Chúng ta hiện tại đang là một người con của tổ quốc và là một sinh viên, chúng ta nên và phải nổ lực rất nhiều trong công cuộc đổi mới của đất nước. Mỗi sinh viên cần có ý thức phấn đấu, cố gắng để trở thành một sinh viên hiểu biết và giỏi gian. Phải học hỏi và đút kết ra được những phương pháp để tiếp thu tri thức thời đại, vận dụng sáng tạo nhưng tri thức đó vào thực tiễn hiện tại để góp phần làm cho nền kinh tế nước ta ngày càng trở thành một đất nước giàu mạnh phát triển và phồn thịnh trên thế giới.Quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Maclenin và tư tưởng HCM, ta đã vận dụng thành tạo và triệt để phép duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu cũng như quán lí kinh tế, đồng thời phát huy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong công cộc đổi mới nhằm tăng trưởng nền kinh tế quốc, bằng tất cả sự nổ lực nhất định chúng ta sẽ trở thành những cán bộ quản lí kinh tế giỏi và nổi bật góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới kinh tế đất nước, từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam vươn xa và vững mạnh, để từ đó nâng cao hơn nữa vị trí của Việt Nam trên chiến trường quốc tế, góp phần củng cố hơn nữa về mặt ổn định về chính trị của đất nước. Đó là đường lối và cũng là trách nhiệm của những nhà quán lí kinh tế, chính trị của nước nhà để một lần nữa khẳng định rõ ràng vị trí kinh tế lẫn chính trị của Việt Nam trên bàn cân quốc tế.
Trang 1VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VÀO NỀN KINH
TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1 Vật chất:
1.1 Định nghĩa về vật chất:
- Lênin đã định nghĩa: “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
- Cần phân biệt khái niệm “Vật chất” với tư cách là phạm trù triết học khác với khái niệm “vật chất” được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành Vì phạm trù triết học
là kết quả của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi
- Đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan tức là thuộc tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người, cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó
- Vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh
- Định nghĩa của Lênin về vật chất có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học:
- Bằng việc tìm ra thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan, Lênin đã phân biệt sự khác nhau giữa vật chất và vật thể, khắc phục được hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp căn cứ nhận thức khoa học để xác định những gì thuộc về vật chất; tạo lập cơ sở lý luận cho việc xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, khắc phục được những hạn chế duy tâm trong quan niệm về lịch sử của chủ nghĩa duy vật trước Mác
Trang 2- Khi khẳng định vật chất là thực tại khách quan “được đem lại cho con người trong cảm giác” và “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lai, phản ánh”, Lênin không những đã khẳng định tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức theo quan điểm duy vật mà còn khẳng định khả năng con người có thể nhận thức được thực tại khách quan thông qua sự “chép lại, chụp lại, phản ánh” của con người đối với thực tại khách quan
1.2 Các đặc tính của vật chất:
1.2.1 Vận động:
- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất
- Ăngghen đã định nghĩa: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất – thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”
- Ăngghen đã phân chia vận động thành năm hình thức cơ bản: vận động cơ học, vận động vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học và vận động xã hội
- Cơ sở của sự phân chia đó dựa trên các nguyên tắc: các hình thức vận động phải tương ứng với trình độ nhất định của tổ chức vật chất; các hình thức vận động có mối liên hệ phát sinh Có thể hiểu là hình thức vận động cao nảy sinh trên cơ sở của những hình thức vận động thấp và bao hàm hình thức vận động thấp; hình thức vận động cao khác về chất so với hình thức vận động thấp và không thể quy về hình thức vận động thấp
* Vận động và đứng im:
- Mặc dù vật chất luôn ở trong quá trình vận động không ngừng nhưng điều đó không loại trừ hiện tượng đứng im tương đối không có hiện tượng đứng im tương đối thì không có sự phân hóa thế giới vật chất thành các sự vật và hiện tượng phong phú, đa dạng
- Đứng im là tương đối vì đứng im, cân bằng chỉ xảy ra trong một số quan hệ nhất định, trong một hình thức vận động Đứng im là tam thời vì đứng im không tồn tại
Trang 3vĩnh viễn mà chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, chỉ xét trong một hay một số quan hệ nhất định, ngay trong sự đứng im vẫn diễn ra những quá trình biến đổi nhất định
- Đứng im là trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thế cân bằng, ổn định; vận động chưa làm thay đổi căn bản về chất, về vị trí, hình dáng, kết cấu của sự vật
1.2.2 Không gian và thời gian:
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định tính khách quan của không gian và thời gian, xem không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động Trong đó không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính, sự cùng tồn tại, trật
tự, kết cấu và sự tác động lẫn nhau Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động xét về mặt độ dài diễn biến, sự kế tiếp của các quá trình Không gian và thời gian
là những hình thức tồn tại của vật chất vận động và không có không gian và thời gian thuần túy khi tách rời vật chất vận động
- Không gian và thời gian là hai thuộc tính, hai hình thức tồn tại khác nhau của vật chất vận động, nhưng chúng không tách rời nhau Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại trong không gian mà lại không có một quá trình diễn biến của nó Cũng không thể
có sự vật, hiện tượng nào có thời gian tồn tại mà lại không có quảng tính, kết cấu nhất định Tính chất của không gian và sự biến đổi của nó bao giờ cũng gắn liền với tính chất và sự biến đổi của thời gian và ngược lại Do đó, về thực chất không gian và thời gian là một thể thống nhất không gian - thời gian
2 Ý thức:
2.1 Kết cấu của ý thức:
- Theo định nghĩa của triết học Mác - Lênin, ý thức là phạm trù cùng xác định với phạm trù vật chất, vì vậy ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ não con người và có sự biến đổi, sáng tạo của nó Ý thức có mối quan hệ biện chứng với vật chất
2.2 Các đặc tính của vật chất:
Trang 4- Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
2.2.1 Mặt tự nhiên:
- Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, ý thức là thuộc tính của dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não con người, phản ánh thế giới khách quan vào bộ não con người Nếu không có sự tác động của thế giới khách quan mà nói, trong bộ não con người và nếu không có bộ não con người với tư cách là cơ quan vật chất của ý thức thì sẽ không
có ý thức Bộ não con người và ảnh hưởng của thế giới khách quan đến bộ não con người là nguồn gốc tự nhiên của tự nhiên Bản chất của ý thức Các yếu tố bao gồm:
* Bộ não: Bộ não của con người hiện đại là sản phẩm của một quá trình tiến hóa lâu dài liên quan đến sinh học xã hội và rất phức tạp về cấu trúc
* Phản ánh: Là thuộc tính chung, chung của mọi đối tượng vật chất, phản ánh là khả
năng giữ lại và tái tạo những thuộc tính của hệ vật chất khác của hệ vật chất này.
2.2.2 Mặt xã hội:
- Sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ não con người dưới tác động của lao động, giao tiếp và các mối quan hệ xã hội
* Lao động:
- Là quá trình con người sử dụng công cụ để tác động vào giới tự nhiên, làm cho giới
tự nhiên thích nghi với nhu cầu của con người; Là quá trình con người tự mình đóng vai trò trung gian điều hoà sự trao đổi chất giữa mình và tự nhiên, lao động là hoạt động cụ thể của con người, là hoạt động mang bản chất của con người Đó là một hoạt động tích cực, sáng tạo, quyết tâm và gian khổ, có ý nghĩa quyết định trong việc chuyển loài vượn thành người từ tâm lý động vật sang ý thức
* Ngôn ngữ:
- Là phương tiện giao tiếp của con người trong xã hội, là hệ thống tín hiệu thứ hai, là
vỏ vật chất của tư duy, là hình thức biểu hiện của tư duy
- Là một nhân tố quan trọng trong sự phát triển tâm lý và tư tưởng của con người và
xã hội loài người Ngôn ngữ đã trở thành một phương tiện vật chất không thể thiếu của trừu tượng, của quá trình phát triển lịch sử
Trang 52.3 Bản chất của ý thức :
- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất Điều này có nghĩa là nội dung của ý thức do thế giới khách quan quy định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, hình ảnh tinh thần chứ không phải hình ảnh vật lý hay vật chất như người ta thường nghĩ trong chủ nghĩa duy vật tầm thường
- Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, cũng có nghĩa là ý thức
là sự phản ánh thế giới một cách tự giác và sáng tạo
+ Tư duy có ý thức là sáng tạo vì nó luôn bị nhu cầu thực tiễn quyết định Sự cần thiết này đòi hỏi chủ thể phản ánh phải hiểu rõ những gì đang được phản ánh Trên cơ sở
đó hình thành nên hình ảnh tinh thần và những hình ảnh đó ngày càng phản ánh đúng đắn hơn hiện thực khách quan Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở phản ánh
+ Tư duy có ý thức là sáng tạo, vì tư duy đó luôn dựa trên cơ sở hoạt động thực tiễn
và là sản phẩm của các mối quan hệ xã hội
* Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó (Theo Karl Marx)
* Cấu tạo của ý thức:
- Được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau Có thể chia cấu trúc của ý thức theo hai chiều:
+ Chiều ngang: gồm các yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí , trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi
+ Chiều dọc: gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vô thức
3.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:
- Là mối quan hệ biện chứng mà trong đó vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức và quyết định ý thức nhưng không thụ động mà có thể tác động trở lại vật chất qua hoạt động của con người
3.1.Vật chất quyết định ý thức:
Trang 6-Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao, là sự phản ánh của thế giới vật chất, là hình ảnh mang tính chủ quan của thế giới vật chất Vì vậy, nội dung của ý thức do vật chất quyết định Nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức
- Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc người, thế giới khách quan tác động đến bộ óc gây ra các hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ), hoặc là chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản ảnh, lao động, ngôn ngữ) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức
Ví dụ: Bộ não con người bình thường thì hoạt động ý thức con người vẫn diễn ra bình
thường Nhưng khi bộ não con người bị tổn thương thì hoạt động ý thức cũng bị rối loạn
3.2.Tác động trở lại của ý thức:
- Ý thức do vật chất sinh ra và quy định, nhưng ý thức lại có tính độc lập tương đối của nó Hơn nữa, sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh tinh thần, phản ánh sáng tạo và chủ động chứ không thụ động,máy móc,…Vì vậy nó có tác động trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Dựa trên các tri thức về quy luật khách quan, con người đề ra mục tiêu, phương hướng, xác định phương pháp, dùng ý chí để thực hiện mục tiêu ấy Vì vậy, ý thức tác động đến vật chất theo hai hướng chủ yếu:
+ Nếu ý thức phản ánh đúng đắn điều kiện vật chất,hoàn cảnh khách quan thì sẽ thúc đẩy tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng vật chất
+ Ngược lại, nếu ý thức phản ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con người không phù hợp với quy luật khách quan, do đó sẽ kìm hãm sự phát triển của vật chất
3.3.Ý nghĩa phương pháp luận:
– Phải luôn xuất phát từ hiện thực khách quan trong mọi hoạt động:
Trang 7+ Tri thức mà con người thu nhận được sẽ thông qua chu trình học tập, nghiên cứu từ các hoạt động quan sát, phân tích để tác động vào đối tượng vật chất và buộc những đối tượng đó phải thể hiện những thuộc tính, quy luật
+ Để cải tạo thế giới khách quan đáp ứng nhu cầu của mình, con người phải căn cứ vào hiện thực khách quan để có thể đánh giá, xác định phương hướng biện pháp, kế hoạch mới có thể thành công
+ Bên cạnh đó cần phải tránh xa những thói quen chỉ căn cứ vào nhu cầu, niềm tin mà không nghiên cứu đánh giá tình hình đối tượng vất chất
– Phát huy tính năng động, sáng tạo, sức mạnh to lớn của yếu tố con người:
+ Con người muốn ngày càng tài năng, xã hội ngày càng phát triển thì phải luôn chủ động, phát huy khả năng của mình và luôn tìm tòi, sáng tạo cái mới Bên cạnh đó, con người phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng, nâng cao năng lực và không bỏ cuộc giữa chừng
+ Con người tuyệt đối không được thụ động, ỷ lại trong mọi trường hợp để tránh việc
sa vào lười suy nghĩ, lười lao động
II.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất va ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế
ở nước ta hiện nay:
1.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị:
- Yếu tố vật chất giữ vai trò cơ bản và quyết định, còn yếu tố ý thức chống lại yếu tố vật chất Trong nhiều trường hợp yếu tố ý thức có ảnh hưởng quyết định đến sự thành bại trong hoạt động con người Điều này thể hiện rõ qua tác dụng của các chủ trương, chính sách đổi mới kinh tế của Đảng
- Trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định, chúng ta có thể thấy rằng giữa kinh
tế ( biểu hiện của vật chất ) và chính trị ( biểu hiện của ý thức ) cũng có một mối liên
hệ chặt chẽ Bởi vì chúng ta thấy trong hoàn cảnh kinh tế của một quốc gia - nó là cơ
sở, là cốt yếu, nhưng chính trị là cơ sở Nhưng họ vẫn ám chỉ một chính đảng thống nhất đất nước, và đảng đó vẫn đem lại bình yên cho nhân dân Vì vậy khi đất nước
Trang 8giàu mạnh thì cuộc sống của nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc hơn, ngược lại khi đất nước nghèo đi thì dù có ổn định về chính trị đến đâu thì đời sống của nhân dân cũng khó khăn dẫn đến đảo chính, sụp đổ chính phủ để thay thế một chính phủ mới sẽ mang lại nhiều lợi ích cho người dân
- Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi tuỳ theo hình thái kinh tế - xã hội Con người trải qua năm hình thái xã hội: nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản và xã hội chủ nghĩa Trình độ tổ chức và quản lý cũng như loại hình sản xuất hiện đại sẽ là những yếu tố quyết định cho mức độ hiện đại và mức sống trong xã hội Sản xuất vật chất còn là cơ sở để hình thành mọi mối quan hệ xã hội và đời sống tinh thần của xã hội Trong xã hội này, theo Mác, quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (quan hệ kinh tế) là quan hệ cơ bản nhất quyết định mọi quan hệ khác Khi sản xuất phát triển, phương thức sản xuất của con người thay đổi, năng suất lao động tăng
và mức sống được cải thiện, các mối quan hệ và mọi mặt của đời sống xã hội cũng thay đổi theo
- Kinh tế là nền tảng để một quốc gia tiến hành những chủ trương, biện pháp trong việc quản lí, cũng như đề ra các chiến lược phát triển kinh tế, phát triển quân đội nhằm mục đích đảm bảo an ninh trật tự và chủ quyền quốc gia Dựa vào thực trạng hiện nay, nhằm mang lại nguồn lợi kinh tế cao cho xã hội thì nhiều tư tưởng cũng như các chính sách đổi mới kinh tế phù hợp và hiệu quả được đề ra
- Theo nguyên lí triết học Mác-Lenin, mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức đòi hỏi chúng ta phải xem xét tình hình các sự vật một cách khách quan, đồng thời phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy nỗ lực chủ quan của con người ( như hoạt động kinh tế của nước ta, trong công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng đã chú trọng đến việc đề cao yếu tố con người, khi ý thức đổi thay thì sẽ tiến hành tiếp cận các cơ sở kinh tế cũng như đông đảo quần chúng nhân dân )
KẾT LUẬN:
Trong công cuộc hình thành, xây dựng và phát triển của xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ xưa đến nay đã gặp không ít khó khăn và thử thách Những khó khăn cũng như những trở ngại hiện thực khách quan của thế giới cũng là một phần ảnh hưởng đến sự phát triển của nước ta, song có thể nói nó tác động mạnh đến ý thức của mỗi con người
Trang 9trong chúng ta Việt Nam từ một nước nghèo nhất thế giới đã vươn lên trở thành một nước mức thu nhập trung bình, qua đó có thể thấy được sự nỗ lực, cố gắng, kiên trì, sáng tạo, thay đổi vật chất, cải biến hiện thực của nhà nước và của toàn thể dân tộc Việt Nam
Tình hình thực tế nhất hiện nay mà thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang phải đối mặt rất căng thẳng là đại dịch Covid-19 Trong suốt gần 2 năm cả thế giới phải cố gắng, đoàn kết, quyết liệt để chung tay chống lại cơn đại dịch này Covid-19
đã ảnh hưởng rất lớn đến tính mạng con người và hơn hết là nền kinh tế của thế giới
và Việt Nam, nó đã khiến cho nhiều nhà máy, xí nghiệp, khu du lịch lớn phải đóng cửa, thậm chí còn có rất nhiều doanh nghiệp lớn phải phá sản rút lui trong thi trường cạnh tranh, Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn trầm trọng đó thì nền kinh tế của nước ta đang đạt ở mức 2,9% tăng trưởng GDP năm 2020, Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới tăng trưởng kinh tế dương Qua đó, chúng ta có thể thấy tình hình khó khăn chung do đại dịch Covid-19 là thực tiễn hiện tại và thực tại khách quan
ấy đã tác động đến bản chất của ý thức, cụ thể nó tác động đến sự sáng tạo trong tư duy suy nghĩ của mỗi con người, làm thúc đẩy ý chí cố gắng để cùng nhau vượt qua đại khó khăn thử thách này Đầu tiên, phải nhắc đến Đảng, Chính phủ và Nhà nước là những người tiên phong đưa ra sự sáng tạo và sau đó toàn dân tộc Việt Nam áp dụng theo Trong số các nhà máy, xí nghiệp tạm ngừng hoạt động hay phá sản thì bên cạnh
đó vẫn còn có nhiều doanh nghiệp chủ động, tích cực làm việc online nhưng vẫn có thu nhập ổn định giúp cho nền kinh tế tuy giảm mà vẫn bình ổn được Từ đó, ta có thể đứng ở một góc độ khách quan để nhìn sự việc, nhìn một cách tổng quát đó là điều kiện khó khăn chung của cả thế giới, là một điều kiện khách quan về tình hình chung của đại dịch hay còn gọi là sự thất nghiệp chung của dân số, nhưng ở một khía cạnh nào đó một số ít công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp lớn nhỏ họ đã và đang nổ lực hết mình, vận dụng hết sự sáng tạo và thể hiện sự nhạy bén, năng động để họ có thể tìm kiếm ra những phương pháp tốt nhất, hiệu quả nhất giúp cho tình hình riêng trong công ty trở thành sự phát triển chung của cả nước Từ đó, ta có thể thấy được rằng sự nhạy bén và sáng tạo của con người sẽ được phát huy tối đa nhất ở một hoàn cảnh cấp bách cụ thể
Trang 10Chúng ta hiện tại đang là một người con của tổ quốc và là một sinh viên, chúng ta nên
và phải nổ lực rất nhiều trong công cuộc đổi mới của đất nước Mỗi sinh viên cần có ý thức phấn đấu, cố gắng để trở thành một sinh viên hiểu biết và giỏi gian Phải học hỏi
và đút kết ra được những phương pháp để tiếp thu tri thức thời đại, vận dụng sáng tạo nhưng tri thức đó vào thực tiễn hiện tại để góp phần làm cho nền kinh tế nước ta ngày càng trở thành một đất nước giàu mạnh phát triển và phồn thịnh trên thế giới
Quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Maclenin và tư tưởng HCM, ta đã vận dụng thành tạo và triệt để phép duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu cũng như quán lí kinh tế, đồng thời phát huy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ biện chứng giữa kinh tế
và chính trị trong công cộc đổi mới nhằm tăng trưởng nền kinh tế quốc, bằng tất cả sự
nổ lực nhất định chúng ta sẽ trở thành những cán bộ quản lí kinh tế giỏi và nổi bật góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới kinh tế đất nước, từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam vươn xa và vững mạnh, để từ đó nâng cao hơn nữa vị trí của Việt Nam trên chiến trường quốc tế, góp phần củng cố hơn nữa về mặt ổn định về chính trị của đất nước Đó là đường lối và cũng là trách nhiệm của những nhà quán lí kinh tế, chính trị của nước nhà để một lần nữa khẳng định rõ ràng vị trí kinh tế lẫn chính trị của Việt Nam trên bàn cân quốc tế