Câu 1 : Phân tích sự phát triển về tư duy của đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội VI đến Đại hội VIII Nền kinh tế thị trường không phải là cái riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu chung của nhân loại: + lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy sản xuất và trao đổi hàng hóa là tiền đề quan trọng của sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường + cntb ko sản sinh ra kinh tế hàng hóa do đó kinh tế thị trường kp là con đẻ của cntb( kinh tế thị trường là sự phát triển cao hơn của kinh tế hàng hóa)
Trang 1đề cương môn đương lối cách mạng của đảng cộng sản việt
nam
hệ thống thông tin quản lý (Đại học Kinh tế Quốc dân)
đề cương môn đương lối cách mạng của đảng cộng sản việt
nam
hệ thống thông tin quản lý (Đại học Kinh tế Quốc dân)
Trang 2Câu 1 : Phân tích sự phát triển về tư duy của đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội VI đến Đại hội VIII
- Nền kinh tế thị trường không phải là cái riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu chung của nhân loại:
+ lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy sản xuất và trao đổi hàng hóa là tiền đề quan trọng của sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường
+ cntb ko sản sinh ra kinh tế hàng hóa do đó kinh tế thị trường kp là con đẻ của cntb( kinh tế thị trường là sự phát triển cao hơn của kinh tế hàng hóa) Kinh tế thị tường còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội : Đại hội VII của Đảng (6-1991) trong khi khẳng định chủ trương tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế quốc dân thống nhất, đã đưa ra kết luận quan trọng rằng sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, nó tồn tại khách quan và cần thiết cho xây dựng xã hội chủ nghĩa Đại hội cũng xác định cơ chế vận hành của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là “cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” bằng pháp luật, kế hoạch chính sách và các công cụ khác Trong cơ chế kinh tế đó, các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, quan hệ bình đẳng, cạnh tranh hợp pháp, hợp tác và liên doanh có hiệu quả, nhà nước quản lý nền kinh tế để định hướng dẫn dắt các thành phần kinh tế, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, nhà nước quản lý nền kinh tế để định hướng dẫn dắt các thành phần kinh tế, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội
Tiếp tục đường lối trên
Đại hội VIII (6-1996) đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
+Kinh tế thị trường không đối lập với chủ nghĩa xã hội, nó còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên CNXH Vì vậy, có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng CNXH ở nước ta
Là thành tựu của văn minh nhân loại, bản thân kinh tế thị trường không có thuộc tính xã hội, vì vậy, kinh tế thị trường có thể sử dụng ở các chế độ xã hội khác nhau
Ở bất kỳ xã hội nào, khi lấy thị trường làm phương tiện có tính cơ sở để phân bổ các nguồn lực kinh tế, thì kinh tế thị trường cũng có những đặc điểm chủ yếu sau: – Chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, lỗ, lãi tự chịu
Trang 3– Giá cả cơ bản do cung cầu điều tiết, hệ thống thị trường phát triển đồng bộ và hoàn hảo
– Nền kinh tế có tính mở cao và vận hành theo quy luật vốn có của kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh
– Có hệ thống pháp quy kiện toàn và sự quản lý vĩ mô của Nhà nước
Với những đặc điểm trên, kinh tế thị trường có vai trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội
Câu 2: Trình bày nội dung và ý nghĩa chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng Cộng Sản Việt Nam
- Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược:
- Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được từng bước hoàn chỉnh qua ba hội nghị:
+ Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 6 (11-1939) mở đầu sự chuyển hướng
+ Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 7 (11-1940) tiếp tục bổ sung nội dung chuyển hướng
+ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (5-1941)hoàn chỉnh nội dung chuyển hướng
- Nội dung cơ bản chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
+ Đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu: mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta đòi hỏi được giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, phát xít Pháp-Nhật Ban Chấp hành Trung ương quyết định tạm gác khẩu hiệu “Đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” bằng khẩu hiệu “Tịch thu ruộng đất của bọn
đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo”, “Chia lại ruộng đất công cho công bằng và giảm tô, giảm tức”…
+ Thành lập Việt Nam Độc lập đồng minh (còn gọi là Việt Minh) để đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc thay cho hình thức mặt trận trước đó; đổi tên các hội phản đế thành hội cứu quốc
+ Xác định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng
và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại; ra sức phát triển lực lượng cách mạng (bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang), xúc tiến xây dựng căn cứ địa cách mạng
Trang 4+ Xác định phương châm và hình thái khởi nghĩa ở nước ta: lãnh đạo cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương giành thắng lợi mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn
+ Chú trọng công tác xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng, đồng thời chủ trương gấp rút đào tạo cán bộ cho cách mạng và đẩy mạnh công tác vận động quần chúng
- Ý nghĩa:
- Quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được hoàn thành góp phần giải quyết mục tiêu hàng đầu của mạng Việt Nam là độc lập dân tộc, đưa ra những chủ trương, sự chỉ đạo đúng đắn để thực hiện mục tiêu đó
- Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược giúp cho nhân dân ta có đường chỉ đạo để tiến lên thắng lợi trong nghiệp vụ đánh Pháp, đuổi Nhật, độc lập cho dân tộc và tự làm cho nhân dân
- Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng giúp công việc chuẩn bị độc lập dân tộc diễn ra sôi nổi ở các địa phương và cả nước, cổ vũ thúc đẩy mạnh mẽ phong cách mạng của quần chúng đấu tranh tranh chính quyền + Lực lượng cách mạng tích cực xây dựng các tổ chức quản lý quần áo của
họ, đẩy nhanh việc phát triển lực lượng chính và phong trào đấu tranh của quần áo họ
+ Đảng chỉ đạo vũ trang cho họ cách mạng, từng bước xây dựng lực lượng
vũ trang nhân dân làm cơ sở đưa ra đời Việt Nam Giải phóng quân sau này + Đảng Cộng sản Đông Dương cũng chỉ đạo thiết lập các chiến khu và căn
cứ địa chỉ mạng, tiêu biểu là căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai và căn cứ Cao Bằng Câu 3: trình bày công lao to lớn của đồng chí Nguyễn Ái Quốc trong thời kỳ thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy và lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc ta.
Từ cuối thế kỷ XIX, do sự bất lực của triều đình nhà Nguyễn, Việt Nam từ một quốc gia độc lập, thống nhất có chủ quyền bị thực dân Pháp xâm lược
và biến thành thuộc địa Chế độ cai trị độc tài và chuyên chế đã làm cho xã hội Việt Nam biến đổi toàn diện, mạnh mẽ, với sự lệ thuộc, lạc hậu của xã hội và sự bần cùng của đại đa số dân cư đã có rất nhiều phong trào giành độc lập được nổ ra tuy nhiên đã đẫn đến thất bại
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại của các phong trào yêu nước, song nguyên nhân chính là thiếu lực lượng lãnh đạo, chưa có hệ tương tưởng khoa
Trang 5học dẫn đường, chưa có lý luận và đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo
và nhất là chưa có một tổ chức lãnh đạo đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Sự thất bại của các phong trào yêu nước thể hiện
sự khủng hoảng, bế tắc của các phương cách cứu nước truyền thống Việt Nam trước sự chuyển biến của thời cuộc Song sự thất bại đó không hề vô ích, nó là động lực thôi thúc ý chí vươn lên sáng tạo của con người Việt Nam, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp bách phải có một ánh sáng mới soi
đường, dẫn dắt
Trải qua gần 10 năm nghiên cứu, khảo nghiệm, học tập, tìm tòi, hoạt động không ngừng ở nhiều quốc gia, ở hầu khắp các châu lục Tháng 7/1920, lần đầu tiên Người đọc: Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân Đạo (L’Humanite), số
ra ngày 16 và 17/7/1920 Luận cương lập tức thu hút sự chú ý đặc biệt của Nguyễn Ái Quốc Người tìm thấy ở đó con đường đi đúng đắn giải phóng đất nước khỏi ách thực dân, cứu dân cứu nước là theo con đường cách mạng
vô sản, con đường có mục đích cao cả là giải phóng dân tộc để tiến tới giải phóng con người
- Nguyễn Ái Quốc tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong nước và chuẩn bị những điều kiện cho sự thành lập Đảng.
Bằng nhiều hoạt động, trong giai đoạn 1921 - 1929, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị
về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng:
Về chính trị: Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong
nước
Về tư tưởng: Nguyễn Ái Quốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin
vào Việt Nam nhằm làm chuyển biến nhận thức của quần chúng, đặc biệt là giai cấp công nhân, làm cho hệ tư tưởng Mác - Lênin từng bước chiếm ưu thế trong đời sống xã hội
Về tổ chức: Nguyễn Ái Quốc đã dày công chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra
đời của chính đảng vô sản của giai cấp công nhân Việt Nam
- Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Từ ngày
06/01/1930 đến ngày 07/02/1930, tại Cửu Long – Hồng Công (Trung
Quốc), Hội nghị hợp nhất đã được tiến hành dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc Tham dự Hội nghị có các đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng (2 đại biểu) và An Nam Cộng sản Đảng (2 đại biểu) và 2 đại biểu hải ngoại (Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn) Còn Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã thành lập, song chưa có liên hệ, nên chưa được triệu tập đại biểu đến dự (và
Trang 6ngày 24/02/1930, tổ chức này được hợp nhất vào Đảng Cộng sản Việt Nam)
Câu 4 : Trong thời kỳ 1945-1946 tại sao Đảng ta lại xác đinh thực dân Pháp là kẻ thù chính? Đảng ta đã có sách lược cụ thể nào để ứng phó với từng kẻ thù?Ý nghĩa của đường lối đó?
- Sau khi cách mạng tháng 8 thành công nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới ra đời đã phải đối đầu với nhiều kẻ thù cả trong và ngoài nước Ở Bắc Việt Nam là hơn 20 vạn quân tưởng, còn ở miền nam lại chỉ có hơn 2 vạn liên quân Anh và Pháp ( Anh dọn đường cho Pháp tiếp tục trở lại xâm lược Việt Nam) , bên cạnh đó trên cả nước còn hơn 6 vạn quân Nhật Do việc quân đồng minh vào giải rác phát xít ở Việt Nam là theo thỏa thuận của các nước thắng trận, theo thỏa thuận thì tưởng sẽ vào miền bắc đứng đằng sau là
mĩ , anh sẽ vào miền nam mà núp sau là pháp và pháp lại rất muốn quay trở lại xâm lược Việt Nam do đó chúng đã thỏa thuận với anh để pháp thay anh giải rác phát xit nhật mà thực chất là chúng có dã tâm quay trở lại xâm lược nước ta còn tưởng ở miền bắc chỉ làm nhiệm vụ giải rác quân nhật, chúng cũng có dã tâm muốn xâm lược nước ta nhưng không có cơ sở vì vậy việc pháp quay trở lại nước ta là tất yếu và sẽ là kẻ thù chính của cách mạng
- Đảng và Chính phủ chủ trương hoà hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc, tránh cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù
- Biện pháp:
- Chấp nhận một số yêu sách về kinh tế, tài chính của quân đội Trung Hoa Dân quốc như: cung cấp một phần lương thực, thực phẩm, phương tiện giao thông, chấp nhận lưu hành tiền quan kim và quốc tệ trên thị trường Việt Nam
- Đồng ý nhường cho Việt Quốc, Việt cách 70 ghế trong Quốc hội và 4 ghế trong Chính phủ liên hiệp mà không qua bầu cử Mặt khác, chính quyền cách mạng dựa vào quần chúng đã kiên quyết vạch trần âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại của các thế lực phản động Những kẻ phá hoại có đủ bằng chứng thì bị trừng trị theo pháp luật
Trang 7- Đảng rút vào hoạt động bí mật với danh nghĩa “tự giải tán” (11/11/1945), để tránh mũi nhọn tiến công của kẻ thù
quân Trung Hoa Dân quốc và tay sai, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng; tạo điều kiện củng cố chính quyền, tập trung kháng chiến chống Pháp ở miền Nam
- Thể hiện một nghệ thuật mỹ quan tài tình của chủ tình Hồ Chí Minh đã nhìn
rõ thế cục điện của Trung Hoa Dân Quốc lúc bấy giờ
Hoà hoãn với Pháp( sau 6/3/1946)
- Sau khi chiếm đóng các đô thị ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp thực hiện kế hoạch tiến quân ra Bắc nhằm thôn tính cả nước Việt Nam
- Ở Trung Quốc, lực lượng cách mạng phát triển mạnh, nên Trung Hoa Dân quốc cần rút quân ở Đông Dương về để đối phó Các thế lực đế quốc do Mĩ cầm đầu vừa muốn tiêu diệt cách mạng Trung Quốc, lại vừa muốn chống cách mạng Việt Nam
- Các thế lực đế quốc đã thu xếp công việc nội bộ, kết quả là Chính phủ Pháp
và Chính phủ Trung Hoa Dân quốc kí Hiệp ước Hoa – Pháp (tháng 2/1946), thoả thuận việc quân Pháp ra Bắc thay quân Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm
vụ giải giáp quân Nhật
- –Hiệp ước trên đặt nhân dân Việt Nam trước sự lựa chọn: hoặc phải đánh hai
kẻ thù (cả Pháp và Trung Hoa dân quốc); hoặc là hoà hoãn, nhân nhượng với Pháp
- Để tránh tình trạng phải đối phó một lúc với nhiều kẻ thù, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chọn giải Pháp “Hoà để tiến” Vào thời điểm đó, Pháp cũng cần hoà với Việt Nam để có thể đưa quân ra miền Bắc một cách dễ dàng và kéo dài thời gian chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh xâm lược quy
mô lớn
- Ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kí với G Xanhtơni, đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ:
Trang 8- Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do , có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong Liên bang Đông Dương, thuộc khối Liên hiệp Pháp
- Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc làm nhiệm
vụ giải giáp quân Nhật và rút dần trong thời hạn 5 năm
- Hai bên ngừng mọi xung đột ở miền Nam đi đến cuộc đàm phán chính thức
- Việt Nam và Pháp tiếp tục đàm phán ở Hội nghị trù bị Đà Lạt (4 – 1946) và Hội nghị Phôngtennơblô (7 – 1946), nhưng không thu được kết quả gì
- Ngày 14/9/1946, Hồ Chí Minh kí với chính phủ Pháp bản Tạm ước, nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hoá
- Loại bỏ bớt kẻ thù, tránh được tình thế bất lợi phải chiến đấu với nhiều kẻ thù một lúc
- Tạo thêm thời gian hoà bình để củng cố chính quyền cách mạng, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài
- Tỏ rõ thiện chí hoà bình của Chính phủ và nhân dân Việt Nam
Câu 5: Phân tích quá tình đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa hiện đại hóa từ năm 1986 đến nay?
Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) phê phán sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa thời kỳ 1960 – 1985
Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội VI của Đảng đã nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa Đó là:
– Sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất –
kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, v.v… Muốn xóa bỏ những bước đi cần thiết nên đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa
có đủ các tiền đề cần thiết, mặt khác chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế – Trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư: thiên về công nghiệp nặng và những công trình quy mô lớn, không tập trung
Trang 9sức giải quyết các vấn đề căn bản về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Kết quả là đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thấp
– Không thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết Đại hội V: chưa thật sự coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, công nghiệp nặng không phục vụ kịp thời nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hóa từ Đại hội VI đến Đại hội X
– Đại hội VI của Đảng đã cụ thể hóa nội dung chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên thời kỳ quá
độ là thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
– Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 1/1994) có bước đột phá mới, trước hết ở nhận thức về khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ
sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên
sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ của khoa học – công nghệ, tạo ra năng xuất lao động xã hội cao”
– Đại hội VIII của Đảng (tháng 6/1996) nhận định nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ
là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đại hội nêu sáu quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và định hướng những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa những năm còn lại của thế kỷ
XX Sáu quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa là:
+ Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế; đa phương hóa,
đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài; xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả
+ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo
+ Lấy việc phát huy yếu tố con người làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh, bền vững; động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không
Trang 10ngừng tăng cường tích lũy cho đầu tư và phát triển; tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường
+ Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định
+ Lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển; lựa chọn dự án đầu tư công nghệ; đầu tư chiều sâu để khai thác tối
đa năng lực hiện có; trong phát triển mới, ưu tiên qui mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo việc làm, thu hồi vốn nhanh,…
+ Kết hợp kinh tế với quốc phòng
– Đại hội IX (tháng 4/2001) và Đại hội X (tháng 4/2006) của Đảng tiếp tục bổ sung và nhấn mạnh một số điểm mới về công nghiệp hóa:
+ Con đường công nghiệp hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước Đây là yêu cầu cấp thiết của nước ta nhằm sớm thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Cần thực hiện các yêu cầu sau: phát triển kinh tế và công nghệ phải vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt; phát huy những lợi thế của đất nước, gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa, từng bước phát triển kinh tế tri thức; phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam, đặc biệt coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xem đây là nền tảng và động lực cho công nghệp hóa
+ Hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là phát triển nhanh và có hiệu quả các sản phẩm, các ngành, các lĩnh vực có lợi thế, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
+ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
+ Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Câu 6: Trình bày đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của Đảng thời kỳ 1946-1954 Nêu rõ ý nghĩa của các đường lối đó
-Tính chất của cuộc kháng chiến lúc này vẫn là “cuộc cách mạng dân tộc giải phóng.cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nc chưa đc hoàn toàn độc lập”