số % vải may
- Tìm số vải may áo -2 hs lên làm theo 2 cách
Cách 1:Số mét vải may quần là:
120 : 100 x 35 = 42( m)
Số mét vải may áo là:
120 – 42 = 78(m) Đáp số: 78 m vải Cách 2: Số vải may áo chiếm:
100%-35% = 65%
Số vải may áo là:
120 : 100 x 65 = 78 ( m) Đáp số: 78 m vải
- HS giải vở
- 2 HS làm bảng nhóm bằng 2 cách
- HS đọc y/c