1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN CHUẨN 2021 Tập trung đưa ra các biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học Luyện từ và câu cho HS lớp 5 nói riêng và học sinh Tiểu học nói chung

54 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 850,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bậc tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của con người. Bậc tiểu học cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên và xã hội, trang bị các phương pháp và kỹ năng ban đầu về hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng và phát huy các tình cảm, thói quen và đức tính tốt đẹp của con người. Giáo dục tiểu học là giáo dục toàn diện về các mặt Đức Trí Lao Thể Mỹ. Cùng với môn Toán, môn Tiếng Việt có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy học ở tiểu học. Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở cấp Tiểu học là : (1)Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói) và cung cấp những kiến thức sơ giản gắn trực tiếp với việc học tiếng Việt nhằm tạo ra ở học sinh năng lực dùng tiếng Việt để học tập ở tiểu học và các cấp học cao hơn, để giao tiếp trong các môi trường hoạt động lứa tuổi. (2)Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán). (3)Cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa và văn học của Việt Nam và nước ngoài để từ đó: Góp phần bồi dưỡng tình yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòng tốt, lẽ phải và sự công bằng xã hội; góp phần hình thành lòng yêu mến và thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt. Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại: Có tri thức, biết tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dân tộc, biết rèn luyện lối sống lành mạnh, ham thích làm việc và có khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau này. Với mục tiêu dạy học Tiếng Việt như trên, ta thấy môn Tiếng Việt ở tiểu học đóng vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục. Nó hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, cung cấp cho các em những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và của nước ngoài, đồng thời bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phân môn Luyện từ và câu (LTVC) là môn học đóng vai trò quan trọng hàng đầu bởi nó dạy cho học sinh, cung cấp cho các em vốn tri thức Tiếng Việt ban đầu nhằm phục vụ cho việc tiếp thu các môn học khác một cách dễ dàng hơn. Vì vậy việc học LTVC sẽ giúp cho các em hình thành, phát triển vốn ngôn ngữ của mình. Hằng ngày việc tiếp xúc với thầy cô, bạn bè, cha mẹ cũng như với mọi người đòi hỏi các em phải có vốn ngôn ngữ, đồng thời qua việc tiếp xúc đó các em cũng bổ sung thêm cho mình những gì bị thiếu hụt. Hay khi tiếp xúc với một số tác phẩm văn học ta phải biết những từ ngữ tác giả sử dụng trong đó với dụng ý gì, cấu trúc câu đó như thế nào,…

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do-Hạnh phúc

-o0o -ĐƠN ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng khoa học đánh giá, xếp loại sáng kiến trường Tiểuhọc Thị trấn Văn Giang, Uỷ ban Nhân dân huyện Văn Giang

Tôi tên là: Nguyễn Thị Hương Sinh ngày: 10/ 11/ 1993

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thị trấn Văn Giang

Chức vụ: Giáo viên

Trình độ chuyên môn: Cao đẳng

Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy – học Luyện từ và câu lớp 5.

- Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Hương – Giáo viên – trườngTiểu học Thị trấn Văn Giang

- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chuyên môn

- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Năm học 2018 - 2019

- Mô tả bản chất của sáng kiến: Tập trung đưa ra các biện pháp để nângcao chất lượng dạy - học Luyện từ và câu cho HS lớp 5 nói riêng và học sinhTiểu học nói chung

- Các điều kiện cần thiết để áp dụng:

+ Đủ cơ sở vất chất, đồ dùng dạy học và các trang thiết bị cần thiết + Giáo viên có lòng nhiệt tình, say mê công việc, có ý thức cầu thị tiếnbộ

+ Học sinh ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập và rèn luyện

+ PHHS quan tâm có tinh thần cao trong việc phối hợp với giáo viên

- Đánh giá lợi ích thu được: Khi chưa áp dụng sáng kiến, tôi thấy HS íthứng thú với môn học này, nhiều em còn lúng túng khi học phân môn này

Sau khi áp dụng sáng kiến: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy – học Luyện từ và câu lớp 5.” vào thực tiễn dạy học Luyện từ và câu,

Trang 2

tôi thấy học sinh có hứng thú học, tích cực và chủ động hơn trong các giờ họcLuyện từ và câu và chất lượng môn Tiếng Việt được nâng lên rõ rệt.

- Những người đã tham gia áp dụng thử sáng kiến:

Nội dung công việc

hỗ trợ

1 Đàm Thị Nga 10/02/1980 Trường TH

Thị trấnVăn Giang

Giáoviên

Đạihọc

Giảngdạy lớp 5

2 Vũ Thị Thu Hường 02/9/1973 Trường TH

Thị trấnVăn Giang

Giáoviên

Caođẳng

Giảngdạy lớp 5

3 Nguyễn Thị Thanh

Hương

25/4/1973 Trường TH

Thị trấnVăn Giang

Giáoviên

Caođẳng

Giảngdạy lớp 5

4 Nguyễn Hữu Ánh 13/9/1977 Trường TH

Thị trấnVăn Giang

Giáoviên

Caođẳng

Giảngdạy lớp 5

Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sựthật, không sao chép của ai Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trướcpháp luật

Thị trấn Văn Giang, ngày 15 tháng 1 năm 2020

Trang 3

PHẦN I: LÍ LỊCH

Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Hương

Chức vụ: Giáo viênĐơn vị công tác: Trường Tiểu học Thị trấn Văn Giang

Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy – học Luyện từ và câu lớp 5.

PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN

Trang 4

A MỞ ĐẦU

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

1 Thực trạng của vấn đề:

Bậc tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân đặt cơ

sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của conngười Bậc tiểu học cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên và

xã hội, trang bị các phương pháp và kỹ năng ban đầu về hoạt động nhận thức,hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng và phát huy các tình cảm, thói quen và đứctính tốt đẹp của con người Giáo dục tiểu học là giáo dục toàn diện về các mặtĐức - Trí - Lao - Thể - Mỹ Cùng với môn Toán, môn Tiếng Việt có vai tròđặc biệt quan trọng trong quá trình dạy học ở tiểu học Mục tiêu của mônTiếng Việt ở cấp Tiểu học là :

(1)Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt(đọc, viết, nghe, nói) và cung cấp những kiến thức sơ giản gắn trực tiếp vớiviệc học tiếng Việt nhằm tạo ra ở học sinh năng lực dùng tiếng Việt để họctập ở tiểu học và các cấp học cao hơn, để giao tiếp trong các môi trường hoạtđộng lứa tuổi

(2)Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho họcsinh các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán)

(3)Cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người,

về văn hóa và văn học của Việt Nam và nước ngoài để từ đó:

- Góp phần bồi dưỡng tình yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòngtốt, lẽ phải và sự công bằng xã hội; góp phần hình thành lòng yêu mến và thóiquen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt

- Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại: Có trithức, biết tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dân tộc, biết rèn luyện lối sốnglành mạnh, ham thích làm việc và có khả năng thích ứng với cuộc sống xãhội sau này

Trang 5

Với mục tiêu dạy học Tiếng Việt như trên, ta thấy môn Tiếng Việt ởtiểu học đóng vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục Nó hình thành vàphát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết)

để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, cung cấpcho các em những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản

về tự nhiên, xã hội và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và củanước ngoài, đồng thời bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quengiữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhâncách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Phân môn Luyện từ và câu (LTVC) là môn học đóng vai trò quan trọnghàng đầu bởi nó dạy cho học sinh, cung cấp cho các em vốn tri thức TiếngViệt ban đầu nhằm phục vụ cho việc tiếp thu các môn học khác một cách dễdàng hơn Vì vậy việc học LTVC sẽ giúp cho các em hình thành, phát triểnvốn ngôn ngữ của mình Hằng ngày việc tiếp xúc với thầy cô, bạn bè, cha mẹcũng như với mọi người đòi hỏi các em phải có vốn ngôn ngữ, đồng thời quaviệc tiếp xúc đó các em cũng bổ sung thêm cho mình những gì bị thiếu hụt.Hay khi tiếp xúc với một số tác phẩm văn học ta phải biết những từ ngữ tácgiả sử dụng trong đó với dụng ý gì, cấu trúc câu đó như thế nào,…

Với vai trò vị trí của bộ môn Tiếng Việt cùng với phân môn Luyện từ

và câu trong hệ thống các môn học, tôi nghĩ rằng: Đổi mới phương pháp dạyhọc Tiếng Việt nói chung và nâng cao hiệu quả giảng dạy LTVC là một vấn

đề liên tục và cần thiết Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “ Một sốbiện pháp nâng cao hiệu quả dạy - học Luyện từ và câu ở lớp 5”

2 Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp:

- Nhằm tìm hiểu nội dung, phương pháp nâng cao chất lượng dạy - họcLTVC cho HS lớp 5 nói riêng và học sinh Tiểu học nói chung

- Tìm ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc dạy – học LTVCcho HS lớp 5 nói riêng và học sinh Tiểu học nói chung

- Tạo môi trường hứng thú học tập với phân môn Luyện từ và câu.

Trang 6

- Giúp học sinh thấy rõ vị trí quan trọng của Luyện từ và câu và tiếp thubài giảng một cách nhẹ nhàng, khắc sâu kiến thức, vận dụng để thực hànhTiếng Việt một cách có hiệu quả.

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu:

* Phạm vi nghiên cứu: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học

LTVC lớp 5

* Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Thị trấn

Văn Giang, huyện Văn Giang

Trang 7

kém về ngôn ngữ, nghe nói chỉ hiểu lơ mơ, nói viết không thể hiện được ýmình cho suôn sẻ, thì không thể nào khai thác đầy đủ các thông tin tiếp nhận

từ người thầy, từ sách vở được Bởi vậy, trong nội dung giáo dục, chúng tacần phải hết sức coi trọng việc đào tạo về mặt ngôn ngữ, xem đó là điều kiệnkhông thể thiếu để bảo đảm thành công trong thực hiện sứ mệnh trọng đạicủa mình

2 Cơ sở thực tiễn:

Ở trong trường tiểu học môn Tiếng Việt giữ vai trò đặc biệt quantrọng, nó góp phần đắc lực vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ ởtiểu học theo đặc trưng bộ môn của mình Việc dạy Tiếng Việt trong nhàtrường nhằm tạo cho học sinh năng lực sử dụng Tiếng Việt giao tiếp và họctập Thông qua việc học Tiếng Việt, nhà trường rèn luyện cho các em nănglực tư duy, phương pháp suy nghĩ, giáo dục các em những tư tưởng lànhmạnh, trong sáng, góp phần hình thành nhân cách cho học sinh

Môn Tiếng Việt ở tiểu học bao gồm nhiều phân môn Mỗi phân mônđều có nhiệm vụ riêng song mục đích cuối cùng của chúng ta là cung cấp chohọc sinh những kiến thức phổ thông về ngôn ngữ Trên cơ sở đó rèn luyện kỹnăng nghe, nói, đọc, viết nhằm giúp học sinh vận dụng các từ đã học vàophân môn Tập làm văn

Thực tế cho thấy việc học các kiến thức Luyện từ và câu Tiếng Việt làrất quan trọng đối với học sinh, bởi qua học tập về Luyện từ và câu giúp chohọc sinh có hiểu biết về quy tắc cấu tạo từ, quy tắc dùng từ, đặt câu và tạovăn bản để sử dụng trong giao tiếp Vì vậy việc học tập LTVC hiện nay đượctiến hành một các có kế hoạch mang tính chủ động Thông qua hệ thống cácbài tập trong SGK, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện, phân loại cácđơn vị ngữ pháp, nắm các quy tắc cấu tạo và sử dụng các đơn vị này tronghoạt động giao tiếp của mình

Qua thực tế giảng dạy, qua dự giờ thăm lớp, sinh hoạt chuyên môn,trao đổi với đồng nghiệp, …bản thân tôi thấy việc dạy học LTVC ở trườngTiểu học lâu nay nổi lên một số điểm sau đây:

Trang 8

* Về phía giáo viên:

Do Luyện từ và câu là một phân môn khó, cho nên một số giáo viêncòn lúng túng trong việc tổ chức một tiết dạy - học Luyện từ và câu sao chođúng yêu cầu của phân môn, đúng đặc trưng của phân môn và đạt được hiệuquả dạy - học cao Dưới cái nhìn của giáo viên, có thể nói một số nội dunggiảng dạy (được trình bày trong sách giáo khoa) còn ít nhiều xa lạ và phươngpháp dạy phân môn này hầu như chưa định hình, cho nên giáo viên gặp nhiềukhó khăn trong giảng dạy Giáo viên có tâm lý ngại dạy Luyên từ và câu.Hiệu quả dạy - học giờ Luyện từ và câu nhìn chung còn thấp

Một số giáo viên kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều, còn lúng túngtrong việc lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy LTVC,chỉ truyền đạt giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong SGK và SGV mộtcách rập khuôn, chưa tập trung thời gian và trí tuệ vào việc soạn bài và đồdùng dạy học, chưa linh động sáng tạo, cải tiến nội dung và phương phápdạy học để phù hợp với đối tượng học sinh, các hoạt động dạy học chưa phùhợp, đơn điệu nghèo nàn nên kết quả dạy học chưa cao

Một số giáo viên đặc biệt là các giáo viên có tuổi có tâm lí ngại thayđổi, không chịu đổi mới phương pháp giảng dạy Cách dạy của nhiều giáoviên trong giờ Luyện từ và câu còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máy móc vàosách giáo viên, hầu như rất ít sáng tạo, chưa sinh động, chưa cuốn hút đượchọc sinh, chưa khơi dậy được hứng thú học Tiếng Việt nói chung và họcLTVC nói riêng của học sinh

Điều kiện giảng dạy của giáo viên còn hạn chế, các tài liệu tham khảophục vụ việc giảng dạy Luyện từ và cầu cũng như tranh ảnh, vật chất và các

đồ dùng dạy học khác chưa phong phú

Trang 9

ngôn ngữ học, chưa phù hợp với lối tư duy trực quan của các em Lại nữa,như đã nói ở trên, cách dạy của giáo viên thì nặng về giảng giải khô khan,nặng nề về áp đặt Điều này gây tâm lý mệt mỏi, ngại học phân môn Luyện từ

Bên cạnh đó một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến con emmình còn có quan điểm ''Trăm sự nhờ nhà trường, nhờ cô'' cũng làm ảnhhưởng đến chất lượng học tập bộ môn

Do vậy, để việc dạy - học Luyện từ và câu ở lớp 5 đạt hiệu quả cao,chúng ta cần chú trọng đến việc tìm nhiều biện pháp để gây hứng thú và nângcao chất lượng học Luyện từ và câu cho học sinh

Là một giáo viên nhiều năm liền được phân công giảng dạy lớp 5, tôinhận thấy việc học sinh học hạn chế phân môn LTVC có ảnh hưởng rất lớnđến kết quả học Tiếng Việt của học sinh Vì vậy tôi thường xuyên trăn trở,tìm tòi, nghiên cứu các giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, tồn tại,yếu kém tác động đến chất lượng học môn Tiếng Việt của HS nhất là trongphân môn Luyện từ và câu

Năm học 2018 - 2019, tôi bắt đầu áp dụng các giải pháp trong đề tài vàbước đầu đã thu được kết quả khả quan Năm học 2019 - 2020, được phâncông chủ nhiệm lớp 5, tôi quyết định tiếp tục áp dụng sáng kiến để kiểmchứng tính thực tiễn của đề tài

Đầu năm học 2019 - 2020, tôi đã kiểm tra nhận thức về danh từ, động

từ, tính từ của học sinh Tuy đã được học ở lớp 4 nhưng không có học sinhnào trong lớp nêu đúng, trọn vẹn khái niệm danh từ, động từ, tính từ Sau khi

Trang 10

tìm hiểu về hứng thú với môn học của học sinh hai lớp 5A( lớp thực nghiệm)

và lớp 5C(lớp đối chứng), tôi thu được kết quả như sau:

+ Học sinh thích học phân môn Luyện từ và câu: 14%

+ Học sinh thích tìm hiểu về phân môn Luyện từ và câu: 18%

Sau đó tôi tiến hành khảo sát học sinh hai lớp: 5A(do tôi làm chủnhiệm – lớp thực nghiệm) và lớp 5C(lớp đối chứng) làm một số bài tập (khichưa thực hiện đề tài này) như sau:

PHIẾU BÀI TẬP

Bài 1: Hãy xác định từ loại cho các từ sau:

Đon đả, lênh khênh, cánh đồng, trung thực, thật thà, mấp mô, gầy gò,điềm đạm, tuổi trẻ, thành công, bánh trái, hoàng hôn, sự sống, nỗibuồn

Bài 2: Xác định chủ ngữ, vị ngữ trong mỗi câu sau:

a Sầu riêng là loại trái quý của miền Nam

b Khi phương đông vừa vẩn bụi hồng, con họa mi ấy lại hót vanglừng

c Cô mùa xuân xinh tươi đang lướt nhẹ trên cánh đồng

d Trên một bụi tre cuối nẻo của làng, vọng lại tiếng mấy con chim

cu gáy

Bài 3: Hãy đặt 1 câu kể, 1 câu hỏi, 1 câu cảm và 1 câu khiến.

Sau khi chấm bài, tôi thu được kết quả như sau:

Lớp Sĩ

số

Làm đúng 90% đến 100%

Làm đúng 70% đến 80%

Làm đúng 50% đến 60%

Làm đúng Dưới 50%

Trang 11

động từ (Thí nghiệm của anh ấy đã thành công), vừa là tính từ (Anh ấy rấtthành công trong sự nghiệp) Một số em không xác định được từ loại của từ

“sự sống” và “ nỗi buồn” vì không nắm được kiến thức: các động từ và tính

từ đi kèm: sự, cuộc, nỗi, niềm, cái, ở phía trước thì tạo thành một danh từ

mới

Ở bài tập số 2: Nhiều em không xác định đúng chủ ngữ trong các câu

b, c Đa phần các em xác định “con họa mi” (câu b) và “Cô mùa xuân”(câu c)

là chủ ngữ của câu Vì vậy mà vị ngữ của câu các em cũng xác định sai Còntrong câu d, chỉ có rất ít số học sinh nhận ra hiện tượng đảo ngữ trong câunên xác định chưa đúng chủ ngữ, vị ngữ của câu

Ở bài tập số 3: Các em đặt được câu theo yêu cầu nhưng lại không sửdụng dấu câu sau khi viết Một số em còn nhầm lẫn câu cảm và câu cầukhiến

Và trong một số tiết LTVC đầu năm học, tôi nhận thấy học sinh khônghứng thú với phân môn này Nhiều em không chú ý, không tích cực tham giavào các hoạt động học tập

3 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này, trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng một

số phương pháp cơ bản sau:

a Phương pháp nghiên cứu lí luận:

- Đọc các tài liệu giáo dục có liên quan đến tâm lí học sinh, tài liệu, sáchgiáo khoa liên quan đến nội dung nghiên cứu

- Đọc và tìm hiểu về một số phương pháp dạy Tiếng việt, các tài liệu Bồidưỡng học sinh giỏi môn Tiếng việt, các chuyên đề đổi mới phương pháp dạyLuyện từ và câu

b Phương pháp quan sát, khảo sát.

Qua tiết dự giờ của đồng nghiệp trên lớp, tôi đã quan sát quá trình dạycủa giáo viên cũng như quá trình học của học sinh để so sánh, đối chiếu thựctiễn với lý thuyết đã học của học sinh để tìm ra phương pháp dạy tốt nhất

c Phương pháp phân tích.

Trang 12

Phân tích nội dung, chương trình, thực tế sách giáo khoa, thực tế dạy họcLuyện từ và câu, phân tích những bài làm của học sinh để thấy những ưuđiểm, những hạn chế của học sinh khi học về từ loại Tiếng Việt.

d Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

Tôi đã vận dụng các biện pháp đề xuất, đã đưa ra những bài tập mà đề tài

đã xây dựng cho học sinh làm thực nghiệm

Kết quả thực nghiệm (bài làm của học sinh) là căn cứ để đánh giá cácbiện pháp mà đề tài đưa ra

4 Thời gian tiến hành.

- Tháng 6,7 năm 2018: Đọc tài liệu, nghiên cứu văn bản, chỉ thị, Nghị

quyết của Đảng, Nhà nước, của Bộ GD&ĐT về chức năng, nhiệm vụ và yêucầu đạt được của môn học trong chương trình giáo dục, xây dựng kế hoạch vàcác biện pháp thực hiện cụ thể

- Năm học 2018 – 2019 và học kì I năm học 2019 - 2020: Áp dụng sángkiến vào thực tiễn, chọn lớp thực nghiệm, lớp đối chứng để so sánh kết quảnghiên cứu

- Từ tháng 11/2020 đến tháng 12/2020: Đúc rút, tổng kết kết quả thựchiện

- Tháng 1/2020:Viết thành sáng kiến và gửi về Hội đồng khoa học các cấp

Trang 13

B NỘI DUNG

I MỤC TIÊU:

- Ghi lại những biện pháp mà mình đã áp dụng thành công trong việcdạy học sinh học tốt môn Luyện từ và câu nói chung, để phổ biến rộng rãitrong nhà trường, giúp giáo viên khối 4 - 5, đặc biệt là những giáo viên mới

ra trường tích luỹ thêm những kinh nghiệm trong giảng dạy nhằm nâng caochất lượng dạy và học môn Tiếng Việt trong nhà trường

- Giúp bản thân ngày càng tự tin trong công tác, có nhiều kinh nghiệmtrong giảng dạy để vận dụng hiệu quả các phương pháp, các hình thức tổchức dạy học víi tinh thần đổi mới theo th«ng tư 30 và thông tư 22

- Nhận được sự góp ý, chia sẻ của Ban giám hiệu, của tất cả các đồngchí giáo viên trong trường để bản thân tôi thấy rõ những ưu điểm, những hạn

chế của bản thân mình mà có hướng vận dụng và điều chỉnh sao cho sáng kiến này đạt được kết quả khả quan nhất.

II CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ:

Để nâng cao hiệu quả dạy - học Luyện từ và câu, trước hết người giáoviên phải có kiến thức về từ và câu thật vững, có trình độ nghiệp vụ cao, biếtcách tổ chức tiết học một cách khoa học, kích thích được hoạt động học củatừng đối tượng học sinh một cách chủ động, phát huy được trí tuệ, khả năngtiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của các em, từ đó các em hứng thú tham giahọc tập

Trang 14

Để nâng cao hiệu quả dạy – học Luyện từ và câu cho HS lớp mìnhchủ nhiệm, tôi đã áp dụng một số biện pháp sau:

1 Nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy để lập kế hoạch và lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp:

Việc lập kế hoạch bài học tức là tạo ra cho mình một cẩm nang choviệc dạy học Vì vậy, việc lập kế hoạch bài học của giáo viên phải logic, tíchhợp đầy đủ các nội dung dạy học ở trong đó, phải có đầy đủ mục đích, yêucầu cũng như quy trình một bài dạy sao cho phù hợp, có hoạt động ngườidạy, người học Khi lập kế hoạch bài giảng, GV cần xác định rõ mục tiêu, nộidung dạy học để có khả năng xử lí linh hoạt những tình huống có thể xảy ratrong giờ học; xác định rõ những hoạt động chủ yếu không thể giảm bớt,những hoạt động có thể giảm bớt hoặc thay đổi phù hợp với đối tượng HScủa lớp mình Làm tốt được việc này sẽ giúp GV chủ động hơn trong việc lựachọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, chủ động về thời gian, thờilượng và lượng kiến thức trong bài dạy, có điều kiện quan tâm đến các đốitượng HS trong lớp nhất là đối tượng HS nhận thức còn hạn chế Khi lập kếhoạch bài học, giáo viên phải đặt ra những tình huống trong giờ dạy ngoài dựkiến của mình để có thể kịp thời xử lý, đồng thời tạo cho giờ học sinh động,hấp dẫn

Về lựa chọn phương pháp dạy học, tôi luôn sử dụng các phương phápđặc thù bộ môn thể hiện tính tích hợp(về nội dung) và tính tích cực(vềphương pháp) trong mỗi bài soạn Theo quan điểm của tôi, trong mỗi bài dạyLTVC, giáo viên không chỉ cung cấp kiến thức mới mà còn phải chú ý hìnhthành kĩ năng tự học, tự tìm hiểu ở học sinh Nói cách khác, giáo viên khôngchỉ chú ý giúp học sinh “học cái gì” mà còn giúp các em “học như thế nào?”cho có hiệu quả cao Không có phương pháp dạy học nào được coi là vạnnăng có thể thay thế các phương pháp khác Mỗi phương pháp đều có ưuđiểm và nhược điểm riêng của nó Vì vậy, tôi lựa chọn và sử dụng phối kếthợp các phương pháp dạy học truyền thống với phương pháp dạy học hiệnđại Đặc biệt tôi luôn chú trọng các phương pháp tích cực hóa hoạt động của

Trang 15

người học trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức hoạt động của học sinh cònmỗi một học sinh đều được hoạt động, được bộc lộ và được phát triển.

2 Chuẩn bị thật tốt đồ dùng dạy học, phương tiện dạy học và sử dụng chúng có hiệu quả:

Muốn giờ học sôi nổi và có hiệu quả, ngoài kiến thức vững vàngngười giáo viên còn phải có lòng nhiệt tình, có trách nhiệm với học sinh Vìvậy khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học và phương tiện dạy học là rất cần thiết

Đồ dùng và phương tiện dạy học hỗ trợ cho việc sử dụng các phương phápdạy học, giúp cho việc khai thác hoạt động của giáo viên và học sinh trongtiết học đạt hiệu quả cao hơn Đồ dùng càng to, rõ, đẹp, đúng nội dung cànglàm cho HS hứng thú học, tiếp thu nhanh Đồ dùng dạy học phải được sửdụng đúng lúc, đúng chỗ thì mới có tác dụng Điều đó đòi hỏi giáo viên phảinắm chắc nội dung kiến thức của bài dạy

Những đồ dùng dạy học giáo viên có thể sử dụng trong các tiết dạyLTVC là sách giáo khoa, vở bài tập Tiếng Việt, Từ điển Tiếng Việt,…

Trong quá trình dạy học nói chung và quá trình dạy học tiểu học nóiriêng, việc sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác là vô cùng cầnthiết và quan trọng Sách giáo khoa là một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho quátrình giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh Nó là tài liệucung cấp các ví dụ, các bài đọc, những thông tin hay só liệu, các bài tập vớinhiều tình huống khác nhau và hệ thống các câu hỏi để giúp các em học sinhtiếp thu tri thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo Đồng thời nó cũng là phươngtiện định hướng cho giáo viên tổ chức, điều khiển học sinh tự giác, chủ độngtích cực tiến hành hoạt động học để đạt mục tiêu của tiết học, của môn học vàcủa cả bậc học Nhưng theo tôi, trong một số trường hợp việc cho học sinh sửdụng sách giáo khoa không mang lại hiệu quả như chúng ta mong muốn.Chẳng hạn cho học sinh mở sách giáo khoa ngay từ đầu tiết học khi dạy bàihình thành kiến thức mới

Như chúng ta đều biết, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổimới chương trình và sách giáo khoa của bộ Giáo dục lần này là đổi mới

Trang 16

phương pháp dạy học chuyển từ phương pháp truyền thụ sang phương pháptích cực hoá hoạt động của người học sinh trong đó thầy, cô giáo đóng vai tròngười tổ chức hoạt động của học sinh còn học sinh thì tự giác, tích cực chủđộng hoạt động để chiếm lĩnh tri thức mới dưới sự dẫn dắt của giáo viên Nóicách khác, dạy học theo phương pháp đổi mới là phải để học sinh tìm tòi,khám phá và tự tìm ra tri thức mới Trong thực tế giảng dạy tôi thấy viêc chohọc sinh mở sách giáo khoa như trên dẫn tới hậu quả là: Khi giáo viên đưa racác câu hỏi để dẫn dắt học sinh rút ra những kết luận, những tri thức trọngtâm của bài, các em sẽ nhìn ngay vào phần ghi nhớ trong sách để trả lời Vậy

là những kiến thức, kết luận đó không phải là do các em tự phát hiện, tựchiếm lĩnh mà là kết luận có sẵn Do đó học sinh bị động tiếp thu, không hiểusâu kiến thức

Chính vì vậy, để một tiết học đạt hiệu quả, mỗi giáo viên cũng cầnnghiên cứu kĩ sách giáo khoa để từ đó có kế hoạch hướng dẫn học sinh sửdụng sách giáo khoa vào từng phần, từng hoạt động cho hợp lý Đặc biệt với

dạng bài “Hình thành kiến thức mới” tôi đã thực hiện: Chỉ cho học sinh mở

sách giáo khoa sau khi đã rút ra được nội dung ghi nhớ của bài

Trong hầu hết các tiết dạy LTVC, tôi luôn cho HS sử dụng vở bài tậpTiếng Việt như một Phiếu học tập cá nhân để HS trình bày ý kiến cá nhântrước khi chia sẻ với các bạn trong nhóm( nhóm 2, nhóm 4) và chia sẻ với cảlớp Vì tôi thấy, các bài tập trong Vở bài tập giống bài tập trong SGK chỉ cókhác là HS có thể làm và viết ngay vào Việc sử dụng VBT cho HS làm việc

cá nhân trong các hoạt động học tập đỡ công chuẩn bị cho GV (trước đây GVphải làm Phiếu học tập), đỡ được chi phí (photo Phiếu học tập cho HS nhưtrước đây)

Với mỗi HS của lớp, tôi đã yêu cầu các em đều phải có Từ điển TiếngViệt ngay từ đầu năm học Và trong buổi họp phụ huynh HS đầu năm học tôigiải thích cho các bậc phụ huynh về vai trò của quyển Từ điển Tiếng Việt đốivới việc học Tiếng Việt của học sinh lớp 5 nên tôi luôn nhận được sự đồngtình của phụ huynh trang bị cho các em một quyển Từ điển Tiếng Việt Khi

Trang 17

có Từ điển Tiếng Việt, tôi thấy việc dạy học về các lớp từ: Từ đồng nghĩa, Từtrái nghĩa, Từ đồng âm, Từ nhiều nghĩa và các tiết Mở rộng vốn từ trở nên dễdàng và đạt hiệu quả hơn Và cũng ngay từ đầu năm học, tôi cũng hướng dẫn

HS của lớp cách sử dụng Từ điển Tiếng Việt và tra nghĩa một cách nhanhnhất

* Ví dụ: Khi dạy bài “Từ trái nghĩa” (Tuần 4)

Ở bài 1 phần Nhận xét: So sánh nghĩa của các từ in đậm trong đoạn văn:

Phrăng Đơ Bô – en là một người lính Bỉ trong đội quân Pháp xâm lược

Việt Nam Nhận rõ tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, năm

1949, ông chạy sang hàng ngũ quân đội ta, lấy tên Việt là Phan Lăng Năm

1986, Phan Lăng cùng con trai đi thăm Việt Nam, về lại nơi ông đã từng

chiến đấu vì chính nghĩa.

Tôi yêu cầu học sinh sử dụng Từ điển Tiếng Việt để xác định nghĩa củacác từ in đậm rồi so sánh nghĩa của chúng Và các em nhanh chóng xác địnhđược:

+ phi nghĩa: trái với đạo lí.

+ chính nghĩa: đúng với đạo lí.

Do đó hai từ chính nghĩa và phi nghĩa có nghĩa trái ngược nhau.

Đặc biệt, GV cần chuẩn những phương tiện dạy học hiện đại như máytính, máy chiếu, máy soi để việc dạy – học Luyện từ và câu đạt hiệu quả caohơn Do đó, GV cần chuẩn bị bài giảng trên PowerPoint sao cho phù hợp vớitrình độ nhận thức của học sinh

3 Tạo ham thích, hứng thú học tập cho học sinh:

Để tạo được ham thích hứng thú học tập của học sinh khi học Luyện từ

và câu, tôi luôn chú ý đến đặc điểm trí tuệ, nhu cầu, nguyện vọng của họcsinh Chính vì vậy trong quá trình dạy học tôi mạnh dạn vận dụng nhiềuphương pháp như:

Phương pháp đàm thoại.

Phương pháp vấn đáp.

Phương pháp thảo luận nhóm.

Trang 18

Phương pháp luyện tập thực hành…

Mục đích của tôi khi phối kết hợp nhiều phương pháp dạy học là để tất

cả học sinh trong lớp đều được làm việc (làm việc độc lập, làm việc theonhóm, làm việc theo lớp) để các em tự giác, tích cực chủ động lĩnh hội trithức mới, hình thành kỹ năng kỹ xảo

Mặt khác một giờ học hấp dẫn, gây được ham thích hứng thú học tậpcho học sinh thì phải hấp dẫn cuốn hút ngay từ phần khởi động và bước giớithiệu bài Để khởi động tiết học, tôi thường xuyên tổ chức các trò chơi như:trò chơi “Bắn tên”, trò chơi “Xì điện”, trò chơi “Ai nhanh hơn?”,… Các tròchơi đó vừa giúp các em ôn lại kiến thức cũ, vừa tạo hứng thú cho các em khivào học bài mới Còn khi giới thiệu bài tôi thường sử dụng các câu hỏi đểkhơi gợi trí tò mò, ham tìm hiểu cái mới của học sinh để thu hút sự chú ý củacác em vào bài học Các câu hỏi đó chính là một tình huống có vấn đề đòi hỏicác em phải giải quyết vì vậy các em phải nỗ lực học tập để tìm lời giải đáp,tìm câu trả lời cho đúng

Trong quá trình dạy học học sinh là nhân vật trung tâm, là chủ thể củanhận thức Vì vậy ngoài việc giúp cho học sinh tiếp thu những kiến thức mớithật đầy đủ, chính xác, khoa học, có hệ thống, dễ nhớ, dễ hiểu, giáo viên cònphải tạo ra một môi trường khuyến khích từng học sinh chủ động học tập vàsáng tạo thu được kết quả cao nhất Để làm được điều đó người giáo viênphải biết tuyên dương, khen ngợi kịp thời trước những phát hiện mới hoặc sựsáng tạo của học sinh đặc biệt với các em học sinh nhút nhát, rụt rè, những

em chậm tiến Được giáo viên khen ngợi các em sẽ phấn khởi tự tin vào nănglực của mình, từ đó các em sẽ cố gắng nỗ lực phấn đấu trong quá trình họctập

Mặt khác, người giáo viên phải luôn luôn tạo được mối quan hệ gầngũi với học sinh Giọng nói phải nhẹ nhàng niềm nở có sức truyền cảm,khuôn mặt phải luôn tươi cười, nói lời phải thể hiện thái độ tôn trọng họcsinh để các em không cảm thấy sợ sệt mà mạnh dạn, tự tin bộc lộ suy nghĩhoặc bày tỏ ý kiến của mình

Trang 19

Ngoài ra, việc GV tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạyhọc, tích cực sử dụng các bài giảng Luyện từ và câu bằng PowerPoint cũngtạo được ham thích, hứng thú học tập cho HS.

4 Tổ chức dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong mỗi tiết học.

Học sinh được giáo viên tạo mọi điều kiện để tham gia vào tiết học (trảlời câu hỏi, phát biểu về nghĩa, đặt câu,…); đề xuất cách làm bài tập, biếtchia sẻ ý kiến với các bạn (trình bày ý kiến cá nhân, nhận xét bài hay câu trảlời cho bạn); được tham gia làm bài tập; tham gia các trò chơi học tập,…Trong tiết học, giáo viên giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn học sinh tìmhiểu bài và làm bài tập; lắng nghe và sửa chữa, uốn nắn cho từng học sinhnhưng không áp đặt và gò ép

Đặc biệt, khi dạy Luyện từ và câu theo định hướng phát triển năng lực

HS, với một nội dung, một bài tập, tôi luôn cố gắng sử dụng nhiều phươngpháp dạy học tích cực, hình thức tổ chức dạy học và các kĩ thuật dạy học tíchcực để phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong mỗi tiếthọc Nếu dạy – học theo phương pháp truyền thống trước đây thì trong tiếthọc chỉ có những em có nhận thức tốt, những em chăm học làm việc và phátbiểu trước lớp; còn những em nhận thức còn hạn chế hoặc lười nghĩ có thểngồi chơi, làm việc riêng Nhưng từ khi chuyển sang dạy học theo địnhhướng phát triển năng lực học sinh, tôi luôn luôn chú trọng đến việc rèn chocác em thói quen tự học, tích cực suy nghĩ, tích cực làm việc để có kết quảchia sẻ với bạn trong nhóm và chia sẻ trước lớp Và khi tổ chức bất kì hoạtđộng học tập nào, hình thành kiến thức mới hay làm bài tập thực hành, tôiđều tiến hành theo trình tự: Hoạt động cá nhân (làm bài trong Vở bài tậpTiếng Việt) – Chia sẻ trước lớp hoặc Hoạt động cá nhân – Chia sẻ trongnhóm( nhóm đôi, nhóm bàn, nhóm 4, …) - Chia sẻ trước lớp

Chẳng hạn: Khi dạy bài “Luyện tập về từ đồng nghĩa” (TV5 tập I – trang 32)

Bài 1: Tìm từ trong ngoặc đơn thích hợp với mỗi ô trống dưới đây:

Trang 20

Chúng tôi đang hành quân tới nơi cắm trại – một thắng cảnh của đấtnước Bạn Lệ □ trên vai chiếc ba lô con cóc, hai tay vung vẩy, vừa đi vừa

hát véo von Bạn Thư điều đà □ túi đàn ghi ta Bạn Tuấn “đô vật” vai

□một thùng giấy đựng nước uống và đồ ăn Hai bạn Tân và Hưng to, khỏecùng hăm hở thứ đồ lỉnh kỉnh nhất là lều trại Bạn Phượng bé nhỏ nhất

thì □ trong nách mấy tờ báo Nhi đồng cười, đến chỗ nghỉ là giở ra đọcngay cho cả nhóm nghe

(xách, đeo, khiêng, kẹp, vác)

Để giúp HS làm bài, tôi cho các em giải nghĩa các từ cần điền bằngcách cho các em làm động tác để quan sát và các em giải nghĩa từ bằng lờicủa mình Sau khi đã hiểu nghĩa của từ, các em dễ dàng hoàn thành bài tập

Ngoài ra, có thể dùng tranh ảnh, mô hình cho quan sát, từ đó nêunghĩa của từ (bằng cách này học sinh có thể hiểu nghĩa của từ chỉ các sự vật,hiện tượng không trực tiếp nhìn thấy hoặc diễn ra ở xung quanh)

* Ví dụ: Khi dạy bài “Mở rộng vốn từ: Nhân dân” (TV5 tập I – trang

27), ở bài tập 1 để giúp HS xếp các từ đã cho trong ngoặc đơn vào nhómthích hợp, tôi cho HS quan sát hình ảnh về từng nhóm người: công nhân,nông dân, doanh nhân, quân nhân, trí thức, học sinh và nêu nghĩa của từ Saukhi quan sát hình ảnh từng nhóm người, các em dễ dàng hiểu và nêu được:

+ Công nhân: Người lao động chân tay, làm công ăn lương, làm việc

trong các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ hay trên các công trường…

+ Nông dân: Người lao động chân tay, làm việc trên đồng ruộng + Quân nhân: Những người làm trong quân đội.

+ Doanh nhân: Những người làm nghề kinh doanh.

+ Trí thức: Người chuyên làm việc lao động trí óc và có tri thức

chuyên môn về nghề nghiệp của mình

+ Học sinh: Người học ở bậc phổ thông.

Trang 21

Mặt khác, tôi còn tìm cách giải thích nghĩa của từ sát hợp với tâm sinh

lý lứa tuổi học sinh tiểu học Cụ thể lối miêu tả, trực quan khi giải nghĩa từ.Bên cạnh đó, tôi còn chấp nhận và khuyến khích cách giải nghĩa từ theo lối

“khôi phục các biểu tượng”, hoặc giải nghĩa từ một cách “mộc mạc, gầngũi” của học sinh

* Ví dụ:

+ Tổ quốc: Đất nước mình.

+ Quê hương: Nơi mình sinh ra và lớn lên.

5 Sử dụng linh hoạt, phối hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học:

Trong các giờ dạy LTVC, tôi thường sử dụng các phương pháp dạyhọc sau:

5.1 Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:

Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề là giáo viên đưa ra những tìnhhuống gợi vấn đề điều khiển học sinh phát hiện vấn đề Hoạt động tự giác,chủ động và sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo tri thứcrèn luyện kỹ năng

Tăng thêm sự hiểu biết và khả năng áp dụng lý thuyết vào giải quyếtvấn đề của thực tiễn Nâng cao kỹ năng phân tích, khái quát từ tình huống cụthể và khả năng độc lập cũng như khả năng hợp tác, trong quá trình giảiquyết vấn đề

Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần chuẩn bị trước câu hỏisao cho phù hợp với mục đích, yêu cầu và nội dung của bài Phù hợp với cácđối tượng học sinh, giáo viên cũng cần chuẩn bị tốt hơn các tình huống đểgiải quyết vấn đề mà học sinh nêu ra

*Ví dụ: Khi dạy bài: Mở rộng vốn từ: Trật tự - An ninh.

Bài 1: Dòng nào dưới đây nêu đúng nghĩa của từ an ninh?

a) Yên ổn hẳn, tránh được tại nạn, tránh được thiệt hại

b) Yên ổn về chính trị và trật tự xã hội

c) Không có chiến tranh và thiên tai

Trang 22

*Giúp các em hiểu đúng nghĩa của từ an ninh.

Bài 2: Tìm những danh từ và động từ có thể kết hợp với từ an ninh.

Mẫu: lực lượng an ninh, giữ vững an ninh

Từ đó các em vận dụng vào bài một cách linh hoạt.

*Tóm lại: Với phương pháp này giáo viên nên hiểu rằng trong mỗi

tình huống sẽ có thể có nhiều cách giải quyết hay nhất để ứng dụng trong họctập, trong cuộc sống

5.2 Phương pháp phân tích ngôn ngữ:

Học sinh dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên, tiến hành tìm hiểucác dấu hiệu theo định hướng bài học từ đó rút ra bài học Giúp học sinh tìmtòi, huy động vốn kiến thức cũ của mình để tìm ra kiến thức mới

Tạo điều kiện cho học sinh tự phát hiện kiến thức (về nội dung và hìnhthức thể hiện) Sự thể hiện của phương pháp này nằm ở chính bản thân củaquá trình phân tích

Ví dụ: Khi dạy bài ''Ôn tập về câu'':

Bài 1: Cho học sinh đọc mẩu chuyện vui: Nghĩa của từ ''cũng''

Các em sẽ tìm trong mẩu chuyện trên:

* Một câu hỏi: Nhưng vì sao cô biết cháu đã cóp bài của bạn ạ?

* Một câu kể: Thưa chị, bài của cháu và bạn cạnh cháu có những lỗigiống hệt nhau

* Một câu cảm: Thế thì đáng buồn quá!

* Một câu khiến: Em hãy cho biết đại từ là gì

Trang 23

Câu khiến: Dùng để nêu yêu cầu, đề nghị, mong muốn Dấu hiệu nhậnbiết trong câu có các từ đặc biệt: hãy, chớ, đừng, mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị, dấu chấm than hoặc dấu chấm đặt ở cuối câu.

Qua phân tích của giáo viên, học sinh rút ra đựơc bài học:

* Câu hỏi (còn gọi là câu ghi vấn) dùng để hỏi về những điều chưabiết

Ví dụ: Bạn đã đi học chưa?

* Phần lớn câu hỏi là để hỏi người khác những cũng có những câu để

tự hỏi mình

Ví dụ: Chiếc bút này mình đã mua ở đâu nhỉ?

* Câu hỏi thường có các tư nghi vấn (có phải, không; phải không, à, )Khi viết cuối câu hỏi có dấu chấm hỏi (?)

Ví dụ: Bạn Minh trở thành học sinh giỏi à?

5.3 Phương pháp tổ chức trò chơi học tập:

Trò chơi học tập là một loại trò chơi đặc biệt Trò chơi học tập không chỉnhằm vui chơi giải trí mà còn nhằm góp phần củng cố tri thức, kĩ năng họctập cho học sinh Việc sử dụng trò chơi học tập nhằm làm cho việc hìnhthành kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho học sinh bớt đi vẻ khô khan, tăngthêm phần sinh động hấp dẫn Sử dụng phương pháp này trong dạy Luyện từ

và câu nhằm giúp các em kích thích và duy trì hứng thú học tập của học sinh.Hơn thế nữa, mối quan tâm và hoạt động của học sinh thể hiện qua các tiếthọc có trò chơi làm tăng tình cảm của các em đối với môn học và thầy, côgiáo Thực hiện phương pháp này đòi hỏi giáo viên tổ chức hoạt động học tậpcủa học sinh thông qua các trò chơi

Điều kiện đảm bảo cho sự thành công của việc sử dụng trò chơi tronghọc tập là:

+ Nội dung trò chơi phải gắn với mục tiêu của bài học

+ Luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện

+ Phương tiện tổ chức trò chơi phong phú, hấp dẫn

+ Sử dụng trò chơi đúng lúc, đúng chỗ

Trang 24

+ Số lượng học sinh tham gia: Vừa phải, không quá ít.

+ Kích thích sự thi đua giành phần thắng giữa các bên tham gia

Ví dụ 1: Khi dạy bài mở rộng vốn từ trẻ em (Sách tiếng việt 5,tập 2 –

trang 148) ở bài tập 2: Tìm các từ đồng nghĩa với từ trẻ em

Tôi cho các em tham gia chơi tiếp sức giữa 2 đội, thi xem đội nào tìmđược nhiều từ đồng nghĩa với từ trẻ em và nhanh nhất thì là đội giành chiếnthắng Các em tham gia rất sôi nổi và tìm được rất nhiều từ và không khí lớphọc cũng sôi nổi hẳn lên

Ví dụ 2: Khi dạy bài “Mở rộng vốn từ: Tổ quốc” (Tuần 2)

Bài 3: Trong từ Tổ quốc, tiếng quốc có nghĩa là nước Em hãy tìm thêm những từ chứa tiếng quốc.

Ở bài tập này, sau khi yêu cầu HS làm bài cá nhân, tôi tổ chức cho học

sinh chia sẻ kết quả bằng cách cho các em chơi trò chơi “Ai nhanh hơn?’’

Cách chơi: GV cho HS chọn 2 đội chơi, mỗi đội 5 bạn chơi Các thành

viên của mỗi đội đứng thành hàng dọc để chơi tiếp sức Bạn thứ nhất viết một

từ chứa tiếng quốc (trong đó quốc có nghĩa là nước) sau đó về đưa phấn chobạn thứ hai rồi đi về cuối hàng Và cứ tiếp tục như thế và trong thời gian 3phút đội nào tìm và viết được nhiều từ hơn thì đội đó chiến thắng

* Ví dụ 3: Khi dạy bài “Từ trái nghĩa”, cuối tiết học tôi tổ chức cho các

em chơi trò chơi “Xì điện”

Cách tiến hành:

- Giáo viên nêu một từ và “xì” (chỉ định) một học sinh

- Học sinh được “xì” phải nêu được từ trái nghĩa với từ GV đã nêu

- HS nêu đúng thì được quyền đưa ra một từ và “xì” một HS khác

- HS này nêu một từ trái nghĩa với từ bạn đã nêu và “xì” bạn tiếp theo

- Và cứ như thế cho đến hết thời gian quy định(2 phút hoặc 3 phút tùyGV)

Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần chú ý: Nội dung của tròchơi học tập phải gắn với các tri thức và kĩ năng của môn học Nói cách khác,khi sáng tạo ra các trò chơi học tập, giáo viên dựa vào các kiến thức và kĩ

Trang 25

năng của phân môn Luyện từ và câu cần củng cố, rèn luyện cho học sinh đểxây dựng thành nội dung các trò chơi Trò chơi học tập cần có luật chơi rõràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, không đòi hỏi thời gian dài cho việchuấn luyện Ngoài ra trò chơi nên diễn ra trong thời gian ngắn phù hợp vớitrình độ của học sinh, không quá khó Tùy hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, GV

có thể tổ chức cho HS thực hiện trò chơi đơn giản (không cần chuẩn bị côngphu) hay trò chơi có phần phức tạp (phải chuẩn bị trước) song phải đạt đượccái đích cuối cùng là củng cố kiến thức và tăng hứng thú học tập

5.4 Phương pháp đàm thoại:

– Phương pháp đàm thoại nhằm gợi mở để học sinh làm sáng tỏ những vấn

đề mới, rút ra những kết luận cần thiết từ những tài liệu đã học cũng như từkinh nghiệm sống đã tích lũy Tạo điều kiện để các em phát triển và củng cốkhả năng giao tiếp với thầy (cô) và với bạn cùng học; gây hứng thú học tập,hình thành tính độc lập, óc phê phán, phát huy tính tích cực và tương táctrong học tập Để đảm bảo kết quả việc tiến hành đàm thoại cần chú ý haikhâu quan trọng: thiết kế hệ thống câu hỏi và tổ chức việc đàm thoại ở lớp.Phương pháp này được sử dụng thường xuyên trong cả tiết học

Phương pháp gợi mở vấn đáp(đàm thoại) là phương pháp dạy họckhông trực tiếp đưa ra những kiến thức đã hoàn chỉnh mà hướng dẫn cho họcsinh tư duy từng bước một để các em tự tìm ra kiến thức mới Phương phápnày tăng cường kĩ năng suy nghĩ sáng tạo, trong quá trình lĩnh hội tri thức vàxác định mức độ hiểu bài cũng như kinh nghiệm đã có của học sinh Giúp các

em hình thành khả năng tự tìm tòi kiến thức Qua đó học sinh ghi nhớ tốthơn, sâu sắc hơn

Yêu cầu khi sử dụng giáo viên phải lựa chọn những câu hỏi theo đúngnội dung bài học Câu hỏi phải rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với mọiđối tượng học sinh trong cùng một lớp Giáo viên dành thời gian cho học sinhsuy nghĩ Sau đó cho học sinh trả lời, các em khác nhận xét bổ sung Phươngpháp này phù hợp với cả hai loại bài lý thuyết, thực hành

Trang 26

Ví dụ: Khi dạy bài “Đại từ” (Tuần 9) mục đích của bài là học sinh phải nắm được đại từ Biết tìm đại từ trong đoạn văn và đại từ thay thế cho

danh từ bị lặp lại nhiều lần trong mẩu chuyện

Ví dụ 1:

a Hùng nói: “ Theo tớ, quý nhất là lúa gạo Các cậu có thấy ai không

ăn mà sống được không?”

Quý và Nam cho là có lí

b Chích bông sà xuống vườn cải Nó tìm bắt sâu bọ.

+ Hỏi: Các từ in nghiêng được dùng làm gì?

Ở câu a các từ in nghiêng (tớ, cậu) được dùng để xưng hô giữa Quý và Nam (tớ: chỉ ngôi thứ nhất, tự xưng mình; cậu: chỉ ngôi thứ hai người đang

nói chuyện với mình)

Câu b (nó) được dùng để thay thế cho từ chim chích bông (danh từ)để không phải lặp lại từ này (nó: chỉ ngôi thứ ba, là người hay vật được nói đến,

không ở ngay trước mặt)

* Kết luận: Những từ in đậm (tớ, cậu, nó) dùng để xưng hô hay thay thế cho danh từ trong câu không bị lặp lại Những từ đó được gọi là đại từ.

Ví dụ 2:

a Tôi rất thích thơ Em gái tôi cũng vậy.

b Lúa gạo hay vàng đều rất quý Thời gian cũng thế Nhưng quý nhất

là người lao động

+ Hỏi: Cách dùng những từ in nghiêng có gì giống cách dùng các từ

nêu ở ví dụ1 (giống cách dùng ở ví dụ 1, từ in nghiêng (vậy) thay thế cho từ thích, từ in nghiêng(thế) thay thế cho từ quý để khỏi phải lặp lại các từ đó)

+ Hỏi: Những từ đó thuộc loại từ gì? (Đại từ)

* Kết luận: Những từ in nghiêng (vậy, thế) dùng để thay thế cho tính

từ, động từ trong câu cho khỏi lặp lại các từ đó Chúng cũng được gọi là đại từ.

Trang 27

+ Hỏi: Vậy đại từ là gì? (đại từ là những từ dùng để xưng hô hay thaythế danh từ, động từ, tính từ (hoặc cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ)trong câu cho khỏi lặp lại các từ ngữ ấy.

+ Đại từ

a Đại từ dùng để thay thế cho danh từ, động từ hoặc tính từ trong câu

b Trong giao tiếp người ta có thể dùng đại từ để xưng hô Đó là đại từchỉ ngôi, các đại từ chỉ ngôi thường dùng là:

- Ngôi thứ nhất: Tôi chúng tôi, tao, chúng tao

- Ngôi thứ hai: Mày, chúng mày…

5.5 Phương pháp thảo luận nhóm:

Thảo luận nhóm là phương pháp học tạo điều kiện cho học sinh luyệntập khả năng mạnh dạn đưa ra các cách làm bài; giúp học sinh rèn kĩ năngphân tích bài tập và tìm câu trả lời đúng; thay đổi vị thế của học sinh tronglớp từ vị thế thụ động, tiếp thu thông tin một chiều trở thành vị thế chủ độngtiếp thu thông tin đa chiều Qua thảo luận, ngôn ngữ và năng lực tư duy củahọc sinh trở nên linh hoạt

Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp tạo không khí học tậpsôi nổi, tạo môi trường thuận lợi cho việc vận dụng kĩ năng sử sự ghi nhớthông tin mà giáo viên đã truyền đạt của học sinh, giúp học sinh tìm ra đượccâu trả lời tốt nhất, sinh động nhất thông qua trí tuệ tập thể Học sinh bêncạnh được củng cố được kiến thức, hứng thú học tập cũng được tăng cường.

Ngày đăng: 17/12/2021, 00:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w