1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài Tập Thảo Luận Luật Dân Sự Lần 2 (Những Quy Định Chung Về Tài Sản, Thừa Kế)

20 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 510,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾBÀI THẢO LUẬN LẦN THỨ HAINăm học: 2021 2022 MỤC LỤCPHẦN 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH3PHẦN 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨC5PHẦN 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI7PHẦN 4: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU10 PHẦN 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH Tóm tắt bản án 322018:Bản án số 322018DSST ngày 20122018, do Tòa án TP tỉnh Vĩnh Long xét xử về vụ việc tranh chấp đất giữa nguyên đơn vợ chồng ông J Ph T, bà A Th Ph và bị đơn là bà L K Đ. Vợ chồng nguyên đơn đã 2 lần:Lần 1: ngày 3152004 mua nền thổ cư 200m2 với giá trị là 60.000.000VNĐ nhưng không có giấy giao tiền còn chữ viết trong giấy xác nhận thì ông bà không ghi rõ là ai.Lần 2: ngày 02062004 có giấy nhượng quyền đất thổ cư của bà L K Đ thực chất là đất vườn có diện tích 1.05,8m2.Nay nguyên đơn yêu cầu bà L K Đ phải giao căn nhà cấp 4, quyền sử dụng đất có diện tích 1.251,8m2 và toàn bộ cây trồng cho nguyên đơn nhưng bị đơn không đồng ý. Sau khi xem xét tình tiết vụ án thì Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã vô hiệu hóa giấy nhường đất thổ cư ngày 03062004, giấy cho nền thổ cư ngày 3152004 và giấy cam kết ngày 1632011. Buộc bà L K Đ phải trả lại số tiền 329.000.000 VNĐ cho bên nguyên đơn (đó là tổng số tiền nguyên đơn đã gửi về để mua đất và xây nhà là 13.950 USD tương đương là 329.000.000 VNĐ) nhưng bà L K Đ đã tự nguyện trả 350.000.000 VNĐ và xin miễn giảm án phí. Sau khi trả tiền cho nguyên đơn thì bà Đ vẫn tiếp tục được sự dụng đất và căn nhà cấp 4 cùng với cây trồng trên đất.Câu 1: So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anhchị về sự thay đổi trên.Khoản 1 Điều 122 BLDS 2005Khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.Điểm khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự ở BLDS 2005 so với BLDS 2015:BLDS 2015 có sự thay đổi trong từ ngữ, thay vì dùng “Người” như BLDS 2005, BLDS 2015 đã sử dụng “Chủ thể”. Đây là một chủ ngữ có tính bao quát hơn, và khoa học hơn, đồng thời việc sử dụng “chủ thể” sẽ tránh được những hiểu lẩm liên quan đến giao dịch dân sự của các pháp nhân hay các tổ chức.Ngoài ra, BLDS 2015 quy định cụ thể rằng “năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” nhằm hạn chế những giao dịch dân sự không phù hợp với độ tuổi và nhu cầu sinh hoạt của những người chưa thành niên (dưới 6 tuổi, từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi, hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi). Câu 2: Đoạn nào của bản án cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam?Bản án cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Cụ thể ở đoạn: “Tuy nhiên giấy cho nền thổ cư ngày 3152004, giấy nhường đất thổ cư 0262004 được lập giữa nguyên đơn và bị đơn L K Đ xét về hình thức thì tờ cho đất thổ cư và tờ nhường đất thổ cư không tuân thủ theo quy định của pháp luật, không được công chứng, chứng thực theo quy định tại Điều 127 của Luật Đất đai năm 2003 và Điều 117 BLDS nên không phát sinh hiệu lực hợp đồng. Hơn nữa ông Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi thỏa mãn các điều kiện sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sỡ hữu nhà ở tại Việt Nam”. “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được cho phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà riêng lẻ hoặc một căn hộ” do đó ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam vì vậy các giao dịch cho nền thổ cư ngày 3152004, giấy nhường đất thổ cư ngày 0262004, giấy cam kết ngày 1632011 bị vô hiệu do vi phạm điều cấm cuả pháp luật và do không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 117, 123,129 của Bộ luật dân sự và căn cứ theo Điều 131 BLDS thì các đương sự phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.”Câu 3: Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu?Tại phiên tòa vị kiểm soát viên phát biểu về việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định pháp luật, về thu thập chứng cứ và mở phiên tòa bảo đảm đúng thủ tục tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.Vô hiệu hóa giấy nhường đất thổ cư ngày 02062004, giấy cho nên thổ cư ngày 3152004 và giấy cam kết ngày 1632011.Buộc bà L K Đ hoàn trả lại cho ông J Ph T và bà A Th Ph số tiền tổng cộng là 35.000.000 đồng. Bà Đ được tiếp tục sử dụng đất và sở hữu căn nhà cấp 4 cùng với cây trồng trên quyền sử dụng đất có diện tích 1.251,8m2, thuộc thửa 28, tờ bản số 15, tọa lạc tại ấp T M, xã T L, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.Chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, định giá tài sản là 4.395.000 đồng, nguyên đơn chịu 2.197.500 đồng, bị đơn chịu 2.197.000 đồng.Về án phí: nguyên đơn và bị đơn được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi.Câu 4: Suy nghĩ của anhchị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu?Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là hợp lý vì:Do ông T và bà H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ nhưng không thuộc diện có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học, hoặc các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam hay đã về Việt Nam cư trú với thời hạn từ 6 tháng trở lên. Dựa theo Luật Nhà ở năm 2005.Vậy nếu xét điều kiện để giao dịch dân sự được xác lập theo điểm a khoản 1 Điều 117 BLDS 2015: “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”. Năng lực pháp luật của hai ông bà không phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập. PHẦN 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨCTóm tắt Quyết định số 3292013DSGĐT:Vụ việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất” giữa ông Hội, bà Hương với vợ chồng ông Hùng bà Trinh. Ngày 822010, ông Hội và bà Hương lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Hùng và vợ là bà Trinh quyền sử dụng thửa đất, diện tích 120m2. Và chị Ánh cho rằng lúc ký hợp đồng mua bán thì ông Hội đã bị mất năng lực hành vi dân sự nên hợp đồng trên là vô hiệu và nay ông Hội chết, chị yêu cầu hủy hợp đồng để đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế. Nhưng về phía bà Hương, bà cho rằng lúc ký kết thì ông Hội vẫn còn ý thức, không mất năng lực hành vi dân sự, nên hợp đồng là đúng theo quy định pháp luật. Và theo Tòa án phúc thẩm, công nhận toàn bộ hợp đồng mua bán, theo tòa án sơ thẩm thì hủy hợp đồng mua bán, nhưng cả hai đều không đúng. Ngoài ra theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung của ông Hội và bà Hương: do đó bà Hương có quyền định đoạt phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Hương. Cuối cùng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử Giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm.Câu 1: Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?Theo Quyết định số 3292013DSGĐT ngày 2572013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao:Thực chất năm 2007 ông Hội đã bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được.Nhưng đến ngày 1082010 Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa tuyên bố cha chị Đặng Thị Kim Ánh là ông Đặng Hữu Hội mất năng lực hành vi dân sự.Câu 2: Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hôi bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 822010, ông Hội và bà Hương lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Hùng và vợ là bà Trinh quyền sử dụng thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Hội bà Hương, diện tích 120m2 với giá 300.000.000 đ có chứng thực của chính quyền địa phương ngày 922010. Khi đó, ông Hội vẫn chưa bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự. Đến ngày 752010, ông Hội mới bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự.Câu 3: Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dich của ông Hội có vô hiệu không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?Năm 2007, ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được. Đến 1082010 mới tuyên bố ông bị mất năng lực hành vi dân sự vậy theo quy định thì xác lập giao dịch dân sự ông Hội là người có năng lực hành vi dân sự.Theo Tòa án nhân dân tối cao thì phần giao dịch bị vô hiệu mặc dù giao dịch đó được xác lập trước khi ông Hội bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Bởi lẽ, xét theo Điều 128 BLDS 2015 “người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ hành vi thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu”.Như vậy, giao dịch giữa ông Hội bà Hương với vợ chồng ông Hùng bị vô hiệu một phần (phần giao dịch của ông Hội). Vì đây là tài sản chung của ông Hội và bà Hương do đó bà Hương có quyền định đoạt một phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Hương.Câu 4: Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anhchị biết?Trong thực tiễn xét xử, vụ việc về vấn đề giao dịch xác lập bởi người không có khả năng nhận thức là Bản án số 1692017DSPT xét xử phúc thẩm công khai vụ án “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”. Nguyên đơn là Nguyễn Văn B (ông B bị mất năng lực hành vi dân sự), người đại diện theo pháp luật là Bà Nguyễn Thị Út T. Và bị đơn là Bà Nguyễn Thị T1. Sơ lược về nội dung vụ án: Ngày 3092011, Ông B ký hợp đồng tặng cho bà T1 mảnh đất mà ông được thừa hưởng từ người anh của mình. Nhưng bà T lại cho rằng tại thời điểm tặng cho thì ông B đã mất năng lực hành vi dân sự, nên việc ông B tặng mảnh đất cho bà T1 mà không có sự đồng ý của bà T là không hợp pháp. Nhưng Tòa án sơ thẩm đã bác bỏ toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Út T là người đại diện theo pháp luật cho ông Nguyễn Văn B về việc: yêu cầu hộ bà Nguyễn Thị T1 di dời nhà trả lại cho ông Nguyễn Văn B. Và ở phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B, bà T vì bà T cho rằng việc ông B ký vào Hợp đồng để tặng cho bà T1, và cơ quan chuyên môn xác định ông B bị bệnh tâm thần phân liệt, mất năng lực hành vi dân sự. Và theo nhận định của tòa phúc thẩm, việc ông B ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà T1 là không phù hợp nhưng về nội dung không trái với ý chí của ông B, thể hiện quyền định đoạt về quyền sử dụng đất của ông B. Cuối cùng, quyết định của Tòa án phúc thẩm là không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Út T là người đại diện theo pháp luật cho ông Nguyễn Văn B về việc: yêu cầu hộ bà Nguyễn Thị T1 di dời nhà trả lại phần đất cho ông Nguyễn Văn B. Đồng thời, yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn B với bà Nguyễn Thị T1, và công nhận cho bà Nguyễn Thị T1 được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất hiện do bà Nguyễn Thị T1 đứng tên giấy CNQSDĐ.Câu 5: Suy nghĩ của anhchị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa ra hướng xử lý.Theo em, hướng xử lí của Tòa án nhân dân tối cao về vụ án: “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở: gắn liền với quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là chị Đặng Thị Kim Ánh với bị đơn là bà Phạm Thị Hương với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lưu Hoàng Phi Hùng, bà Bùi Thị Tú Trinh và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác là hợp lí. Tòa án đã quyết định hủy bỏ bản án dân sự phúc thẩm 352012DSPT ngày 10072012 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên với bản án dân sự sơ thẩm số 922011DSST ngày 22122011 của Tòa án nhân dân Thành phố Tuy Hòa là hợp lí theo quy định của pháp luật. Tòa cho rằng ở thời điểm bà Hương ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Hùng thì ông Hội chưa chết và cũng chưa bị tòa tuyên bố trở thành người mất năng lực hành vi dân sự, nên giao dịch dân sự giữa vợ chồng ông Hội và vợ chồng ông Hùng là có hiệu lực một phần theo khoản 1 điều 122 BLDS 2005:“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”và theo Điều 133 BLDS 2005 “người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ hành vi thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu”.Câu 6: Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó có bị vô hiệu không? Vì sao?Trường hợp thứ nhất, ông Hội mất năng lực hành vi dân sự nhưng chưa được Tòa án tuyên bố thì khi có giao dịch tặng cho thì việc nhận hay không là tùy thuộc vào ý chí của ông Hội.Trường hợp thứ hai, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa quyết định tuyên bố ông Đặng Hữu Hội bị mất năng lực hành vi dân sự kể từ ngày 07052010. Mà theo điểm a khoản 1 Điều 117 BLDS 2015, giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi đáp ứng điều kiện “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”.Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của người bị mất năng lực hành vi dân sự nên trong điểm b khoản 2 Điều 125 BLDS 2015 có quy định giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 điều này không bị vô hiệu khi “Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ”. Vì vậy, nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó không bị vô hiệu do chỉ làm phát sinh quyền cho ông Hội. PHẦN 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐITóm tắt Quyết định số 5212010DSGĐT:Hợp đồng mua bán căn nhà của ông Nguyễn Danh Đô, bà Phạm Thị Thu với bên mua là bà Trần Thị Phố, là hợp pháp và có hiệu lực. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phố đã trả 230 lượng vàng, còn lại 100 lượng vàng chưa thanh toán. Nhưng sau đó, Thế Vinh, con bà Phố, không có thỏa thuận của bà Phố đã hoán nhượng ½ diện tích nhà cho bà Thu sử dụng và không phải trả số vàng còn lại. Nhưng sau đó, “Thỏa thuận hoán nhượng” vô hiệu do tình trạng nhà đất có quyết định thu hồi giải tỏa, anh Vinh và những người liên quan đã không thông báo cho bà Thu và ông Đô biết. Và Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Phố trả phần tiền còn lại và không tuyên bố giao dịch vô hiệu là không đúng. Tòa án phúc thẩm cho rằng thỏa thuận giữa bà Thu và anh Vinh sẽ được trả bằng ½ số tiền do nhà nước bồi thường do thu hồi, bác bỏ yêu cầu của ông Đô và bà Thu.Tóm tắt Quyết định số 2102013DSGĐT: Vụ việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Châu Thị Nhất và bị đơn là ông Nguyễn Văn Dưỡng, hai vợ chồng đã ly hôn vào tháng 8 năm 2007. Bà Nhất đã khởi kiện và yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nguyên nhân là do ông Dưỡng đã giả mạo chữ ký của bà để bán phần tài sản chung của vợ chồng trong lúc bà đang xuất khẩu lao động Đài Loan. Tòa sơ thẩm đã tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Nhất và ông Thi là vô hiệu, và buộc ông Dưỡng bồi thường giá trị quyền sử dụng đất. Tòa phúc thẩm bác bỏ đơn yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng của bà. Ngoài ra, bà Nhất không có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối vì bà không thuộc một bên tham gia giao dịch và nếu diện tích đất tranh chấp trong ly hôn chưa được giải quyết thì bà không có quyền khởi kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất vì đây là tài sản chung của hai vợ chồng chưa chia. Đồng thời, thời hiệu khởi kiện của bà Nhất cũng đã hết nên không thể làm theo Tòa sơ thẩm.Câu 1: Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS 2005 và BLDS 2015?Theo Điều 132 BLDS 2005:Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.Theo Điều 127 BLDS 2015:Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.Câu 2: Đoạn nào của quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên vô hiệu do có lừa dối?Việc anh Vinh và người liên quan (ông Trần Bá Toàn, bà Trần Thị Phú Vân họ hàng của anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về nhà, đất mà các bên thỏa thuận hoán đổi đã có quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù (căn nhà đã có quyết định tháo dỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không được bồi thường giá trị căn nhà; còn thửa đất bị thu hồi thì không đủ điều kiện để mua nhà tái định cư theo Quyết định số 135QĐUB ngày 21112002) là có sự gian dối. Mặt khác, tại bản “Thỏa thuận hoán nhượng” không có chữ ký của ông Đô (chồng bà Thu) và là người cùng bà Thu bán căn nhà 1157E Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp cho bà Phố (mẹ của anh Vinh). Do vậy, giao dịch “Thỏa thuận hoán nhượng’’ giữa anh Vinh và bà Thu vô hiệu nên phải áp dụng Điều 132 BLDS để giải quyết.Câu 3: Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt tiền lệ anhchị biết.Hướng giải quyết trên chưa có tiền lệ.Câu 4: Hướng giải quyết trên có còn phù hợp với BLDS 2015 không? Vì sao?Hướng giải quyết trên là phù hợp với BLDS 2015. Bởi lẽ:Điều 127 BLDS 2015 nêu rõ “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu”. Việc anh Vinh và người liên quan (ông Trần Bá Toàn, bà Trần Thị Phú Vân – họ hàng của anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về nhà, đất mà các bên thỏa thuận hoán đổi đã có quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù (căn nhà đã có quyết định tháo gỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không được đền bù giá trị căn nhà còn mảnh đất bị thu hồi thì không đủ điều kiện để mua nhà tái định cư theo Quyết Định số 135QĐUB ngày 21112002) là có sự gian dối. Vì vậy, theo Điều 127 BLDS 2015 thì tuyên bố thỏa thuận hoán nhượng bị vô hiệu là hoàn toàn hợp lí.Câu 5: Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, ai được yêu cầu và ai không được yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu?Trong quyết định số 210, theo tòa án bà Nhất không phải là một bên tham gia giao dịch với ông Thi, nên bà Nhất không có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu hóa do bị lừa dối. Trường hợp này chỉ có ông Thi mới có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu hóa do bị lừa dối, nếu ông Tài không biết vụ ông Dưỡng giả mạo chữ kí bà Nhất khi tiến hành giao dịch hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.Câu 6: Trong quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối có còn không? Vì sao?Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối là không còn. Bởi vì:khoản 1 Điều 142 BLDS 1995 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất do bị lừa dối là một năm, khoản 1 Điều 136 BLDS 2005 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối là hai năm kể từ ngày giao dịch được xác lập. Còn Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự quy định trong trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm kể từ ngày người có quyền khởi kiện biết được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm. Bà Nhất khai năm 2007 vợ chồng ly hôn mà mới biết ông Dưỡng giả mạo chữ ký của bà để chuyển nhượng đất cho ông Tài, nhưng đến 10122010 bà Nhất mới khởi kiện. Nên nếu xác định bà Nhất có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên bị vô hiệu do lừa dối, thì cũng đã hết thời hiệu khởi kiện.Câu 7: Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, Tòa án có công nhận hợp đồng không? Vì sao? Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, Tòa án công nhận hợp đồng vì theo khoản 1 Điều 136 BLDS 2005 thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày: Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối. Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức. Do đó, hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 136 mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.Riêng đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 128 và Điều 129 của BLDS 2005 thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.Câu 8: Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nếu áp dụng các quy định tương ứng của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210?Câu trả lời cho các câu hỏi trên sẽ không có thay đổi nếu áp dụng các quy định tương ứng của BLDS 2015 vào các tình tiết như trong Quyết định số 210. PHẦN 4: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆUTóm tắt Quyết định số 752012DSGDDT:Vụ án dân sự về “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa ông Nguyễn Văn Sanh và vợ chồng anh Nguyễn Văn Dư chị Dương Thị Chúc. Anh Dư và chị Chúc đã chuyển nhượng cho ông Sanh 100m2 nhưng khi làm thủ tục chuyển nhượng lại không chịu ký kết. Năm 2007, ông Sanh xây dựng nhà xưởng trên đất, và anh Dư chị Chúc muốn đòi lại mảnh đất, đồng thời kêu anh Sanh phải tháo dỡ nhà xưởng. Tòa án sơ thẩm xét xử và công nhận giao cho ông Sanh quyền sử dụng đất. Nhưng Tòa án phúc thẩm lại cho rằng hợp đồng giao dịch của hai bên không đầy đủ về hình thức, do lỗi của anh Dư và chị Chúc nên hợp đồng giao dịch không được công nhận, vì thế ông Sanh phải trả lại thửa đất, đồng thời giao quyền sử dụng 1 nhà máy xưởng cho vợ chồng anh Dư và nhận bồi thường là 571.755.000đ.Tóm tắt bản án số 1332017DSPT:Ngày 1682016, nguyên đơn là ông Bùi Tiến Văn và bà Nguyễn Thị Tằm kiện ba người con trai của mình là anh Bùi Tiến Dậu, anh Bùi Tiến Sinh và anh Bùi Tiến Bình yêu cầu Tòa án hủy 3 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, giấy CNQSD đất trái pháp luật, buộc anh Dậu, anh Sinh và anh Bình trả cho ông bà diện tích 350m2 đất. Theo lời khai của ông Văn và bà Tằm, năm 2008, anh Văn có nói với ông bà là muốn mượn trích lục đất của ông bà để thế chấp ngân hàng vay vốn làm ăn nên hai ông bà đã đồng ý. nhưng nhân lúc bà Tằm không có nhà thì anh Dậu đã đem hợp đồng và lừa ông Văn đây là hợp đồng thế chấp cho ngân hàng nhưng thật ra là giấy tờ chuyển nhượng đất cho 3 người con trai của ông là anh Dậu, anh Bình và anh Sinh. Tin lời con trai nên ông đã ký và ký thay cho bà Tằm khi chưa đọc kĩ hợp đồng mãi đến năm 2010 thì ông bà mới biết mình bị lừa. Khi phiên tòa sơ thẩm ra quyết định bản hợp đồng cho tặng và quyền sử dụng đất vô hiệu thì anh Dậu và anh Bình kháng cáo, nhưng sau đó anh Bình đã rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Đến phiên tòa phúc thẩm, tòa quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của anh Bình, không chấp nhận kháng cáo của anh Dậu, xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Văn với anh Dậu là vô hiệu, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong hợp đồng vô hiệu mang tên anh Dậu, vợ chồng ông Văn bà Tằm có thể xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Tóm tắt Quyết định số 262013KDTMGĐT:Tranh chấp trong vụ án là “Hợp đồng dịch vụ” giữa Công ty Orange và Công ty Phú Mỹ. Công ty Phú Mỹ đã không thanh toán tiền đúng theo thời hạn với lý do rằng Công ty Orange đã không đáp ứng các gói công việc hoàn chỉnh, các bản chi tiết phối cảnh cây xanh, không bàn giao bản vẻ đúng theo yêu cầu nên Công ty Phú Mỹ đã phải chịu thiệt hại lên đến 1.800.00 USD. Bên Công ty Orange cho rằng vì sau khi thực hiện xong và trong giai đoạn kiểm tra thì Công ty Phú Mỹ không có phản hồi hay khiếu nại nên đã hoàn thành trách nhiệm theo hợp đồng đưa ra trước đó. Ngoài ra trong quá trình bàn giao bản vẽ, việc bàn giao không được thành lập thành theo văn bản, chưa làm rõ những ngày cụ thể về bàn giao sản phẩm, nội dung, khối lượng công việc như thế nào, các ý kiến phản hồi về sản phẩm. Và khi đã xác định rõ các thông tin cần thiết, nếu hợp đồng dịch vụ là hợp pháp thì Công ty Phú Mỹ phải thanh toán phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện cùng với tiền lãi suất do chậm thanh toán.Câu 1: Giao dịch dân sự vô hiệu có làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.Theo Khoản 1 Điều 131 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.”Câu 2: Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ có phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện không? Vì sao?Trên cơ sở BLDS, nếu xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng. Vì theo khoản 1 và khoản 2 Điều 131 BLDS 2015: “ 1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch dân sự được xác lập.2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.”Câu 3: Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện như thế nào?Hướng giải quyết của Hội đồng Thẩm phán về khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện là: Nếu xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì phải buộc Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng. Còn nếu Hợp đồng dịch vụ là hợp pháp thì phải buộc Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng cùng tiền lãi suất do chậm thanh toán theo quy định của pháp luật.Câu 4: Suy nghĩ của anhchị về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán liên quan tới khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khi xác định hợp đồng vô hiệuHướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán liên quan tới khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khi xác định hợp đồng vô hiệu là chưa thỏa đáng cho bên Công ty Phú Mỹ:Thứ nhất, nếu ta xét theo khoản 2 Điều 131 BLDS 2015 quy định: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả”. Nên có thể nói đây là hướng giải mà cho dù hợp đồng được xác định là hợp pháp hay vô hiệu thì bên Công ty Phú Mỹ cũng đều phải bồi thường cho Công ty Orange.Thứ hai, bên cạnh việc Công ty Phú Mỹ phải bồi thường cho bên Công ty Orange tùy thuộc vào tình trạng hợp đồng được xác định như thế nào, thì Công ty Orange cũng đã không hoàn thành trách nhiệm trong nhiệm bàn giao các bản vẽ, thực hiện các gói công việc một cách hoàn chỉnh dẫn đến gây thiệt hại nặng cho bên Công ty Phú Mỹ, cụ thể là 1.800.000 USD. Vì thế nếu hợp đồng vô hiệu thì Công ty Orange cũng phải có một phần trách nhiệm bồi thường lại một phần cho bên phía của Công ty Phú Mỹ.Câu 5: Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán đối với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện như thế nào khi xác định hợp đồng dịch vụ không vô hiệu? Nội dung xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu như thế nào? Suy nghĩ của anhchị về chủ đề này như thế nào?Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán: “...Nếu Hợp đồng dịch vụ là hợp pháp thì phải buộc Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng cùng tiền lãi suất do chậm thanh toán theo quy định của pháp luật.”Nội dung xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu: Nếu xác định hợp đồng vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ chỉ thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng. Nhưng xác định hợp đồng dịch vụ hợp pháp thì Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng cùng tiền lãi suất do chậm thanh toán theo quy định của pháp luật.Về chủ đề này:Qua đó, em nhận thấy được tầm quan trọng của việc xác định hợp đồng dịch vụ có vô hiệu hay không. Vì mỗi trường hợp sẽ phát sinh những hậu quả pháp lý khác nhau, từ đó có ảnh hưởng không nhỏ đến việc xác định quyền và nghĩa vụ các bên tranh chấp.Câu 6: Trong quyết định số 75, vì sao Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu?Tòa án đã đưa ra quyết định xác định “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” không số giữa bên tặng cho là ông Bùi Tiến Văn, bà Nguyễn Thị Tằm và bên được tặng cho là anh Bùi Tiến Dậu, do UBND xã Đông Tân, huyện Đông Sơn (nay là thành phố Thanh Hóa) chứng thực ngày 2462008 là hợp đồng vô hiệu. Do ông Văn không biết mục đích của hợp đồng mà mình ký với anh Dậu. Ông Văn do tin con, nên đã ký vào hợp đồng mà ký vào hợp đồng mà anh Văn đã lừa cha mình là hợp đồng thế chấp đất cho ngân hàng. Vì thế, theo điều 127 BLDS 2015 thì “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” không số giữa bên tặng cho là ông Bùi Tiến Văn, bà Nguyễn Thị Tằm và bên được tặng cho là anh Bùi Tiến Dậu là vô hiệu. Điều 127 BLDS 2015, giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép:“Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.”Câu 7: Suy nghĩ của anhchị về Tòa án dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu trong quyết định trên? Trong Quyết định số 752012DSGĐT ngày 23022012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao về việc xác định hợp đồng vô hiệu là hoàn toàn đúng đắn, hợp lí. Vì giao dịch dân sự đã vi phạm Khoản 2 Điều 119 BLDS 2015 “Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng kí thì phải tuân theo quy định đó”.Câu 8: Với thông tin trong Quyết định số 75 và pháp luật hiện hành, ông Sanh sẽ được bồi thường thiệt hại bao nhiêu? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời? Theo khoản 2 Điều 131 BLDS 2015: “ Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả”. Ông Sanh sẽ được bồi thường thiệt hại với số tiền là 141.500.000đ bao gồm 160.000.000đ tiền giao dịch chuyển nhượng đất ban đầu và 81.500.000đ giá trị công trình xây dựng trên mảnh đất của vợ chồng anh Nguyễn Văn Dư.Câu 9: Trong bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng nhận cấp cho anh Dậu và ghi nhận ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có là hệ quả của giao dịch dân sự vô hiệu không? Vì sao?Trong bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng nhận cấp cho anh Dậu và ghi nhận ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hệ quả của giao dịch dân sự vô hiệu. Vì trong quá trình ký kết giữa ông Văn và con trai ông là Bùi Tiến Dậu, anh Dậu đã nói với cha mẹ là mượn trích lục đất để thế chấp vay tiền ngân hàng làm ăn. Nhưng nhân lúc vợ chồng ông bà không để ý, anh Dậu đã chuẩn bị sẵn các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và lợi dụng lòng tin của ông Văn để đạt được mục đích. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết, Tòa án đã trưng cầu giám định và kết luận chữ ký, chữ viết họ tên “Nguyễn Thị Tằm” dưới mục đồng sở hữu trên tài liệu cần giám định với chữ ký, chữ viết trên các tài liệu so sánh là không phải do một người ký và viết ra. Nên theo Điều 132 BLDS 2005, giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa:“Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó…”.Tài liệu tham khảo1.Bộ luật Dân sự năm 2005.2.Bộ luật Dân sự năm 2015.3.Án lệ sô 052016

Trang 1

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ,

TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ BÀI THẢO LUẬN LẦN THỨ HAI

Năm học: 2021 - 2022

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP

PHẦN 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN

Trang 3

PHẦN 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH

Tóm tắt bản án 32/2018:

Bản án số 32/2018/DSST ngày 20/12/2018, do Tòa án TP tỉnh Vĩnh Long xét xử về

vụ việc tranh chấp đất giữa nguyên đơn vợ chồng ông J Ph T, bà A Th Ph và bị đơn

là bà L K Đ Vợ chồng nguyên đơn đã 2 lần:

Lần 1: ngày 31/5/2004 mua nền thổ cư 200m2 với giá trị là 60.000.000VNĐ nhưng không có giấy giao tiền còn chữ viết trong giấy xác nhận thì ông bà không ghi rõ là

ai

Lần 2: ngày 02/06/2004 có giấy nhượng quyền đất thổ cư của bà L K Đ thực chất là đất vườn có diện tích 1.05,8m2

Nay nguyên đơn yêu cầu bà L K Đ phải giao căn nhà cấp 4, quyền sử dụng đất có diện tích 1.251,8m2 và toàn bộ cây trồng cho nguyên đơn nhưng bị đơn không đồng

ý Sau khi xem xét tình tiết vụ án thì Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã vô hiệu hóa giấy nhường đất thổ cư ngày 03/06/2004, giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004 và giấy cam kết ngày 16/3/2011 Buộc bà L K Đ phải trả lại số tiền 329.000.000 VNĐ cho bên nguyên đơn (đó là tổng số tiền nguyên đơn đã gửi về để mua đất và xây nhà là 13.950 USD tương đương là 329.000.000 VNĐ) nhưng bà L K Đ đã tự nguyện trả 350.000.000 VNĐ và xin miễn giảm án phí Sau khi trả tiền cho nguyên đơn thì bà Đ vẫn tiếp tục được sự dụng đất và căn nhà cấp 4 cùng với cây trồng trên đất

Câu 1: So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên

Khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 Khoản 1 Điều 117 BLDS 2015

- Người tham gia giao dịch có năng lực

hành vi dân sự;

- Mục đích và nội dung của giao dịch

không vi phạm điều cấm của pháp luật,

không trái đạo đức xã hội;

- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự

nguyện

- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

Trang 4

Điểm khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự ở BLDS 2005 so với BLDS 2015:

- BLDS 2015 có sự thay đổi trong từ ngữ, thay vì dùng “Người” như BLDS

2005, BLDS 2015 đã sử dụng “Chủ thể” Đây là một chủ ngữ có tính bao quát hơn, và khoa học hơn, đồng thời việc sử dụng “chủ thể” sẽ tránh được những hiểu lẩm liên quan đến giao dịch dân sự của các pháp nhân hay các tổ chức

- Ngoài ra, BLDS 2015 quy định cụ thể rằng “năng lực hành vi dân sự phù hợp

với giao dịch dân sự được xác lập” nhằm hạn chế những giao dịch dân sự

không phù hợp với độ tuổi và nhu cầu sinh hoạt của những người chưa thành niên (dưới 6 tuổi, từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi, hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa

đủ 18 tuổi)

Câu 2: Đoạn nào của bản án cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà

ở tại Việt Nam?

Bản án cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam Cụ thể ở đoạn:

“Tuy nhiên giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư 02/6/2004 được lập giữa nguyên đơn và bị đơn L K Đ xét về hình thức thì tờ cho đất thổ cư và

tờ nhường đất thổ cư không tuân thủ theo quy định của pháp luật, không được công chứng, chứng thực theo quy định tại Điều 127 của Luật Đất đai năm 2003 và Điều

117 BLDS nên không phát sinh hiệu lực hợp đồng Hơn nữa ông Ph J T và bà L Th

H là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi thỏa mãn các điều kiện sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sỡ hữu nhà ở tại Việt Nam”

“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được cho phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà riêng lẻ hoặc một căn hộ” do đó ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam vì vậy các giao dịch cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004, giấy cam kết ngày 16/3/2011 bị vô hiệu do vi phạm điều cấm cuả pháp luật và do không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 117, 123,129 của Bộ luật dân sự và căn cứ theo Điều 131

Trang 5

BLDS thì các đương sự phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.”

Câu 3: Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ

đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu?

Tại phiên tòa vị kiểm soát viên phát biểu về việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định pháp luật, về thu thập chứng cứ và mở phiên tòa bảo đảm đúng thủ tục tố tụng Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

- Vô hiệu hóa giấy nhường đất thổ cư ngày 02/06/2004, giấy cho nên thổ cư ngày 31/5/2004 và giấy cam kết ngày 16/3/2011

- Buộc bà L K Đ hoàn trả lại cho ông J Ph T và bà A Th Ph số tiền tổng cộng là 35.000.000 đồng Bà Đ được tiếp tục sử dụng đất và sở hữu căn nhà cấp 4 cùng với cây trồng trên quyền sử dụng đất có diện tích 1.251,8m2, thuộc thửa 28, tờ bản số 15, tọa lạc tại ấp T M, xã T L, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

- Chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, định giá tài sản là 4.395.000 đồng, nguyên đơn chịu 2.197.500 đồng, bị đơn chịu 2.197.000 đồng

- Về án phí: nguyên đơn và bị đơn được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu?

Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là hợp lý vì:

- Do ông T và bà H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ nhưng không thuộc diện có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học, hoặc các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam hay đã về Việt Nam cư trú với thời hạn từ 6 tháng trở lên Dựa theo Luật Nhà ở năm 2005

Vậy nếu xét điều kiện để giao dịch dân sự được xác lập theo điểm a khoản 1 Điều

117 BLDS 2015: “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự

phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” Năng lực pháp luật của hai ông bà không

phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập

Trang 6

PHẦN 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ

NĂNG NHẬN THỨC

Tóm tắt Quyết định số 329/2013/DS-GĐT:

Vụ việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất” giữa ông Hội, bà Hương với vợ chồng ông Hùng bà Trinh Ngày 8/2/2010, ông Hội và bà Hương lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Hùng và vợ là bà Trinh quyền sử dụng thửa đất, diện tích 120m2 Và chị Ánh cho rằng lúc ký hợp đồng mua bán thì ông Hội

đã bị mất năng lực hành vi dân sự nên hợp đồng trên là vô hiệu và nay ông Hội chết, chị yêu cầu hủy hợp đồng để đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế Nhưng về phía bà Hương, bà cho rằng lúc ký kết thì ông Hội vẫn còn ý thức, không mất năng lực hành vi dân sự, nên hợp đồng là đúng theo quy định pháp luật Và theo Tòa án phúc thẩm, công nhận toàn bộ hợp đồng mua bán, theo tòa án sơ thẩm thì hủy hợp đồng mua bán, nhưng cả hai đều không đúng Ngoài ra theo giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất là tài sản chung của ông Hội và bà Hương: do đó bà Hương có quyền định đoạt phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Hương Cuối cùng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử Giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự

sơ thẩm

Câu 1: Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và

từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?

Theo Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao:

- Thực chất năm 2007 ông Hội đã bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được

- Nhưng đến ngày 10/8/2010 Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa tuyên bố cha chị Đặng Thị Kim Ánh là ông Đặng Hữu Hội mất năng lực hành vi dân sự

Câu 2: Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hôi bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?

Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự Ngày 8/2/2010, ông Hội và bà Hương lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Hùng và vợ là bà Trinh quyền sử dụng thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Hội bà Hương, diện tích 120m2 với giá 300.000.000 đ có chứng thực của chính quyền địa phương ngày 9/2/2010 Khi đó,

Trang 7

ông Hội vẫn chưa bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự Đến ngày 7/5/2010, ông Hội

mới bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự

Câu 3: Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dich của ông Hội có vô hiệu không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?

Năm 2007, ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được Đến 10/8/2010 mới tuyên bố ông bị mất năng lực hành vi dân sự vậy theo quy định thì xác lập giao dịch dân sự ông Hội là người có năng lực hành vi dân sự

Theo Tòa án nhân dân tối cao thì phần giao dịch bị vô hiệu mặc dù giao dịch đó được xác lập trước khi ông Hội bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự Bởi lẽ, xét theo

Điều 128 BLDS 2015 “người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch

vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ hành vi thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu”

Như vậy, giao dịch giữa ông Hội bà Hương với vợ chồng ông Hùng bị vô hiệu một phần (phần giao dịch của ông Hội) Vì đây là tài sản chung của ông Hội và bà Hương

do đó bà Hương có quyền định đoạt một phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Hương

Câu 4: Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không

và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết?

Trong thực tiễn xét xử, vụ việc về vấn đề giao dịch xác lập bởi người không có khả năng nhận thức là Bản án số 169/2017/DS-PT xét xử phúc thẩm công khai vụ án

“Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” Nguyên đơn là Nguyễn Văn B (ông B bị mất năng lực hành vi dân sự), người đại diện theo pháp luật là Bà Nguyễn Thị Út T Và bị đơn là Bà Nguyễn Thị T1 Sơ lược về nội dung vụ án: Ngày 30/9/2011, Ông B ký hợp đồng tặng cho bà T1 mảnh đất mà ông được thừa hưởng từ người anh của mình Nhưng bà T lại cho rằng tại thời điểm tặng cho thì ông B đã mất năng lực hành vi dân sự, nên việc ông B tặng mảnh đất cho bà T1 mà không có sự đồng ý của bà T là không hợp pháp Nhưng Tòa án sơ thẩm đã bác bỏ toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Út T là người đại diện theo pháp luật cho ông Nguyễn Văn B

về việc: yêu cầu hộ bà Nguyễn Thị T1 di dời nhà trả lại cho ông Nguyễn Văn B Và

ở phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B, bà T vì bà T cho rằng việc ông B ký vào Hợp đồng để tặng cho bà T1, và cơ quan chuyên môn xác định ông B bị bệnh tâm thần phân liệt, mất năng lực hành vi dân sự Và theo nhận định của tòa phúc thẩm, việc

Trang 8

ông B ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà T1 là không phù hợp nhưng

về nội dung không trái với ý chí của ông B, thể hiện quyền định đoạt về quyền sử dụng đất của ông B

Cuối cùng, quyết định của Tòa án phúc thẩm là không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Út T là người đại diện theo pháp luật cho ông Nguyễn Văn B về việc: yêu cầu hộ bà Nguyễn Thị T1 di dời nhà trả lại phần đất cho ông Nguyễn Văn B Đồng thời, yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn B với bà Nguyễn Thị T1, và công nhận cho bà Nguyễn Thị T1 được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất hiện do bà Nguyễn Thị T1 đứng tên giấy CNQSDĐ

Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp

lý khi đưa ra hướng xử lý

Theo em, hướng xử lí của Tòa án nhân dân tối cao về vụ án: “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở: gắn liền với quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là chị Đặng Thị Kim Ánh với bị đơn là bà Phạm Thị Hương với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lưu Hoàng Phi Hùng, bà Bùi Thị Tú Trinh và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác là hợp lí Tòa án đã quyết định hủy bỏ bản án dân sự phúc thẩm 35/2012/DSPT ngày 10/07/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên với bản án dân sự sơ thẩm số 92/2011/DSST ngày 22/12/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Tuy Hòa là hợp lí theo quy định của pháp luật Tòa cho rằng ở thời điểm bà Hương

ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Hùng thì ông Hội chưa chết và cũng chưa bị tòa tuyên bố trở thành người mất năng lực hành vi dân sự, nên giao dịch dân sự giữa vợ chồng ông Hội và vợ chồng ông Hùng là có hiệu lực một phần theo khoản 1 điều 122 BLDS 2005:

“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”

và theo Điều 133 BLDS 2005 “người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập

giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ hành vi thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu”

Câu 6: Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch

đó có bị vô hiệu không? Vì sao?

Trang 9

Trường hợp thứ nhất, ông Hội mất năng lực hành vi dân sự nhưng chưa được Tòa án tuyên bố thì khi có giao dịch tặng cho thì việc nhận hay không là tùy thuộc vào ý chí của ông Hội

Trường hợp thứ hai, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa quyết định tuyên bố ông Đặng Hữu Hội bị mất năng lực hành vi dân sự kể từ ngày 07/05/2010 Mà theo điểm

a khoản 1 Điều 117 BLDS 2015, giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi đáp ứng điều

kiện “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với

giao dịch dân sự được xác lập”.Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của người bị mất

năng lực hành vi dân sự nên trong điểm b khoản 2 Điều 125 BLDS 2015 có quy định

giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 điều này không bị vô hiệu khi “Giao

dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ” Vì vậy, nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông

Hội thì giao dịch đó không bị vô hiệu do chỉ làm phát sinh quyền cho ông Hội

Trang 10

PHẦN 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI

Tóm tắt Quyết định số 521/2010/DS-GĐT:

Hợp đồng mua bán căn nhà của ông Nguyễn Danh Đô, bà Phạm Thị Thu với bên mua

là bà Trần Thị Phố, là hợp pháp và có hiệu lực Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phố đã trả 230 lượng vàng, còn lại 100 lượng vàng chưa thanh toán Nhưng sau đó, Thế Vinh, con bà Phố, không có thỏa thuận của bà Phố đã hoán nhượng ½ diện tích nhà cho bà Thu sử dụng và không phải trả số vàng còn lại Nhưng sau đó, “Thỏa thuận hoán nhượng” vô hiệu do tình trạng nhà đất có quyết định thu hồi giải tỏa, anh Vinh và những người liên quan đã không thông báo cho bà Thu và ông Đô biết Và Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Phố trả phần tiền còn lại và không tuyên bố giao dịch vô hiệu là không đúng Tòa án phúc thẩm cho rằng thỏa thuận giữa bà Thu và anh Vinh

sẽ được trả bằng ½ số tiền do nhà nước bồi thường do thu hồi, bác bỏ yêu cầu của ông Đô và bà Thu

Tóm tắt Quyết định số 210/2013/DS-GĐT:

Vụ việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn

là bà Châu Thị Nhất và bị đơn là ông Nguyễn Văn Dưỡng, hai vợ chồng đã ly hôn vào tháng 8 năm 2007 Bà Nhất đã khởi kiện và yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nguyên nhân là do ông Dưỡng đã giả mạo chữ ký của

bà để bán phần tài sản chung của vợ chồng trong lúc bà đang xuất khẩu lao động Đài Loan Tòa sơ thẩm đã tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Nhất và ông Thi là

vô hiệu, và buộc ông Dưỡng bồi thường giá trị quyền sử dụng đất Tòa phúc thẩm bác bỏ đơn yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng của bà Ngoài ra, bà Nhất không

có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối vì bà không thuộc một bên tham gia giao dịch và nếu diện tích đất tranh chấp trong ly hôn chưa được giải quyết thì bà không có quyền khởi kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất

vì đây là tài sản chung của hai vợ chồng chưa chia Đồng thời, thời hiệu khởi kiện của bà Nhất cũng đã hết nên không thể làm theo Tòa sơ thẩm

Câu 1: Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS 2005 và BLDS 2015?

Theo Điều 132 BLDS 2005:

- Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có

quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu

Ngày đăng: 17/12/2021, 08:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w