VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM SAU THÁNG 71954 1.1 Tình hình thế giới sau tháng 71954 Trên vũ đài chính trị quốc tế những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ II, một hệ thống xã hội mới xuất hiện với hàng loạt nước dân chủ nhân dân chọn con đường phát triển theo chủ nghĩa xã hội mà Liên Xô là một hình mẫu lớn. Cũng sau chiến tranh thế giới lần II, phong trào giải phóng dân tộc ở Á Phi Mỹ Latinh phát triển thành cơn bão táp cách mạng, phá vỡ từng mảng thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Những cuộc đấu tranh vũ trang, những lực lượng cách mạng chiếm ưu thế trong dân tộc, xu hướng độc lập dân chủ hòa bình trung lập… Chiến tranh thế giới qua đi, chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt, nhiều nước đế quốc, cả thắng trận và bại trận đều bị tàn phá nghiêm trọng, nhưng đế quốc Mỹ lại trở nên giàu có hơn bao giờ hết. Là một trong những nước lớn góp phần quyết định vào thắng lợi của phe Đồng minh trong chiến tranh, lại là nước giàu mạnh nhất sau chiến tranh, Hoa Kỳ đã giương lên ngọn cờ sen đầm quốc tế và muốn áp đặt tự do kiểu Mỹ ở khắp nơi trên thế giới. Chiến lược toàn cầu của Mỹ phản ánh một tham vọng muốn xác lập sức mạnh của đế quốc Hoa Kỳ trên tất cả mọi khu vực của thế giới. Chiến lược toàn cầu của Mỹ sử dụng 3 phương thức chủ yếu: chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang và thực hiện chủ nghĩa thực mới. Chiến tranh lạnh, và chạy đua vũ trang tạo ra sự đối đầu giữa hai hệ thống thế giới, Mỹ sẽ lôi kéo các nước phe Mỹ vào cuộc chiến chống Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa; chủ nghĩa thực dân mới sẽ thay thế lối thống trị thuộc địa mà phương Tây nay đã lỗi thời. Ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Mỹ đã triển khai chiến lược toàn cầu từ rất sớm, trong đó Việt Nam là một trong những trọng điểm. Việt Nam nằm trong khu vực có tiềm năng lớn về kinh tế vì rất giàu khoáng sản, nguyên nhiên liệu, lại có nguồn nhân lực lao động dồi dào. Việt Nam còn có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự cho cả vùng Đông Nam Á. Đất liền nối với nhiều quốc gia và đi sâu vào tận miền Trung Á. Biển có những đảo và hải cảng không những thuận tiện giao thông, mà còn có khả năng khống chế cả vùng rộng lớn. Việt Nam lại là tiêu điểm của phong trào giải phóng dân tộc đang sôi sục ở châu Á. Thuận lợi: Hệ thống xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự, khoa học — kỹ thuật, nhất là của Liên Xô; phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển ở châu Á, châu Phi vả khu vực Mỹ latinh; phong trào hòa bình, dân chủ lên cao ở các nước tư bản chủ nghĩa. Khó khăn: Đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, âm mưu làm bá chủ thế giới với các chiến lược toàn cầu phản cách mạng; thế giới buớc vào thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc. 1.2 Tình hình trong nước sau tháng 71954 Sau Cách Mạng Tháng Tám khi Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời, cục diện chính trị trên bán đảo Đông Dương thay đổi lớn, bất lợi cho chủ nghĩa đế quốc. Đã có sự tập hợp các lực lượng phản cách mạng chống lại lượng cách mạng, nhưng chúng đã không thành công. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi với việc giải phóng nửa nước ở miền Bắc, đi lên chủ nghĩa xã hội. Sau Hiệp định Gioneve 1954, đất nước Việt Nam bị chia làm hai miền. Cuộc chuyển quân tập kết đã làm thay đổi tình hình. Lực lượng cách mạng đang phát triển thuận lợi trên phạm vi toàn cục, nay tập trung ra miền Bắc, thế và lực lượng cách mạng lớn mạnh ở miền Bắc nhưng vô cùng bất lợi ở miền Nam. Trong khi đó lực lượng Pháp và các phe phái chính trị phản động trên toàn quốc dồn cả về miền Nam, mang theo tâm trạng thua cuộc, hận thù, muốn tìm chỗ dựa mới, đó là cơ hội để Mỹ nhảy vào miền Nam hất cẳng Pháp, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới. Chúng ta đã thực hiện nghiêm chỉnh những điều khoản quy định về đình chiến, tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực. Nhưng phía Pháp chỉ thực hiện khi có những đấu tranh mạnh mẽ và kiên quyết của nhân dân ta. Ngày 10101954, quân Pháp rút khỏi Hà Nội. Cùng ngày, quân ta tiến vào tiếp quản. Thủ đô giải phóng rợp cờ, hoa, biểu ngữ, vang dậy tiếng hoan hô của đồng bào mừng đón đoàn quân chiến thắng trở về. Ngày 111955, tại quảng trường Ba Đình lịch sử đã diễn ra cuộc mít tinh trọng thể của hàng chục vạn nhân dân Hà Nội chào mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về Thủ đô. Ngày 1651955, toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi Hải Phòng, và đến ngày 2251955 thì rút khỏi đảo Cát Bà. Miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng. Khi rút quân, Pháp mang theo hoặc trước đó đã phá hỏng nhiều máy móc, thiết bị, tài sản để gây khó khăn cho ta. Pháp còn cùng với Mỹ và Ngô Đình Diệm chỉ đạo bọn phản động tiến hành dụ dỗ, cưỡng ép nhiều đồng bào công giáo vào Nam để thực hiện ý đồ phung phá cách mạng về sau. Với những hoạt động xây dựng chủ nghĩa thực dân mới, tấn công đánh phá lực lượng và phong trào cách mạng, trong mấy năm 1954 1959 Mỹ Diệm đã biến miền Nam Việt Nam từ một chiến trường chống chủ nghĩa thực dân thành một chiến trường phản kích lại các lực lượng cách mạng. Âm mưu chiến lược của Mỹ là biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự, một bàn đạp để tấn công miền Bắc và phe xã hội chủ nghĩa từ phía Nam, ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản đang lan tràn xuống vùng Đông Nam Á. Ngày 2371954, ngoại trưởng Mỹ Đa lét (Dulles) tuyên bố: Từ nay về sau, vấn đề bức thiết không phải là than tiếc dĩ vãng, mà là lợi dụng thời cơ để việc thất thủ miền Bắc Việt Nam không mở đường cho chủ nghĩa cộng sản bành trướng ở Đông Nam Á và Tây Nam Thái Bình Dương. Tháng 91954, Mỹ lôi kéo được một số đồng minh như Pháp, Anh... và một số nước Đông Nam Á lập ra khối Liên minh quân sự Đông Nam Á (SEATO) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này. Chính quyền Ngô Đình Diệm, với sự giúp đỡ và có sự chỉ đạo của Mỹ, ra sức phá hoại Hiệp định Gionevo, từ chối hiệp thương với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà về việc tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất Việt Nam trong thời hạn hai năm theo điều khoản của Hiệp định. Đến hạn hai năm, tháng 71956, Diệm tuyên bố. Sẽ không có hiệp thương tổng tuyển cử, vì chúng ta không ký Hiệp định Giơnevơ, bất cứ phương diện nào chúng ta cũng không bị ràng buộc bởi Hiệp định đó. Bằng một loạt hành động trái với hiệp định, như bầy trò trưng cầu dân ý để phế truất Bảo Đại rồi suy tôn Ngô Đình Diệm làm Tổng thống (tháng 101955), tổ chức bầu cử riêng rẽ, lập quốc hội lập hiến (tháng 5 1956), ban hành hiến pháp của cái gọi là Việt Nam cộng hoà (tháng 101956), Diệm đã trắng trợn từ chối và phá hoại việc thống nhất Việt Nam. Mỹ đã thi thố ở Việt Nam 4 chiến lược chiến tranh, ứng dụng từ 3 lần thay đổi chiến lược toàn cầu, do 5 đời tổng thống kế tiếp nhau thực hiện từ năm 1953 đến năm 1975. Đó là sự lựa chọn đúng nơi, đúng lúc, đúng đối tượng tiến hành chiến tranh của Mỹ. Chưa bao giờ Mỹ huy động được sức mạnh của cả nước Mỹ cùng các nước phe Mỹ, trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và quân sự như là trong thời kỳ họ tiến hành chiến tranh Việt Nam. Ý chí và quyết tâm của Mỹ khi đánh Việt Nam không phải chỉ nhằm khuất phục một dân tộc, dập tắt một ngọn lửa đấu tranh vì độc lập tự do, mà còn nhằm đe dọa nhiều nước khác, đồng thời thể nghiệm sức mạnh của Hoa Kỳ trong nửa cuối thế kỷ XX. Cách mạng Việt Nam vừa giành thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến 9 năm chống chủ nghĩa thực dân Pháp, nay lại đứng trước kẻ thù mới vừa lớn mạnh vừa đầy tham vọng. Đất nước bị tạm thời chia cắt làm hai miền, có hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Nửa nước ở miền Bắc được giải phóng và có lực lượng cách mạng của cả nước tập trung về. Do đó niềm Bắc có nhiệm vụ phải nhanh chóng hoàn thành nốt những nhiệm vụ còn lại của Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để bước tiếp sang cuộc cách mạng mới, đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội. Nửa nước còn lại ở miền Nam chưa được giải phóng, cách mạng lại bị mất thế lực, quần chúng nhân dân đang tiếp tục bị khủng bố đàn áp. Vì thế miền Nam có nhiệm vụ phải gây dựng lại lực lượng và phong trào cách mạng, tiếp tục cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để giải phóng miền Nam, giành tự do độc lập. Đặc điểm đó đòi hỏi Đảng ta phải đề ra được đường lối cách mạng phù hợp với đặc điểm của tình hình mới và thời đại để đưa cách mạng Việt Nam tiến lên.
Trang 1-BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
KHOA ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO
MÔN HỌC: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
TIỂU LUẬN
VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP
LÝ
GVHD: ThS Nguyễn Thị Tuyết Nga SVTH: MSSV
Đỗ Hồng Quân 19161049
Vũ Đức Thoại 19161029
Vũ Ngọc Phương Nam 19161039
Nguyễn Phúc Tiến 19161030
Lớp thứ 6 – Tiết 1 2 GELA220405E_20_2_01CLC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
KHOA ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO
Lớp thứ 6 – Tiết 1 2 GELA220405E_20_2_01CLC
Tp Hồ Chí Minh, 4 tháng 1 năm 2021
Trang 3ĐIỂM SỐ
ĐIỂM
NHẬN XÉT
Ký tên
Trang 4BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ THỨ
1 Phụ trách chương
1, thuyết trình Đỗ Hồng Quân Hoàn thành tốt
2 Phụ trách chương 2 Trần Quang Thiện Hoàn thành tốt
3 Phụ trách chương 3 Phạm Huỳnh Minh
Khanh Hoàn thành tốt
4 Phụ trách
powerpoint Vũ Ngọc Phương Nam Hoàn thành tốt
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận 3
6 Kết cấu của tiểu luận 4
CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM SAU THÁNG 7/1954 5
1.1 Tình hình thế giới sau tháng 7/1954 5
1.2 Tình hình trong nước sau tháng 7/1954 6
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM SAU THÁNG 7-1954 10
2.1 Quá trình hình thành 10
2.2 Nội dung đường lối 12
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN 1954 - 1964 14
3.1 Kết quả của đường lối 14
3.2 Ý nghĩa của đường lối 14
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng là thiên anh hùng ca vĩđại của chiến tranh Việt Nam trong thế kỷ XX, là một trong những trang chói lọitrong lịch sử của nhân dân cách mạng thế giới chống chủ nghĩa đế quốc thời đạingày nay.Các cuộc chiến tranh đó đi qua để lại bao đau thương và mất mát Aicũng biết hậu quả chiến tranh là to lớn biết bao Cho dù đó là chiến tranh phinghĩa hay chiến tranh chính nghĩa thì đất nước đó cũng hứng chịu những tổn thấtnặng nề Song, không phải đất nước nào cũng có quyền chọn cho mình nền hòabình, tự do Có những lúc họ không muốn chiến tranh, nhưng họ buộc phải chiếnđấu cho nền độc lập nước nhà Và Việt Nam - đất nước chúng ta rơi vào tình thế
đó
Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ đi qua, chúng ta không khỏikinh hoàng trước những con số thiệt hại cả về người và của Bây giờ chúng tađang hưởng nền hòa bình, chúng ta đang độc lập Song, điều đó không có nghĩa
là chúng ta quên quá khứ, bởi lẽ không có quá khứ sẽ không có hiện tại và tươnglai Chúng ta đã chiến đấu anh dũng trong các cuộc kháng chiến Chúng ta cónhững người lãnh đạo tài giỏi, chúng ta có Đảng lãnh đạo tài tình, chúng ta có sựđoàn kết đồng lòng của dân tộc và chúng ta đã chiến thắng Có rất nhiều yếu tố
để tạo nên thắng lợi vẻ vang trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ,nhưng ở đây tôi xin nêu ra một trong những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi trongcác cuộc kháng chiến mà ít ai nghĩ đến đó là “nghệ thuật lãnh đạo”.
Các chiến lược chiến tranh “chống nổi dậy” với những âm mưu vô cùngthâm độc, hiểm ác mà chỉ có Mỹ mới nghĩ ra, kết hợp cùng những phương tiệnchiến tranh tiên tiến nhất, hiện đại nhất, vũ khí có khả năng hủy diệt nhất nhằm
đè bẹp các lực lượng cách mạng ở Việt Nam Nhưng với một quyết tâm sắt đá vàkhí thế cách mạng nóng bỏng: “ Thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu
Trang 82 Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận
Mục đích
Tìm hiểu bối cảnh lịch sử của cách mạng Việt Nam sau cuộc kháng chiếnchống Pháp
Phân tích “ nghệ thuật lãnh đạo” của Đảng và sự đồng lòng của cả dân tộc
để giành thắng lợi, độc lập cho đất nước giai đoạn 1954-1964
Trên cơ sở đó đưa ra kết luận cũng như ý nghĩa của giai đoạn 1954-1964đối với chiến thắng lịch sử 30-4-1975
Thể hiện những đường lối đúng đắn của Đảng
Trang 9Trình bày nội dung của đường lối từ đó đưa ra đánh giá cũng như ý nghĩacủa đường lối
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận
Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về đường lối của Đảng trong giai đoạn 1954-1964
và Đại hội lần III của Đảng, tiểu luận tập trung vào làm sáng tỏ tư tưởng chiếnlược của Đảng cùng với sự đồng lòng của nhân dân cả nước trong công cuộc xâydựng và đấu tranh giành độc lập
Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận tập trung nghiên cứu Đường lối của Đảng trong giai đoạn
1954-1964 và những nội dung trong Đại hội lần III của Đảng
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh; các quan điểm, chủ trương, đường lối củaĐảng và Nhà nước
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng hai phương pháp nghiêncứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Bên cạnh đó, tác giảcòn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp phân tích, phương pháptổng hợp, phương pháp so sánh
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận
Tiểu luận góp phần cung cấp và làm rõ hơn những nội dung cơ bản trongđường lối của Đảng 1954-1964 và những nội dung trong Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ III (9-1960) Phục vụ cho các cơ quan, đơn vị và cá nhân có nhucầu tìm hiểu về các nội dung này
Trang 10Trình bày sâu sắc, có hệ thống quá trình Đảng lãnh đạo cả 2 miền tronggiai đoạn 1954-1964 Góp phần vào việc nghiên cứu, tổng kết lịch sử quá trìnhhình thành và phát triển của Đảng giai đoạn này
6 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, tiểu luậnđược chia làm 3 chương
Chương 1: Bối cảnh lịch sử của cách mạng việt nam sau tháng 7/1954Chương 2: Quá trình hình thành đường lối kháng chiến của Đảng
Chương 3: Nội dung, ý nghĩa đường lối kháng chiến của Đảng
Trang 11CHƯƠNG 1
BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM SAU THÁNG
7/1954 1.1 Tình hình thế giới sau tháng 7/1954
Trên vũ đài chính trị quốc tế những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ
II, một hệ thống xã hội mới xuất hiện với hàng loạt nước dân chủ nhân dân chọncon đường phát triển theo chủ nghĩa xã hội mà Liên Xô là một hình mẫu lớn.Cũng sau chiến tranh thế giới lần II, phong trào giải phóng dân tộc ở Á - Phi -
Mỹ La-tinh phát triển thành cơn bão táp cách mạng, phá vỡ từng mảng thuộc địacủa chủ nghĩa đế quốc Những cuộc đấu tranh vũ trang, những lực lượng cáchmạng chiếm ưu thế trong dân tộc, xu hướng độc lập - dân chủ - hòa bình - trunglập…
Chiến tranh thế giới qua đi, chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt, nhiều nước đếquốc, cả thắng trận và bại trận đều bị tàn phá nghiêm trọng, nhưng đế quốc Mỹlại trở nên giàu có hơn bao giờ hết Là một trong những nước lớn góp phầnquyết định vào thắng lợi của phe Đồng minh trong chiến tranh, lại là nước giàumạnh nhất sau chiến tranh, Hoa Kỳ đã giương lên ngọn cờ sen đầm quốc tế vàmuốn áp đặt tự do kiểu Mỹ ở khắp nơi trên thế giới
Chiến lược toàn cầu của Mỹ phản ánh một tham vọng muốn xác lập sứcmạnh của đế quốc Hoa Kỳ trên tất cả mọi khu vực của thế giới Chiến lược toàncầu của Mỹ sử dụng 3 phương thức chủ yếu: chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang
và thực hiện chủ nghĩa thực mới Chiến tranh lạnh, và chạy đua vũ trang tạo ra
sự đối đầu giữa hai hệ thống thế giới, Mỹ sẽ lôi kéo các nước phe Mỹ vào cuộcchiến chống Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa; chủ nghĩa thực dân mới sẽ thaythế lối thống trị thuộc địa mà phương Tây nay đã lỗi thời
Trang 12Ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ đã triển khai chiến lược toàncầu từ rất sớm, trong đó Việt Nam là một trong những trọng điểm Việt Namnằm trong khu vực có tiềm năng lớn về kinh tế vì rất giàu khoáng sản, nguyênnhiên liệu, lại có nguồn nhân lực lao động dồi dào Việt Nam còn có vị trí chiếnlược quan trọng về quân sự cho cả vùng Đông Nam Á Đất liền nối với nhiềuquốc gia và đi sâu vào tận miền Trung Á Biển có những đảo và hải cảng khôngnhững thuận tiện giao thông, mà còn có khả năng khống chế cả vùng rộng lớn.Việt Nam lại là tiêu điểm của phong trào giải phóng dân tộc đang sôi sục ở châuÁ
Thuận lợi:
Hệ thống xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự, khoahọc — kỹ thuật, nhất là của Liên Xô; phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục pháttriển ở châu Á, châu Phi vả khu vực Mỹ latinh; phong trào hòa bình, dân chủ lêncao ở các nước tư bản chủ nghĩa
Khó khăn:
Đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, âm mưu làm bá chủthế giới với các chiến lược toàn cầu phản cách mạng; thế giới buớc vào thời kỳchiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủnghĩa; xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là giữa Liên
Xô và Trung Quốc
1.2 Tình hình trong nước sau tháng 7/1954
Sau Cách Mạng Tháng Tám khi Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa - nhà nướccông nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời, cục diện chính trị trên bán đảo ĐôngDương thay đổi lớn, bất lợi cho chủ nghĩa đế quốc Đã có sự tập hợp các lựclượng phản cách mạng chống lại lượng cách mạng, nhưng chúng đã không thànhcông Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi với việcgiải phóng nửa nước ở miền Bắc, đi lên chủ nghĩa xã hội
Trang 13Sau Hiệp định Gioneve 1954, đất nước Việt Nam bị chia làm hai miền.Cuộc chuyển quân tập kết đã làm thay đổi tình hình Lực lượng cách mạng đangphát triển thuận lợi trên phạm vi toàn cục, nay tập trung ra miền Bắc, thế và lựclượng cách mạng lớn mạnh ở miền Bắc nhưng vô cùng bất lợi ở miền Nam.Trong khi đó lực lượng Pháp và các phe phái chính trị phản động trên toàn quốcdồn cả về miền Nam, mang theo tâm trạng thua cuộc, hận thù, muốn tìm chỗ dựamới, đó là cơ hội để Mỹ nhảy vào miền Nam hất cẳng Pháp, thực hiện chủ nghĩathực dân mới.
Chúng ta đã thực hiện nghiêm chỉnh những điều khoản quy định về đìnhchiến, tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực Nhưng phía Pháp chỉ thựchiện khi có những đấu tranh mạnh mẽ và kiên quyết của nhân dân ta Ngày 10-10-1954, quân Pháp rút khỏi Hà Nội Cùng ngày, quân ta tiến vào tiếp quản Thủ
đô giải phóng rợp cờ, hoa, biểu ngữ, vang dậy tiếng hoan hô của đồng bào mừngđón đoàn quân chiến thắng trở về Ngày 1-1-1955, tại quảng trường Ba Đình lịch
sử đã diễn ra cuộc mít tinh trọng thể của hàng chục vạn nhân dân Hà Nội chàomừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về Thủ đô Ngày16-5-1955, toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi Hải Phòng, và đến ngày 22-5-1955thì rút khỏi đảo Cát Bà Miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng
Khi rút quân, Pháp mang theo hoặc trước đó đã phá hỏng nhiều máy móc,thiết bị, tài sản để gây khó khăn cho ta Pháp còn cùng với Mỹ và Ngô ĐìnhDiệm chỉ đạo bọn phản động tiến hành dụ dỗ, cưỡng ép nhiều đồng bào cônggiáo vào Nam để thực hiện ý đồ phung phá cách mạng về sau Với những hoạtđộng xây dựng chủ nghĩa thực dân mới, tấn công đánh phá lực lượng và phongtrào cách mạng, trong mấy năm 1954 - 1959 Mỹ - Diệm đã biến miền Nam ViệtNam từ một chiến trường chống chủ nghĩa thực dân thành một chiến trườngphản kích lại các lực lượng cách mạng Âm mưu chiến lược của Mỹ là biến miềnNam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự, một bàn đạp để
Trang 14Tháng 9-1954, Mỹ lôi kéo được một số đồng minh như Pháp, Anh vàmột số nước Đông Nam Á lập ra khối "Liên minh quân sự Đông - Nam Á"(SEATO) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này.
Chính quyền Ngô Đình Diệm, với sự giúp đỡ và có sự chỉ đạo của Mỹ, rasức phá hoại Hiệp định Gionevo, từ chối hiệp thương với Chính phủ Việt Namdân chủ cộng hoà về việc tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thốngnhất Việt Nam trong thời hạn hai năm theo điều khoản của Hiệp định
Đến hạn hai năm, tháng 7-1956, Diệm tuyên bố "Sẽ không có hiệpthương tổng tuyển cử, vì chúng ta không ký Hiệp định Giơnevơ, bất cứ phươngdiện nào chúng ta cũng không bị ràng buộc bởi Hiệp định đó" Bằng một loạthành động trái với hiệp định, như bầy trò "trưng cầu dân ý" để phế truất Bảo Đạirồi suy tôn Ngô Đình Diệm làm Tổng thống (tháng 10-1955), tổ chức bầu cửriêng rẽ, lập quốc hội lập hiến (tháng 5 -1956), ban hành hiến pháp của cái gọi là
"Việt Nam cộng hoà" (tháng 10-1956), Diệm đã trắng trợn từ chối và phá hoạiviệc thống nhất Việt Nam Mỹ đã thi thố ở Việt Nam 4 chiến lược chiến tranh,ứng dụng từ 3 lần thay đổi chiến lược toàn cầu, do 5 đời tổng thống kế tiếp nhauthực hiện từ năm 1953 đến năm 1975 Đó là sự lựa chọn đúng nơi, đúng lúc,đúng đối tượng tiến hành chiến tranh của Mỹ Chưa bao giờ Mỹ huy động đượcsức mạnh của cả nước Mỹ cùng các nước phe Mỹ, trên các lĩnh vực kinh tế,chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và quân sự như là trong thời kỳ họ tiếnhành chiến tranh Việt Nam Ý chí và quyết tâm của Mỹ khi đánh Việt Nam
Trang 15không phải chỉ nhằm khuất phục một dân tộc, dập tắt một ngọn lửa đấu tranh vìđộc lập tự do, mà còn nhằm đe dọa nhiều nước khác, đồng thời thể nghiệm sứcmạnh của Hoa Kỳ trong nửa cuối thế kỷ XX.
Cách mạng Việt Nam vừa giành thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến 9năm chống chủ nghĩa thực dân Pháp, nay lại đứng trước kẻ thù mới vừa lớnmạnh vừa đầy tham vọng Đất nước bị tạm thời chia cắt làm hai miền, có hai chế
độ chính trị, xã hội khác nhau Nửa nước ở miền Bắc được giải phóng và có lựclượng cách mạng của cả nước tập trung về Do đó niềm Bắc có nhiệm vụ phảinhanh chóng hoàn thành nốt những nhiệm vụ còn lại của Cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân để bước tiếp sang cuộc cách mạng mới, đưa miền Bắc lên chủnghĩa xã hội Nửa nước còn lại ở miền Nam chưa được giải phóng, cách mạnglại bị mất thế lực, quần chúng nhân dân đang tiếp tục bị khủng bố đàn áp Vì thếmiền Nam có nhiệm vụ phải gây dựng lại lực lượng và phong trào cách mạng,tiếp tục cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để giải phóng miền Nam,giành tự do độc lập Đặc điểm đó đòi hỏi Đảng ta phải đề ra được đường lối cáchmạng phù hợp với đặc điểm của tình hình mới và thời đại để đưa cách mạng ViệtNam tiến lên
Trang 16CHƯƠNG 2
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI CỦA CÁCH
MẠNG VIỆT NAM SAU THÁNG 7-1954 2.1 Quá trình hình thành
Yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng ta sau tháng 7-1954 là phải đề ra đượcđường lối đúng đắn, vừa phù hợp với tình hình mỗi miền, tình hình cả nước, vừaphù hợp với xu thế chung của thời đại
Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá II), từ ngày
15 đến ngày 18-7-1954, đã xác định: đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dânViệt Nam
Tháng 9-1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụmới và chính sách mới của Đảng Nghị quyết đã chỉ ra những đặc điểm chủ yếucủa tình hình trong lúc cách mạng Việt Nam bước vào một giai đoạn mới là: từchiến tranh chuyển sang hòa bình; nước nhà tạm chia làm hai miền; từ nông thônchuyển vào thành thị; từ phân tán chuyển đến tập trung
Tại Hội nghị lần thứ bảy (tháng 3-1955) và lần thứ tám (tháng 8-1955)Trung ương Đảng nhận định: Muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hòabình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ, điều cốt lõi là phải rasức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhândân miền Nam
Tháng 8-1956, tại Nam Bộ đồng chí Lê Duẩn đã dự thảo Đường lối cáchmạng miền Nam, xác định con đường phát triển của cách mạng miền Nam là bạolực cách mạng, “Ngoài con đường cách mạng không có một con đường khác"
Tháng 12-1957, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, đường lối tiến hànhđồng thời hai chiến lược cách mạng, được xác định: "Mục tiêu và nhiệm vụ cách