1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

tim hieu ve pin volta va pin leclanche

4 21 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 59,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pin Volta chính là mẫu hình cho các phát minh sau này như pin điện phân được dùng để tách nước thành oxy và hydro của William Nicholson và Anthony Carlisle hay pin hóa học natri 1807, ka[r]

Trang 1

PIN VOLTA

Pin Volta là một bộ các tế bào Galvanic riêng đặt

thành xê ri, được Alessandro Volta người Ý phát

minh năm 1800 Đó là đó là một tấm kẽm và một

tấm đồng nhúng trong axit sunfuric, nếu nối hai

tấm kim loại này với nhau thì nó có thể sản sinh

ra dòng điện liên tục và ổn định Pin Volta chính

là mẫu hình cho các phát minh sau này như pin

điện phân được dùng để tách nước thành oxy và

hydro của William Nicholson và Anthony

Carlisle hay pin hóa học natri (1807), kali (1807) , canxi (1808), boron (1808), bari(1808),stronti (1808) và magie (1808) của Humphry Davy

Phát minh của Volta được xây dựng dựa trên khám phá vào năm 1786, trong khi thực hiện một bài giảng, giáo sư Cơ thể học Luigi Galvani (1737-1798) tại trường Đại học Bologne, Italy, đã dùng một thanh kim loại đâm vào một con nhái đã lột da và đã làm chân con nhái co giật lại Volta thử lại thí nghiệm của Galvani và đã phát hiện ra rằng cơ thể con ếch chỉ là một chất dẫn điện thường Chính dòng điện sinh ra trong các kim loại khác bản chất đã kích thích các dây thần kinh, và làm hoạt động các cơ Và để chứng minh sự lầm lẫn của sự Galvani, Volta tạo ra điện với một thanh đồng và một thanh kẽm mà không cần có cơ thể con ếch Năm 1800, Volta đã thực hiện một loạt các thử nghiệm dùng kẽm, chì, thiếc và sắt làm tấm tích điện âm (cathode);

và đồng, bạc, vàng, than chì như một tấm tích điện dương (anode) Sau đó, ông xếp các tấm trái cực xen kẽ với nhau, ngăn cách bởi miếng giấy xốp tẩm dung dịch muối ăn Cuối cùng, ông nối điểm đầu với điểm cuối với một sợi dây dẫn và nhận thấy có 1 dòng điện chạy qua Alessandro Volta đã trình diện phát minh này với Napoleon Bonaparte tại Paris vào ngày 6 tháng 11 năm 1801 Ngày 10 tháng 3 năm 1800, Volta đã viết cho Hội Hoàng gia London mô tả kỹ thuật tạo dòng điện bằng cách sử dụng pin của mình

Trang 2

PIN LECLANCHÉ

Pin Leclanché là loại pin được phát minh và

được cấp bằng sáng chế bởi nhà khoa học người

Pháp Georges Leclanché năm 1866 Pin chứa một

dung dịch dẫn điện (chất điện li) là amoni clorua,

một cathode (cực dương) là cacbon, chất khử cực

là mangan dioxit (chất oxy hóa) và

một anode (cực âm) là kẽm (chất khử) Hóa chất

của loại pin này sau đó đã được điều chỉnh thành

công để sản xuất một loại pin khô

Lịch sử

Năm 1866, Georges Leclanché đã phát minh ra

một loại pin bao gồm một anode kẽm và một cathode mangan dioxit bọc trong một vật liệu xốp, nhúng trong một lọ dung dịch amoni clorua Cathode mangan dioxit có một ít cacbon trộn vào để cải thiện độ dẫn và hấp thụ điện Nó cung cấp một điện áp 1,4 volt Loại pin này đạt được hiệu quả rất nhanh trong điện báo, tín hiệu và chuông điện

Pin khô được sử dụng làm nguồn điện cho các điện thoại sơ khai - thường là

từ một hộp gỗ liền kề gắn vào tường — trước khi điện thoại có thể lấy điện từ đường dây điện thoại Pin Leclanché không thể cung cấp dòng điện bền vững trong một thời gian dài Trong các cuộc trò chuyện dài, pin sẽ cạn dần, khiến cuộc trò chuyện không thể tiếp tục Điều này là do một số phản ứng hóa học trong pin làm tăng điện trở bên trong và do đó làm giảm điện áp Những phản ứng này tự đảo ngược khi pin không hoạt động, vì vậy nó chỉ tốt cho việc sử dụng liên tục

Thiết kế

Hình thức ban đầu của pin là sử dụng một bình xốp Điều này đã làm nó có một điện trở bên trong tương đối cao và nhiều sửa đổi đã được thực hiện để giảm nó Chúng bao gồm các "khối ô kết tụ" và "bao pin" Leclanché và sau

đó là Carl Gassner, cả hai đã phấn đấu để biến đổi loại pin ướt ban đầu thành một loại pin khô di động và hiệu quả hơn

Trang 3

-Pin bình xốp

Trong loại pin nguyên bản của Leclanché, chất khử cực (trên thực tế là chất oxy hóa trong pin), bao gồm mangan dioxit được nghiền nát, được đóng gói vào một cái bình và một thanh cacbon được chèn vào để hoạt động như cathode (phản ứng khử) Anode (phản ứng oxy hóa) là một thanh kẽm, sau đó được nhúng vào bình dung dịch amoni clorua Dung dịch lỏng hoạt động như chất điện li, thấm qua bình xốp để tiếp xúc với cathode

-Khối ô kết tụ

Năm 1871 Leclanché pha chế với bình xốp và thay thế nó bằng một cặp "khối kết tụ", gắn vào tấm cacbon bằng các dải cao su Các khối này được tạo ra bằng cách trộn lẫn mangan dioxit với các tác nhân liên kết và ép hỗn hợp vào khuôn

-Bao pin

Trong loại pin này, bình xốp đã được thay thế bởi một gói vải hoặc bao Ngoài ra, thanh kẽm được thay thế bằng một xylanh kẽm để tạo ra diện tích

bề mặt lớn hơn Nó có điện trở bên trong thấp hơn so với một trong hai chất trên (xốp và khoáng chất)

-Tinh bột bổ sung

Năm 1876, Georges Leclanché bổ sung tinh bột vào chất điện phân amoni clorua trong một nỗ lực để làm tốt hơn gel của nó

Cải thiện pin khô

Năm 1888, một bác sĩ người Đức, Carl Gassner đã cải tiến quy trình chưng cất gel và tạo ra một loại pin khô di động hơn bằng cách trộn các hóa chất vữa thạch cao và hydrophilic với chất điện phân amoni clorua

Biến đổi hóa học

Phản ứng oxi hoá khử trong pin Leclanché liên quan đến hai phản ứng sau đây:

– anode (quá trình oxi hóa Zn): Zn → Zn 2+ + 2e −

– cathode (quá trình khử Mn(IV)): 2 MnO 2 + 2NH 4 + 2e − → 2 MnO(OH) + 2 NH 3

Quá trình phản ứng hóa học tạo ra điện trong một pin Leclanché bắt đầu khi các nguyên tử kẽm trên bề mặt của anode bị oxy hóa, tức là chúng bỏ hai electron hóa trịcủa chúng để trở thành ion Zn2+.Khi các ion Zn2+ di chuyển

Trang 4

ra khỏi anode, để lại các electron trên bề mặt của nó, anode trở nên tích điện

âm hơn cathode Khi pin được nối trong một mạch điện bên ngoài, các electron dư thừa trên anode kẽm di chuyển qua mạch tới thanh cacbon, sự chuyển động của các electron tạo thành dòng điện

Sau khi di chuyển qua toàn bộ mạch, khi các electron di chuyển vào cathode (thanh cacbon), chúng kết hợp với mangan dioxit (MnO2) và nước (H2O), phản ứng với nhau để tạo ra mangan(III) oxit (Mn2O3) và các ion hiđroxit tích điện âm Điều này đi kèm với phản ứng axit-bazơ thứ cấp, trong đó các ion hiđroxit (OH–) tiếp nhận một proton (H+) từ các ion amoni có trong chất điện li amoni clorua để tạo ra các phân tử amoniac và nước.[8]

Zn(r) + 2 MnO 2 (r) + 2 NH 4 Cl(aq) → ZnCl 2 (aq) + Mn 2 O 3 (r) + 2 NH 3 (aq) + H 2 O(l),

hoặc nếu người ta cũng xem xét sự hydrat hóa của Mn 2 O 3 (r) sesquioxide thành Mn(III) oxy-hiđroxit:

Zn(r) + 2 MnO 2 (r) + 2 NH 4 Cl(aq) → ZnCl 2 (aq) + 2 MnO(OH)(r) + 2 NH 3 (aq)

Theo cách khác, sự khử của Mn(IV) có thể tiến hành thêm, tạo thành Mn(II) hiđroxit.

Zn(r) + 2MnO 2 (r) + 2 NH 4 Cl(aq) → ZnCl 2 (aq) + Mn(OH) 2 (r) + 2 NH 3 (aq)

Chú thích: r: thể rắn ; l: thể lỏng ; aq: Hydrat

Sử dụng

Lực điện động (e.m.f - electromotive force) được tạo ra bởi một pin Leclanche là 1,4 vôn, với một điện trở là một số ohm tại một bình xốp được

sử dụng Nó đã được sử dụng rộng rãi trong điện báo, báo hiệu (viễn thông), chuông điện và các ứng dụng tương tự, trong đó dòng điện liên tục được yêu cầu và nó là kỳ vọng rằng một pin nên yêu cầu bảo trì ít

Pin ướt Leclanché là tiền thân của pin kẽm-cacbon hiện đại (một loại pin khô) Việc bổ sung kẽm clorua vào chất điện li tạo nên hiệu điện thế đến 1,5 vôn Những phát triển sau này được phân phối hoàn toàn bằng amoni clorua, tạo ra một loại có thể chịu đựng được sự phóng điện bền vững hơn mà không

có điện trở bên trong tăng nhanh (pin kẽm clorua)

Ngày đăng: 17/12/2021, 09:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức ban đầu của pin là sử dụng một bình xốp. Điều này đã làm nó có một điện trở bên trong tương đối cao và nhiều sửa đổi đã được thực hiện để giảm nó - tim hieu ve pin volta va pin leclanche
Hình th ức ban đầu của pin là sử dụng một bình xốp. Điều này đã làm nó có một điện trở bên trong tương đối cao và nhiều sửa đổi đã được thực hiện để giảm nó (Trang 2)
w